1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp tạm giam nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự liên bang nga và kinh nghiệm cho việt nam

72 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp tạm giam nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự liên bang nga và kinh nghiệm cho việt nam
Tác giả Lê Thị Hồng Diễm
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những sai sót đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của TTHS nói chung và biện pháp tạm gia

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BIỆN PHÁP TẠM GIAM: NGHIÊN CỨU SO SÁNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA

VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khoa học khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Hồng Diễm

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật Hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

RSFSR Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga TTHS: Tố tụng hình sự

XHCN: Xã hội chủ nghĩa VKSND: Viện Kiểm sát Nhân dân VKSNDTC: Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao BPNCTG: Biện pháp ngăn chặn tạm giam CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng NTHTT: Người tiến hành tố tụng

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM, LIÊN BANG NGA VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 16

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 16

1.1.1 Khái niệm của biện pháp tạm giam 16

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam 18

1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp tạm giam 21

1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Liên bang Nga 23

1.2.1 Khái niệm của biện pháp tạm giam 23

1.2.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam 24

1.2.3 Ý nghĩa của biện pháp tạm giam 27

1.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam 29

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM, LIÊN BANG NGA VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 33

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Liên bang Nga về đối tượng và căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giam 33

2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng và căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giam 33

2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về đối tượng và căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giam 35

2.1.3 Tương đồng, khác biệt trong quy định về đối tượng và căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam 39

2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Liên bang Nga về thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam 42

2.2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thời hạn áp dụng của biện pháp tạm giam 42

Trang 6

2.2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về thời hạn áp dụng của biện pháp tạm giam 45 2.2.3 Tương đồng, khác biệt trong quy định về thời hạn áp dụng của biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam 48

2.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Liên bang Nga về thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam 50

2.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền và thủ tục áp dụng của biện pháp tạm giam 50 2.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về thẩm quyền và thủ tục áp dụng của biện pháp tạm giam 53 2.3.3 Tương đồng, khác biệt trong quy định về thẩm quyền và thủ tục áp dụng của biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam 55

KẾT LUẬN 60

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp tạm giam: nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” xuất phát từ những

lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm quyền con người trong việc áp dụng biện pháp tạm giam là chủ trương lớn đã được chuyển hóa thành yêu cầu về chính sách hình sự Cụ thể, về mặt chính trị, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua việc ban hành một số văn bản như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đều nhấn mạnh việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của công dân Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng, hiệu quả

giải quyết vụ án hình sự yêu cầu: “Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam” Như vậy, đây vừa là

yêu cầu chiến lược lâu dài trong cải cách pháp luật hướng đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Đảng Cộng sản, vừa là yêu cầu cấp thiết trong giải quyết tình trạng áp dụng biện pháp tạm giam vốn gây ra nhiều oan, sai trong thời gian qua

Thứ hai, về thực trạng lập pháp đối với biện pháp tạm giam Hiến pháp năm

2013 và BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận các quy định về quyền con người, quyền cơ bản của công dân Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS thì biện pháp tạm giam chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất Áp dụng biện pháp tạm giam luôn dẫn đến việc hạn chế quyền tự do của

cá nhân, hạn chế một số quyền cơ bản của công dân như quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử Quá trình áp dụng biện pháp này không đúng, gây oan, sai sẽ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân cũng như các quyền, lợi ích hợp pháp của con người đã được pháp luật bảo hộ Mặc dù không ngừng được hoàn thiện dần qua những lần pháp điển hóa, song thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam trong thời gian qua cho thấy vẫn hàm chứa khả năng xâm phạm đến quyền lợi

Trang 8

2

của người bị cáo buộc phạm tội Đề tài của luận văn này nhằm so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng pháp luật TTHS của Liên bang Nga về biện pháp tạm giam với pháp luật hiện hành của Việt Nam, góp phần thực hiện chuyển hóa các kinh nghiệm pháp lý cũng như kinh nghiệm thực thi pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam của Liên bang Nga cho Việt Nam, mang lại sự công bằng và nhân văn cho những người

có khả năng bị áp dụng biện pháp này

Thứ ba, về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Đó là việc tạm

giam bị can, bị cáo một số trường hợp không đúng căn cứ; sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện pháp nghiệp vụ điều tra; tình trạng tạm giam bị can, bị cáo

“không thời hạn” Những sai sót đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của TTHS nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng.1 Nghiên cứu này so sánh, đối chiếu giữa Việt Nam và Liên bang Nga để đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kết hợp với trang bị nhận thức mới về vấn đề này của người hay cơ quan tiến hành tố tụng, kiến nghị một số giải pháp trên cơ sở chọn lọc kinh nghiệm từ Liên bang Nga nhằm khắc phục tình trạng tạm giam tùy tiện, bảo đảm quyền con người cho người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình tạm giam

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp tạm giam: nghiên cứu so

sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm giải

quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Khảo sát tình hình nghiên cứu đề tài

Biện pháp tam giam là một trong những biện pháp cơ bản và được áp dụng phổ biến nhất, đồng thời lại là biện pháp có sự tác động đến quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo Do đó biện pháp này cũng nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước và nước ngoài Các kết quả nghiên cứu được đăng tải đa dạng trên các dạng ấn phẩm nghiên cứu Cụ thể như sau:

Nhóm tài liệu nghiên cứu cơ bản về biện pháp tạm giam thông qua các ấn phẩm là giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài khoa học

1 Những sai sót trong thủ tục tố tụng là một trong những nguyên nhân của các vụ án oan sai xảy ra trong thời gian vừa qua Chẳng hạn như vụ án Nguyễn Thanh Chấn, Vụ án Hàn Đức Long Xem thêm: Hội đồng Thẩm phán - Tòa án Nhân dân Tối cao (2013), Quyết định tái thẩm số 18/2013/HS-TT ngày 06-11-2013 về vụ án hình sự Nguyễn Thanh Chấn về tội “Giết người”, Hà Nội; Hội đồng thẩm phán - Tòa án Nhân dân tối cao (2014), Quyết định giám đốc thẩm số 20/2014/HS-GĐT ngày 22/11/2014 về vụ án hình sự Hàn Đức Long về các tội “Hiếp dâm”, “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em, Hà Nội;

Trang 9

3

Tiêu biểu và căn bản là Giáo trình Luật TTHS Việt Nam thể hiện quan điểm của

giới luật học tại Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội về các biện pháp ngăn chặn, như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm bảo đảm cho việc thi hành án Với mục đích như vậy, biện pháp ngăn chặn trong TTHS khác với biện pháp cưỡng chế khác và với hình phạt trong luật hình sự.2 Tương tự, tác giả Trần Quang Tiệp cho rằng các biện pháp cưỡng chế là cách thức mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi của người tham gia tố tụng buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình nhằm bảo đảm cho việc thực hành hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.3

Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Trọng Phúc đi từ khái niệm, bản chất

pháp lý của biện pháp ngăn chặn cho rằng: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính chất phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can,

bị cáo khi có căn cứ cụ thể nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều

sâu sắc thêm những quyền tự do mà người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bị hạn chế bao gồm: tự do đi lại, bất khả xâm phạm về thân thể

Bàn về căn cứ và thẩm quyền áp dụng BPNCTG, từ khá sớm, tác giả Mai Bộ

trong cuốn sách chuyên khảo “Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” lại đề cập đến căn cứ và thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn

thông qua viện phân tích các quy định trong BLTTHS Trong đó tác giả phân tích chi tiết các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn, luận giải và nêu ra các ý kiến xung quanh việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.5

2 Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chí - Lê Lan

Chi (đồng chủ biên), Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, tr 245

3 Trần Quang Tiệp (2005), Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr 27

4 Nguyễn Trọng Phúc (2015), Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Những vấn đề lý

luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.45

5 Mai Bộ (1997), Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội , tr.63

Trang 10

4

Đề tài khoa học “Những vấn đề lí luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” do các tác giả Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản đồng chủ

biên Đề tài đã đặt ra góc nhìn bảo vệ quyền con người trong chính các quy định của pháp luật hình sự và TTHS, trong đó có các quy định về các biện pháp ngăn chặn Các tác giả cho rằng đây là hoạt động cấp bách của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật, tăng cường dân chủ và công bằng xã hội Đề tài cũng đưa ra những kết luận về mối quan hệ giữa

áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn trong TTHS với vấn đề bảo vệ quyền con người.6 Nên kết luận hẹp lại là mối quan hệ giữa biện pháp tạm giam với vấn đề bảo vệ quyền con người, và trích dẫn phần nội dung liên quan đó vào

Đề tài khoa học “Luật TTHS Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” chủ trì

bởi tác giả Nguyễn Ngọc Chí cũng đặt ra nền tảng nghiên cứu là quyền con người gắn với hoạt động TTHS Tác giả khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa việc áp dụng, thay đổi huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn với hoạt động bảo đảm một cách tốt nhất các quyền cơ bản của con người Tác giả cũng đưa ra phân tích mối quan hệ này bằng sự thể hiện của các quy định trong BLTTHS, tìm ra những lỗ hổng về mặt lập pháp, đề xuất các biện pháp khắc phục.7

Nhóm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tạm giam: bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

Tác giả Vũ Gia Lâm xây dựng khái niệm biện pháp tạm giam dựa trên tính chất

nghiêm khắc và ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp này: “Biện pháp tạm giam được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn

niệm này của tác giả không có nhiều khác biệt với các quan điểm đã được phân tích ở trên, có chăng tác giả chỉ muốn nhấn mạnh hơn về mục đích, ý nghĩa của các biện pháp này

6 Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ biên) (2006), Những vấn đề lí luận về bảo vệ

quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Đại học Quốc gia, Hà Nội

7 Nguyễn Ngọc Chí (2011), Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, Đề tài khoa học,

Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

8 Vũ Gia Lâm (2012), Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả áp

dụng biện pháp ngăn chặn, Tạp chí Luật học, Số 9, tr.27

Trang 11

5

Bàn về căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, tác giả Đỗ Văn Đương trong bài viết “Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc

áp dụng tạm giam” có chỉ ra rằng việc quy định các căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam cần tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là xuất phát từ thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, kiến nghị xác định rõ hơn về căn cứ tạm giam theo hướng vừa căn

cứ vào loại tội phạm, vào lỗi, chính sách hình sự và yêu cầu của việc ngăn chặn tội phạm, xử lý vụ án.9 Đây cũng có thể được coi là một trong những yêu cầu và định hướng cơ bản đặt ra đối với việc hoàn thiện cũng như áp dụng biện pháp tạm giam Một chủ đề được các tác giả quan tâm nữa là việc áp dụng biện pháp ngăn chặn

tạm giam đối với người chưa thành niên Bài viết “Về biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của

tác giả Trịnh Tiến Việt đã phân tích các căn cứ đặc trưng của viên áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, đồng thời đưa ra những khó khăn vướng mắc trên thực tế áp dụng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện BLTTHS cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng.10 Tác giả Mai Bộ trong bài viết “Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội” đã chỉ ra

những vấn đề trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS trên thực tế đối với các đối tượng này.11 Các công trình trên chủ yếu tập trung lý giải những điểm khác biệt khi quy định hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên

Sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng người chưa thành niên và cũng phù hợp với các nguyên tắc xử lý được quy định tại luật nội dung

Theo một hướng nghiên cứu khác, một số tác giả chứng minh rằng, việc áp dụng biện pháp tạm giam có nguy cơ cao xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người nên trên thực tế đã có nhiều trường hợp bị can, bị cáo bị tạm giam quá thời hạn hoặc bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm trong thời hạn tạm giam

nhưng chưa được bồi thường Các bài viết “Một số bất cập trong quy định của BLTTHS về thời hạn điều tra và tạm giam để điều tra” và “Bảo đảm quyền của người

bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác

9 Đỗ Văn Đương (2012), Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội

phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng tạm giam, Tạp chí Kiểm sát, Số 19

10 Trịnh Tiến Việt (2005), “Về biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội trong Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 6

11 Mai Bộ (2006), “Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm

tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 5 tr.16

Trang 12

6

giả Hoàng Thị Minh Sơn12 tập trung phân tích các bất cập trong quy định của BLTTHS, vấn đề bảo đảm quyền hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS và đề xuất hướng khắc phục

Bài viết “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam” của tác giả Trần Văn Độ Tác giả tập trung đi sâu vào phân tích biện pháp tạm

được quy định trong TTHS, đặc biệt là những điểm còn bộc lộ nhiều vấn đề trong việc áp dụng trên thực tế Tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện vấn đề

trên như sau: Thứ nhất, cần quy định cụ thể, chặt chẽ căn cứ áp dụng biện pháp ngăn

chặn nói chung, và biện pháp tạm giam nói riêng, phân biệt rõ ràng giữa mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn để làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp tạm

giam; Thứ hai, không sử dụng kết quả phân loại tội phạm như cơ sở độc lập để xây

dựng căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam Cần coi khả năng bị can, bị cáo có thể cản trở, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc có thể thể tiếp tục phạm tội là căn cứ chủ yếu để xem xét, quyết định biện pháp tạm giam Trường hợp cần thiết thì có thể căn cứ vào chế tài của quy phạm pháp luật hình sự quy định

về tội phạm để áp dụng; Thứ ba, bổ sung thêm một trong những căn căn cứ tạm giam

là khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không hạn chế tự do không có kết quả nhằm khuyến khích các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp này; tạm

giam cần được áp dụng như là biện pháp bất đắc dĩ cuối cùng trong TTHS; Thứ tư,

sửa đổi các Điều 177, 228, 243, 250, 287 theo hướng dẫn chiếu căn cứ áp dụng biện

pháp ngăn chặn về Điều 88 và điều 303 BLTTHS hiện hành; Thứ năm, cần nghiên

cứu về việc hạn chế tạm giam đối với một số loại tội phạm Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam ở nước ta những năm qua cho thấy, do BLTTHS hiện hành không quy định đối với những loại (nhóm) tội phạm nào thì có thể hạn chế việc tạm giam, nên việc xem xét, quyết định tạm giam chỉ căn cứ vào quy định của Điều 79, Điều 88 BLTTHS (và Điều 303 nếu bị can, bị cáo là người chưa thành niên) chứ không căn cứ

vào loại tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện; Thứ sáu, cần có quy định rõ ràng

hơn về việc xem xét hồ sơ, tài liệu là chứng cứ chứng minh về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam.13

12 Hoàng Thị Minh Sơn (2010), “Một số bất cập trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn điều

tra và tạm giam để điều tra”, Tạp chí Luật học, Số 11 tr.12

Hoàng Thị Minh Sơn (2011), “Bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, Số 3 tr.18

13 Trần Văn Độ (2012), “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam”, Tạp

chí Kiểm sát, Số 21 tr.43

Trang 13

7

Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất thuần tuý về biện pháp tạm giam, một trong những vấn đề được các tác giả quan tâm đặt ra nữa là bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Bài viết “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản” của tác giả Lê Văn Cảm Tác giả đã tổng hợp các vấn

đề lý luận cơ bản trong việc xây dựng cơ chế bảo đảm quyền con người trong các quy định của pháp luật TTHS Bài viết gợi mở những hướng tiếp cận mang tính chất nền tảng trong việc lựa chọn các tiêu chí đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền con người để hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS.14

Bài viết “Hiến pháp 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự” của tác giả Đào Trí Úc phân tích cơ sở lý luận, nội dung, các

quan điểm khác nhau về bảo đảm quyền con người trong TTHS mà theo tác giả thì đó

là trục xoay của toàn bộ các hoạt động TTHS Yếu tố “công bằng”, “công minh” vì thế là biểu tượng chung, bao trùm của một nền tư pháp, là bản tính của nền tư pháp Theo đó, công bằng được hiểu trên hai bình diện Ở bình diện thứ nhất, đó là yêu cầu

về sự công bằng của các thủ tục tố tụng, của việc tiến hành các thủ tục tố tụng Ở bình diện thứ hai, đó là yêu cầu về sự đối xử công bằng, có vị trí pháp lý, có các cơ hội pháp lý công bằng giữa các bên trong tố tụng.15 Tương tự, tác giả Nguyễn Ngọc Chí

trong bài viết “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS” đã phân tích một trong

những hoạt động bảo vệ quyền con người bằng pháp luật TTHS bằng các quy định về các biện pháp ngăn chặn Tác giả khẳng định bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự là phương thức phổ biến ở các quốc gia hiện nay Do vậy, cần phải nhanh chóng nghiên cứu, hoàn thiện các quy định pháp luật về TTHS để bảo đảm tốt hơn các quyền con người.16

Nhóm tài liệu nghiên cứu thông qua luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

Tác giả Nguyễn Văn Điệp trong luận án tiến sĩ đã kế thừa một số quan điểm trước đó về biện pháp ngăn chặn đồng thời củng cố, bổ sung để đưa ra khái niệm về

biện pháp ngăn chặn “là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố; khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn

14 Lê Văn Cảm (2010), “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề

lý luận cơ bản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 7 tr

15 Đào Trí Úc (2015), “Hiến pháp 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình

sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh), Số 3 tr.23

16 Nguyễn Ngọc Chí (2007), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học

ĐHQG Hà Nội - Chuyên san Luật học, Số 2 (Tập 23), tr.23

Trang 14

8

chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội Biện pháp ngăn chặn gồm: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản

Một số các tác giả khác như Nguyễn Thị Thu Hoài, Bùi Long Hưng cũng tiếp cận nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam, trong đó có nghiên cứu về biện pháp tạm giam Tuy nhiên, trong các công trình này có một số tác giả này giới hạn địa bàn nghiên cứu chỉ trên một tỉnh thành như Hà Nam, Hải Dương nên kết quả nghiên cứu dừng lại ở tính ứng dụng vào thực tiễn tại các địa phương đó.18

Nhóm tài liệu nghiên cứu về biện pháp tạm giam của Liên Bang Nga

Bên cạnh những công trình nghiên cứu biện pháp ngăn chặn tạm giam trong cùng một hệ thống với các biện pháp ngăn chặn khác, các công trình tập trung làm rõ bản chất, mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quan điểm truyền thống cũng thể hiện sự phân hóa Tại những quốc gia như Nga và Ukraine, các tác giả có xu hướng cho rằng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Chẳng hạn như tác giả

Victor V Filippov cho rằng: “biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu hành vi phạm tội mà họ thực hiện có mức hình phạt tước tự do có thời hạn từ một năm trở lên Trong một số trường hợp ngoại lệ, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà hành vi phạm tội do họ thực hiện có mức

cáo của các tổ chức phi chính phủ khi nghiên cứu vấn đề tội phạm và hình phạt tại

một số quốc gia cũng chỉ ra rằng: “căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị can, bị cáo thực hiện thông qua mức hình phạt tước tự do có thể được áp dụng đối với tội phạm đó hiện đang được nhiều quốc gia áp dụng như một căn cứ

17 Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự - Thực

trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sĩ Luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội), Hà Nội, tr.10

18 Nguyễn Thị Thu Hoài (2015), Các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội (trên cơ

sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội

19 Filippov, V.V(2003), The New Russian Code of Criminal Procedure: The Next Step on the Path of Russia's

Democratization, Demonkratizatsiya, No 11, tr 398

20 International Helsinki Federation for Human Rights (2013), Russian NGO Shadow Report on the

Observance of the Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment by the Russian Federation for the period from 2006 to 2012, Wien, p.3

Trang 15

9

Ngược lại, thận trọng hơn, dù thừa nhận mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội là một yếu tố quan trọng để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, nhưng không đủ Nhóm các tác giả Rusudan Mchedlishvili, Anna Tvaradze, Sopo

Verdzeuli, Giorgi Turazashvilli, Nino Elbakidze đã nêu ra quan điểm như sau: “Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những loại biện pháp ngăn chặn và chỉ được

Khẳng định này là cách gián tiếp để các tác giả chỉ ra rằng biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp có tác động lớn đến quyền tự do của con người, do đó chỉ được áp dụng khi đã cân nhắc nhiều yếu tố Từ lý luận nền tảng trên, các tác giả đưa ra bốn (04) căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm: (i) Có đe dọa cho rằng người phạm tội sẽ bỏ trốn; (ii) Có đe dọa cho rằng người phạm tội sẽ không xuất hiện trước tòa; (iii) Có đe dọa cho rằng chứng cứ của vụ án sẽ bị hủy hoại; (iv) Ngăn chặn một

tội phạm mới sẽ được thực hiện Các tác giả cũng nhấn mạnh “việc áp dụng các căn

cứ trên phải dựa trên các tình tiết được đánh giá khách quan và những thông tin xác

Bàn về vấn đề thủ tục TTHS nói chung và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói riêng, trong đó có việc áp dụng biện pháp tạm giam, có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng cần cân nhắc mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam Trong khi coi biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp bảo vệ trật tự xã hội

và quyền con người nói chung, lại vô tình xâm phạm đến quyền của những người, mà theo nguyên tắc suy đoán vô tội chưa bị coi là tội phạm Các nội dung này được thể

hiện qua các công trình nghiên cứu “Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”

do I.L.Trunov và L.K.Trunova thuộc Trung tâm pháp luật hợp tác về lý thuyết và thực tiễn của luật hình sự và TTHS Nga thực hiện năm 2003 Trong đó, khi quan niệm về bản chất và sự ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong

đó chủ yếu là biện pháp tạm giữ và biện pháp tạm giam, tác giả I.L.Trunov và L.K.Trunova khẳng định: việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này hạn chế đáng kể các quyền hiến pháp quy định của người bị buộc tội (nghi phạm) đối với tự do, quyền bất khả xâm phạm cá nhân và các quyền và tự do khác Quyền tự do và quyền bất khả xâm phạm và quyền tự quyết cá nhân của mỗi người được đảm bảo bởi một hệ thống bảo đảm về thủ tục tố tụng pháp lý và hình sự Vì vậy căn cứ để lựa chọn biện pháp

21 Rusudan Mchedlishvili, Anna Tvaradze, Sopo Verdzeuli, Giorgi Turazashvilli, Nino Elbakidze (2010),

Application of Preventive measures in Criminal Proceedings: Legislation and Practice, Civic Intiative for an

Indepentdent Judicary project, p.4

22 Rusudan Mchedlishvili, Anna Tvaradze, Sopo Verdzeuli, Giorgi Turazashvilli, Nino Elbakidze (2010),

Tlđd, p.4, 5

Trang 16

10

cưỡng chế cần phải được kiểm tra cẩn thận trong phiên tòa, tính đến danh tính, nghề nghiệp, nơi thường trú, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân, người phụ thuộc, trẻ vị thành niên và hoàn cảnh liên quan khác Trong quyết định về việc hối thúc yêu cầu lựa chọn biện pháp cưỡng chế giam giữ phải ghi rõ căn cứ và động cơ cần phải giam giữ nghi phạm hoặc người bị buộc tội, cũng như vạch ra các tình huống qua đó cho thấy không thể lựa chọn một biện pháp khác nhẹ hơn

Trong luật TTHS Liên Bang Nga, khi quy định về mục đích, điều kiện để áp dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến giữ, giam người bị buộc tội, thì luôn chú

ý đến vấn đề ban hành các quy định này cũng như cả việc thi hành các quy định đó trên thực tế phải luôn thực sự chú ý đến yếu tố bảo vệ quyền lợi của người bị buộc

tội Chẳng hạn, trong “Giáo trình Tố tụng hình sự” của Đại học tổng hợp quốc gia Mát-xcơ-va, quan niệm việc “giam giữ (bắt giữ) bị can hoặc nghi phạm là thực thi hơn cả, so với tất cả các biện pháp cưỡng chế khác, hạn chế quyền hiến định và tự do của con người mà cho đến thời điểm bị buộc tội khi giả định về sự vô tội vẫn được coi

là vô tội Vì vậy, để áp dụng biện pháp này cần bảo đảm đáng tin cậy đặc biệt chống lại các sai sót có thể có và sự lạm dụng” Chính vì thế, nỗ lực của các nhà lập pháp

Nga trong việc nhằm hạn chế các quyền lợi của bị can, bị cáo khi bị áp dụng các biện pháp này là cùng với việc thi hành luật pháp TTHS hiện hành, theo Hiến pháp Liên bang Nga việc bắt giữ, tạm giam và giam giữ chỉ được phép thực hiện theo quyết định của tòa án Bên cạnh đó, vấn đề bảo đảm các quyền lợi, nghĩa vụ khác của bị can, bị cáo khi bị áp dụng các biện pháp tạm giữ hoặc tạm giam cũng được quan tâm, điều này thể hiện qua quy định tại Điều 98 BLTTHS: các cơ quan mà trong quá giải quyết vụ án hình sự và ra bản án có hiệu lực pháp luật, chịu trách nhiệm áp dụng các biện pháp nuôi dưỡng trẻ em và việc bảo vệ tài sản của người bị bắt giam, cũng như thông báo về việc này cho người kế nhiệm

2.2 Đánh giá kết quả nghiên cứu

Những kết quả nghiên cứu mà đề tài luận văn kế thừa

Các công trình nghiên cứu sâu về biện pháp tạm giam chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu các nội dung liên quan đến biện pháp tạm giam trong các mô hình tố tụng khác nhau hoặc là những quy định chung của các quốc gia về biện pháp tạm giam ở quốc gia được nghiên cứu Do đó, các tài liệu này chủ yếu có ý nghĩa tham khảo, so sánh, đối chiếu và phân tích trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, đánh giá quy định của pháp luật TTHS Việt Nam Từ những phân tích về tình hình nghiên cứu nói trên, luận văn kế thừa những kết quả nghiên cứu mang tính nền tảng sau đây:

Trang 17

11

Thứ nhất, luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu về tính chất nghiêm khắc của

những biện pháp ngăn chặn cũng như biện pháp tạm giam thể hiện qua sự chặt chẽ của căn cứ áp dụng và thẩm quyền, trình tự thủ tục áp dụng Các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn không những cần phải được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự

mà còn phải được thể hiện, chứng minh bằng các chứng cứ, tài liệu cụ thể chứ không chỉ dựa vào nhận thức pháp luật và ý chí chủ quan của người áp dụng Điều này còn cần phải nhấn mạnh hơn đối với biện pháp tạm giam, là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất và có tác động sâu sắc nhất đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người Đối với thẩm quyền áp dụng, các biện pháp này chỉ thuộc về các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước và phải bảo đảm thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định

Thứ hai, luận văn kế thừa các nghiên cứu về căn cứ áp dụng biện pháp tạm

giam trong trường hợp xem xét đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị can, bị cáo thực hiện Đồng thời cũng kế thừa những đối tượng đặc biệt khi áp dụng căn cứ tạm giam như: người già yếu, phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới

36 tháng tuổi, người chưa thành niên Đây được coi là những đối tượng ngoại lệ và phải cân nhắc khi áp dụng biện pháp tạm giam

Thứ ba, luận văn kế thừa các nghiên cứu về bảo đảm quyền con người trong

việc áp dụng biện pháp tạm giam như: chế độ tạm giam, thời hạn tạm giam, vấn đề bồi thường thiệt hại với các quyết định tạm giam vi phạm pháp luật Những nghiên cứu này là tiền đề để hoàn thiện lý luận và giải pháp, kiến nghị trong luận văn

Những vấn đề chưa được nghiên cứu từ góc độ so sánh luật, đặc biệt là ở góc

độ so sánh với luật TTHS Liên Bang Nga cần được nghiên cứu mới để hoàn thiện luật TTHS Việt Nam

Hiện các công trình nghiên cứu từ góc độ so sánh luật giữa pháp luật TTHS Việt Nam với TTHS Liên Bang Nga là rất hạn chế Điều này tạo ra khoảng trống ở một số phương diện pháp lý cần được bổ sung, bởi sự tương đồng nhất định giữa hai

hệ thống pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực TTHS, mà Việt Nam đã kế thừa từ thời Liên Xô Bên cạnh những vấn đề mà luận văn kế thừa được từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, luận văn tiếp tục nghiên cứu làm rõ các vấn đề có liên quan như sau:

Thứ nhất, Luận văn tiếp tục khái quát các căn cứ chung áp dụng đối với biện

pháp tạm giam, thông qua nghiên cứu so sánh, phân tích đồng thời tìm ra các căn cứ riêng đối với các đối tượng đặc biệt;

Trang 18

12

Thứ hai, Luận văn tiết tục xác định được thẩm quyền áp dụng các biện pháp tạm

giam, vừa bảo đảm được nguyên tắc pháp chế, vừa đáp ứng nhu cầu thực tiễn Riêng đối với biện pháp tạm giam, luận văn sẽ làm rõ nét thêm các vấn đề về giới hạn, phạm vi của thẩm quyền áp dụng biện pháp này;

Thứ ba, Luận văn tiếp tục làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa việc áp dụng biện

pháp tạm giam với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người Trên cơ sở

đó, luận văn sẽ đưa ra các định hướng, yêu cầu để xây dựng và áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam trên góc độ bảo vệ quyền con người;

Thứ tư, Luận văn sẽ đưa ra những so sánh nhất định về quy định của pháp luật

Liên Bang Nga về biện pháp tạm giam, tìm ra và luận giải những điểm tương đồng, những điểm khác biệt; đồng thời có sự trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS cũng như nâng cao hiệu quả của biện pháp này;

Thứ năm, Luận văn tiếp tục tổng kết thực trạng áp dụng trên thực tế biện pháp

tạm giam trong những năm trở lại đây Qua đó, tìm ra những vướng mắc, bất cập trên thực tế và nguyên nhân của chúng để đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp với từng nguyên nhân

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua việc nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp về biện pháp tạm giam trong luật TTHS Liên Bang Nga và Việt Nam từ đó rút ra một số kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, làm rõ một số vấn đề về cơ sở nghiên cứu so sánh và phương pháp

nghiên cứu so sánh về biện pháp tạm giam trong luật TTHS Liên Bang Nga và Việt Nam

Hai là, nghiên cứu so sánh quy định về biện pháp tạm giam trong pháp luật

TTHS Liên Bang Nga và trong pháp luật Việt Nam để rút ra những giá trị tham khảo về hoạt động lập pháp

Ba là, những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam trên cơ

sở kết quả nghiên cứu so sánh với luật TTHS Liên Bang Nga

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biện pháp tạm giam trong BLTTHS Việt Nam năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung ngày 20 tháng 6 năm 2017 (Gọi tắt là

Trang 19

13

BLTTHS Việt Nam), so sánh với biện pháp tạm giam trong BLTTHS Liên bang Nga năm 2001 sửa đổi lần cuối bởi Luật số N33-P ngày 18 tháng 7 năm 2022 (Gọi tắt là BLTTHS Liên bang Nga) , bao gồm các vấn đề: đối tượng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, thẩm quyền và thủ tục áp dụng, thời hạn tạm giam và hình thức tạm giam được quy định trong luật TTHS Việt Nam, có so sánh với Liên Bang Nga

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về biện pháp tạm

giam có ý nghĩa so sánh với pháp luật TTHS Liên Bang Nga nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam Như vậy, không phải tất cả các vấn đề biện pháp tạm giam cũng đều được nghiên cứu nếu không có nhiều ý nghĩa với kinh nghiệm lập pháp

Về không gian và thời gian: Biện pháp tạm giam được nghiên cứu so sánh theo

Bộ luật TTHS năm 2015 và Bộ luật TTHS Liên Bang Nga hiện hành

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac-Lênin

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lý thuyết luật học: Đây là phương pháp trọng tâm của các

nghiên cứu ngành luật Phương pháp này dùng để phân tích các quy phạm thể hiện trong các đạo luật và văn bản dưới luật

Phương pháp so sánh: Đây cũng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo được sử

dụng trong luận văn để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về biện pháp tạm giam trong luật TTHS Liên bang Nga và trong luật TTHS Việt Nam

Từ năm 1986 đến nay, những yêu cầu của quá trình hội nhập và giao lưu quốc

tế đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để có thể chủ động hội nhập với kinh tế thế giới Nhờ đó, luật so sánh đã được phát triển mạnh hơn so với các giai đoạn trước trên cả hai phương diện là so sánh lập pháp và so sánh học thuật

Ở phương diện so sánh lập pháp, các nhà làm luật trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật đã tìm hiểu và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của các nước khác nhau, đặc biệt là những nước có những hoàn cảnh tương đồng mà quá trình cải cách pháp luật đã đạt được những thành tựu Trong quá trình soạn thảo các văn bản này, các nhà làm luật đã tìm hiểu, phân tích, đánh giá khả năng tiếp nhận các quy định pháp luật nước ngoài để đề xuất các phương án có thể được sử dụng phù hợp với điều

Trang 20

14

kiện hoàn cảnh của Việt Nam Tuy nhiên, “hướng nghiên cứu so sánh lập pháp của

Ở phương diện luật so sánh học thuật, các nhà luật học Việt Nam trong giai đoạn này đã bắt đầu quan tâm đến các nghiên cứu so sánh học thuật Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các nhà luật học Việt Nam chủ yếu là giới thiệu các dòng

họ pháp luật trên thế giới hoặc giới thiệu những vấn đề cụ thể của các hệ thống pháp luật nước ngoài Các công trình nghiên cứu so sánh luật trên cơ sở những nguyên tắc

và lí thuyết của luật so sánh chưa nhiều Đặc biệt, các nghiên cứu lí thuyết về luật so sánh còn rất khiêm tốn

Tuy nhiên, để bảo đảm cho việc so sánh và phân tích những điểm tương đồng được tiến hành một cách có hệ thống, việc xác định những điểm tương đồng và khác biệt đó cần phải được thực hiện dựa trên, những tiêu chí nhất định Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên trong bước này là xác định được hệ thống các tiêu chí cho việc so sánh Xây dựng hệ thống tiêu chí so sánh cũng không phải là vấn đề đơn giản bởi vì, như đã phân tích ở trên, các hệ thống pháp luật khác nhau có thể có cách giải quyết vấn đề khác nhau, hệ thống khái niệm khác nhau… Do đó, hệ thống này phải linh hoạt có các khái niệm đủ rộng để bao quát được tất cả các chế định pháp luật khác nhau mà

về mặt chức năng, chúng có thể so sánh được Điều đó có nghĩa là không được sử dụng các khái niệm không đồng nhất giữa các hệ thống pháp luật cũng như các khái niệm riêng biệt, đặc thù một hệ thống pháp luật nào đó làm tiêu chí cho việc so sánh Mặt khác, do một số hệ thống pháp luật có thể không sử dụng giải pháp bằng pháp luật để giải quyết vấn đề đã được xác định, vì vậy, hệ thống các tiêu chí phải bao gồm

cả những tiêu chí gắn với giải pháp có tính chất pháp lý và những tiêu chí gắn với giải pháp mang tính xã hội

Với cách tiếp cận như thế, các học giả đã đi đến nhận định rằng các chế định trong các hệ thống pháp luật khác nhau có chức năng tương đương với nhau khi chúng có cùng vai trò trong các xã hội đó, cùng được sử dụng để giải quyết vấn đề tương tự ở các xã hội đó hoặc cùng điều chỉnh loại quan hệ ở các xã hội đó… Những chế định này có thể so sánh được với nhau vì chúng có “mẫu số so sánh chung” - đó chính là chức năng của chúng Với cách đặt vấn đề như vậy, tác giả sử dụng phương pháp so sánh được thực hiện ở từng chương như sau:

Chương 1: Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh những vấn đề lý luận chung về biện pháp tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang

23 http://giaotrinhluatsosanh.blogspot.com/2015/07/su-thay-oi-cua-lap-phap-viet-nam-sau.html

Trang 21

15

Nga và Việt Nam bao gồm: Khái niệm biện pháp tạm giam, đặc điểm biện pháp tạm giam và ý nghĩa biện pháp tạm giam Sau đó, tác giả tìm ra sự tương đồng và khác biệt để đánh giá nội dung từng mục và sau đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 2: Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh những quy định về biện pháp tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam bao gồm: Đối tượng áp dụng của biện pháp tạm giam, căn cứ áp dụng của biện pháp tạm giam, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam và thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam Sau đó, tác giả tìm ra sự tương đồng và khác biệt để đánh giá nội dung từng mục và sau đó đề xuất những kiến nghị hiệu quả nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giam

6 Đóng góp về khoa học của luận văn

- Đánh giá kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu đã được công

bố để đảm bảo tính chính xác, khoa học của vấn đề cần nghiên cứu

- Nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong luật TTHS của Liên Bang Nga Từ đó so sánh với pháp luật TTHS Việt Nam để thấy những điểm tương đồng và khác biệt có ý nghĩa về kinh nghiệm lập pháp

- Luận giải và đưa ra những đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định về biện pháp tạm giam theo BLTTHS Việt Nam năm 2015

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần Mở đầu, Kết luận và hai Chương:

Chương 1: Cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu, so sánh về biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam;

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Liên Bang Nga

về biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam;

Trang 22

16

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM, LIÊN BANG NGA VÀ KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm của biện pháp tạm giam

Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn tạm giam từ những năm 1960 của thế kỷ trước, nhưng cho đến nay vẫn theo cách tiếp cận truyền thống khi đưa ra định nghĩa về biện pháp tạm giam trong TTHS Chẳng hạn, Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật -Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Luật Hà Nội mặc dù thể hiện khuynh hướng của phương pháp tiếp cận quyền nhưng vẫn đưa ra định nghĩa dựa theo các dấu hiệu của luật thực định với các nội

hàm thể hiện tính cưỡng chế nhà nước của biện pháp tạm giam, như sau: “Tạm giam

là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng trong trường hợp cần thiết khi có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể

biện pháp ngăn chặn áp dụng với bị can, bị cáo khi có căn cứ theo quy định của luật TTHS Là biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do cá nhân, tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của TTHS Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời

pháp tạm giam đại diện cho cách tiếp cận của khoa học pháp lý TTHS Việt Nam trong một thời gian dài Nhiều tác giả đã phản ánh các nội hàm của định nghĩa nêu trên khi xây dựng khái niệm biện pháp tạm giam, thậm chí còn nêu một cách quá

ngắn gọn với một vài nội hàm chủ yếu như: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong

tố tụng hình sự mà theo đó cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án trong những trường hợp nhất định có thể tước tự do đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội

24 Nguyễn Ngọc Chí, Lê Lan Chi (đồng chủ biên) (2019), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại

học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr.269, 270

25 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công An nhân dân

năm, Hà Nội, tr.223

Trang 23

17

hạn chế tự do có thời hạn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp nghiêm trọng hoặc cản trở

ngăn chặn nghiêm khắc nhất, tạm thời hạn chế tự do để ngăn ngừa bị can, bị cáo, người phải thi hành án có hành vi gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi

Đối lập với bản chất về “tước tự do thân thể” được đề cập trong khái niệm biện pháp tạm giam nói trên, tác giả Trần Quang Tiệp đề cập rất rõ đối tượng, thẩm quyền

áp dụng cũng như mục đích của việc áp dụng biện pháp tạm giam như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng, tạm thời hạn chế tự do cá nhân với mức

độ rất nghiêm khắc trong thời hạn tương đối dài, đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi

mạnh vào mục đích của các biện pháp này đó là ngăn chặn sự bỏ trốn, gây cản trở điều tra, truy tố, xét xử Từ khái niệm này có thể chỉ ra rằng biện pháp tạm giam ngoài sự thể hiện đó là một loại biện pháp ngăn chặn, mang đầy đủ bản chất và mục đích của các biện pháp ngăn chặn thì còn nêu bật được mục đích và cũng là lợi thế của biện pháp tạm giam so với các biện pháp ngăn chặn khác Đó là nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có những căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành

án

Bên cạnh những hạn chế vừa đề cập đến ở trên, tạm giam cũng tạo ra những nguy cơ tiềm tàng với việc đảm bảo công lý trong xét xử tại toà án và đặc biệt là nguyên tắc suy đoán vô tội Điều này làm gia tăng nguy cơ buộc người bị tạm giam phải nhận tội hoặc đưa ra những lời khai bất lợi do bị ép buộc bởi bức cung, nhục hình Điều này sẽ dẫn đến hệ luỵ làm giảm khả năng có thể được bào chữa (bảo vệ)

26Nguyễn Mai Bộ (chủ biên) (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong TTHS Việt Nam, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội tr 92

27 Phạm Thanh Bình (chủ biên) (1997), Tìm hiểu các quy định pháp luật Một số vấn đề chung quanh việc

tạm giữ, tạm giam, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai tr 32

28 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (đồng chủ biên) (2013), Những vấn đề lý luận và thực tiễn

cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính Trị Quốc

Gia, Hà Nội, tr 239

29Trần Quang Tiệp (2005), Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, tr.141

Trang 24

Từ phân tích, so sánh các cách tiếp cận, các quan điểm nêu trên, trong Luận văn

này, biện pháp tạm giam được tác giả hiểu như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo để hạn chế một số quyền tự do của

họ nhằm ngăn chặn tội phạm, do các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng với những căn cứ chặt chẽ và đúng trình tự thủ tục nhằm bảo đảm thực hiện các hoạt động tố tụng và bảo đảm thi hành án

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam

Một là, biện pháp tạm giam có tính cưỡng chế nghiêm khắc

Tính cưỡng chế của biện pháp ngăn chặn tạm giam thể hiện trên hai phương

diện sau: Thứ nhất, tạm giam là biện pháp cưỡng chế để áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội; Thứ hai, biện pháp tạm giam được quy định bởi tổng hợp các

quy phạm pháp luật trong luật TTHS Do đó, nó cũng đòi hỏi chế tài để các quy phạm pháp luật về biện pháp tạm giam được thực thi nghiêm chỉnh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Các phương diện nêu trên về tính cưỡng chế của biện pháp tạm giam được thể hiện trên các khía cạnh sau: (i) Là biện pháp do nhà nước quy định trong luật TTHS thể hiện sự cưỡng chế nhà nước; (ii) Khi bị áp dụng thì người bị áp

30 UN Subcommittee on Prevention of Torture (SPT) (2010), Report on the visit of the Subcommittee on

Prevention of Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment to the Republic of Paraguay, 7 June 2010, CAT/OP/PRY/1, para.64

31 Phạm Mạnh Hùng (2007), “Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS theo yêu cầu

của cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiềm sát, Số 21, tr 33; Lê Minh Tuấn (2008), “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về biện pháp tạm giam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, Số 09, tr 39 - 40

Trang 25

19

dụng buộc phải chấp hành, không có lựa chọn, không được thỏa thuận, nếu không chấp hành thì nhà nước có thể dùng sức mạnh của bộ máy cưỡng chế để thực hiện; (iii) Trong trường hợp không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì phải chịu hậu quả pháp lý32

Cưỡng chế thể hiện quyền lực của người có thẩm quyền ra lệnh và thi hành lệnh/quyết định tạm giam Do đó thể hiện mệnh lệnh, quyền uy trong quan hệ pháp luật TTHS Cưỡng chế mang tính bắt buộc, áp đặt ý chí của người ra lệnh, người thi hành lệnh tạm giam Ý chí này thường xung đột với ý chí của bị can, bị cáo, bởi hầu như không ai mong muốn bị tạm giam Tính cưỡng chế thể hiện ở khả năng bị can, bị cáo bị các biện pháp chế tài nếu không tuân thủ các quy định về tạm giam trong quá trình bị áp dụng Tính nghiêm khắc của biện pháp tạm giam cũng nói lên phần nào tính cưỡng chế mạnh mẽ của biện pháp tạm giam

Mức độ và hậu quả nghiêm khắc của việc áp dụng biện pháp tạm giam so với các biện pháp ngăn chặn khác thể hiện qua việc tước bỏ quyền tự do thân thể trong một thời hạn tương đối dài so với biện pháp tạm giữ và các biện pháp ngăn chặn không tước quyền tự do thân thể khác.33 Mặc dù, cách sử dụng thuật ngữ “tước tự do”

là chưa thực sự chính xác, vì thẩm quyền “tước tự do” chỉ do một chủ thể duy nhất áp dụng đối với người đã bị tòa án kết tội bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật, hơn nữa biện pháp tạm giam chỉ hạn chế tự do của người bị tạm giam trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, ít nhiều đã cho thấy những quyền con người bị ảnh hưởng đến

bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp này là rất lớn Có thể thấy, so với người bị tạm giữ thì bị can, bị cáo bị tạm giam thường không được quyền ứng cử vào các cơ quan dân cử hoặc thậm chí không được thực hiện quyền bầu cử Do đó, mức độ hạn chế tự

do cá nhân đối với người bị tạm giam là nghiêm khắc nhất so với biện pháp tạm giữ cũng như các biện pháp ngăn chặn khác Tuy nhiên, các quyền này chỉ bị hạn chế trong thời hạn nhất định chứ không phải bị tước đi vĩnh viễn Đây cũng chính là đặc điểm chung của các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng,

do các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế hạn chế sự tự do của bị cáo với mục đích ngăn ngừa sự trốn tránh điều tra, xét xử.34 Việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ hạn chế tự do cá nhân của người bị áp dụng, đồng thời có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người thân các bị can, bị cáo bị áp dụng, đây cũng chính

32 Nguyễn Ngọc Chí, Lê Lan Chi (đồng chủ biên) (2019), Tlđd, tr 242-245

33 Nguyễn Ngọc Chí, Lê Lan Chi (đồng chủ biên) (2019), Tlđd, tr 270

34 Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.130

Trang 26

20

là một trong những căn cứ để đánh giá tạm giam chính là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất

Hai là, biện pháp tạm giam hạn chế quyền con người

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, và biện pháp tạm giam nói riêng đối với bị can, bị cáo sẽ dẫn đến việc hạn chế nhiều quyền con người, quyền công dân như: quyền tự do, quyền học tập, quyền làm việc; hoặc về các quyền lợi khác như: quyền được bảo đảm về sức khỏe, quyền được đối xử công bằng Bởi việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn đó do các chủ thể là những người đại diện cho nhà nước, có quyền lực và có những công cụ trấn áp Tuy nhiên, nếu biện pháp tạm giam được quy định và thực hiện ở mức độ cần và đủ thì có ý nghĩa quan trọng để phục vụ công tác xử lý tội phạm mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người Do

đó, việc quy định các căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định về bảo vệ các quyền đó thì không những không vi phạm quyền con người mà góp phần thực thi công lý, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích bị xâm hại của các chủ thể

Do khả năng xâm phạm đến quyền tự do của con người, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần chú ý bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng Bởi lẽ, đối tượng bị áp dụng mới chỉ là nghi can của một vụ án chứ chưa phải

là tội phạm, và chỉ bị tạm hạn chế một số quyền con người như quyền tự do đi lại, quyền trao đổi thông tin Do vậy, việc áp dụng biện pháp tạm giam vẫn phải bảo đảm

và tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của bị can, bị cáo Để thực hiện được sự bảo đảm đó, luật TTHS cần quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam, quy định rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ về trách nhiệm cá nhân của người ra quyết định bắt giam, người thi hành lệnh bắt giam, tránh việc thi hành sai gây thiệt hại đến các quyền lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo

Ba là, biện pháp tạm giam được áp dụng theo một thủ tục chặt chẽ

Yêu cầu pháp luật phải chặt chẽ về mặt hình thức, chính xác về mặt nội dung, tính thống nhất, ổn định và phải được đảm thực hiện bởi Nhà nước Là một chế định của luật TTHS, do vậy, biện pháp tạm giam cũng chứa đựng các thuộc tính chung của pháp luật và buộc phải thể hiện thủ tục tố tụng đặc trưng của tố tụng tư pháp Tuy nhiên, biện pháp tạm giam lại chứa đựng trong nó những đặc trưng riêng có về tính hạn chế một số quyền Hiến định của người bị tam giam khi cách ly người đó khỏi xã hội nên biện pháp tạm giam được coi là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc và nặng nề

Trang 27

21

nhất Chính vì vậy, TTHS đòi hỏi khi áp dụng biện pháp này yêu cầu về mặt thủ tục, thẩm quyền phải chặt chẽ, được biểu hiện bằng việc pháp luật phải quy định đầy đủ quy trình đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này; quy trình đó phải cụ thể, rõ ràng, minh bạch dễ áp dụng tránh việc hiểu theo nhiều nghĩa, diễn giải theo ý chủ quan của người có thẩm quyền, tránh bị lạm dụng khi áp dụng Đồng thời thủ tục chặt chẽ còn phải bảo đảm khi áp dụng biện pháp tạm giam không làm ảnh hưởng đến những quyền con người khác của người bị áp dụng biện pháp này mà pháp luật TTHS không hạn chế hoặc tước bỏ cũng như phải đồng bộ, phù hợp với các thủ tục tố tụng khác tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong quá trình áp dụng

Bên cạnh việc tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ còn phải xác định rõ thẩm quyền việc áp dụng biện pháp tạm giam, bởi lẽ như ở Việt Nam, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ trong đấu tranh, xử lý tội phạm, CQĐT được quyền đề xuất việc áp dụng biện pháp tạm giam khi có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định Tuy nhiên, viện kiểm sát lại là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp, trong khi đó, biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn khắc nghiệt nhất với việc cách ly người bị buộc tội khỏi đời sống xã hội một thời gian tương đối dài nên một số quyền hiến định của họ bị xâm phạm, do vậy, để tăng cường và đảm bảo tính đúng đắn trong việc áp dụng biện pháp tạm giam, đề nghị của CQĐT cần phải được kiểm sát, thông qua hoạt động phê chuẩn của cơ quan thực hiện quyền công tố là một tất yếu khách quan, nhằm khẳng định sự thận trọng, tôn trọng và đảm bảo tính chính xác và khách quan nhất khi áp dụng biện pháp tạm giam Tuỳ thuộc vào thể chế và trường phái luật của mỗi quốc gia mà có sự quy định khác nhau, ở một số nước thì việc phê chuẩn hay ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam lại thuộc thẩm quyền của tòa án mà cụ thể là thẩm phán Điều này, mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tính thận trọng cần thiết, khi buộc phải hạn chế một số quyền của người bị tạm giam bởi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Và chính điều này đã tạo ra sự khác biệt giữa biện pháp tạm giam với các biện pháp ngăn chặn khác

1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp tạm giam

Ý nghĩa của biện pháp tạm giam theo cách tiếp cận truyền thống, coi pháp luật,

mà trọng tâm là pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự là công cụ của nhà nước để bảo vệ quyền thống trị xã hội của giai cấp cầm quyền Do đó, khi đưa ra định nghĩa biện pháp ngăn chặn tạm giam thường nêu các nội hàm hàm chủ yếu như: tạm giam

là biện pháp ngăn chặn của TTHS; được cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với bị

Trang 28

22

can, bị cáo; nhằm mục đích ngăn chặn và tạo điều kiện cho hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử, thi hành án Cách tiếp cận này xuất phát từ việc lựa chọn mô hình TTHS thẩm vấn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả Philip.LReichl đưa ra nhận

xét: “Truyền thống pháp luật XHCN không chấp nhận nguyên tắc phân chia quyền lực, thay vào đó mọi quyền lực được tập trung thống nhất vào cơ quan lập pháp” và

“Do có nguồn gốc từ pháp luật lục địa nên giả định pháp luật XHCN cũng sử dụng

hiện một chức năng của nhà nước Cách tiếp cận này ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra các định nghĩa về biện pháp ngăn chặn tạm gian trong các ấn phẩm của các học giả Liên Xô (trước kia), Liên bang Nga ngày nay và các nước XHCN, trong đó

có Việt Nam

Ý nghĩa của biện pháp tạm giam theo cách tiếp cận quyền, một mặt cũng thừa nhận tính cưỡng chế của biện pháp tạm giam nhưng đã nhấn mạnh việc bảo đảm quyền con người của người bị áp dụng biện pháp pháp tạm giam Do vậy, trong các định nghĩa theo cách tiếp cận này thường chỉ nêu mục đích ngăn chặn tội phạm mà không nêu mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và đặc biệt nhấn mạnh đến đến tính

có căn cứ cũng như tuân thủ chặt chẽ thủ tục khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Theo đó, “Tạm giam (Pre-trial Detention) được hiểu là một biện pháp cưỡng chế mà một người bị buộc tội bị giam giữ Biện pháp tạm giam được cơ quan tư pháp

ra lệnh tại giai đoạn xét xử trước hoặc xét xử để đảm bảo sự xuất hiện của người đó trước tòa án, ngăn chặn hoạt động tội phạm của họ hoặc ngăn chặn sự can thiệp bất hợp pháp vào việc điều tra vụ án.”36

Các công cụ nhân quyền quốc tế và khu vực đã quy định rất rõ ràng về các trường hợp hạn chế theo đó việc giam giữ trước khi được cho phép Liên Hợp Quốc

khi xây dựng Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 yêu cầu: “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét

xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là

bị cáo nên được tại ngoại, ngoại trừ trong các tình huống có khả năng bị cáo sẽ bỏ

Trang 29

23

trốn hoặc tiêu hủy bằng chứng, gây ảnh hưởng đến các nhân chứng hoặc chạy trốn khỏi khu vực tài phán của nhà nước38 Tương tự, Ủy ban Nhân quyền và Nhân dân Châu Phi cũng tuyên bố rằng, trừ khi có đủ bằng chứng cho thấy cần phải ngăn chặn một người bị bắt vì tội hình sự bỏ trốn, can thiệp vào các nhân chứng hoặc gây ra rủi

ro rõ ràng và nghiêm trọng cho người khác, các quốc gia phải đảm bảo rằng họ không

bị giam giữ trong khi chờ xét xử Sự chồng chéo đáng kể giữa các công cụ nhân quyền quốc tế và khu vực cho thấy việc giam cầm trước chỉ có thể được biện minh khi sử dụng ngăn chặn các bị cáo bỏ trốn, phạm tội nghiêm trọng hoặc can thiệp vào quá trình điều tra.39

1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Liên bang Nga

1.2.1 Khái niệm của biện pháp tạm giam

Các biện pháp cưỡng chế theo thủ tục tố tụng là một loạt các biện pháp hạn chế tạm thời quyền của con người, bao gồm các biện pháp hạn chế hoặc phòng

ngừa Thuật ngữ “các biện pháp ngăn chặn” có nguồn gốc từ khái niệm “các biện pháp ngăn chặn bị cáo trốn tránh việc điều tra và xét xử” được sử dụng trong Điều

lệ Tố tụng Hình sự của Nga năm 1864 Các biện pháp ngăn chặn trong TTHS được đưa ra nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra của bị can, bị cáo trên cơ sở các chứng cứ thu thập được về vụ án.40

Luật TTHS cho phép áp dụng các biện pháp quản thúc đối với người bị buộc tội phạm tội Trong những trường hợp ngoại lệ, các biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với những người bị tình nghi phạm tội và trước khi bị buộc tội Trong Điều 89 Bộ luật TTHS của Liên bang Nga cung cấp một danh sách rộng rãi các biện pháp ngăn chặn, bao gồm: quản thúc tại nhà; bảo lãnh cá nhân; sự bảo đảm của các hiệp hội công cộng; giam giữ; quan sát của chỉ huy đơn vị quân đội của bị can là quân nhân; người vị thành niên bị giám sát

Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn, tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất Tạm giam được hiểu như một quy tắc chung được áp dụng đối với công dân Liên bang Nga, những người khác liên quan đến trách nhiệm hình sự theo luật hình

38 Penal Reform International (2004), Lilongwe Declaration on Accessing Legal Aid in the Criminal Justice

(truy cập ngày 15/9/2022)

39 ABA (2010), Handbook of International Standards on Pretrial Detention Procedure, Link:

https://www.ilsa.org/Jessup/Jessup16/Batch%201/handbook_of_international_standards_on_pretrial_detentio n_procedure_2010_eng.authcheckdam.pdf (truy cập ngày 15/9/2022)

40 См.: Михайлов В.А (1996), Меры пресечения в российском уголовном процессе: Учеб.-практ

пособие М.: Право и закон, С 15

Trang 30

âm mưu phạm tội mới của anh ta, nhưng không có nghĩa là một phương tiện tác

Như vậy, tạm giam là một biện pháp ngăn chặn do BLTTHS quy định, tạm thời hạn chế tự do của bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn khả năng trốn tránh cơ quan điều tra và tòa án, ngăn chặn việc điều tra sơ bộ và xét xử vụ án hoặc tiếp tục phạm tội, do Thẩm phán Tòa án quyết định áp dụng với những căn cứ chặt chẽ và đúng trình tự thủ tục nhằm đảm bảo hoạt động tố tụng và đảm bảo thi hành án trong trường hợp không thể sử dụng biện pháp ngăn chặn nào khác ít nghiêm khắc hơn 1.2.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giam

Một là, biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự và biện pháp tạm giam không phải là hình phạt

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình Biện pháp tạm giam được quy định ở Khoản 7 Điều 98 BLTTHS Liên bang Nga là một trong các biện pháp ngăn chặn có thể được sử dụng, đối với từng trường hợp cụ thể có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn hạn để chế quyền tự do của bị can, bị cáo nhằm đảm bảo hiệu quả trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả những người tham gia tố tụng42 Điều 98 BLTTHS Liên bang Nga đã quy định 7 biện pháp ngăn chặn và các biện pháp ngăn chặn này được chia thành 2 loại:

Thứ nhất, nhóm các biện pháp được áp dụng cho người thành niên: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh của cá nhân, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo, giam tại nhà và tạm giam

41 Шимановский В В (1988), Законность задержания лиц на предварительном следствии: Конспект

лекций Л С 17

42 Васильева Е.Г Меры уголовно-процессуального принуждения Уфа, 2003

Trang 31

25

Thứ hai, nhóm các biện pháp đặc biệt: quản lý bị can là người chưa thành

Có rất nhiều học giả đã tập trung nghiên cứu làm rõ đặc điểm, bản chất của các biện pháp ngăn chặn và đặc điểm của biện pháp ngăn chặn tạm giam Chẳng hạn, tác giả ZD Enhikeev nhấn mạnh đến bản chất phòng ngừa của các biện pháp

ngăn chặn khi cho rằng: “Các biện pháp ngăn chặn là một phạm trù đặc biệt, có ý

ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế sự tự do của bị cáo với mục đích ngăn

điểm truyền thống của các luật gia Liên bang Nga đề cập đến hai (02) đặc trưng: (i) Tính chất phòng ngừa, tính ngăn chặn của các biện pháp này; (ii) Đối tượng tác động của các biện pháp này khi áp dụng là bị can, bị cáo Đây được coi là nền tảng lý luận cơ bản được nhiều các tác giả khác triển khai nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Trong luật TTHS Liên bang Nga, khi quy định các biện pháp ngăn chặn liên

quan đến tạm giữ, tạm giam người bị buộc tội, biện pháp ngăn chặn tạm giam

không phải là biện pháp trừng trị bị can, bị cáo hoặc được dùng để răn đe người

khác bởi chúng không phải là hình phạt Chẳng hạn, trong “Giáo trình Tố tụng hình sự” của Đại học tổng hợp quốc gia Mát-xcơ-va, quan niệm việc “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất nhưng tạm giam không phải là hình phạt tù bởi

vì mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn, còn hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước do Tòa án áp dụng nhằm trừng phạt người phạm tội và nhằm mục đích

pháp Nga trong việc nhằm hạn chế các quyền lợi của bị can, bị cáo khi bị áp dụng các biện pháp này là cùng với việc thi hành luật pháp TTHS hiện hành, theo Hiến pháp Liên bang Nga biện tạm giam chỉ được phép thực hiện theo quyết định của Tòa án

Hai là, biện pháp tạm giam có tính cưỡng chế nghiêm ngặt

Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong mối quan hệ với các biện pháp ngăn chặn

43 https://works.doklad.ru/view/X2xIYO3bMZE.html

44 Nguyễn Trọng Phúc (2015), Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề

lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 21- 22

45 Nguyễn Trọng Phúc (2015), Tlđd, tr 21- 22

46 Zertsalo (1997), Giáo trình Tố tụng hình sự, Mát-xcơ-va, tr 167

Trang 32

cản trở điều tra, truy tố, xét xử tác giả Andreea Simona cho rằng: “Các biện pháp ngăn chặn tạm giam là các biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm ngặt để các cơ quan Tư pháp hình sự áp dụng đảm bảo hoạt động tố tụng hình sự, để ngăn chặn bị can, bị cáo trốn tránh sự truy tố, xét xử hoặc để ngăn cản việc tiếp tục thực hiện tội phạm” Tương tự, tác giả Marin Alin đưa ra khái niệm: “Các biện pháp ngăn chặn tạm giam là thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự, có tính chất cưỡng chế và ngăn cản bị can, bị cáo đã hoặc sẽ thực hiện một số hoạt động nhất định mà hoạt động này có tác động tiêu cực đến thủ tục tố tụng hình sự” Đồng thời, các tác giả đã chỉ

ra những nội dung cơ bản nhất của biện pháp ngăn chặn, bao gồm: (i) Bản chất pháp

lý của biện pháp ngăn chặn là hạn chế quyền tự do của người bị cáo buộc phạm tội; (ii) Đối tượng áp dụng BPNCTG là người bị cáo buộc phạm tội.47

Ba là, biện pháp tạm giam chỉ được áp dụng khi không thể sử dụng biện pháp ngăn chặn nào khác ít nghiêm khắc hơn

Trong khi quan niệm đặc điểm của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó chủ yếu là biện pháp tạm giữ và biện pháp tạm giam, tác giả I.L.Trunov và L.K.Trunova khẳng định: việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này hạn chế đáng kể các quyền được hiến pháp quy định của người bị buộc tội đối với quyền tự do về thân thể, quyền bất khả xâm phạm cá nhân và các quyền và tự do khác Quyền tự do

về thân thể và quyền bất khả xâm phạm và quyền tự quyết cá nhân của mỗi người được đảm bảo bởi một hệ thống bảo đảm về thủ tục tố tụng pháp lý và hình sự Vì vậy căn cứ để lựa chọn biện pháp ngăn chặn cần phải được kiểm tra cẩn thận trong quá trình giải quyết vụ án, tính đến danh tính, nghề nghiệp, nơi thường trú, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân, người phụ thuộc, trẻ vị thành niên và hoàn cảnh liên quan khác Trong quyết định về việc lựa chọn biện pháp tạm giam phải ghi rõ căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, cũng như chỉ ra các ra các tình huống

47 Hoàng Tám Phi (2020), Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án Tiến

sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.11

Trang 33

27

qua đó cho thấy không thể lựa chọn một biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn.48

1.2.3 Ý nghĩa của biện pháp tạm giam

Với vai trò là một biện pháp ngăn chặn, tạm giam có ý nghĩa rất lớn trong việc đóng vai trò quan trọng trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo vệ trật tự công cộng và đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân theo hiến pháp Liên bang Nga

Ý nghĩa tạm giam là tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận: Điều 2 Chương 1 trong

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 và lần sửa đổi gần đây nhất là ngày 07/01/2020

có quy định Con người, quyền và tự do của mình là giá trị cao nhất Công nhận, chấp hành và bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân là nghĩa vụ của

bị bắt hoặc giam giữ tùy tiện Không ai bị tước quyền tự do ngoại trừ những trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mà theo quy định của pháp luật buộc phải tước một

số quyền tự do dân chủ của bị can, bị cáo Khi bị can, bị cáo bị bắt hoặc bị giam giữ

về tội phạm hình sự phải được đưa ngay ra trước thẩm phán hoặc người tiến hành tố tụng khác được pháp luật ủy quyền thực hiện quyền tư pháp và có quyền xét xử trong một thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Bị can, bị cáo bị tước tự do khi bị tạm giữ hoặc bị tạm giam đều có quyền được tòa án xét xử vụ án của mình để tòa án

đó có thể đánh giá tính hợp pháp của việc giam giữ của mình và ra lệnh trả tự do cho bị can bị cáo ngay nếu việc giam giữ là trái pháp luật Bị can, bị cáo là nạn nhân của việc bắt hoặc giam giữ người trái pháp luật đều có quyền được bồi thường thiệt hại

Ý nghĩa tạm giam như một biện pháp hữu hiệu đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đạt hiệu quả cao nhất: Khoa học pháp lý thời kỳ xô

viết (Liên Xô cũ) đã có những nghiên cứu khá sớm và đồ sộ về biện pháp ngăn chặn tạm giam, trong đó đã làm nổi bật khái niệm, bản chất của các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng Tác giả ZD Enhikeev nhấn mạnh bản chất phòng ngừa của các biện pháp ngăn chặn khi cho rằng các biện pháp ngăn chặn

là một phạm trù đặc biệt, có ý nghĩa phòng ngừa Cũng nhấn mạnh vào đặc điểm này song tác giả Andreea Simona cho rằng các biện pháp ngăn chặn là các biện

48 I.L.Trunov và L.K.Trunova (2003), “Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự”, Saint- Peterburg

Trung tâm pháp lý Press, tr 153

49 Điều 2, Chương 1 Hiến pháp Liên bang Nga cập nhật ngày 14/09/2022,

http://www.constitution.ru/10003000/10003000-3.htm

Trang 34

28

pháp cưỡng chế để các cơ quan tư pháp hình sự áp dụng đảm bảo hoạt động TTHS,

để ngăn chặn bị can, bị cáo trốn tránh sự truy tố, xét xử hoặc để ngăn cản việc tiếp tục thực hiện tội phạm Tương tự, tác giả Marin Alin đưa ra quan niệm: các biện pháp phòng ngừa là thủ tục của pháp luật TTHS, có tính chất cưỡng chế và ngăn cản bị can, bị cáo đã hoặc sẽ thực hiện một số hoạt động nhất định mà hoạt động này có tác động tiêu cực đến thủ tục TTHS.50 Một biện pháp ngăn chặn dưới hình thức tạm giam, theo I.L Petrukhin, có những ý nghĩa sau đây:

(i) Ngăn chặn việc bị can, bị cáo trốn tránh việc điều tra, truy tố và xét xử; (ii) Ngăn việc bị can, bị cáo bị cáo có thể tiếp tục phạm tội;

(iii) Ngăn chặn bị can bị cáo có thể đe dọa nhân chứng, những người tham gia

tố tụng hình sự khác, tiêu hủy chứng cứ hoặc cản trở quá trình tố tụng trong vụ án hình sự

Ý nghĩa tạm giam là một biện pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, thể hiện sự kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước Liên bang Nga: Việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ góp phần ổn định trật tự xã hội, quyền và

các lợi ích cá nhân trong xã hội được tôn trọng Bàn về vấn đề thủ tục TTHS nói chung và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói riêng, trong đó có việc áp dụng biện pháp tạm giam, có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng cần cân nhắc mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam Trong khi coi biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp bảo vệ trật tự xã hội và quyền con người nói chung, lại vô tình xâm phạm đến quyền của những người, mà theo nguyên tắc suy đoán vô tội chưa bị coi là tội phạm Các nội dung này được thể hiện qua các công trình nghiên

cứu “Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự” do I.L.Trunov và

L.K.Trunova thuộc Trung tâm pháp luật hợp tác về lý thuyết và thực tiễn của Luật hình sự và TTHS Nga thực hiện năm 2003

Trong luật TTHS Liên bang Nga, khi quy định về mục đích, điều kiện để áp dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến giữ, giam người bị buộc tội, thì luôn chú ý đến vấn đề ban hành các quy định này cũng như cả việc thi hành các quy định

đó trên thực tế phải luôn thực sự chú ý đến yếu tố bảo vệ quyền lợi của người bị

buộc tội Chẳng hạn, trong “Giáo trình Tố tụng hình sự” của Đại học tổng hợp quốc gia Mát-xcơ-va, quan niệm việc “giam giữ (bắt giữ) bị can hoặc nghi phạm là thực thi hơn cả, so với tất cả các biện pháp cưỡng chế khác, hạn chế quyền hiến định và

tự do của con người mà cho đến thời điểm bị buộc tội khi giả định về sự vô tội vẫn

50 Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Tlđd, tr.16

Trang 35

29

được coi là vô tội Vì vậy, để áp dụng biện pháp này cần bảo đảm đáng tin cậy đặc

1.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam

Pháp luật Liên bang Nga kế thừa truyền thống pháp luật của Liên Xô rất sâu sắc, nhiều quy chế pháp lý hình sự từ thời Liên Xô hiện vẫn được áp dụng ngày nay ở Liên bang Nga Tương tự, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là pháp luật hình sự và TTHS chịu nhiều ảnh hưởng từ pháp luật Liên Xô qua các con đường như: các học giả được đào tạo từ Liên Xô; hệ thống pháp luật XHCN mà hiện vẫn chi phối mạnh mẽ đời sống pháp lý của Việt Nam Do vậy, tác giả cho rằng, pháp luật TTHS của Việt Nam

và Liên bang Nga ngày nay có nhiều tương đồng do cùng chịu ảnh hưởng bởi nguồn pháp luật của Liên Xô Mặt khác, sau khi Liên Xô tan rã, cả Việt Nam và Liên bang Nga bước vào các thời kỳ cải cách xã hội và pháp luật phù hợp với nền tảng và mục tiêu phát triển riêng Điều này gián tiếp tác động đến hệ thống pháp luật ảnh hưởng từ Liên Xô trước đó Trải qua quá trình vận động, thay đổi, hai hệ thống pháp luật đã tạo nên các đặc trưng riêng của mình, trong đó có pháp luật TTHS Các quy định về biện pháp tạm giam tromg TTHS Liên bang Nga và Việt Nam đều có sự tương đồng trong

cơ sở lý luận về bản chất của tạm giam Đó là biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo để hạn chế quyền tự do của họ nhằm ngăn chặn tội phạm Biện pháp tạm giam do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng với những căn

cứ và thủ tục chặt chẽ nhằm đảm bảo hoạt động tố tụng và thi hành án Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng trong truyền thống pháp luật mỗi nước nên có sự khác nhau về mức độ trong việc ghi nhận và tiếp thu các yếu tố của cách tiếp cận về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong TTHS Việt Nam và Liên bang Nga Nghiên cứu các quy định của BLTTHS Liên bang Nga và cách tiếp cận khái niệm biện pháp tạm giam trong

khoa học TTHS Liên bang Nga có thể thấy biện pháp tạm giam với tư cách là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của tòa án đối với bị can, bị cáo về tội

mà luật hình sự quy định hình phạt từ trên 03 năm trong trường hợp không thể áp

BLTTHS Liên bang Nga ghi nhận “biện pháp tạm giam chỉ có thể được thực hiện nếu không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khác hơn” và quy tắc

này là quy tắc bắt buộc Việc xem xét này có nghĩa là Tòa án phải chỉ ra các nguyên

do vì sao không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác đối với bị can bị cáo mà

51 Zertsalo (1997), Tlđd, tr 167

52 «Содержание под стражей лиц, ожидающих судебного разбирательства, не должно быть общим правилом» (см.: Международный пакт о гражданских и политических правах 1966 г., п 3 ст 9)

Trang 36

30

phải chọn biện pháp tạm giam Quy tắc này chưa được tiếp thu vào trong các điều luật liên quan đến biện pháp tạm giam của BLTTHS Việt Nam, dẫn đến những bất cập trong quy định cũng như nhận thức của người tiến hành tố tụng về cách áp dụng

biện pháp này Đó là việc tạm giam bị can bị cáo trong một số trường hợp không đúng căn cứ, sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện pháp nghiệp vụ điều tra Những sai sót đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phần nào dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của TTHS nói chung và BPTG nói riêng, làm suy giảm niềm tin của công dân đối với tính tôn

thực hiện nếu không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khác hơn” trong các quy định BLTTHS Việt Nam về biện pháp tạm giam là góp phần hoàn thiện

các chế định pháp lý liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự, trong đó có chế định tạm giam trong TTHS nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp mà chủ yếu là chú trọng đến việc đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân; Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam”54

Từ những căn cứ nêu trên tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định của BLTTHS năm 2015:

Bổ sung quy định “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo và chỉ có thể được thực hiện nếu không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khác hơn” vào ngay sau Điều 119:

Sửa đổi Điều 119 BLTTHS năm 2015 như sau:

“Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo và chỉ có thể được thực hiện nếu không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khác hơn

1 Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng

53 Trần Văn Độ (2012), “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam”, Tạp

chí Kiểm sát, Số 21, tr.37

54 Trần Văn Độ (2012), Tlđd, tr.37-38

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 Khác
2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 Khác
3. Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC Khác
4. Nghị định số 52/2019/NĐ-CP ngày 14/06/2019 quy định chi tiết một số điều Luật Đặc xá năm 2018;Văn bản quy phạm pháp luật nước ngoài Khác
6. Điều 2, Chương 1 Hiến pháp Liên bang Nga cập nhật ngày 14/09/2022 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w