Bởi vì nhận thấy tính cấp thiết, tính thực tiễn của vấn đề này nên đó chính là lí do mà tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứ
Trang 1LƯƠNG TRƯỜNG THỊNH
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU
LÀ CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 10 – 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU
LÀ CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ CN : 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Phương Nam Học viên: Lương Trường Thịnh – CHLKT khóa 34
TP HỒ CHÍ MINH – 10 – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu, nội dung trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
Đồng thời, tôi cũng xin cam đoan những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào và xin chịu trách nhiệm với những kết quả nghiên cứu của luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Lương Trường Thịnh
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU LÀ CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 6
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thị trường chứng khoán 6
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của cổ phiếu 9
1.1.3 Khái niệm, phân loại nhà đầu tư và nhà đầu tư cá nhân 10
1.1.4 Vai trò của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam 13
1.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 15 1.3 Tổng quan nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam 19
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 19
1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam 20
1.3.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2 28
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU LÀ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 28
Trang 52.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam 282.1.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền tham gia thị trường của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 282.1.2 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu
tư cổ phiếu là cá nhân 402.1.3 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân 482.2 Định hướng và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 562.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 562.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân phải theo xu hướng hội nhập quốc tế 562.2.1.2 Hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân phải đảm bảo tính phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam 572.2.1.3 Hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân phải đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán 582.2.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 592.2.2.1 Hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền tham gia thị trường của nhà đầu
tư cổ phiếu là cá nhân 592.2.2.2 Hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 622.2.2.3 Hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66 KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NĐT Nhà đầu tư NĐTCN Nhà đầu tư cá nhân SGDCK Sở Giao dịch Chứng khoán SEC U.S Securities and Exchange Commission TTCP Thị trường cổ phiếu
TTCK Thị trường chứng khoán UBCKNN Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của Chính Phủ là đến năm 2025 quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP và đến năm 2030 quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP1 Một trong những giải pháp để đạt được mục tiêu đó là phải đảm bảo được thị trường vận hành an toàn, minh bạch, nâng cao khả năng cạnh tranh và bảo
vệ lợi ích nhà đầu tư2 Có thể thấy rằng việc bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu
là vấn đề quan trọng cần phải chú ý tới Mặc dù vậy nhưng thực tiễn việc áp dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu có thật sự chính xác, hiệu quả, kịp thời hay chưa vẫn là một vấn đề còn đang rất được quan tâm Vào ngày 11/05/2022, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ lo lắng với sự bất thường của thị trường chứng khoán thời gian vừa qua3 Tình trạng thao túng, làm giá cổ phiếu ngày càng tinh vi cùng với đó là gây hậu quả thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư, đặc biệt đối tượng dễ bị tổn hại nhất là nhà đầu tư cá nhân Một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trên thị trường cổ phiếu gần đây là vụ án liên quan tới cựu Chủ tịch Tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết4 Ngoài vấn đề thiệt hại về mặt kinh tế thì tác giả cho rằng nguy cơ nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường chứng khoán, cũng như mất niềm tin vào sự bảo
vệ của pháp luật còn đáng quan ngại hơn Bởi vì nhận thấy tính cấp thiết, tính thực tiễn của vấn đề này nên đó chính là lí do mà tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam” nhằm mục đích đào sâu nghiên cứu, đóng góp ý kiến về pháp luật bảo vệ nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân trong tình hình thị trường cổ phiếu bất ổn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá nhỏ so với các thị trường chứng khoán khác trên thế giới nhưng vấn đề bảo vệ nhà đầu tư luôn là một chủ đề nổi bật được nhiều học giả chú ý Trong đó có luận án tiến sĩ luật học của Hoàng
https://thanhnien.vn/chu-tich-quoc-hoi-bao-cao-anh-khai-chung-khoan-bay-gio-no-qua-bat-thuong-post1457342.html , truy cập ngày 15/09/2022
4 Phương Thủy, “Khởi tố thêm Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, https://cand.com.vn/Ban-tin-113/khoi-to-them-chu-tich-flc-trinh-van-quyet-va-cac-dong-pham-toi-lua- dao-chiem-doat-tai-san-i665321/ , truy cập ngày 15/09/2022
Trang 8Thị Quỳnh Chi về “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam” (Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008), luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thanh Tú về “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam” (Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006), luận văn “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo quy định của pháp luật chứng khoán” của Trần Thị Hà Trang (Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2008), luận văn thạc sĩ luật học của Vũ Thị Huyền Ngọc về “Bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam” (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) cùng với nhiều luận văn, luận án và bài viết khác trên các tạp chí chuyên ngành…
Thứ nhất, nhìn chung các bài nghiên cứu, bài viết đã được thực hiện khá lâu
so với hiện tại, do đó nội dung các bài viết tập trung nhiều vào các quy định pháp luật cũ được ban hành và hiệu lực vào thời điểm đó Cụ thể là được viết theo Luật Chứng khoán (Luật số 70/2006/QH11) ngày 29 tháng 06 năm 2006 đã hết hiệu lực, trong khi hiện nay đã có luật mới là Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 26 tháng 11 năm 2019 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2021 Vì vậy mà
có rất nhiều sự thay đổi trong pháp luật về chứng khoán hiện hành mà các bài nghiên cứu cũ không còn phù hợp nữa
Thứ hai, các luận văn, luận án thường khái quát chung nhiều nhóm nhà đầu
tư hơn là tập trung vào một nhóm nhà đầu tư cố định như chỉ tập trung vào nhà đầu
tư cá nhân Vì lí do này mà các bài viết, bài nghiên cứu đi theo chiều rộng cho nhiều loại nhà đầu tư hơn là tập trung nghiên cứu theo chiều sâu vào một nhóm nhà đầu tư nhất định Từ đó dẫn tới việc các bài luận văn, luận án có nhiều thực trạng khác nhau và các giải pháp được nêu ra cũng rất chung chung cho tất cả nhà đầu tư
Thứ ba, do sự bùng phát của đại dịch Covid-19 nên mọi người phải tuân thủ quy định về giãn cách xã hội Vì vậy, trong hai năm qua không có nhiều đề tài mới được công bố Trong khi đó, hiện nay các quy định của pháp luật đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với các hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú của thị trường chứng khoán Cụ thể, các mức xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán cũng được tăng lên để phù hợp với thực tiễn Trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại, có thể nói rằng chưa bao giờ mà
Trang 9thị trường chứng khoán lại phát triển đến như vậy Một nguyên nhân trong đó là do đại dịch Covid-19 khiến cho nhiều người phải ở nhà, từ đó chọn kênh đầu tư chứng khoán để tăng thêm thu nhập
Vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá lại quy định của pháp luật với tình hình thực tiễn mới hiện nay Đặc biệt là sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường chứng khoán thế giới nói chung đã chứng kiến nhiều sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử Mặc dù, có sự khác nhau giữa các công trình nghiên cứu nêu trên so với đề tài luận văn của tác giả như đối tượng nghiên cứu và pháp luật áp dụng Tuy nhiên, tác giả vẫn kế thừa một số lý luận về bảo vệ nhà đầu tư phù hợp với những vấn đề nghiên cứu trong luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nêu lên những vấn đề thực tiễn mới hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và tìm ra những vấn đề pháp lý vẫn còn chưa phù hợp trong các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Để thực hiện được những mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
Một là, nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Cụ thể là tập trung làm rõ khái niệm, vai trò, bản chất, sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư
cổ phiếu là cá nhân
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân nhằm chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để thay đổi phù hợp với thực tại
Ba là, đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong thực tế, nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân có thể tham gia vào các loại thị trường chứng khoán như là thị trường chứng khoán tập trung và thị trường chứng khoán phi tập trung (thị trường Over the counter - OTC) Ngoài ra, thị trường chứng khoán còn chia ra thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp cũng như việc nhà đầu tư
Trang 10cá nhân cũng có nhiều hình thức để đầu tư như mua, bán cổ phiếu để kiếm lợi nhuận thông qua việc chênh lệch giá hoặc tham gia thông qua các quỹ đầu tư cổ phiếu Do
đó, có rất nhiều hướng để nghiên cứu về đề tài này Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các vấn đề về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu
tư cá nhân trong phạm vi nghiên cứu sau:
Về nội dung nghiên cứu: Để đảm bảo về yêu cầu giới hạn nội dung số trang trong luận văn đồng thời đảm bảo được tính chuyên sâu của đề tài nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các quy định bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cá nhân trong nước khi họ tham gia giao dịch mua, bán cổ phiếu trong thị trường thứ cấp trên thị trường chứng khoán tập trung
Về phạm vi lãnh thổ: Luận văn chủ yếu nghiên cứu về những quy định hiện hành của pháp luật chứng khoán Việt Nam nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, cụ thể là sử dụng Luật Chứng khoán (Luật số 54/2019/QH14) ngày 26 tháng 11 năm 2019 và các văn bản có hiệu lực hiện nay Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số tài liệu nước ngoài
để giúp so sánh, đánh giá với các quy định trong nước nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chung của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, sử dụng các phương pháp: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê, hệ thống hóa và khảo cứu thực tiễn để đưa ra những đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân nhằm đưa ra được những kết luận mang tính khách quan và khoa học, có cơ sở cho những kiến nghị của luận văn
Tùy thuộc vào từng nội dung và cách thức phân tích, luận văn sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong từng phần Cụ thể:
Chương I: Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích
để xác định những nội dung cơ bản chung về thị trường chứng khoán, chứng khoán,
cổ phiếu cùng những nội dung khác để làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu
Chương II: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, hệ thống hóa, so sánh nhằm phân tích tính hợp lý và tính hiệu quả trong việc bảo vệ nhà đầu tư cổ phiếu là
cá nhân Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp hệ thống hóa, khảo cứu thực
Trang 11tiễn nhằm chỉ ra và làm rõ những điểm hợp lý, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành trong việc bảo vệ nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về phương diện khoa học, kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa thiết thực trong việc góp phần xây dựng các cơ sở lý luận, đáp ứng cho nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Từ các kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn đã đóng góp thêm những luận điểm khoa học trong việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân nói riêng và bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nói chung
Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ chỉ ra được những điểm hạn chế trong các quy định pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Trên cơ sở đó, luận văn đã có những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật dựa trên các nguyên tắc cơ bản và các mục tiêu hướng đến của pháp luật
Tác giả hi vọng luận văn có thể là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý, cơ sở đào tạo về cổ phiếu nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung Đồng thời có thể giúp ích cho những người quan tâm tìm hiểu về lĩnh vực này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương như sau:
Chương 1: Những lý luận chung về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
Chương 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU LÀ CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1.1 Khái quát về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) được hình thành từ những nhu cầu đơn lẻ ban đầu của các thương gia và được phát triển một cách tự nhiên, tự phát và sơ khai
Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là Sở giao dịch5
Xét dưới góc độ kinh tế, có nhiều quan điểm khác nhau như là “Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, hoạt động của thị trường chứng khoán nhằm mục đích huy động các nguồn vốn trong xã hội để cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức và Chính phủ nhằm phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, và trao đổi mua bán các chứng khoán”6 hoặc là “Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại chứng khoán”7
Xét dưới góc độ pháp luật, trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam không có định nghĩa chính xác về thuật ngữ “thị trường chứng khoán”, nhưng thay vào đó là thuật ngữ “thị trường giao dịch chứng khoán” Căn cứ theo khoản 27 Điều 4 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 được ban hành ngày 26 tháng 11 năm
2019 thì “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán” Có thể thấy rằng việc định nghĩa thuật ngữ “thị trường giao dịch chứng khoán” chỉ thể hiện được một phần của TTCK chứ không hoàn toàn là định nghĩa về TTCK
Bởi vì đứng dưới những góc độ phân tích khác nhau sẽ có cách định nghĩa
khác nhau nhưng nhìn chung tác giả cho rằng có thể định nghĩa: “Thị trường chứng
khoán là nơi, địa điểm mà bằng các hình thức khác nhau nhằm mục đích mua, bán,
5 Học viện Tài Chính (2009), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Bạch Đức Hiển, NXB Tài chính, tr.8
6 Phạm Hoàng Anh (2017), Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh, Đại học Bách khoa Hà Nội, tr.3
7 Bạch Đức Hiển, tlđd (5), tr.9
Trang 13giao dịch các loại chứng khoán”
Trong quá trình hoạt động việc mua, bán, giao dịch chứng khoán thì TTCK
đã thể hiện một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, TTCK giúp tạo thanh khoản cho các loại chứng khoán Thanh
khoản của các loại chứng khoán là khả năng chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt và ngược lại TTCK đóng vai trò là nơi tập hợp, kết nối giữa nhiều người mua, bán chứng khoán Điều đó giúp chứng khoán được giao dịch một cách thuận lợi, dễ dàng chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt và ngược lại TTCK càng phát triển thì tính thanh khoản của các loại chứng khoán càng cao
Thứ hai, TTCK có tính rủi ro Chứng khoán là tài sản tài chính chịu tác động
lớn bởi các loại rủi ro như rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro chính trị, rủi
ro thông tin bất cân xứng… Vì vậy, TTCK cũng mang tính rủi ro do hàng hóa của TTCK mang lại
Thứ ba, TTCK là thị trường liên tục Bởi vì sau khi các chứng khoán được
phát hành trên thị trường sơ cấp thì những chứng khoán đó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Do đó, mà TTCK sẽ liên tục vận hành để giúp cho các chứng khoán giao dịch một cách không ngừng Theo cách thức hoạt động của thị trường, chỉ khi không còn bất kì một chứng khoán nào trên thị trường hoặc không còn ai mua bán chứng khoán nữa thì TTCK mới ngừng sự vận hành liên tục này
Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch, TTCK có thể được chia thành thị trường cổ phiếu (TTCP), thị trường trái phiếu và thị trường các chứng khoán phái sinh TTCP là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và giao dịch TTCP gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp8 Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích vào TTCP thứ cấp
TTCP sơ cấp (còn gọi là thị trường phát hành cổ phiếu) là thị trường mua bán cổ phiếu mới được phát hành Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấp một Chức năng quan trọng nhất của thị trường cổ phiếu sơ cấp là huy động vốn cho nền kinh tế, trong đó tổ chức phát hành cổ phiếu đóng vai trò là người đi huy động vốn, còn người mua cổ phiếu đóng vai trò là nhà đầu tư Tiền bán cổ phiếu trên thị trường sơ cấp sẽ thuộc về tổ chức phát hành Tổ chức phát hành thông thường là các
8 Bạch Đức Hiển, tlđd (5), tr.14-15
Trang 14doanh nghiệp, thông qua việc phát hành cổ phiếu để gia tăng nguồn vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh
TTCP sơ cấp có một số đặc điểm như sau:
Một là, thị trường này không hoạt động liên tục, mà chỉ khi các doanh
nghiệp phát sinh nhu cầu huy động vốn thì mới hoạt động
Hai là, giá cổ phiếu trên thị trường sơ cấp là cố định và được quyết định bởi
sở hữu chứng khoán
Thị trường thứ cấp có vai trò tạo điều kiện thuận lợi để việc mua bán lại những chứng khoán từ thị trường sơ cấp diễn ra dễ dàng và hiệu quả hơn Ngoài ra, thị trường thứ cấp cũng là nơi định lại giá bán của cổ phiếu mà các tổ chức phát hành đã bán ra ở thị trường sơ cấp Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp
TTCP thứ cấp có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục thông qua các
phiên giao dịch
Thứ hai, các khoản thu từ bán cổ phiếu trên thị trường thứ cấp thuộc về các
nhà đầu tư chứ không phải tổ chức phát hành
Thứ ba, việc mua bán cổ phiếu trên thị trường thứ cấp có thể nhằm phục vụ
nhu cầu cất giữ tài chính, hoặc kỳ vọng thu được lợi nhuận từ mua bán chênh lệch giá, hay để nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm thông qua cổ tức
Thứ tư, hoạt động của thị trường thứ cấp chỉ làm thay đổi quyền sở hữu cổ
phiếu đã được phát hành mà không làm tăng thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thứ năm, giá cổ phiếu trên thị trường thứ cấp là không cố định mà phụ thuộc
vào cung và cầu của cổ phiếu đang được giao dịch Các nhà đầu tư không mua cổ phiếu từ tổ chức phát hành mà mua bán trao đổi lại với các nhà đầu tư khác trên thị
Trang 15trường
Như vậy, nếu không có thị trường sơ cấp thì không có cổ phiếu để lưu thông trên thị trường thứ cấp, còn nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt động do cổ phiếu thiếu tính thanh khoản Vì vậy nên thị trường sơ cấp và thứ cấp có quan hệ tác động mật thiết với nhau Trong đó, thị trường sơ cấp đóng vai trò là cơ sở, tiền đề cho thị trường thứ cấp và ngược lại thị trường thứ cấp đóng vai trò là động lực, thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của cổ phiếu
Trong TTCK thì chứng khoán chính là hàng hoá của thị trường Theo quy định pháp luật hiện nay thì chứng khoán được xem là tài sản, được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký, chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định9 Có thể hiểu tài sản ở đây là một nguồn lực có giá trị kinh tế với kỳ vọng chúng sẽ mang lại lợi ích trong tương lai giống như việc nhà đầu tư mua và nắm giữ chứng khoán với hi vọng sẽ có được lợi nhuận
Chứng khoán được thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì tác giả chỉ tập trung phân tích về một loại hình của chứng khoán đó chính là cổ phiếu
Dưới góc độ kinh tế, cổ phiếu phản ánh giá trị phần vốn góp của chủ sở hữu
nó đối với công ty cổ phần, giá trị cổ phiếu trên thị trường phản ánh giá trị tương đối của công ty cổ phần đã phát hành ra nó Tổng giá trị cổ phiếu thuộc sở hữu của mỗi cổ đông phản ánh tỷ lệ vốn góp của cổ đông đó trong công ty cổ phần Cổ phiếu được xem như một loại tài sản đầu tư của cổ đông và có thể chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán
Dưới góc độ pháp lý, có quan điểm cho rằng cổ phiếu được xem như chứng
cứ pháp lý chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với công ty cổ phần khi người đó góp vốn vào công ty để trở thành một trong số các chủ sở hữu của công
ty10 Tuy nhiên theo quy định pháp luật hiện nay thì cổ phiếu là loại chứng khoán
xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần
9 Khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
10 Vũ Hoài Thu (2020), Pháp luật về giao dịch cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung ở
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.9-10
11 Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
Trang 16Cổ phiếu có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, cổ phiếu không có kỳ hạn và cổ đông không được hoàn vốn Cổ
phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần, chỉ có chiều góp vào và không có kỳ hạn hoàn vốn Nếu công ty rơi vào tình trạng phá sản hay giải thể thì cổ phiếu đó sẽ không tồn tại nữa Điều này đồng nghĩa với việc cổ đông sẽ mất đi một phần hay toàn bộ khoản đầu tư ban đầu Tình huống xấu nhất trong việc đầu tư vào cổ phiếu là khi cổ phiếu không còn giá trị
Thứ hai, giá trị cổ tức không cố định và phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên cổ tức cổ phiếu Cụ thể, khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì cổ đông được hưởng lợi nhuận cao hơn so với các loại chứng khoán có lãi suất cố định Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn hay làm ăn thua lỗ, cổ tức có thể rất thấp hoặc không có
cổ tức
Thứ ba, giá cổ phiếu biến động theo thị trường Giá trị cổ phiếu biến động
mạnh trên thị trường thứ cấp vì nó chịu tác động của nhiều nhân tố, đặc biệt là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư, cổ phiếu có tính thanh khoản cao Cổ phiếu có khả năng chuyển đổi
thành tiền mặt dễ dàng Tuy nhiên, đặc điểm này cũng phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu và mối quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán
Thứ năm, cổ phiếu có tính rủi ro cao Tính rủi ro của cổ phiếu phụ thuộc vào
thông tin và tình hình phát triển của doanh nghiệp cũng như tình hình chính trị của quốc gia và toàn thế giới cũng như tâm lý của các cổ đông nếu họ nắm bắt thông tin không chính xác Khi cổ phiếu được phát hành, rủi ro lúc này sẽ thuộc về các chủ sở hữu cổ phiếu
1.1.3 Khái niệm, phân loại nhà đầu tư và nhà đầu tư cá nhân
Theo từ điển Tiếng Việt thì đầu tư là “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gìsao cho có hiệu quả kinh tế, xã hội”12 hoặc là “tập trung nhiều, bỏ nhiều sức lực, thời gian vào công việc gì để có thể thu kết quả tốt”13 Như vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng đầu tư là việc bỏ ra một lượng giá trị để hình thành tài sản với
Trang 17mong muốn tài sản đó sẽ mang lại giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu
Theo quy định của pháp luật hiện này, “Đầu tư chứng khoán là việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán”14
Tác giả cho rằng việc quy định về thuật ngữ “đầu tư chứng khoán” như vậy vẫn chưa đầy đủ Bởi vì theo định nghĩa của từ “đầu tư” thì ngoài yếu tố bỏ tài lực
để mua, bán chứng khoán thì còn yếu tố về mục đích của hành vi đó thì mới cấu
thành hành vi “đầu tư” Do đó, tác giả cho rằng có thể định nghĩa: “Đầu tư chứng
khoán là việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán nhằm mục đích thu lợi”
Xét theo góc độ pháp luật, các văn bản pháp luật hiện hành không đưa ra khái niệm “nhà đầu tư chứng khoán”, mà chỉ có khái niệm về “nhà đầu tư” trong Luật Chứng khoán 2019 tức là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán15 Tuy nhiên khái niệm “nhà đầu tư” cũng được quy định ở Luật Đầu
tư (Luật số 61/2020/QH14) ngày 17 tháng 06 năm 2020 là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong đó bao gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu
tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài16 Ngoài ra thuật ngữ
“nhà đầu tư” cũng có thể là khách hàng hoặc những người tiêu dùng khác của các dịch vụ tài chính17 Có thể thấy rằng để làm rõ khái niệm “nhà đầu tư” còn phải tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư mới có thể xác định được chính xác, rõ ràng
Như vậy, dựa theo các khái niệm mà pháp luật quy định là “nhà đầu tư” và
“đầu tư chứng khoán” có thể hiểu chung: “Nhà đầu tư chứng khoán là tổ chức, cá
nhân tham gia đầu tư bằng cách mua, bán, nắm giữ các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán”
Trong thực tế có rất nhiều loại NĐT khác nhau, vì vậy khi xét trên nhiều góc
độ khác nhau thì có thể phân loại NĐT như sau:
Căn cứ theo quốc tịch thì có NĐT trong nước và NĐT nước ngoài18
Căn cứ vào tính chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư thì có thể phân làm NĐT chuyên nghiệp và NĐT không chuyên nghiệp19
Căn cứ vào chủ thể thì có thể chia làm NĐT cá nhân (NĐTCN) và NĐT tổ
14 Khoản 15 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
15 Khoản 16 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
16 Khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư 2020
17 The International Organization of Securities Commissions (2017), Objectives and Principles of Securities Regulation, tr.3
18 Khoản 32 Điều 3 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán
19 Điều 11 Luật Chứng khoán 2019
Trang 18chức20
Mặc dù có rất nhiều loại NĐT khác nhau nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích vào NĐTCN trong nước là
cá nhân người Việt Nam
Như đã phân tích ở trên thì NĐTCN trong nước cũng là một bộ phận của NĐTCN nói riêng và của NĐT nói chung Do đó, NĐTCN cũng mang điểm chung của NĐT, tuy nhiên NĐTCN cũng có những đặc trưng riêng của mình Có quan điểm cho rằng NĐTCN là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, thực hiện đầu tư trên tài khoản của chính mình để đạt được mục tiêu tài chính của cá nhân21 Cũng có quan điểm khác cho rằng NĐTCN là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư
số tiền để dành của mình vào việc mua chứng khoán để hưởng lợi tức, bán chứng khoán của mình trên TTCK thứ cấp để rút vốn khi cần thiết và mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận trong các khoản đầu tư của họ22 Tuy nhiên ngoài những đặc trưng được nêu từ các quan điểm trên thì NĐTCN còn có đặc trưng là chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng23, nhưng thường tham gia đầu tư với quy mô nhỏ Không những vậy, NĐTCN còn bị đánh giá là có sự hạn chế trong việc hiểu biết về thị trường, khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin Đặc biệt là trong thực tiễn hiện nay, xuất phát từ đại dịch Covid-19 đã sinh ra thuật ngữ “nhà đầu tư F0” nhằm nói đến những người mới tham gia thị trường chứng khoán với đặc trưng thông thường
là kiến thức còn hạn chế, tâm lý chưa vững vàng, muốn lướt sóng nhanh, kiếm lời lớn Đa số nhóm F0 này đầu tư cảm tính theo số đông hoặc bị lôi kéo, dụ dỗ chứ không thực sự dựa trên chất lượng của cổ phiếu và giá trị của doanh nghiệp niêm yết24 Thuật ngữ này bao gồm cả tổ chức lẫn cá nhân nhưng chủ yếu để nói về NĐTCN bởi vì số lượng chiếm áp đảo Điều này cho thấy rằng nhóm NĐTCN này rất dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích khi bị lôi kéo, dụ dỗ và thậm chí là bị lừa đảo
Đối với khía cạnh tính chuyên nghiệp trong đầu tư chứng khoán, NĐTCN được xem là NĐT chuyên nghiệp trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, NĐTCN có chứng chỉ hành nghề chứng khoán được xem là NĐT
20 Khoản 16 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
21 Nguyễn Đức Hiển (2012), Hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận án tiến sỹ
kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.14
22 Lê Thị Thảo (2012), “Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán”, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp, số 5 (213), tr.47-50
23 Được trình bày ở phần 1.1.4 của luận văn
24 “Chơi chứng khoán để "ăn xổi", nhiều nhà đầu tư F0 nhận "trái đắng"”, khoan-de-an-xoi-nhieu-nha-dau-tu-f0-nhan-trai-dang-2023435.html , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 19https://vietnamnet.vn/choi-chung-chứng khoán chuyên nghiệp25 Theo từ điển Tiếng Việt thì chuyên nghiệp là
“chuyên về một nghề, phân biệt với nghiệp dư” hoặc là “nghề nghiệp chuyên môn”26 Điều này là hợp lí bởi vì sau khi được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên môn về đầu tư chứng khoán thì nhóm NĐTCN này cũng xem như là có nghề nghiệp chuyên môn về chứng khoán Đây cũng là nhóm NĐTCN ít cần sự bảo vệ về quyền
và lợi ích hơn các NĐTCN thông thường do có khả năng nhận biết và phòng tránh được nhiều loại rủi ro khác nhau trên thị trường
Thứ hai, NĐTCN được xác nhận tư cách NĐT chuyên nghiệp khi nắm giữ
danh mục chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch có giá trị tối thiểu là 02 tỷ đồng theo xác nhận của công ty chứng khoán hoặc NĐTCN có thu nhập chịu thuế năm gần nhất tối thiểu là 01 tỷ đồng theo hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế hoặc chứng từ khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân chi trả cũng được xem là NĐT chứng khoán chuyên nghiệp27 Trường hợp này NĐTCN được xét tư cách NĐT chuyên nghiệp dựa trên năng lực tài chính Điều này không sai về mặt pháp luật nhưng có thể không làm thay đổi bản chất của NĐTCN đó28 Ví dụ như một số NĐTCN có đủ năng lực tài chính để có tư cách NĐT chuyên nghiệp nhưng lại không hề có kiến thức về đầu tư chứng khoán Đây là đối tượng có hiểu biết về thị trường hạn chế nhưng lại đầu tư với quy mô lớn thì có thể dễ dàng bị lôi kéo, dụ dỗ dẫn tới hậu quả
là bị thiệt hại nghiêm trọng về mặt kinh tế
1.1.4 Vai trò của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tính đến ngày 15/10/2021, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 7.166.000 tỷ đồng29, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng quy mô vốn hóa của TTCK hiện nay Vì vậy mà NĐT cổ phiếu là cá nhân có vị thế rất quan trọng trong TTCP nói riêng và TTCK nói chung Đồng thời, NĐTCN đầu tư cổ phiếu cũng là một bộ phận của NĐTCN nói chung Tính tới ngày 29/07/2022 thì số lượng tài khoản chứng khoán của NĐTCN trong nước là 6.301.682 tài khoản, trong khi đó
25 Điểm c khoản 1 Điều 11 Luật Chứng khoán 2019
26 Xem thêm http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Chuy%C3%AAn_nghi%E1%BB%87p , truy cập ngày 22/09/2022
27 Điểm d, đ khoản 1 Điều 11 Luật Chứng khoán 2019
28 Trần Thu Thảo, “Đề xuất sửa quy định nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp”,
https://www.nguoiduatin.vn/nang-chat-luong-cua-nha-dau-tu-chung-khoan-chuyen-nghiep-a553595.html , truy cập ngày 22/09/2022
29 Nguyễn Anh Việt, “Góp phần cơ cấu hệ thống tài chính theo hướng bền vững hơn”,
https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/gop-phan-co-cau-he-thong-tai-chinh-theo-huong-ben-vung-hon-678869 , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 20NĐT tổ chức trong nước chỉ có 14.019 tài khoản, NĐTCN nước ngoài có 37.593 tài khoản và NĐT tổ chức nước ngoài có 4.200 tài khoản30 Như vậy có thể thấy rằng NĐTCN trong nước là chủ thể có số lượng tài khoản tham gia đông đảo nhất trên TTCK, chiếm khoảng 99.12%31 Bởi vì chiếm số lượng gần như là tuyệt đối trên thị trường nên có thể nói NĐTCN là một trong những chủ thể quan trọng nhất của thị trường Tuy nhiên, dù là có ưu thế về số lượng nhưng thông thường xét về trình độ, kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực đầu tư thì NĐTCN khó có thể so sánh với các NĐT tổ chức chuyên nghiệp Ngoài ra, NĐTCN cũng thường có hạn chế về mặt pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình Từ đó có thể thấy rằng NĐTCN là chủ thể có nguy cơ gặp rủi ro cao nhất dù xét về mặt kinh tế hay pháp luật Dù vậy đi nữa thì cũng không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của NĐTCN trên thị trường Vai trò của NĐT cổ phiếu là cá nhân được thể hiện dưới một số nội dung sau:
Thứ nhất, NĐTCN đóng vai trò là một lực lượng tạo nên nguồn cầu của thị
trường Xét dưới góc độ kinh tế, TTCK là kênh đầu tư thu hút tiền nhàn rỗi của người dân32, đối tượng được nhắm đến ở đây thường là NĐTCN Có thể nói rằng nếu không có NĐTCN thì TTCK khó có thể hoạt động được bởi vì NĐTCN thuộc một trong hai lực lượng thiết yếu tạo nên TTCK, một lực lượng tồn tại song song với nguồn cầu là lực lượng tạo nên nguồn cung của thị trường chính là những tổ chức phát hành chứng khoán NĐTCN khi có tiền nhàn rỗi có thể chọn các kênh đầu tư khác nhau, tùy thuộc vào thời điểm cũng như mức độ sinh lời và rủi ro Trong đó kênh đầu tư chứng khoán khá được ưa chuộng vì vậy mà đã có một nguồn tiền lớn đổ vào đây từ các NĐTCN với hy vọng mang lại lợi nhuận
Thứ hai, NĐTCN góp phần thúc đẩy hoặc kéo lùi sự phát triển của thị trường
và nền kinh tế Khi niềm tin của NĐTCN bị suy giảm thì sẽ rất khó thuyết phục họ mua chứng khoán, kể cả khi các tổ chức phát hành chứng khoán hoạt động có hiệu quả Lúc đó, các tổ chức phát hành sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh Từ đó làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, gây ảnh hưởng tới toàn xã hội Ngược lại, nếu NĐTCN có niềm tin
http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vithongtinthitruong/thongkettck?_afrLoop=133008699 996000&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dnull%26_afrLoop%3D133 008699996000%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dom5ks3cqa_4 , truy cập ngày 21/09/2022
31 Số liệu tự tính dựa trên bảng thống kê
32 Mai Phương, “Huy động tiền nhàn rỗi qua kênh chứng khoán”, roi-qua-kenh-chung-khoan-post577270.html , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 21https://thanhnien.vn/huy-dong-tien-nhan-vào thị trường họ sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư giúp cho các tổ chức phát hành chứng khoán huy động được vốn để phát triển doanh nghiệp, giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và cho sự phát triển của xã hội
Thứ ba, NĐTCN là thước đo thể hiện sự phát triển của TTCK nói riêng và
của quốc gia nói chung Ở Việt Nam hiện nay, tỉ lệ người dân có tài khoản chứng khoán là khoảng 6.4%33, còn ở Hoa Kỳ thì con số này là khoảng 55%34 Có thể tính trên tổng dân số thì số lượng NĐTCN tham gia ở Việt Nam vẫn còn khá ít, điều đó thể hiện rằng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vẫn còn nhiều nhưng chưa được đưa vào thị trường Ngoài ra còn thể hiện TTCK Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn so với các cường quốc phát triển trên thế giới Nhìn vào mặt tích cực thì điều này cũng chứng minh rằng dư địa tăng trưởng thị trường còn rất lớn vì vậy mà cơ hội phát triển vẫn còn nhiều
1.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu
là cá nhân
Như đã phân tích ở phần 1.1.4 của luận văn thì do vai trò của NĐT cổ phiếu
là cá nhân rất quan trọng nên đối tượng này thuộc loại cần phải đặc biệt lưu ý NĐTCN đầu tư cổ phiếu là một bộ phận của NĐT, vì chiếm số lượng lớn nên có thể xem như một đại diện tiêu biểu của NĐT nói chung Do đó, tác giả sẽ phân tích từ
sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT nói chung (trong đó đã bao gồm NĐT cổ phiếu là cá nhân) rồi phân tích riêng tới NĐT cổ phiếu là cá nhân
Có thể thấy rằng chỉ khi các NĐT tham gia giao dịch trên thị trường thì mới duy trì và tăng cường được tính thanh khoản của các loại cổ phiếu Đây chính là yếu
tố quan trọng nhất để TTCP nói riêng và TTCK nói chung tồn tại và phát triển
Thực tế cho thấy, khi có hiện tượng gian lận, lừa đảo trên TTCP làm mất lòng tin của NĐT thì NĐT sẽ tìm cách bán cổ phiếu để bảo toàn vốn đầu tư Điều này có thể dẫn tới sự đổ vỡ của thị trường, thậm chí có thể ảnh hưởng lan truyền cho cả nền kinh tế
Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là vấn đề được tất cả các TTCK trên thế giới quan tâm Việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là chính sách
33 Lê Hoài An và Lâm Thái Hoàng Anh, “Đằng sau con số tài khoản chứng khoán kỷ lục là nỗi lo”,
https://thesaigontimes.vn/dang-sau-con-so-tai-khoan-chung-khoan-ky-luc-la-noi-lo/ , truy cập ngày 22/09/2022
34 Teresa Ghilarducci, “Most Americans Don’t Have A Real Stake In The Stock Market”,
stock-market/?sh=4934b6ef1154 , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 22https://www.forbes.com/sites/teresaghilarducci/2020/08/31/most-americans-dont-have-a-real-stake-in-the-quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển của TTCK ở bất kỳ quốc gia nào Tổ chức Quốc tế các Uỷ ban chứng khoán35 (IOSCO – International Organization of Securities Commissions) cũng khẳng định niềm tin của nhà đầu tư là nền tảng cho hoạt động thành công của thị trường tài chính thế giới36 cũng như mục tiêu của các quy định chứng khoán trong đó có việc bảo vệ các nhà đầu tư37 Đồng thời, việc công bố thông tin đầy đủ và công bằng là điều cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư, nâng cao niềm tin của nhà đầu tư, thúc đẩy tính thanh khoản và hiệu quả của thị trường38
Có thể thấy rằng việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT vừa là mục đích của việc ban hành Luật Chứng khoán, vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động chứng khoán và TTCK39
Theo Từ điển Tiếng Việt thì bảo vệ là “chống lại mọi sự huỷ hoại, xâm phạm
để giữ cho được nguyên vẹn”40 Trong trường hợp này, việc bảo vệ NĐT không phải là bảo vệ con người với tư cách là một thực thể sinh vật trong quá trình tồn tại
để được “tồn tại nguyên vẹn” mà là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT không bị xâm phạm
Khái niệm “bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT” có thể hiểu là việc phòng ngừa, chống lại mọi sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT trong quá trình đầu tư Để làm được điều này, một mặt pháp luật ghi nhận những quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT, mặt khác pháp luật tạo cơ chế chống lại mọi sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp đó và bảo đảm được thực hiện trên thực tế Mỗi loại NĐT lại có những đặc điểm khác nhau, dẫn đến họ sẽ có những lợi ích khác nhau, khả năng tự bảo vệ của họ cũng không giống nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung phân tích về NĐT cổ phiếu là cá nhân trong nước
Khi NĐTCN bỏ tiền đầu tư vào cổ phiếu là họ đã đầu tư vào một loại hàng
35 Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước, “Giới thiệu về tổ chức Quốc tế các Uỷ ban Chứng khoán IOSCO”,
http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/prinpage?dDocName=APPSSCGOVVN162066903&_adf.ctrl-state=hns0ml9gk_4&_afrLoop=289663049405000&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=hns0ml9gk_1#% 40%3F_afrWindowId%3Dhns0ml9gk_1%26_afrLoop%3D289663049405000%26dDocName%3DAPPSSC GOVVN162066903%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D7j416sul1_4 , truy cập ngày 22/09/2022
36 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions (2002), Principles for Auditor Oversight, tr.2
37 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions (2002), tlđd (37), tr.2
38 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions (2002), tlđd (37), tr.2
39 Khoản 3 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
40 Xem thêm http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/B%E1%BA%A3o_v%E1%BB%87 , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 23hoá đặc biệt, có tính rủi ro cao Sự cần thiết phải bảo vệ NĐTCN xuất phát từ những rủi ro mà NĐTCN có thể gặp phải khi tham gia đầu tư trên thị trường Có rất nhiều loại rủi ro có thể xảy ra đối với NĐTCN cần có sự bảo vệ của pháp luật, có thể kể đến một số loại rủi ro như sau:
Thứ nhất, rủi ro biến động bất thường của thị trường Đây là loại rủi ro xảy
ra khi sự biến động giá cả trên thị trường do mất cân bằng trong quan hệ cung - cầu giữa hai bên mua và bán trên thị trường gây nên có thể do tác động của yếu tố tâm
lý, tin đồn thiếu chính xác, hành vi đầu cơ, mua bán nội gián Sự biến động này có thể theo hai xu hướng: Một là, làm cho giá cổ phiếu tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài, vượt xa giá trị thực của nó gây ra hiện tượng “bong bóng chứng khoán”41 Hướng còn lại là làm cho giá cổ phiếu sụt giảm dưới mức giá trị thực của
nó do NĐT đua nhau bán tháo cổ phiếu khiến cho TTCK bị chao đảo, có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính
Thứ hai, rủi ro bất cân xứng thông tin của các chủ thể tham gia thị trường
Đây là rủi ro khá phổ biến gắn với lý thuyết về bất cân xứng thông tin42 khi NĐTCN không có được thông tin chính xác về cổ phiếu được mua, bán trên thị trường nên đã đưa ra quyết định đầu tư thiếu chính xác, gây thiệt hại cho NĐTCN Những người tiếp cận được với thông tin nội bộ bao giờ cũng có đầy đủ thông tin đáng tin cậy, thậm chí cả những thông tin chưa được công bố để đánh giá giá trị của
cổ phiếu một cách chính xác hơn hẳn những NĐT khác Thật đáng lo ngại khi tình trạng vi phạm về công bố thông tin vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vi phạm43 Mặt khác, do sự bất cân xứng về thông tin giữa người mua và người bán cổ phiếu trên thị trường có thể làm cho giá mua, bán không thể hiện đúng giá trị thực
41 Đây là một hiện tượng thị trường có đặc điểm là giá cổ phiếu tăng vọt lên mức cao hơn đáng kể so với giá trị cơ bản của cổ phiếu đó Xem thêm https://www.nasdaq.com/glossary/e/economic-bubble , truy cập ngày 22/09/2022
42 Các nhà kinh tế học James A Mirrlees và William Vickrey là những người đã sáng lập ra lý thuyết về giả thuyết không đối xứng thông tin Họ đã chỉ ra rằng những người được thông tin tốt hơn có thể khai thác lợi thế để đem lại lợi nhuận nhiều hơn Sau đó, những nhà kinh tế học George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz đã xây dựng và phát triển, hoàn thiện lý thuyết này và đoạt giải Nobel kinh tế vào năm 2001 Xem thêm Andrada Busuioc & Ristian Radu Birau, “The role of information asymetry in the outburst and the deepening of the contemporary economic crisis”, Challenges of the Knowledge Society Economy, tr.891 http://cks.univnt.ro/uploads/cks_2011_articles/index.php?dir=02_economy%2F&download=cks_2011_econo my_art_004.pdf, truy cập ngày 22/09/2022
43 Ủy ban chứng khoán Nhà nước, “Minh bạch thông tin doanh nghiệp niêm yết trên TTCK và một số vấn đề
http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/oracle/webcenter/portalapp/pages/vi/aptcnoidungchitiet.jspx?id=1245&_af rLoop=364874103758000&_afrWindowMode=0#%40%3F_afrLoop%3D364874103758000%26id%3D1245
%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Ddb2ffoq9z_9 , truy cập ngày 22/09/2022
Trang 24của cổ phiếu Vì vậy, pháp luật cần phải có những quy định rất chặt chẽ, chính xác, kịp thời trong vấn đề thông tin bất cân xứng, ngăn cấm những người tiếp cận với thông tin nội bộ không được lợi dụng để trục lợi, gây tổn hại đến NĐT khác
Thứ ba, rủi ro phá sản của tổ chức phát hành cổ phiếu Đây là rủi ro NĐTCN
gặp phải khi tổ chức phát hành hoạt động không có hiệu quả, không có khả năng thanh toán nợ, bị tuyên bố phá sản khiến giá cổ phiếu của nó sụt giảm nhanh chóng dẫn tới việc NĐTCN có nguy cơ bị mất trắng toàn bộ số vốn đầu tư
Thứ tư, rủi ro do hoạt động của công ty chứng khoán Đây là rủi ro xảy ra khi
trong quá trình tiếp nhận, xử lý, nhập lệnh và truyền lệnh vào hệ thống giao dịch, người hành nghề kinh doanh của công ty chứng khoán hành động thiếu cẩn trọng,
có sự nhầm lẫn gây thiệt hại đến quyền lợi của NĐTCN Bên cạnh đó, cũng không loại trừ khả năng một số bộ phận của công ty chứng khoán hành động thiếu trung thực, đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của khách hàng, gây tổn hại đến quyền lợi của NĐTCN Ví dụ như để đạt được lợi ích của mình trong hoạt động tự doanh, đôi khi công ty chứng khoán sẽ thực hiện những hoạt động chèn lệnh, giành mua, giành bán với khách hàng44 bằng những lợi thế công ty chứng khoán có được Ngoài ra, có thể vì mục tiêu sinh lợi, đôi khi để tối đa hóa lợi nhuận hoặc thực hiện các hoạt động cắt lỗ, công ty chứng khoán có thể tư vấn cho khách hàng mua, bán trái chiều trong giao dịch chứng khoán với công ty chứng khoán45 Trong khi đó, việc thu thập chứng cứ để chứng minh các vi phạm này của công ty chứng khoán là việc không thể đối vối NĐTCN46
Từ những rủi ro nêu trên, có thể thấy sự cần thiết trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân khi mà NĐTCN thông thường có sự hiểu biết
về thị trường, khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin hạn chế thường rất khó tránh khỏi các rủi ro như vậy Đặc biệt là rủi ro do hoạt động của công ty chứng khoán khi công ty chứng khoán đứng dưới góc độ là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp47 lại có thể xâm hại quyền và lợi ích của NĐTCN dù cùng được xem là chủ
44 Norman S Poser (1988), “Chinese Wall or Emperor’s New Clothes? Regulating Conflicts of Interest of Securities Firms in the U.S and the U.K”, Michigan Yearbook of International Legal Studies, Vol 9, tr.94; Gorman, Christopher M (2004), “Are Chinese Walls the Best Solution to the Problems of Insider Trading and Conflicts of Interest in Broker-Dealers”, Fordham Journal of Corporate & Financial Law, Vol 9, Issue 2 (2004), tr.480
45 Phan Phương Nam (2018), Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ của công ty chứng khoán,
Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật TP.HCM, tr.47
46 Nguyễn Văn Vân (2010), “Các biện pháp pháp lý bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 6 (266), tr.30
47 Điểm a khoản 1 Điều 11 Luật Chứng khoán 2019
Trang 25về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT nói chung và NĐTCN nói riêng Do đó cần phải làm rõ các quyền và lợi ích của NĐTCN và các cơ chế bảo vệ những quyền lợi
ấy
Với cách tiếp cận trên và với phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể hiểu
rằng “pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân được hiểu
là tổng hợp các quy định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình NĐTCN đầu tư
cổ phiếu trên TTCK, nhằm công nhận các quyền, lợi ích hợp pháp của NĐTCN và đảm bảo thực thi được những quyền, lợi ích đó”
Với cách hiểu này, pháp luật về bảo vệ NĐTCN có một số đặc điểm như sau:
Một là, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập cơ chế bảo vệ quyền và lợi
ích của NĐTCN bằng cách ban hành các quy định mang tính công nhận quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm NĐT này trong quá trình đầu tư cổ phiếu Việc này tạo
cơ sở pháp lý để các NĐTCN được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp trước sự xâm hại bởi những hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác trên TTCK Việc bảo vệ quyền lợi của chủ thể này được thực hiện thông qua việc thi hành nghĩa vụ của chủ thể kia Ví dụ quyền của NĐTCN là được cung cấp đầy đủ thông tin để mua chứng khoán với chất lượng tốt nhất chỉ có thể thực hiện được khi tổ chức phát
Trang 26hành, công ty chứng khoán, SGDCK, người nội bộ tuân thủ các nghĩa vụ do luật định về việc công bố thông tin công bằng, công khai, minh bạch, đầy đủ cho NĐTCN Nói cách khác, Nhà nước công nhận quyền lợi của NĐTCN bằng cách quy định các nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể khác có quan hệ trực tiếp với NĐTCN trên TTCK Bằng các quy định công nhận quyền, Nhà nước thông qua pháp luật chứng khoán, thừa nhận một số quyền cơ bản quan trọng của NĐTCN như là quyền tham gia thị trường, quyền được cung cấp thông tin, quyền sở hữu tài sản đầu tư
Hai là, cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN được đảm bảo thực hiện
bằng các cơ chế thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm và cơ chế giải quyết tranh chấp Đây là các quy định tạo ra căn cứ pháp lý cho hoạt động kiểm soát, quản lý thị trường, thể hiện sự chủ động từ phía Nhà nước trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN Các quy định liên quan đến các cơ chế thanh tra, giám sát bao gồm: kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán48 quản lý trong việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu, hoạt động tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán, hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán Các quy định có liên quan đến xử lý vi phạm như là xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật49 Các phương thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải, Tòa án, Trọng tài50
Những quy định này cùng với hệ thống các quy định về công nhận quyền tạo
ra một khuôn khổ pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân
1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
Xét theo góc độ lý luận, nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm51 Việc ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân là một việc rất quan trọng của Nhà nước trong mục tiêu phát triển TTCK Vì vậy nên những quy định pháp luật này cũng cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Đây chính là những điều được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích
48 Điểm a khoản 4 Điều 129 Luật Chứng khoán 2019
49 Khoản 1 Điều 132 Luật Chứng khoán 2019
50 Khoản 1 Điều 133 Luật Chứng khoán 2019
51 Nguyễn Xuân Tùng, “Bàn về “nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa””,
https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1463 , truy cập ngày 21/09/2022
Trang 27của NĐT cổ phiếu là cá nhân Bởi vì đây là những nội dung cốt lõi, những yêu cầu
cơ bản để những quy định này phát huy sự hiệu quả, chính xác, phù hợp
Thứ nhất, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT Đây là một
trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động chứng khoán và TTCK52 Ngoài ra, nguyên tắc này không chỉ là nguyên tắc của hoạt động chứng khoán và TTCK, mà còn là mục đích của pháp luật chứng khoán Có thể nói nguyên tắc “bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của NĐT” là tư tưởng chỉ đạo cơ bản, xuyên suốt toàn bộ các quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK NĐTCN là một bộ phận của NĐT vì vậy mà pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc này Quán triệt nguyên tắc này, các quy định cụ thể của pháp luật về chứng khoán và TTCK đều hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền
và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân
Thứ hai, nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch Đây là một trong
những nguyên tắc cơ bản của hoạt động chứng khoán và TTCK53 Phần lớn NĐT cổ phiếu là cá nhân có sự hiểu biết về thị trường, khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin thường hạn chế Vì vậy mà pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân phải tuân theo nguyên tắc công khai để nhằm mục đích giúp cho NĐTCN có thể tiếp cận được với các quy định, thông tin thị trường Không những vậy mà pháp luật còn phải quy định theo nguyên tắc minh bạch để NĐTCN có thể đánh giá, xử lý những thông tin trên thị trường một cách rõ ràng, chính xác, tránh các rủi ro bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân Đối với một số chủ thể khác trên thị trường, tính minh bạch, công khai đôi khi là những điều gây hại đối với các chủ thể đó Do đó mà các chủ thể đó tìm cách che giấu, thiếu minh bạch, thậm chí là làm giả giấy tờ, tung tin đồn thất thiệt Điều này đã tạo nên việc thiếu sự công bằng với NĐTCN Vì vậy, đối với pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân thì càng tuân thủ theo nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch bao nhiêu thì càng giúp bảo vệ được NĐTCN bấy nhiêu
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững TTCK NĐTCN là chủ
thể có số lượng chiếm gần như là tuyệt đối trên TTCK Đây chính là lực lượng thiết yếu tạo nên nguồn cầu cho thị trường Vì vậy mà pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân phải tuân theo nguyên tắc này nhằm thực hiện được
52 Khoản 3 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
53 Khoản 2 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
Trang 28mục tiêu quan trọng nhất trong TTCK đó chính là sự phát triển bền vững Nếu NĐTCN không được bảo vệ tốt thì lòng tin của NĐTCN dành cho thị trường cũng như lòng tin dành cho pháp luật cũng bị sụt giảm nghiêm trọng Từ đó dẫn tới việc TTCK không thể phát triển bền vững được Nội dung của nguyên tắc này chính là bảo vệ lòng tin của NĐTCN từ đó giúp TTCK phát triển bền vững
1.3.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
Với cách hiểu pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân tại phần 1.3.1 của luận văn thì có thể thấy nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân có hai vấn đề chính Đó là pháp luật công nhận những quyền nào nhằm mục đích bảo vệ NĐTCN và pháp luật quy định
những cơ chế nào để đảm bảo những quyền đó
Để bảo vệ cho NĐTCN, pháp luật công nhận một số quyền cơ bản quan trọng sau đây:
Một là, pháp luật công nhận quyền tham gia thị trường của NĐTCN
Tham gia TTCK là quyền của NĐTCN, đây là một nội dung của quyền tự do kinh doanh54 “Tự do kinh doanh là một quyền cơ bản của con người, xuất phát từ mưu cầu hạnh phúc và mong muốn làm giàu”55 Pháp luật công nhận quyền tham gia thị trường thể hiện ở việc NĐTCN có toàn quyền quyết định việc có tham gia đầu tư trên TTCK hay không, tham gia như thế nào, tham gia vào thời điểm nào, lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu tư, tổng giá trị đầu tư và chọn công ty chứng khoán nơi mở tài khoản giao dịch… Tuy nhiên, khi tham gia đầu tư trên TTCK, NĐTCN phải tuân thủ các quy định về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường như chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin nhận biết khách hàng khi
mở tài khoản giao dịch chứng khoán56, NĐTCN được mở nhiều tài khoản giao dịch chứng khoán theo nguyên tắc tại mỗi công ty chứng khoán NĐT chỉ được mở một tài khoản giao dịch chứng khoán57
54 Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
55 Bùi Xuân Hải (2001), “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, số 05/2001
56 Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tài chính Quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán
57 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tài chính Quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán
Trang 29Hai là, pháp luật công nhận quyền được cung cấp thông tin của NĐTCN
Cổ phiếu là một loại hàng hoá đặc biệt, có đặc điểm là trừu tượng NĐTCN không thể trực tiếp đánh giá được chất lượng của hàng hoá cổ phiếu qua việc xem xét như các loại hàng hoá thông thường mà phải dựa trên các thông tin liên quan đến cổ phiếu đó Pháp luật công nhận quyền được cung cấp thông tin thể hiện ở việc NĐTCN có quyền được biết các thông tin liên quan đến cổ phiếu mà họ muốn đầu
tư Để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân, pháp luật yêu cầu phải công khai các thông tin liên quan đến cổ phiếu như thông tin về tình hình tài chính
và kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành cổ phiếu, thông tin về số lượng cổ phiếu đang lưu hành, giá của các cổ phiếu được giao dịch, thông tin mua bán cổ phiếu của người nội bộ NĐTCN sẽ căn cứ vào những thông tin được công bố để phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư cho phù hợp với mục tiêu của mình Các chủ thể có nghĩa vụ phải công bố thông tin được pháp luật quy định tại Điều
118 Luật Chứng khoán 2019 theo nguyên tắc đầy đủ, chính xác, kịp thời và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã công bố58
Ba là, pháp luật công nhận quyền sở hữu tài sản đầu tư của NĐTCN
Pháp luật công nhận quyền sở hữu tài sản đầu tư thể hiện ở việc NĐTCN có toàn quyền quyết định mua, bán, nắm cổ phiếu nhằm mục đích thu lợi từ chênh lệch giá cổ phiếu, hưởng cổ tức Ngoài ra, tài sản đầu tư được công nhận quyền sở hữu
và được bảo vệ bởi pháp luật Tài sản đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán của NĐTCN thường là tiền gửi giao dịch chứng khoán và chứng khoán lưu ký Pháp luật quy định việc sử dụng tài sản đầu tư của NĐTCN khi không được sự cho phép của NĐTCN là hành vi trái pháp luật59 Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các chủ thể cụ thể phải quản lý tách bạch tài sản của chủ thể đó với tài sản đầu tư của NĐTCN Điều này nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN
Để đảm bảo các quyền của NĐTCN được thực hiện, pháp luật quy định những cơ chế như sau:
Thứ nhất, pháp luật quy định cơ chế thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm
Thanh tra, giám sát thị trường chứng khoán là một trong những nhiệm vụ
58 Điều 119 Luật Chứng khoán 2019
59 Khoản 5 Điều 12 Luật Chứng khoán 2019
Trang 30trọng tâm, được ngành chứng khoán tập trung triển khai thực hiện60 Để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân thì không chỉ chú ý vào việc ban hành pháp luật quy định về chứng khoán và TTCK mà còn phải tập trung vào việc thanh tra, giám sát, đảm bảo việc thực thi các quy định trên
Về việc xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật quy định những hành vi có lỗi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK do cá nhân, tổ chức thực hiện làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính61 Điều này góp phần duy trì một TTCP minh bạch, công khai, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐTCN
Về việc truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp luật quy định đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện vi phạm pháp luật hình sự trong hoạt động chứng khoán và TTCK thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự62 Điều này nhằm xử lý và ngăn ngừa các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán63, thao túng TTCK64, làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán65 Vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán là một nội dung quan trọng của pháp luật về chứng khoán và TTCK Theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật Chứng khoán 2019 chỉ quy định về mặt nguyên tắc, còn việc xác định tội phạm và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán thì vẫn phải do Bộ luật Hình
sự (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng 11 năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 (Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK cũng là cơ chế thể hiện mục đích đảm bảo sự thực thi quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT cổ phiếu là cá nhân
Về việc bồi thường thiệt hại, pháp luật quy định những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NĐTCN thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
60 Bộ Tài chính, “Tiếp tục đẩy mạnh thanh tra, giám sát thị trường chứng khoán, xử lý nghiêm hành vi vi phạm”, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/pages_r/l/chi-tiet-tin-tin-tuc-tai-
chinh?dDocName=MOFUCM214436 , truy cập ngày 22/09/2022
61 Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi bổ sung 2020
62 Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
63 Điều 210 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
64 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
65 Điều 212 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
Trang 31hại nếu có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm đó gây ra66 Quy định bồi thường thiệt hại này nhằm mục đích giúp bù đắp phần nào thiệt hại và khắc phục được những tổn thất về kinh tế do hành vi vi phạm gây ra Luật Chứng khoán năm 2019 không quy định cụ thể về việc xác định thiệt hại hoặc giá trị tổn thất cũng như thủ tục bồi thường thiệt hại Việc xác định thiệt hại hoặc giá trị tổn thất sẽ áp dụng theo
Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm 2015
Thứ hai, pháp luật quy định cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án
Trong quan hệ về đầu tư chứng khoán, khi xảy ra tranh chấp xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT cổ phiếu là cá nhân, pháp luật quy định các bên tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải, yêu cầu Trọng tài hoặc Toà án giải quyết67
Thương lượng là biện pháp giải quyết tranh chấp theo đó các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn mà không cần
có sự tham gia của bên thứ ba Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp thương lượng là đơn giản về thủ tục, bảo vệ được uy tín và bí mật của các bên, giảm thiểu được xung đột xã hội và chi phí xã hội Tuy nhiên, biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả khi các bên tranh chấp có thiện chí và cùng có sự hiểu biết về pháp luật
Hoà giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải có sự tham gia của một bên thứ ba, đóng vai trò làm trung gian hoà giải, để giúp các bên phân tích, nhận thức rõ vấn đề tranh chấp, hỗ trợ, thuyết phục các bên tìm kiếm các giải pháp nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn Tuy nhiên, bên thứ ba là trung gian hoà giải không quyết định tranh chấp của các bên và các bên có quyền chấm dứt vai trò của bên thứ ba bất kỳ lúc nào Thực tế cho thấy, kết quả hoà giải phụ thuộc rất nhiều vào uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của bên trung gian hoà giải
Trọng tài thương mại là một biện pháp giải quyết tranh chấp khá phổ biến Theo thủ tục trọng tài thương mại, tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư chứng khoán sẽ được đưa ra trọng tài giải quyết nếu giữa các bên đã có thoả thuận trọng tài Hội đồng trọng tài sẽ quyết định tranh chấp của các bên Quyết định của Hội đồng trọng tài có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp, các bên phải thi
66 Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015
67 Khoản 1 Điều 133 Luật Chứng khoán 2019
Trang 32hành, trừ trường hợp Toà án huỷ quyết định trọng tài theo quy định của Pháp luật trọng tài thương mại Pháp luật về chứng khoán và TTCK không quy định cụ thể thẩm quyền của trọng tài thương mại cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà những vấn đề này được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của trọng tài thương mại
Tranh chấp trong quan hệ đầu tư chứng khoán cũng có thể được Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng tư pháp khi có một bên khởi kiện ra trước Toà, yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Toà án với tư cách là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định tranh chấp của các bên Bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Trang 332 NĐTCN là một bộ phận của NĐT vì vậy nên cũng mang những đặc điểm chung NĐT, ngoài ra còn mang những đặc trưng riêng của NĐTCN như là chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng, thường tham gia đầu tư với quy mô nhỏ, có sự hiểu biết
về thị trường, khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin thường hạn chế Do đó NĐTCN là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích Điều đó thể hiện sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân
3 Bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN vừa là mục đích của việc ban hành Luật Chứng khoán, vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TTCK Đây là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt các quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK, được thể hiện rõ ràng thông qua các quy định cụ thể tại Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan
4 Để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân, một mặt pháp luật công nhận các quyền và lợi ích của NĐTCN khi tham gia thị trường cần phải được bảo vệ Mặt còn lại, pháp luật quy định các cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích đó được thực hiện trên thực tế Để đạt hiệu quả cao trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN, cần phải triển khai đồng bộ giữa cơ chế thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm và cơ chế giải quyết tranh chấp
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU LÀ CÁ NHÂN TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền tham gia thị trường của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân
Quyền tham gia đầu tư trên TTCP của NĐT là một nội dung của quyền tự do kinh doanh được quy định tại Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề
mà pháp luật không cấm” Tại khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán 2019 cũng quy
định rõ: “Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức,
cá nhân trong nước, nước ngoài tham gia đầu tư và hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm huy động các nguồn vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển”
Như vậy, có thể thấy pháp luật thể hiện được tính bảo vệ quyền tham gia thị trường của NĐT cổ phiếu là cá nhân ngay trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp
lý cao nhất68 Bởi vì mọi văn bản pháp luật đều phải phù hợp với Hiến pháp, việc cấm, ngăn cản NĐTCN tham gia thị trường là hành vi trái với Hiến pháp và pháp luật Trong văn bản pháp luật chuyên ngành chứng khoán thì khuyến khích, tạo điều kiện cho quyền tham gia thị trường của NĐT cổ phiếu là cá nhân Bên cạnh đó, nguyên tắc tôn trọng quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ
về chứng khoán của tổ chức, cá nhân69 cũng càng khẳng định thêm điều này
Để NĐTCN tham gia TTCP thì điều đầu tiên là phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán Theo khoản 1 Điều 6 Thông tư số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng
12 năm 2020 của Bộ Tài chính quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán (Thông tư số 120/2020/TT-BTC) quy định:
“Nhà đầu tư phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán là
thành viên giao dịch để thực hiện giao dịch chứng khoán theo quy định tại Thông tư
68 Khoản 1 Điều 119 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
69 Khoản 1 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
Trang 35này; chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin nhận biết khách
hàng khi mở tài khoản giao dịch chứng khoán…”
Việc mở tài khoản giao dịch chứng khoán được quy định tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tài chính quy
định về hoạt động của công ty chứng khoán (Thông tư số 121/2020/TT-BTC): “Để
thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán phải làm thủ tục mở tài khoản giao dịch cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng
mở tài khoản giao dịch chứng khoán với khách hàng Hợp đồng mở tài khoản phải đáp ứng các quy định hiện hành và có các nội dung tối thiểu theo mẫu quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này”
Nhìn chung, quan hệ mở tài khoản được xác lập thông qua hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng - NĐTCN và chủ thể cung cấp dịch vụ - Công ty chứng khoán Hợp đồng mở tài khoản được coi là bằng chứng pháp lý quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mở tài khoản Để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN, trong Phụ lục số III ban hành kèm theo Thông tư số 121/2020/TT-BTC, Bộ Tài chính đã phác thảo những nội dung tối thiểu của hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán giữa công ty chứng khoán và khách hàng như là các cách thức nhận lệnh của công ty, tỷ lệ ký quỹ đặt mua/bán chứng khoán được áp dụng, thỏa thuận về lãi suất trên số dư tiền gửi giao dịch chứng khoán Dựa trên cơ sở những nội dung tối thiểu này, các công ty chứng khoán soạn thảo những hợp đồng mẫu để ký kết với khách hàng về dịch vụ mở và quản lý tài khoản chứng khoán Với vai trò là khách hàng sử dụng dịch vụ, NĐTCN có trách nhiệm cung cấp cung cấp đầy đủ các thông tin trên hợp đồng mở tài khoản70 Mặc dù các công ty chứng khoán được phép soạn thảo nội dung hợp đồng dựa trên nội dung tối thiểu của phụ lục, nhưng pháp luật vẫn quy định không được có các thoả thuận gây bất lợi một cách không công bằng cho NĐTCN71 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân Ngoài ra, công ty chứng khoán phải giải thích rõ các nội dung hợp đồng cho NĐTCN để tránh việc NĐTCN không hiểu rõ quyền lợi của mình và các vấn đề trong việc thực hiện giao dịch chứng khoán72
Bước tiếp theo để NĐTCN chính thức tham gia đầu tư trên TTCP sau khi có tài khoản giao dịch chứng khoán là việc đặt lệnh mua, bán cổ phiếu bằng tài khoản
70 Khoản 4 Điều 15 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
71 Xem điểm d khoản 3 Điều 15 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
72 Xem khoản 2 Điều 15 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
Trang 36đó NĐTCN có thể đặt lệnh theo phiếu lệnh trực tiếp tại quầy giao dịch hoặc đặt lệnh từ xa qua điện thoại, fax, internet…73 Thực tế hiện nay, NĐTCN thường quản
lý tài khoản giao dịch chứng khoán và đặt lệnh từ xa thông qua internet bằng phần mềm giao dịch chứng khoán do công ty chứng khoán cung cấp Điều này đặt ra vấn
đề phải đảm bảo được các phần mềm này hoạt động tốt, nhanh chóng, chính xác, đáp ứng đủ các yêu cầu của NĐTCN Vì vậy, pháp luật quy định các công ty chứng khoán phải có biện pháp đảm bảo an toàn, an ninh đường truyền và biện pháp khắ c phục thích hợp khi không nhâ ̣p được lê ̣nh của khách hàng vào hê ̣ thống giao di ̣ch do lỗi củ a công ty74
Theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC: “Công
ty chứng khoán phải thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác lệnh giao dịch của khách hàng” Quy định này yêu cầu các công ty chứng khoán phải thực hiện,
xử lý lệnh của khách hàng một cách nhanh chóng và trong thời gian sớm nhất, một cách chính xác các lệnh giao dịch mà khách hàng đã đặt Không những vậy, đối với nghiệp vụ tự doanh của công ty chứng khoán, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 22
Thông tư số 121/2020/TT-BTC: “Công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh
của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của chính mình” Trong thực tế, thời gian
mở cửa của một phiên giao dịch không dài75, trong khi đó có thể diễn ra sự biến động mạnh với thời gian rất ngắn về giá cổ phiếu trên thị trường Vì vậy việc thực hiện nhanh chóng, chính xác các lệnh mua bán đã đặt có ý nghĩa rất lớn tới hoạt động đầu tư của NĐTCN Nếu lệnh của NĐTCN không được thực hiện một cách ưu tiên, nhanh chóng, chính xác thì NĐTCN có thể dễ dàng bị thiệt hại về mặt tài chính
do không thể khớp lệnh được Điều này là xâm phạm nghiêm trọng tới quyền tham gia thị trường của NĐTCN
Như vậy, có thể thấy rằng Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực chứng khoán đã có những sự chú ý, quan tâm đến việc bảo vệ quyền tham gia thị trường của NĐT cổ phiếu là cá nhân thông qua những phân tích nêu trên Tuy nhiên, các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn có bất cập, hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, quy định về lỗi giao dịch trực tuyến của công ty chứng khoán
73 Xem điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
74 Điểm d khoản 3 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
75 Điều 13 Quyết định số 17/QĐ-HĐTV ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam Quyết định về việc ban hành quy chế niêm yết và giao dịch chứng khoán niêm yết
Trang 37còn một số bất cập
Hiện nay giao dịch trực tuyến, hay đặt lệnh qua internet là cách thức sử dụng phổ biến nhất với NĐTCN Bởi tính chất của loại giao dịch này rất thuận tiện, các NĐTCN có thể vừa thực hiện hoạt động bình thường ở nhà, ở nơi làm việc vừa có thể theo dõi, cập nhật, đặt lệnh qua internet Tuy nhiên, do tính chất là giao dịch trực tuyến nên không thể tránh khỏi trường hợp việc kết nối có vấn đề Và khi công
ty chứng khoán có lỗi giao dịch trực tuyến xảy ra, thì đồng thời sẽ gây những thiệt hại cho các NĐTCN của công ty chứng khoán đó Điều này được thể hiện qua một
số vụ việc như sau:
Sáng ngày 03/11/2021, phần mềm ứng dụng giao dịch chứng khoán và trang web của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ thương (TCBS) bị lỗi, NĐT bức xúc vì không thể truy cập để giao dịch mua bán chốt lời khi thị trường tăng và mua đáy khi thị trường điều chỉnh Cụ thể là phần mềm ứng dụng giao dịch chứng khoán liên tục báo không thể đăng nhập, trang web cũng hiện lỗi tương tự Trong khi đó, ứng dụng của các công ty chứng khoán khác như VND, VPS, SSI vẫn ghi nhận hoạt động bình thường76
Hoặc là trường hợp phiên giao dịch ngày 15/11/2021, phần mềm ứng dụng giao dịch chứng khoán của Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT (VND) lỗi liên tục, tài khoản của NĐT không thể đăng nhập được Nhiều NĐT phản ánh khi đăng nhập vào được tài khoản rồi thì tiếp tục gặp sự cố bảng giá cổ phiếu niêm yết sàn HoSE cập nhật chậm hoặc không cập nhật, danh mục không hiện ra, dẫn đến sự chênh lệch giữa giá thực và giá trên bảng Một số khác khi đang đặt lệnh mua/bán
cổ phiếu thì tài khoản bị đá văng ra Sau khi khắc phục xong sự cố thì công ty chứng khoán này cũng khuyến cáo NĐT để giao dịch ổn định và thông suốt, NĐT nên đăng nhập sớm vào tài khoản trên cả điện thoại và máy tính Đồng thời, NĐT nên tránh đăng nhập vào khung giờ cao điểm 9h00-10h00 và 13h30-14h3077
Có thể thấy, việc lỗi giao dịch trực tuyến ở công ty chứng khoán có thể gây
ra nhiều thiệt hại cho NĐTCN do không thể thực hiện việc mua, bán cổ phiếu khi cần thiết Theo quy định của pháp luật hiện nay, thì khi cung cấp dịch vụ giao dịch
76 Đức Mạnh, “App chứng khoán TCBS liên tục lỗi, nhà đầu tư bức xúc không thể chốt lời”,
970144.ldo , truy cập ngày 23/09/2022
https://laodong.vn/kinh-doanh/app-chung-khoan-tcbs-lien-tuc-loi-nha-dau-tu-buc-xuc-khong-the-chot-loi-77 Kiều Linh, “Lỗi app giao dịch, VnDirect khuyến cáo nhà đầu tư tránh đăng nhập tài khoản giờ cao điểm”,
diem.htm , truy cập ngày 23/09/2022
Trang 38https://vneconomy.vn/loi-app-giao-dich-vndirect-khuyen-cao-nha-dau-tu-tranh-dang-nhap-tai-khoan-gio-cao-chứng khoán trực tuyến, công ty https://vneconomy.vn/loi-app-giao-dich-vndirect-khuyen-cao-nha-dau-tu-tranh-dang-nhap-tai-khoan-gio-cao-chứng khoán phải công bố các rủi ro có thể xảy ra khi giao dịch chứng khoán trực tuyến78 Trong bản công bố rủi ro của Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI (SSI)79, các rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện giao dịch trực tuyến như lỗi kỹ thuật phát sinh từ hệ thống phần cứng, phần mềm, đường truyền kết nối từ công ty chứng khoán đến các SGDCK bị đứt kết nối do các nguyên nhân từ phía nhà cung cấp, nguy cơ ngưng trệ hoạt động của hệ thống mạng
do tắc nghẽn đường truyền (trong nước và quốc tế), các máy tính có thể bị nhiễm virus hoặc bị tấn công mạng làm ngưng trệ các hoạt động trao đổi thông tin trong mạng máy tính, lỗi phần mềm cơ sở hạ tầng như: hệ điều hành, phần mềm ảo hóa
do nguyên nhân từ phía nhà sản xuất, lệnh giao dịch có thể bị treo, bị ngừng, bị trì hoãn hoặc có lỗi dữ liệu, các nguyên nhân khách quan như: thiên tai, động đất ảnh hưởng đến hệ thống phần cứng… Đồng thời, SSI cũng tuyên bố miễn trừ trách nhiệm đối với bất kỳ sai sót hoặc thiệt hại nào phát sinh do khách hàng cung cấp thông tin chậm trễ, thiếu sót hay không chính xác dẫn đến không sử dụng được dịch
vụ giao dịch điện tử và/hoặc thực hiện giao dịch điện tử, lỗi của bất kỳ bên thứ ba nào, bao gồm cả những đối tác của công ty chứng khoán trong việc cung cấp dịch
vụ giao dịch điện tử, lỗi của hệ thống hay bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào liên quan dẫn đến việc hệ thống từ chối thực hiện giao dịch điện tử của khách hàng… Ngoài SSI thì các công ty khác cũng có bản công bố rủi ro với nội dung tương tự80
Nhìn chung, các công ty chứng khoán không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với các tổn thất, thiệt hại của NĐT nói chung và NĐTCN nói riêng phát sinh từ những rủi ro trong giao dịch trực tuyến Trong khi đó, nghĩa vụ của công ty chứng khoán trong giao dịch chứng khoán trực tuyến81 là phải đảm bảo giao dịch liên tục, thông suốt, đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật dữ liệu của hệ thống, có hệ thống dự phòng, phương án thay thế trong trường hợp xảy ra sự cố, có sự tách biệt với các hệ thống thông tin điện tử khác của công ty, ban hành quy trình về việc vận hành, quản
lý, sử dụng hệ thống giao dịch chứng khoán trực tuyến Như vậy, trong thực tế quy định của pháp luật về lỗi giao dịch trực tuyến của công ty chứng khoán vẫn còn bất
78 Điểm a khoản 2 Điều 20 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
79 Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI, “Bản công bố rủi ro”, nhan/bang-cong-bo-rui-ro , truy cập ngày 23/09/2022
https://www.ssi.com.vn/khach-hang-ca-80 Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, “Công bố rủi ro về giao dịch trực tuyến”,
https://www.vndirect.com.vn/cong-bo-rui-ro/ , truy cập ngày 23/09/2022
Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, “Bản công bố rủi ro giao dịch trực tuyến”,
https://hsc.com.vn/giao-dich/ban-cong-bo-rui-ro-giao-dich-truc-tuyen.html , truy cập ngày 23/09/2022
81 Khoản 2 Điều 20 Thông tư số 121/2020/TT-BTC
Trang 39cập khi nghĩa vụ của công ty chứng khoán lại được công khai miễn trừ trách nhiệm
Đối với vụ việc phần mềm của TCBS bị lỗi, có thể dễ dàng nhận ra việc bị lỗi lại “trùng hợp” với thời điểm thị trường tăng rồi giảm sâu và NĐTCN không thể bán cổ phiếu để chốt lời do phần mềm bị lỗi Vấn đề đặt ra là có phải sự cố một cách khách quan hay do một thế lực nào đó cố ý khiến cho phần mềm bị lỗi nhằm đạt được lợi ích nào đó
Ngoài ra, không chỉ bị lỗi phần mềm mà trường hợp của VND còn quên gia hạn tên miền khiến cho các NĐTCN không thể vào trang web82 Điều này thể hiện
sự thiếu nghiêm túc, thiếu sự chú ý về hệ thống giao dịch trực tuyến của công ty chứng khoán
Hiện nay, các quy định xử phạt đối với vấn đề này vẫn chưa đủ sức răn đe83
Có thể thấy, nếu không có các quy định chế tài phù hợp để hạn chế xảy ra những sự
cố này trong tương lai thì các công ty chứng khoán vẫn sẽ không thực sự nghiêm túc chú trọng việc kiểm tra và vận hành hệ thống giao dịch trực tuyến của mình, giảm thiểu tối đa khả năng để xảy ra những tình huống tương tự mà chỉ thông báo
sự cố và tuyên bố không chịu trách nhiệm Điều đó làm ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK nói chung và quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân nói riêng
Thứ hai, quy định về xử lý vi phạm nhân viên môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán trong nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán còn một số hạn chế
Theo quy định tại khoản 32 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019: “Tư vấn đầu tư
chứng khoán là việc cung cấp cho khách hàng kết quả phân tích, báo cáo phân tích
và đưa ra khuyến nghị liên quan đến việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán” Đây là
một trong số những nghiệp vụ của hoạt động kinh doanh chứng khoán84 Chủ thể được cấp phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán bao gồm công ty chứng khoán85 và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán86 Có thể thấy, nghiệp vụ
tư vấn đầu tư chứng khoán là một nghiệp vụ chuyên môn rất chuyên sâu, chỉ có những tổ chức chuyên nghiệp về lĩnh vực chứng khoán và đủ các điều kiện mà pháp
82 C.Giang, “VNDirect 'quên' gia hạn tên miền, nhà đầu tư không vào được website”,
https://vnbusiness.vn/24h/vndirect-quen-gia-han-ten-mien-nha-dau-tu-khong-vao-duoc-website-1084682.html , truy cập ngày 23/09/2022
83 Nội dung được trình bày cụ thể tại phần 2.2.2.1 của luận văn
84 Khoản 28 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019
85 Điểm d khoản 1 Điều 72 Luật Chứng khoán 2019
86 Điểm c khoản 1 Điều 73 Luật Chứng khoán 2019
Trang 40luật quy định87 mới được cấp phép thực hiện nghiệp vụ này Nhìn chung, NĐTCN
ưa chuộng việc sử dụng nghiệp vụ tư vấn đầu tư của công ty chứng khoán, nơi mà mình tạo tài khoản giao dịch chứng khoán hơn là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Bởi lẽ, sau khi NĐTCN tạo tài khoản giao dịch chứng khoán xong thì sẽ được công ty chứng khoán tư vấn, giới thiệu cho các nghiệp vụ kinh doanh mà công
ty chứng khoán đang thực hiện để các NĐTCN lựa chọn tùy theo mục tiêu tài chính, khẩu vị rủi ro riêng của bản thân… Ví dụ thực tế như tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể là sau khi dịch vụ tư vấn được kích hoạt thành công, NĐT có thể lựa chọn giữa tư vấn cổ phiếu, tư vấn chứng quyền, tư vấn phái sinh Tại mỗi nhóm sản phẩm sẽ có tính năng “room thảo luận” tương ứng NĐT sẽ được chat trực tiếp và đặt câu hỏi liên tục cho các chuyên gia tư vấn trong suốt phiên giao dịch Đồng thời, có cơ hội tương tác với các NĐT khác trong nhóm88 Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, những “room thảo luận” gần giống như vậy đang tồn tại rất nhiều với đủ loại tên gọi và hình thái khác nhau Có thể kể một
số tên như “Cổ phiếu chân sóng”, “Cổ phiếu trà đá lợi nhuận phi thường”, “Cộng đồng tích sản cổ phiếu”… Đây là một số trong rất nhiều room chat của cộng đồng NĐT chứng khoán Các tên gọi đã thể hiện trường phái đầu tư của những người lập room, nhằm thu hút nhóm khách hàng quan tâm Điều đó cho thấy sự đa dạng trong nhu cầu đầu tư Tùy theo khẩu vị, giá trị tài khoản, kỳ vọng lợi nhuận và khả năng chịu rủi ro mà NĐTCN lựa chọn một nhóm chat hoặc tham khảo tất cả Sự xuất hiện của các nhóm hay còn được gọi là “room chứng khoán” trên các ứng dụng tin nhắn
và mạng xã hội như Zalo, Telegram, Messenger, Facebook… đang xuất hiện ngày càng nhiều Tiêu chí của các nhóm này được đặt ra luôn là giảm thiểu rủi ro và gia tăng hiệu quả trong quá trình đầu tư Có thể chia các room này thành hai loại phổ biến:
Thứ nhất, nhóm đầu tư vào giá trị nội tại doanh nghiệp Các nhóm này
thường được đội ngũ môi giới chuyên nghiệp, có thâm niên trong nghề mở ra nhằm
tư vấn tốt hơn cho các khách hàng của mình, phân tích, định hướng đầu tư dựa trên giá trị cốt lõi dài hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên, số lượng nhóm này hiện nay lại rất ít và không dành cho mọi đối tượng tham gia
87 Xem thêm Điều 74, 75, 76 Luật Chứng khoán 2019
88 Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, “Quyền lợi của nhà đầu tư khi sử dụng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán của HSC”, https://online.hsc.com.vn/tin-tuc/thu-vien/quyen-loi-cua-nha-dau-tu-khi- su-dung-dich-vu-tu-van-dau-tu-chung-khoan-cua-hsc.html , truy cập ngày 23/09/2022