1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2020

52 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2020
Tác giả Nguyễn Thị Thấm
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Phương Hà
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 813,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. QUY ĐỊNH VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 (10)
    • 1.1. Sự cần thiết của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần (10)
    • 1.2. Lịch sử phát triển của quy định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam (13)
    • 1.3. Quy định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp (16)
      • 1.3.1. Vị trí của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần (16)
      • 1.3.2. Vai trò của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần (16)
      • 1.3.3. Quy định về thành lập, tổ chức Ban kiểm soát trong công ty cổ phần (17)
      • 1.3.4. Quy định về quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát (21)
      • 1.3.5. Quy định về thành viên Ban kiểm soát (27)
  • CHƯƠNG 2. BẤT CẬP CỦA QUY ĐỊNH VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (35)
    • 2.1. Những bất cập trong các quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020 (35)
      • 2.1.1. Quy định về hoạt động của Ban kiểm soát (35)
      • 2.1.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát (35)
      • 2.1.3. Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Ban kiểm soát (37)
      • 2.1.4. Quy định về trách nhiệm của kiểm soát viên (38)
      • 2.1.5. Quy định về tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của kiểm soát viên (39)
      • 2.1.6. Quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Ban kiểm soát (39)
    • 2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần 35 1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Luật Doanh nghiệp về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần (40)
      • 2.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về Ban kiểm soát (46)
  • KẾT LUẬN (34)

Nội dung

Lý do chọn đề tài “Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành công ty đã tạo ra sự mất cân đối giữa nhóm quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành công ty, tạo ra khoảng t

QUY ĐỊNH VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2020

Sự cần thiết của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Công ty, đặc biệt là công ty cổ phần, được coi là một trong những hệ thống tinh vi nhất do con người thiết kế Với tư cách là một pháp nhân độc lập, công ty không thể tự hành động mà chỉ có thể thực hiện các hoạt động thông qua những người quản lý cụ thể.

Theo Bùi Xuân Hải trong bài viết “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Adam Smith đã có những nghiên cứu quan trọng vào năm

Năm 1776 đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý Berle và Means trong nghiên cứu năm 1932 khẳng định rằng sự phát triển của phương tiện truyền thông và tổ chức thị trường chứng khoán đã dẫn đến việc sở hữu vốn trong các công ty ngày càng phân tán, với cổ phần được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng Họ nhấn mạnh rằng trong các công ty hiện đại, có sự tách biệt rõ ràng giữa sở hữu và quản lý.

Theo tác giả Hà Thị Thanh Bình trong bài viết “Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành trong quản trị công ty”, các công ty thường được sở hữu bởi cá nhân hoặc nhóm người có quan hệ gần gũi khi mới thành lập Với quy mô nhỏ và số lượng thành viên ít, chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển, ngày càng nhiều công ty có cơ cấu cổ đông phân tán xuất hiện.

Một trong những đặc trưng quan trọng của công ty cổ phần (CTCP) là số lượng cổ đông lớn và không giới hạn tối đa Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty Họ có thể trở thành cổ đông thông qua nhiều hình thức như góp vốn sáng lập, mua cổ phần chào bán, nhận chuyển nhượng hoặc thừa kế cổ phần Do đó, sự biến động về số lượng và thay đổi cổ đông trong CTCP diễn ra thường xuyên và dễ dàng Hơn nữa, cơ cấu cổ đông còn phân tán về mặt địa lý, tạo nên sự đa dạng trong mối quan hệ và quản lý công ty.

Bob Tricker (2012) trong tác phẩm "Corporate Governance - Kiểm soát quản trị" đã trình bày các nguyên tắc, chính sách và thực hành liên quan đến quản trị công ty và kiểm soát quản lý Bản dịch của Nguyễn Dương Hiếu cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh quan trọng của quản trị doanh nghiệp.

Nguyễn Thị Thu Hương, Nhà xuất bản Thời đại, tr.26.

4 Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mất vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (41)/2007, tr 21.

5 Bùi Xuân Hải, tlđd (4), tr 22

6 Hà Thị Thanh Bình, tlđd (1), tr 45

7 Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020

Quan hệ giữa các cổ đông thường thiếu sự gắn kết và bền chặt, đặc biệt khi họ không quen biết nhau và có thể không biết mặt nhau.

Cơ cấu tổ chức quản trị công ty cổ phần trở nên phức tạp do số lượng cổ đông đông đảo và đa dạng Điều này dẫn đến khó khăn trong việc quản lý, điều hành và giám sát hoạt động công ty Các cổ đông sở hữu số lượng cổ phần khác nhau, ảnh hưởng đến quyền lực của họ trong công ty Hầu hết cổ đông không có đủ cổ phần để kiểm soát công ty thông qua quản lý trực tiếp Mặc dù họ đầu tư với kỳ vọng lợi nhuận, không phải ai cũng có thời gian và trình độ để tham gia điều hành Do đó, cần có những người có năng lực như Hội đồng quản trị, Giám đốc và Tổng giám đốc để đại diện cho cổ đông trong việc quản lý và điều hành công ty, tạo ra sự tách biệt giữa cổ đông và người quản lý.

Sự tách bạch trong quản lý doanh nghiệp là yếu tố quan trọng giúp đảm bảo tính bền vững và hiệu quả hoạt động của công ty Đội ngũ chuyên gia với kỹ năng đa dạng sẽ duy trì tính liên tục cho doanh nghiệp, ngay cả khi có sự thay đổi trong thành phần cổ đông Tuy nhiên, sự tách bạch này cũng mang đến rủi ro cho tất cả các cổ đông, từ lớn đến nhỏ, khi họ phải đối mặt với những thiệt hại do quyết định của người quản lý.

Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo ra lo ngại rằng các nhà quản lý có thể theo đuổi lợi ích cá nhân mà không mang lại lợi ích cho cổ đông và công ty Adam Smith chỉ ra rằng các nhà quản lý không thể quản lý tiền của người khác một cách cẩn trọng như chủ sở hữu quản lý tài sản của chính mình Để đạt được doanh số lớn, công ty cần chấp nhận rủi ro, nhưng điều này có thể dẫn đến việc các nhà quản lý sử dụng tiền của công ty cho các dự án rủi ro cao mà không phải chịu trách nhiệm cá nhân Dù là cổ đông hay không, các nhà quản lý vẫn có thể tư lợi, với mức độ khác nhau tùy thuộc vào vốn sở hữu Họ có thể kiếm lợi từ doanh nghiệp thông qua các giao dịch hợp pháp hoặc tiết lộ thông tin bảo mật cho bên thứ ba.

9 Hà Thị Thanh Bình, tlđd (1), tr 45

10 Bùi xuân hải (2009), “Bảo vệ cổ đông: mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật Doanh nghiệp 2005”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1(50)/2009, tr 26

11 Quỳnh Anh, “Tách quyền sở hữu khỏi quyền quản lý là gì?”, https://vietnamfinance.vn/tach- quyen-so-huu-khoi-quyen-quan-ly-la-gi-20180504224211081.htm, truy cập ngày 05/4/2022

13 Bùi Xuân Hải (2011), Luật Doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông - pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 150

Người quản lý có thể tối đa hóa lợi ích cá nhân bằng cách trả lương thưởng cao cho nhân viên và giao dịch với các nhà cung cấp dịch vụ với giá cao hơn so với thị trường, có thể do đã nhận tiền hoa hồng từ họ Hành động này không chỉ vi phạm đạo đức mà còn gây hại cho lợi ích chung của cổ đông và công ty.

Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần (CTCP) tạo ra bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và người quản lý Cổ đông không có được thông tin trực tiếp và chính xác như những người tham gia quản lý, trong khi họ chỉ tiếp cận thông qua các báo cáo tài chính và thông tin công khai Do đó, cổ đông cần đảm bảo rằng các thông tin này được kiểm tra và thẩm định để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy, nhằm tránh tình trạng người quản lý lợi dụng và che giấu thông tin không trung thực Sự bất đối xứng thông tin có thể dẫn đến lạm quyền của người quản lý khi không có sự giám sát từ chủ sở hữu.

Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý trong công ty đặt ra yêu cầu rằng các nhà quản lý không được điều hành vì lợi ích cá nhân mà phải vì lợi ích của các bên liên quan theo quy định của pháp luật Để đối phó với thách thức này, cần xây dựng một chế định trong công ty cổ phần (CTCP) nhằm kiềm chế và giám sát hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cổ đông Do đó, sự ra đời của chế định Ban Kiểm Soát (BKS) trong CTCP là cần thiết để hỗ trợ các chủ sở hữu trong việc giám sát hoạt động của những người quản lý.

BKS là cơ chế quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro từ mâu thuẫn lợi ích giữa người quản lý và chủ sở hữu công ty Đầu tiên, BKS giám sát hoạt động của người quản lý mà không tham gia vào điều hành doanh nghiệp, đảm bảo rằng các hoạt động được thực hiện theo đúng định hướng của chủ sở hữu Thứ hai, BKS kiểm tra và thẩm định các báo cáo, thông tin của công ty, tăng cường tính minh bạch và độ tin cậy cho cổ đông Cuối cùng, BKS hỗ trợ phát hiện và ngăn chặn kịp thời những tình huống có thể gây thiệt hại cho cổ đông và công ty.

15 Hà Thị Thanh Bình, tlđd (1), tr 50

Susan McLaughlin (2013) trong cuốn sách "Unlocking company law" (phiên bản thứ 3) nhấn mạnh rằng việc bảo vệ lợi ích của cổ đông là rất quan trọng Cổ đông được ví như “tai mắt” bên cạnh người quản lý công ty, có trách nhiệm phát hiện và chỉ ra những sai phạm của người quản lý.

Lịch sử phát triển của quy định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam

Mô hình BKS không phải là sáng tạo mới của các nhà làm luật Việt Nam, mà là sự phát triển từ quy định của Luật Công ty 1990, cùng với các đạo luật về công ty của chế độ cũ Luật Công ty 1990 được xây dựng dựa trên nền tảng quy định của luật công ty thời thuộc địa Pháp và Bộ luật thương mại 1972 của chế độ Sài Gòn Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật về quy định BKS trong CTCP giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và khái quát về chế định này.

Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định tại Việt Nam trong bộ “Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ” năm 1931, đề cập đến khái niệm “hội buôn” Hội buôn được phân chia thành hai loại: Hội người và Hội vốn Trong đó, Hội vốn lại được chia thành hội vô danh (Công ty cổ phần) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản cổ phần).

Các quy định về cơ cấu quản lý hội vô danh và viên kiểm sát là nền tảng cho quy định về BKS trong CTCP Theo Dân luật năm 1931, nếu điều lệ không quy định, đại hội đồng sẽ bổ nhiệm ban trị sự và các ủy viên kiểm sát Cơ cấu quản lý bao gồm đại hội đồng (ĐHĐCĐ), ban trị sự (HĐQT) và các ủy viên kiểm sát (BKS) Mỗi năm, đại hội đồng thường niên cử một hoặc nhiều viên kiểm sát để kiểm tra công việc quản trị của ban trị sự và trình bày báo cáo kế toán Viên kiểm sát có quyền yêu cầu xem sổ sách và có thể triệu tập đại hội đồng khi cần thiết Họ đại diện cho hội nhưng không cần ký cổ phần làm tin Để thực hiện tốt nhiệm vụ, luật quy định người trị sự phải lập báo cáo tình hình hội mỗi sáu tháng.

17 Bùi Xuân Hải, tlđd (13), tr 272

18 Bùi Xuân Hải, tlđd (2), tr 20

19 Nguyễn Thị Thu Vân (1996), Chuyên đề Pháp luật về Công ty, Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr 19-20.

20 Điều thứ 1271, Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ

21 Điều thứ 1289, Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ

Luật Công ty 1990 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tại Việt Nam, với việc lần đầu tiên quy định về tổ chức quản lý CTCP có sự tham gia của Ban Kiểm soát (BKS) Luật này quy định ĐHĐCĐ bầu ra 02 Kiểm soát viên, đồng thời đảm bảo tính độc lập của họ thông qua các yêu cầu về nhân thân, kinh tế và tổ chức Mặc dù còn nhiều thiếu sót và quy định chưa hoàn thiện, Luật Công ty 1990 đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của Kiểm soát viên và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mở ra cơ hội cho sự phát triển của các quy định về BKS trong tương lai.

Ngày 12/6/1999, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10, thay thế Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Luật Doanh nghiệp 1999 quy định chặt chẽ hơn về cơ cấu quản lý và Ban kiểm soát (BKS) trong công ty cổ phần (CTCP), với sự phân biệt trong việc thành lập BKS dựa trên số lượng cổ đông Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, đảm bảo giám sát cần thiết khi công ty có nhiều cổ đông hoặc cổ đông lớn có khả năng chi phối BKS được tổ chức với người đứng đầu là Trưởng ban kiểm soát, và các tiêu chuẩn, điều kiện cho thành viên BKS cũng được quy định rõ ràng Quyền và nghĩa vụ của BKS trong CTCP đã được xác định cụ thể, cùng với việc ghi nhận thêm các quyền và nghĩa vụ khác.

23 Khoản 1, Điều thứ 1287, Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ

In the dissertation "Corporate Governance in Vietnamese Company Law: A Proposal for Reform," Bui Xuan Hai (2007) examines the current state of corporate governance within the framework of Vietnamese company law The study highlights the need for reforms to enhance governance practices and align them with international standards, ultimately aiming to improve the overall effectiveness and transparency of corporate operations in Vietnam.

BKS có quyền đề xuất các biện pháp bổ sung, sửa đổi và cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty Đồng thời, BKS thực hiện kiểm tra mà không bị cản trở bởi các chủ thể khác Quy định về việc cung cấp thông tin cho BKS đã được thiết lập và áp dụng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của BKS.

Mặc dù LDN 1999 đã đạt được nhiều thành công, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế về Ban Kiểm Soát (BKS) trong Công ty Cổ phần (CTCP) Cụ thể, quy định yêu cầu BKS thường xuyên thông báo với Hội đồng Quản trị (HĐQT) về kết quả hoạt động (Điểm c khoản 2 LDN 1999) có thể làm giảm tính độc lập và khách quan của BKS, khi cơ quan giám sát phải báo cáo cho chủ thể mà mình giám sát Hơn nữa, LDN 1999 cũng chưa quy định rõ ràng về các trường hợp miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên BKS, cũng như trách nhiệm của các thành viên BKS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ.

Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 (LDN 2005) được Quốc hội Khóa XI thông qua vào ngày 29/11/2005, đã kế thừa và khắc phục những hạn chế của LDN 1999 LDN 2005 đã cải thiện đáng kể các quy định về Ban Kiểm soát (BKS) trong Công ty Cổ phần (CTCP), với nhiều điểm mới nhằm bảo vệ cổ đông nhỏ và tăng cường sự hiện diện của cổ đông thiểu số Luật quy định thành viên BKS phải được bầu theo phương thức bầu dồn phiếu, đảm bảo hoạt động vì lợi ích chung của tất cả cổ đông Ngoài ra, LDN 2005 cũng quy định các trường hợp bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên BKS và yêu cầu họ tuân thủ trách nhiệm trong việc thực hiện quyền hạn Luật còn bổ sung quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm của người quản lý và quyền sử dụng tư vấn độc lập, tạo điều kiện cho BKS thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Sự ra đời của LDN 2005 đã mang lại những cải cách quan trọng, khắc phục nhiều hạn chế của luật trước đó.

Sau hơn 8 năm áp dụng, Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN 2005) đã bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến việc Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (LDN 2014) có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 LDN 2014 đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao khung pháp lý cho tổ chức quản lý trong công ty cổ phần (CTCP) Luật mới cho phép CTCP lựa chọn mô hình quản lý phù hợp, có thể có hoặc không có Ban Kiểm soát (BKS) Các quy định về quyền, nghĩa vụ của BKS, tiền lương, thù lao của kiểm soát viên, cũng như các trường hợp bãi nhiệm, miễn nhiệm đã được bổ sung và làm rõ hơn.

Ngày 17/6/2020, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 (LDN 2020), tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả tích cực từ các cải cách trước đó Luật này đã sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ cấu quản lý công ty và Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, nhằm hướng tới sự cụ thể và hoàn thiện hơn.

Quy định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp

1.3.1 Vị trí của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Cơ cấu quản trị công ty dựa trên ba loại quyền lực chính: quyền tối cao, quyền điều hành và quyền giám sát Tổ chức và tương tác giữa các quyền lực này trong cơ cấu quản lý công ty cổ phần tại Việt Nam có sự tham gia của Ban kiểm soát (BKS).

Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, nắm giữ quyền lực tối cao và bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề trọng đại của công ty, bao gồm việc thành lập Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) HĐQT quản lý và điều hành công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của công ty, trong khi BKS giám sát HĐQT và Giám đốc/Tổng giám đốc (GĐ/TGĐ) GĐ/TGĐ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày và chịu trách nhiệm trước HĐQT và pháp luật BKS, được bầu ra bởi ĐHĐCĐ, đảm bảo HĐQT và GĐ/TGĐ thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của cổ đông và phát triển bền vững cho công ty.

Ban kiểm soát (BKS) trong công ty cổ phần (CTCP) có vị trí ngang cấp với Hội đồng quản trị (HĐQT) và đều do Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) lập ra, chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong việc thực hiện nhiệm vụ BKS là cơ quan độc lập với HĐQT và Giám đốc/Tổng giám đốc, được cổ đông ủy quyền để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động của HĐQT và Giám đốc/Tổng giám đốc Để đảm bảo tính độc lập và khách quan, thành viên BKS không được là người quản lý công ty và không có quyền quản lý điều hành, chỉ có quyền kiểm tra và giám sát.

1.3.2 Vai trò của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Trong công ty cổ phần (CTCP), luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích giữa cổ đông, những người đầu tư và sở hữu công ty, với các bên khác trong quản lý và điều hành.

25 Ms.Valérie Tandeau de Marsac (2012), “Relations between company supervisory bodies and the management”, https://www.europarl.europa.eu/meetdocs/2009_2014/documents/juri/dv/pe462454_/pe462454 _en.pdf, truy cập ngày 16/4/2022

26 Khoản 1 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020

27 Khoản 1 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020

Theo Khoản 2 Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý công ty là người trực tiếp sử dụng vốn, nhưng không phải lúc nào họ cũng hành động vì lợi ích của cổ đông Điều này có thể dẫn đến việc lạm dụng quyền quản lý, gây thiệt hại cho cổ đông Do đó, các công ty cổ phần (CTCP) cần thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để quản lý hoạt động của người quản lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cổ đông Ban Kiểm soát (BKS) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và quản lý của CTCP.

Ban kiểm soát (BKS) đảm bảo rằng các quyết định của HĐQT và GĐ/TGĐ tuân thủ pháp luật, nghị quyết của ĐHĐCĐ, điều lệ và nội quy công ty BKS thực hiện kiểm tra và giám sát hoạt động quản lý của HĐQT và GĐ/TGĐ, giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai sót trong quá trình điều hành Qua đó, BKS hạn chế tổn thất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho công ty Kết quả giám sát của BKS là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định chính xác và kịp thời.

Ban kiểm soát (BKS) trong công ty cổ phần (CTCP) đóng vai trò quan trọng đối với các đối tác và nhà đầu tư Lòng tin của nhà đầu tư vào doanh nghiệp phần lớn phụ thuộc vào hệ thống quản lý và giám sát hiệu quả Hoạt động giám sát trong CTCP không chỉ tăng cường tính minh bạch mà còn nâng cao uy tín của công ty Việc quản lý tốt sẽ làm tăng sức hấp dẫn và độ tin cậy của công ty đối với các nhà đầu tư, từ đó BKS có ảnh hưởng lớn đến sự hợp tác và phát triển bền vững của công ty.

Ban kiểm soát (BKS) trong công ty cổ phần (CTCP) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của cả công ty và nền kinh tế CTCP là một phần thiết yếu của nền kinh tế toàn cầu, với quy mô lớn và hiệu quả hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế Cổ đông, những người đầu tư với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, là chủ sở hữu của CTCP, do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ là rất cần thiết BKS, đại diện cho cổ đông, thực hiện quyền giám sát các hoạt động quản lý và điều hành công ty, đảm bảo quyền lợi của cổ đông không bị xâm phạm Qua đó, BKS không chỉ thúc đẩy sự phát triển bền vững của CTCP mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế.

1.3.3 Quy định về thành lập, tổ chức Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Kể từ Luật Doanh Nghiệp (LDN) 2014, các công ty cổ phần (CTCP) được giao quyền tự quyết định và lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Luật Doanh Nghiệp 2020 đã kế thừa và bổ sung các quy định từ LDN 2014, trong đó có những quy định quan trọng về việc thành lập Ban Kiểm Soát (BKS).

29 Điều 170, Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020

Theo Điều 170 của Luật Doanh nghiệp 2020, nếu có quy định khác trong pháp luật về chứng khoán, Công ty Cổ phần (CTCP) có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình.

Mô hình quản lý công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Đối với công ty có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần, việc thành lập Ban kiểm soát không phải là bắt buộc.

Mô hình thứ hai bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trong mô hình này, ít nhất 20% thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập, đồng thời cần có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán được quy định trong Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động do Hội đồng quản trị ban hành.

Công ty cổ phần (CTCP) phải thành lập Ban kiểm soát (BKS) khi có từ 11 cổ đông trở lên hoặc khi các cổ đông tổ chức sở hữu từ 50% tổng số cổ phần Ngược lại, CTCP có dưới 11 cổ đông và các cổ đông tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần không bắt buộc phải có BKS, mà việc thành lập BKS sẽ phụ thuộc vào quyết định của công ty.

Theo Điều 168 LDN 2020, Ban Kiểm soát (BKS) phải có từ 03 đến 05 Kiểm soát viên, với số lượng tối thiểu là 03 và tối đa là 05 Đặc biệt, hơn một nửa số Kiểm soát viên trong BKS phải thường trú tại Việt Nam.

Nhiệm kỳ của kiểm soát viên kéo dài tối đa 05 năm và có thể được bầu lại không giới hạn số lần Nếu kiểm soát viên hết nhiệm kỳ mà chưa có kiểm soát viên mới được bầu, họ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đến khi có người kế nhiệm Trưởng ban kiểm soát, người đứng đầu Ban kiểm soát, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành và quản lý các hoạt động của ban này.

BẤT CẬP CỦA QUY ĐỊNH VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 21/06/2023, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bob Tricker (2012), Corporate Governance - Kiểm soát quản trị: Các nguyên tắc, chính sách và thực hành về quản trị công ty và kiểm soát quản lý, bản dịch của Nguyễn Dương Hiếu và Nguyễn Thị Thu Hương, Nhà xuất bản Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Governance - Kiểm soát quản trị: Các nguyên tắc, chính sách và thực hành về quản trị công ty và kiểm soát quản lý
Tác giả: Bob Tricker, Nguyễn Dương Hiếu, Nguyễn Thị Thu Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thời đại
Năm: 2012
12. Bùi Xuân Hải (2006), “So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2006, tr. 19 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học pháp lý
Năm: 2006
13. Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mất vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (41)/2007, tr. 21 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về đại diện và mất vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học pháp lý
Năm: 2007
14. Bùi Xuân Hải (2009), “Bảo vệ cổ đông: mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật doanh nghiệp 2005”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1(50)/2009, tr. 23 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ cổ đông: mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật doanh nghiệp 2005
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Tạp chí Khoa học pháp lý
Năm: 2009
15. Bùi Xuân Hải (2011), Luật doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông - pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.16. Đại Từ điển Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp: Bảo vệ cổ đông - pháp luật và thực tiễn
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Đoàn Mạnh Quỳnh (2010), Pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Tác giả: Đoàn Mạnh Quỳnh
Nhà XB: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
18. Hà Thị Thanh Bình (2015), “Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành trong quản trị công ty”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 (330)/2015, tr.45 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý, điều hành trong quản trị công ty
Tác giả: Hà Thị Thanh Bình
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2015
19. Mai Thu Hà (2019), “Địa vị pháp lý của Ban Kiểm soát công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 - Thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của Ban Kiểm soát công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 - Thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Mai Thu Hà
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2019
20. Ngô Mỹ Linh (2019), Pháp luật về vai trò và thẩm quyền của Ban Kiểm soát công ty cổ phần – Thực tiễn tại Công ty Cổ phần SM Group, luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về vai trò và thẩm quyền của Ban Kiểm soát công ty cổ phần – Thực tiễn tại Công ty Cổ phần SM Group
Tác giả: Ngô Mỹ Linh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2019
21. Nguyễn Thị Lan Hương (2011), “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần”, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 27/2011, tr.246 - 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
22. Nguyễn Thị Thu Vân (1996), Chuyên đề Pháp luật về Công ty, Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Pháp luật về Công ty
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Vân
Nhà XB: Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý
Năm: 1996
23. Phan Thị Thanh Thủy (2018), “Bàn về tính minh bạch trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1 (353)/2018, tr. 50 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính minh bạch trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Năm: 2018
24. Trần Ngọc Dũng (2016), “Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2016, tr. 45 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2016
25. Trần Ngọc Dũng (2018), “Các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong doanh nghiệp - Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, số 11/2018, tr.17 - 28.Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về Ban kiểm soát trong doanh nghiệp - Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2018
10. Bản thuyết minh chi tiết về dự án luật doanh nghiệp (sửa đổi) ban hành kèm theo Báo cáo số 7900/BC-BKHĐT ngày 25 tháng 10 năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w