Bên cạnh đó, đưa ra và phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc áp dụng phương thức trực tuyến cho hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS tại Việt Nam, đồng thời nêu lên những yếu t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VÕ KIỀU ANH
ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN TRONG VIỆC KHỞI KIỆN VÀ
THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 NĂM 2021
Trang 2Phụ lục 2:
Mẫu trang phụ bìa (Khổ 210 x 297 mm)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Người thực hiện: PHAN VÕ KIỀU ANH
ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN TRONG VIỆC
KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
Giáo viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN THỊ HOÀI TRÂM
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng
em, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoài Trâm Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này./
Tác giả
Phan Võ Kiều Anh
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Đặc điểm 11
1.1.3 Ý nghĩa 12
1.2 Cơ sở của việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo phương thức trực tuyến 14
1.2.1 Cơ sở lý luận 14
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo phương thức trực tuyến 22
1.3.1 Yếu tố về con người 22
1.3.2 Yếu tố về quy định pháp luật 23
1.3.3 Yếu tố về cơ sở hạ tầng, cơ sở công nghệ thông tin 23
1.3.4 Vấn đề tấn công và an ninh mạng 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ VIỆC KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN – BẤT CẬP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 27
2.1 Các lĩnh vực được nộp đơn khởi kiện trực tuyến 27
2.2 Cách thức nộp đơn khởi kiện trực tuyến 31
2.3 Việc nộp các tài liệu, chứng cứ trực tuyến 37
2.4 Việc thông báo của Tòa án bằng phương tiện điện tử 41
2.5 Cách nộp tạm ứng án phí trực tuyến 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại thời điểm đại dịch COVID-19 bùng nổ, nhiều thách thức đã được đặt ra đối với các quốc gia, đặc biệt trong việc cung cấp các dịch vụ công cốt lỗi, bao gồm chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục và pháp luật Nhiều quốc gia đã ban hành các lệnh phong tỏa, giãn cách xã hội hay thậm chí là cách ly xã hội nhằm đối phó với việc bùng phát nghiêm trọng của dịch bệnh, những lệnh này đã gây ra nhiều khó khăn trong các hoạt động xã hội và hệ thống tư pháp cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này
Trong thời gian đầu tiến hành giãn cách, cách ly, hệ thống tư pháp của một số quốc gia lựa chọn giải pháp tìm kiếm cơ sở vật chất để đáp ứng sự giãn cách xã hội như phân bổ lại lịch làm việc của các cán bộ, nhân viên tòa án, bố trí các phòng xử
án rộng rãi, ít người tham dự… Phần đông còn lại ra quyết định hoãn hoạt động xét
xử để giảm thiểu tối đa số lượng các phiên tòa được tiến hành xét xử trong thời gian này1 Tuy nhiên, đây chỉ có thể là biện pháp mang tính tạm thời vì số lượng tranh chấp không vì dịch bệnh mà ngừng tăng, thậm chí con số còn có thể tăng lên đáng
kể do những dự kiến trong giao dịch dân sự vì đại dịch kéo dài mà thay đổi Số lượng vụ án tồn đọng trong khi quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự có khả năng bị xâm phạm, thiệt hại nhiều hơn nếu thời gian hoãn hoạt động xét xử kéo dài
đã tạo áp lực lên hệ thống tư pháp của các quốc gia, buộc các tòa án phải chuyển mình tìm kiếm phương pháp mới, thoát ra khỏi cách vận hành bình thường, “truyền thống”2
Sự phát triển của truyền thông và công nghệ thông tin đã hỗ trợ các quốc gia trên thế giới trong việc vận hành hoạt động tư pháp một cách hiệu quả Internet là cuộc cách mạng vĩ đại nhất gần đây đã mang lại một xã hội mở, tuy nhiên việc khai thác một cách tối đa những lợi ích từ cuộc cách mạng này trong lĩnh vực tố tụng, giải quyết vụ việc dân sự là còn hạn chế Bên cạnh những tác động tiêu cực mà đại dịch COVID-19 mang lại, thì tình hình hiện nay cũng được xem như là một môi trường thúc đẩy cho những trải nghiệm mới mang tính sáng tạo, thích ứng cao hơn
để phù hợp với thời cuộc và nhìn chung đây là một môi trường có thể thúc đẩy cải cách tư pháp nói chung, ngành tố tụng nói riêng theo hướng tích hợp công nghệ thông tin, sử dụng công nghệ 4.0 nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết vụ án dân sự Theo đó, trong bối cảnh hiện nay, các hoạt động của hệ thống tư pháp nói chung, hoạt động xét xử vụ án dân sự nói riêng của các quốc gia về cơ bản vẫn được tiếp tục duy trì trên cơ sở tiếp cận theo hướng “từ xa” bằng các công cụ hỗ trợ liên lạc trực tuyến hoặc linh hoạt kết hợp giữa “trực tuyến” và cách xét xử “truyền thống” nhằm đảm bảo giải quyết kịp thời các tranh chấp dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự một cách tối đa Theo đó, sự hỗ trợ của công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở phạm vi quản lý hồ sơ mà còn xảy ra trong hoạt động
Trang 7xét xử của Tòa án, ngay cả đối với các vụ án phức tạp, kéo dài Tùy từng trường hợp cụ thể, một phiên tòa truyền thống, phiên tòa trực tuyến hoặc phiên tòa “hỗn hợp” (một hoặc một số người tham gia phiên tòa để cung cấp trực tiếp bằng chứng của họ cho hội đồng xét xử, những người còn lại tham gia phiên tòa “từ xa” thông qua các phần mềm hỗ trợ liên lạc) có thể được cân nhắc áp dụng cho phù hợp3 Tại Việt Nam, hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chỉ thị nhằm hạn chế sự tập trung đông người và sự lây lan của dịch bệnh Trong đó, hoạt động
mở phiên tòa cũng bị ảnh hưởng và gây ra nhiều khó khăn trong việc tiếp cận công
lý của các chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức), nếu như tình trạng như vậy cứ tiếp tục kéo dài sẽ gây bức xúc trong dư luận, mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với hệ thống pháp luật và ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Bên cạnh đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng có đề cập đến vấn đề bắt đầu từng bước thực hiện mô hình “Tòa án điện tử”4 Ngoài ra, một yếu tố khác là đời sống ở Việt Nam hiện nay đang dần hòa nhập với việc có sự hỗ trợ của công nghệ như việc thanh toán các hóa đơn qua các phần mềm, học và họp trực tuyến Trong đó, việc
áp dụng các phương tiện điện tử đã góp phần đáng kể tạo nên chất lượng sống tốt hơn của cá nhân, cơ quan, tổ chức Ở thời đại mà khoa học và công nghệ đang liên tục được đẩy mạnh phát triển thì một quốc gia đang phát triển như Việt Nam lại càng cần thúc đẩy đất nước mình nhiều hơn để tạo nên nhiều giá trị tích cực cho đời sống ở Việt Nam Từ các yếu tố nêu trên, Việt Nam cũng đã sẵn sàng cho công cuộc mang khoa học và công nghệ vào hoạt động xét xử, bên cạnh việc hòa nhập với xu thế, ngoài ra là để tạo nên nhiều sự thuận lợi cho các chủ thể trong việc tiếp cận công lý Tuy nhiên, việc phát triển mô hình xét xử trực tuyến là một việc làm cấp bách nhưng cũng cần có thời gian chuẩn bị cẩn thận Vậy, nhằm góp phần hoàn
thiện một phần quy định về xét xử trực tuyến, tác giả đã chọn đề tài “Áp dụng
phương thức trực tuyến trong việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay ở Việt Nam, chế định về khởi kiện
và thụ lý vụ án dân sự (VADS) theo phương thức trực tuyến là một công trình mang tính mới cao Tuy nhiên vẫn có một số bài viết của các tác giả bình luận, phân tích, nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS như:
Bài viết “Khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án – một số lựa chọn hiệu quả” của tác giả Nguyễn Chế Linh (được đăng trên tạp chí Luật sư Việt Nam, số 6, 2017) đánh giá, nhận xét về tính hiệu quả của quy định pháp luật trong các vấn đề như phương thức khởi kiện, quy định về tạm ứng án phí, các biện pháp khẩn cấp tạm thời… từ đó đưa ra những lựa chọn mang tính hiệu quả trong các khía cạnh trên
3 Nguyễn Thị Hoài Trâm - Lê Thị Minh Ngọc (2020), tlđd (2);
4 Lê Đức Anh (2020), “Mô hình “Xét xử trực tuyến thay xét xử tập trung””, viet/nghien-cuu/mo-hinh-xet-xu-truc-tuyen-thay-xet-xu-tap-trung?fbclid=IwAR0Bb5FbEnuuAEjhPjdGAusq 5w XclyCTjAxr u7ialb2VbyR_s_sH qgtGBw, truy cập ngày 12/4/2021
Trang 8https://tapchitoaan.vn/bai-Bài viết “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015” của tác gả Bùi Thị Huyền (được đăng trên tạp chí Kiểm sát, số 12, 2017) phân tích về khái niệm của khởi kiện vụ án dân sự theo nghĩa rộng và hẹp, xác định chủ thể có quyền khởi kiện Song song đó đề cập đến những điểm mới của BLTTDS 2015 về khởi kiện VADS (theo nghĩa rộng), những vướng mắt, bất cập từ đó đưa ra cơ sở để hoàn thiện pháp luật
Bài viết “Một số ý kiến về thụ lý VADS” của tác giả Đoàn Đức Lương (được đăng trên tạp chí Kiểm sát, số 17, 2005) tập trung phân tích khái niệm của thụ lý VADS, nội dung, yêu cầu cơ bản của việc kiểm sát và vai trò của Kiểm sát viên đối với giai đoạn thụ lý vụ án dân sự trong tố tụng dân sự
Bài viết “Áp dụng mô hình xét xử trực tuyến của Tòa án đối với các vụ án dân
sự dưới tác động của COVID-19” của tác giả Nguyễn Thị Hoài Trâm và Lê Thị Minh Ngọc (2020) trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Tác động của COVID-19 đến các quan hệ pháp luật dân sự, do Khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 11/11/2020 tại Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh Bài viết đã nêu những tác động của COVID-19 đến các hoạt động của Tòa án, cùng với đó là thực trạng áp dụng phương thức xét xử trực tuyến của một số nước trên thế giới nhằm thích ứng với bối cảnh COVID-19 cũng như những kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, vì là bài viết tham gia hội thảo nên chưa đưa ra những giải pháp chi tiết về việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến tại Việt Nam khi Tòa án giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự
Bên cạnh đó, một số luận văn, khóa luận tiêu biểu cũng đã nghiên cứu về vấn
đề khởi kiện và thụ lý VADS như:
Khóa luận tốt nghiệp “Quyền khởi kiện VADS theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Thị Minh Ngọc (Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2019) chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản về quyền khởi kiện như khái niệm, ý nghĩa của quyền này và đặc biệt nghiên cứu chuyên sâu vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện VADS, điều kiện khởi kiện VADS, phạm vi khởi kiện VADS và chỉ ra phương hướng để hoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện VADS
Khóa luận tốt nghiệp “Khởi kiện và thụ lý VADS” của tác giả Nguyễn Chí Thắng (Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) với nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chế định khởi kiện và thụ lý VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm Từ đó, tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung của quy định pháp luật trong việc khởi kiện và thụ lý VADS Đồng thời, đưa ra kiến nghị góp phần củng cố và hoàn thiện quy định pháp luật về quyền khởi kiện và thụ
lý VADS trong tố tụng dân sự
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý VADS trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hiền (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012) nghiên cứu về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Việt Nam hiện hành, cụ thể là tập trung phân tích đặc thù của việc khởi kiện VADS Đồng thời so sánh, phân tích toàn
Trang 9diện và chuyên sâu giữa quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện và thụ
lý vụ án dân sự trước thời điểm BLTTDS hiện hành được ban hành
Luận văn thạc sĩ “Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Đàm Thị Hoa (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016) làm
rõ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tự do khởi kiện VADS, đồng thời làm nghiên cứu phạm vi quyền tự
do khởi kiện của chủ thể khởi kiện, trách nhiệm cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do khởi kiện của chủ thể Từ đó đưa ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý sẽ đề xuất một số giải pháp nhầm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tự do khởi kiện VADS
Luận án tiến sĩ “Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Hương (Đại học Luật Hà Nội, 2019) tập trung nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS, chỉ luận giải về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện và thụ lý VADS; chủ thể có quyền khởi kiện; phạm vi khởi kiện; đơn khởi kiện và phương thức gửi đơn khởi kiện; các căn cứ trả lại đơn khởi kiện; khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại; kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, trình tự, thủ tục thụ lý vụ án
Từ tình hình nghiên cứu đã được nêu, chúng ta có thể thấy rằng đề tài “Áp dụng phương thức trực tuyến trong việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự” là đề tài mang tính mới hoàn toàn Bởi các công trình nêu trên chỉ tập trung phân tích từ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam đối với việc khởi kiện và thụ lý VADS theo cơ chế mà các chủ thể phải trực tiếp đến Tòa án để làm các thủ tục cần thiết chứ chưa đề cập đến cơ chế trực tuyến và cũng như phân tích, học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới về lĩnh vực này Vậy nên việc nghiên cứu đề tài này có thể mang lại những yếu tố mới và góp phần hoàn thiện pháp luật nước ta
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm của thuật ngữ “trực tuyến” trong vấn đề áp dụng phương thức trực tuyến cho việc khởi kiện và thụ lý VADS tại Việt Nam Bên cạnh đó, đưa
ra và phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc áp dụng phương thức trực tuyến cho hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS tại Việt Nam, đồng thời nêu lên những yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc hoàn thiện cơ chế này;
- Làm rõ các điểm hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) Việt Nam hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế này;
- Đánh giá, phân tích cách vận hành cơ chế trực tuyến trong hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS ở các quốc gia khác trên thế giới, đồng thời so sánh với điều kiện của Việt Nam;
- Từ các yếu tố trên, mục tiêu cụ thể của đề tài là đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật đối với việc áp dụng phương thức trực tuyến trong khởi kiện và thụ lý VADS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 10Đối tượng nghiên cứu: quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và quy định của pháp luật nước ngoài về thủ tục khởi kiện và thụ lý VADS Trên cơ sở đánh giá quy định của pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về nội dung, đề tài làm rõ một số điểm bất cập và học hỏi những giá trị kinh nghiệm có thể tham khảo và vận dụng tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu thủ tục khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến, cụ thể trong phần khởi kiện VADS trực tuyến của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về cách thức nộp đơn khởi kiện trực tuyến, các lĩnh vực được nộp đơn khởi kiện trực tuyến và việc nộp kèm các tài liệu, chứng cứ điện tử khi nộp đơn khởi kiện trực tuyến Bên cạnh đó, trong phần thụ lý VADS trực tuyến, tác giả tập trung bàn luận về việc Tòa án thông báo một số thông tin liên quan đơn khởi kiện trực tuyến (như thông báo về thụ lý vụ án) và cách nộp tạm ứng án phí
5 Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận đề tài: để có thể phân tích và đưa ra các giá trị tham khảo thích hợp thì tác giả đã tham khảo các tài liệu có liên quan đến khởi kiện và thụ lý VADS theo cơ chế xét xử trực tuyến không chỉ ở Việt Nam mà còn các quốc gia khác trên thế giới; ngoài ra, việc phân tích pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về cơ chế này cũng góp phần quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp thích hợp cho Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu:
- Đối với Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, suy luận, lý luận kết hợp với thực tiễn để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến Đồng thời đưa ra cơ sở lý luận (phân tích nội hàm bên trong của các quy định pháp luật), cơ sở thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng đến quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo phương thức trực tuyến
- Đối với Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, lý luận kết hợp với thực tiễn nhằm làm rõ về cách thức mà các quốc gia trên thế giới đã quy định và vận dụng pháp luật vào thực tiễn Bên cạnh đó, việc sử dụng phương pháp tổng hợp giúp tác giả tổng hợp những quy định của pháp luật, quan điểm của các nhà nghiên cứu, tổng hợp bất cập, hạn chế đang tồn tại trong quy định pháp luật và thực tiễn
6 Cơ cấu đề tài
Đề tài gồm hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về việc khởi kiện và thụ lý VADS bằng
phương thức trực tuyến
Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về việc khởi kiện và thụ lý VADS
theo phương thức trực tuyến – bất cập, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ
VỤ ÁN DÂN SỰ BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỰC TUYẾN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa
1.1.1 Khái niệm
Nhằm làm rõ nội dung của đề tài, chúng ta cần phải tìm hiểu về các khái niệm như “khởi kiện”, “thụ lý”, “VADS” và “trực tuyến” từ đó rút ra khái niệm về “khởi kiện VADS trực tuyến” và “thụ lý VADS trực tuyến” Hiện nay, khái niệm của ba cụm từ “khởi kiện VADS”, “thụ lý VADS” và “VADS” đã được nhiều công trình nghiên cứu khác nhau công bố dưới dạng các bài báo cáo khoa học, luận văn cử nhân, thạc sĩ và đề tài nghiên cứu khoa học Với đề tài “Áp dụng phương thức trực tuyến trong việc khởi kiện và thụ lý VADS” thì ba thuật ngữ nêu trên cũng sẽ có những điểm tương đồng so với các thuật ngữ đã được nghiên cứu trong các công trình trước đó Ngoài ra, thuật ngữ “trực tuyến” là một khái niệm tương đối mới Vậy nên để có thể rút ra một khái niệm hoàn chỉnh, phù hợp với mục đích và phạm
vi nghiên cứu của đề tài thì chúng ta cần nghiên cứu, tiếp cận ở những góc độ khác nhau, kết hợp với so sánh, đối chiếu từ nhiều khía cạnh khác nhau để hoàn thiện hơn khái niệm đang nghiên cứu
Thứ nhất, chúng ta làm rõ thuật ngữ “VADS” Theo quy định của pháp luật TTDS, Tòa án tiếp nhận giải quyết các vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Theo đó, vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn tới Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự5 Vụ việc dân sự gồm VADS và việc dân sự Trong đề tài này, chúng ta chỉ phân tích và làm rõ khái niệm về VADS, đây là một khái niệm không mới và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực TTDS Theo giáo trình đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, VADS phát sinh tại Tòa án nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động6 Ngoài ra, theo tác giả Nguyễn Chí Thắng thì “vụ án dân sự xảy ra giữa các bên đương sự có những mâu thuẫn bất hòa, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự mà bản thân họ không thể tự giải quyết được nên phải kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Loại vụ án này có nguyên đơn và bị đơn”7 Ngoài ra, theo tác giả Đàm Thị Hoa: “VADS là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS”.8 Bên cạnh đó, tại Điều 1 BLTTDS 2015
5 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài
Phương (chủ biên), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 18;
6 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), tlđd (5), tr 18, 19;
7 Nguyễn Chí Thắng (2010), Khởi kiện và thụ lý VADS, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, tr 1;
8 Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr 10
Trang 12có quy định rằng các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động sẽ được gọi chung là vụ án dân sự Theo đó, tác giả cũng đồng ý với quan điểm của tác giả Đàm Thị Hoa về khái niệm của VADS và nhận thấy phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài này
Từ đó, chúng ta có thể rút ra khái niệm như sau về VADS là “các tranh chấp
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà theo quy định thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác” 9
Thứ hai, việc làm rõ thuật ngữ “khởi kiện VADS” góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài này Có thể thấy thuật ngữ này không mới và đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đánh giá và đưa ra các khái niệm phù hợp Dưới góc độ của ngôn ngữ học, chúng ta có khái niệm cơ bản và đơn giản cho “khởi kiện” là “bắt đầu đưa vụ kiện (về dân sự, kinh tế, hành chính) ra Tòa án”10 Khái niệm này được rút ra từ việc phân tích hai từ là “khởi” và “kiện”, theo đó “khởi là bắt đầu (làm một công việc gì đó)”11 và “kiện” là đưa ra những yêu cầu đề nghị xét xử để phân giải đúng sai, bảo vệ quyền lợi cho mình”12, ngoài ra còn có thể hiểu “kiện là đệ đơn lên Tòa án yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại cho mình”13 Từ đó có thể rút ra khái niệm như sau: khởi kiện là việc bắt đầu nộp đơn yêu cầu tòa án xét xử người đã làm thiệt hại đến mình hay nói cách khác là yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu bị xâm phạm
Dưới góc độ pháp lý, để khái niệm “khởi kiện VADS” phù hợp với đề tài mình đang nghiên cứu, các tác giả đã định nghĩa “khởi kiện VADS” như sau: “Khởi kiện được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”14; “Theo nghĩa hẹp thì khởi kiện VADS là việc nguyên đơn (hoặc người đại diện của họ) nộp đơn yêu cầu tòa
án bảo vệ quyền lợi của mình”15; và trong Thuật ngữ pháp lý của Nguyễn Mạnh Hùng hiểu “khởi kiện, thuật ngữ dùng trong tố tụng dân sự, là việc đương sự nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”16 Theo PGS.TS Hà Thị Mai Hiên trong cuốn chuyên khảo “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình” định nghĩa “Khởi kiện VADS là quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết một vụ
9 “Phân biệt việc dân sự và VADS theo quy định của pháp luật dân sự”, su-va-vu-an-dan-su-theo-quy-dinh-cua-phap-luatdansu/#:~:text=%E2%80%93%20V%E1%BB%A5%20%C 3%A1n%20d%C3%A2n%20s%E1%BB%B1%20l%C3%A0,%C3%ADch%20h%E1%BB%A3p%20ph%C3
https://fblaw.vn/phan-biet-viec-dan-%A1p%20c%E1%BB%A7a%20m%C3%ACnh, truy cập ngày 19/4/2021;
Trang 13án dân sự do cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác” Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam do PGS.TS Phan Hữu Thư và TS Lê Thu Hà đồng chủ biên thì “Khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”17
Dưới góc nhìn khởi kiện là một hoạt động tố tụng, tác giả Nguyễn Thu Hiền trong luận văn “Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội do tác giả Nguyễn Công Bình chủ biên; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội do tác giả Bùi Thị Thanh Hằng chủ biên đều đưa ra khái niệm: “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước”18 Cũng tiếp cận dưới góc nhìn này nhưng “tác giả Bùi Thị Quế Anh trong luận văn “Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên” lại không sử dụng cụm từ “nộp đơn” mà chỉ định nghĩa: “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng
và lợi ích Nhà nước”19 Ngoài ra, theo tác giả Đàm Thị Hoa thì “bản chất của quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này
“khởi kiện VADS” được nghiên cứu trong đề tài này sẽ giống đối với khái niệm về
“khởi kiện VADS” đã được các đề tài khác nghiên cứu Vì dù các cơ quan, cá nhân,
tổ chức nộp đơn khởi kiện “trực tuyến”22 hay trực tiếp23 tại Tòa án thì chỉ là khác
17 Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án
tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 9;
18 Nguyễn Thị Hương (2019), tlđd (17), tr 10;
19 Nguyễn Thị Hương (2019), tlđd (17), tr 10;
20 Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr 9;
21 Điều 186 về quyền khởi kiện vụ án BLTTDS 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”;
22 Giải thích tại tr 10, 11 của đề tài
Trang 14nhau về cách thức nộp đơn còn về bản chất thì việc nộp đơn kiện cho Tòa án và Tòa
án nhận đơn đó là “việc mở đầu hoạt động tố tụng dân sự đối với một vụ án, đồng thời là sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm xem xét, giải quyết tranh chấp dân
sự của Tòa án”24
Ngoài ra, tham khảo về quy định pháp luật của Nga trong việc quy định về quyền khởi kiện VADS tại Điều 3 BLTTDS 2003 của nước Nga như sau: “1 Công dân, tổ chức có quyền, tự do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện
vụ án dân sự tại Tòa án; 2 Trong những trường hợp do Bộ luật này và luật liên bang quy định, một người có thể nhân danh mình khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, tập hợp người không xác định hoặc lợi ích của Liên Bang Nga chủ thể Liên Bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương…”25 Quy định này có phần giống với cách định nghĩa của các tác giả tại Việt Nam về vấn đề khởi kiện VADS
Như vậy, từ những phân tích nêu trên, có thể kết luận rằng: Khởi kiện VADS là việc cơ quan, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác
Thứ ba, chúng ta tìm hiểu về khái niệm của thuật ngữ “thụ lý VADS” Hoạt động thụ lý VADS được xem “là hoạt động đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết VADS làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự giữa cơ quan tiến hành
tố tụng với người tham gia tố tụng”26
Theo Từ điển tiếng Việt: “Thụ lý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện”27 Ngoài ra trong giáo trình Luật tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015 đưa
ra khái niệm “thụ lý vụ án là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết”28 Bên cạnh đó, theo tác giả Đặng Tất Tùng định nghĩa “thụ lý VADS là một hoạt động tố tụng dân sự do Tòa án tiến hành trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của người có quyền khởi kiện và vào sổ thụ lý VADS khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định”29
Hiện nay, tại Điều 195 BLTTDS 201530 có quy định về thụ lý VADS nhưng
đó không phải quy phạm định nghĩa do đó hiện nay chưa có nhận thức thống nhất
về định nghĩa của thuật ngữ này Khi nhìn từ góc độ của ngôn ngữ học, “thụ lý” là
27 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, tr 961;
28 Đinh Thị Thu Hương (2017), Thụ lý vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr 24, 25;
29 Đặng Tất Tùng (2015), Thực tiễn áp dụng tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr 14;
30 Điều 195 BLTTDS 2015 về thụ lý vụ án: “Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng
án phí”
Trang 15việc “cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận giải quyết vụ kiện”31 hay nói cách khác là việc “Tòa án tiếp nhận vụ án để xét xử”32 Còn về mặt pháp lý, có quan điểm cho rằng “thụ lý VADS là một hoạt động tố tụng dân sự, trong đó Tòa án xem xét, chấp nhận đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự”33
Bên cạnh đó, tại Nga cũng có quy định khi đơn khởi kiện đáp ứng được đầy đủ các quy định theo luật định thì đơn sẽ được thụ lý tại Điều 133 BLTTDS của nước Nga: “Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, thẩm phán có nghĩa vụ xem xét, giải quyết việc thụ lý đơn khởi kiện”34 “Có thể thấy rằng có nhiều điểm khá giống về quy định pháp luật trong khởi kiện và thụ lý VADS giữa Nga và Việt Nam, điều này có thể giải thích qua việc pháp luật Việt Nam và pháp luật Nga đều
có nguồn gốc xuất phát từ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, nền pháp luật thành văn Ở khía cạnh khác, sau chiến tranh, khi Việt Nam bắt đầu xây dựng lại đất nước nói chung và hệ thống pháp luật nói riêng đã học hỏi và tiếp thu từ cách lập pháp và
tư pháp của nước Nga vì pháp luật tố tụng giữa hai quốc gia này có thể sẽ tồn tại nhiều điểm tương đồng nhau”35
Từ các quan điểm nêu trên và quy định của pháp luật về thụ lý VADS trong
BLTTDS (Điều 195) có thể hiểu rằng: thụ lý VADS là việc sau khi Tòa án xem xét đơn khởi kiện hợp lệ, thuộc thẩm quyền của mình và người khởi kiện đã nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án (trừ trường hợp được miễn và không phải nộp) thì Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của người khởi kiện để xem xét giải quyết một vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, cơ quan
Cuối cùng, việc làm rõ định nghĩa của thuật ngữ “trực tuyến” góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài Đây là một thuật ngữ mới vậy nên hiện nay chưa nhận thức thống nhất Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 43/2011NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước thì dịch vụ công trực tuyến được định nghĩa như sau: “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của nhà nước được cung cấp cho các
tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng” Từ định nghĩa vừa nêu, chúng ta có thể hiểu trực tuyến là một môi trường mạng, trên cơ sở của môi trường mạng này chúng
ta sẽ có thể tiến hành nhiều hoạt động khác Ngoài ra, cũng có thể hiểu môi trường mạng này là công cụ trung gian khi con người kết nối thiết bị điện tử của họ vào môi trường mạng đó, họ có thể tiến hành một số hoạt động nhất định Ví dụ, khi dịch bệnh COVID-19 bùng nổ, nhằm hạn chế sự tập trung của người dân và giảm sự lây lan của dịch bệnh, giáo dục Việt Nam áp dụng hình thức học trực tuyến thông qua phần mềm zoom, google meeting… để giảng dạy và học tập Việc này có nghĩa
Trang 16là học sinh cần có một thiết bị điện tử (máy tính, điện thoại) đã được kết nối với môi trường mạng để có thể đăng nhập và sử dụng phần mềm nêu trên Điều này cũng tương tự như việc hiện nay pháp luật cho phép người khởi kiện có thể sử dụng thiết bị điện tử để kết nối với mạng, sau đó truy cập vào trang điện tử của Tòa án để tiến hành khởi kiện (nộp đơn, tài liệu, chứng cứ chứng minh liên quan)36
Từ việc phân tích các thuật ngữ nêu trên, chúng ta có thể khái quát rằng:
“Khởi kiện VADS trực tuyến” là việc người khởi kiện thông qua sử dụng thiết bị điện tử đã kết nối mạng để truy cập vào trang điện tử của Tòa án để tiến hành gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ chứng minh họ đang có để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
“Thụ lý VADS trực tuyến” là Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện, xem xét, giải quyết vụ án (sau khi người khởi kiện đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật)
và thông báo với người khởi kiện qua trang điện tử của Tòa án hoặc các phương tiện điện tử khác
và phải tuân thủ theo quy định để việc khởi kiện trực tuyến hợp pháp Như vậy, khi người khởi kiện nộp đơn trực tuyến thì Tòa án cần đặt mình trong trạng thái tạo điều kiện để các chủ thể tiếp cận công lý như cách khởi kiện truyền thống và xem xét, giải quyết đơn đó theo quy định pháp luật để đảm bảo sự công bằng và quyền lợi của người khởi kiện Đối với vấn đề thụ lý VADS trực tuyến, việc này cũng được xem là một thủ tục tố tụng như việc thụ lý VADS thông thường và là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng, bởi nếu không có việc thụ lý này thì cũng sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình tố tụng như chuẩn bị xét xử
vụ án Đồng thời, khi Tòa án tiến hành thụ lý VADS trực tuyến thì trách nhiệm giải quyết VADS trong thời gian luật định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương
sự cũng được thiết lập
Thứ hai, vì hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS được tiến hành trực tuyến nên
cả người khởi kiện và Tòa án đều cần chuẩn bị cho riêng mình thiết bị điện tử kết nối với mạng, thông qua phương tiện này các chủ thể có thể khởi kiện và Tòa án có
36 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về gửi đơn khởi kiện đến Tòa án: “1 Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)”
Trang 17thể tiến hành thụ lý vụ án đó Trong công cuộc cải cách tư pháp, quy định pháp luật cũng có sự thay đổi để phù hợp với xu thế “Hiện nay, các ngành, các cơ quan, trong
đó có ngành Tòa án thì từ trung ương đến địa phương, hầu hết các đơn vị đều phát triển cổng thông tin điện tử, đăng tải rộng rãi các thông tin pháp lý trên trang web của ngành mình, địa phương mình”37 Từ đó cho thấy, về phía Tòa án, họ đã chuẩn
bị cho mình một công cụ, “Cổng thông tin điện tử của Tòa án”38, để có thể tiến hành các thủ tục tố tụng kịp thời, hỗ trợ tối đa cho các chủ thể trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Còn về phía cá nhân, cơ quan, tổ chức, dù họ có ở tầng lớp nào hay ở nơi rất xa trụ sở Tòa án hay có lý do khác mà không thể tự mình đến Tòa án
để gửi đơn thì họ chỉ cần tìm cho mình một thiết bị điện tử có kết nối mạng và truy cập vào Cổng thông tin điện tử Tòa án để khởi kiện khi có tranh chấp xảy ra Ở thời điểm hiện tại, việc chuẩn bị được một thiết bị điện tử (như máy tính, điện thoại) để kết nối với mạng là không quá khó khăn, vậy nên cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể linh động chọn thời gian và cách thức khởi kiện phù hợp với điều kiện của mình
1.1.3 Ý nghĩa
Trước đây việc khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình không phải
là sự lựa chọn hàng đầu ở Việt Nam, do tâm lý e ngại khi đối diện với cơ quan nhà nước và sự hiểu biết hạn chế về quy định pháp luật Tuy nhiên, ngày nay xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, các chủ thể, đặc biệt đối với các cá nhân được tiếp cận quy định pháp luật nhiều hơn và trình độ chuyên môn của cơ quan xét xử cũng được nâng cao nên việc lựa chọn Tòa án là nơi giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm đã phổ biến Thêm vào đó, sự phát triển của thời đại công nghệ, cá nhân,
cơ quan, tổ chức ưa chuộng việc thao tác qua các thiết bị điện tử nhằm tiết kiệm thời gian, tiền bạc và công sức và nhằm tạo ra sự thuận lợi hơn trong việc tiếp cận công lý, mô hình xét xử trực tuyến, trong đó có giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án trực tuyến, khi được đưa vào hoạt động trên thực tế sẽ khuyến khích, hỗ trợ cho các chủ thể trong việc tiếp cận với cơ quan nhà nước và giải quyết tranh chấp bảo vệ
quyền, lợi ích cho mình Như vậy, đối với người khởi kiện, họ không cần quan ngại
về khoảng cách địa lý, thời gian hay thủ tục rườm rà để nộp đơn khởi kiện và các tài liệu khác liên quan nữa mà khi có tranh chấp xảy ra họ đều có thể chủ động hơn khi
khởi kiện trực tuyến Đối với người bị kiện, ở vị trí của một người bị người khác
kiện, họ sẽ cảm thấy rắc rối và không muốn hợp tác với Tòa án Ví dụ, theo quy định của pháp luật, sau khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn và thông báo cho người bị kiện thì bị đơn phải nộp văn bản ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn39 Về cơ bản, nếu họ tự mình đến Tòa án nộp thì tốn thời gian, công sức còn nếu họ nộp qua đường bưu điện thì thủ tục có thể phức tạp và thời gian để Tòa án nhận được văn bản ý kiến đó sẽ lâu hơn Vậy nên, khi bị đơn lựa chọn đăng ký tài khoản gửi và nhận dữ liệu điện tử của Tòa án thì họ sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí Bởi họ chỉ cần soạn thảo văn bản điện tử và gửi lên Cổng thông tin điện tử
Trang 18thông qua tài khoản mà họ được cấp Theo đó có thể góp phần tạo điều kiện và bảo
vệ quyền lợi của người bị kiện Bởi dù là người bị kiện thì họ vẫn là một công dân Việt Nam và cần được nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Đối với hoạt động tố tụng dân sự, việc khởi kiện VADS trực tuyến góp phần
giúp quá trình thụ lý diễn ra nhanh hơn Khi nộp đơn khởi kiện trực tuyến, người khởi kiện phải làm đơn khởi kiện trên hệ thống của Tòa án và hệ thống sẽ nhắc nhở chỉnh sửa các lỗi cơ bản ban đầu cho người khởi kiện, như vậy thì đơn khởi kiện sẽ hoàn thiện hơn và ít sai sót Sau khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện trên hệ thống của mình thì Tòa án sẽ xem xét việc sửa đổi, bổ sung đơn Trong trường hợp cần sửa đổi, bổ sung thì Tòa án chỉ cần thông báo với người khởi kiện thông qua hệ thống hoặc phương tiện điện tử khác và người khởi kiện có thể đăng nhập lại trên hệ thống để tiến hành sửa đổi, bổ sung mà không cần phải soạn thảo lại đơn để sửa chữa lỗi, bổ sung thông tin sau đó in thành văn bản giấy và đi đến Tòa án để nộp như cách khởi kiện truyền thống Từ đó có thể thấy cách khởi kiện trực tuyến sẽ tiết kiệm thời gian hơn cho người khởi kiện trong việc sửa đổi, bổ sung đơn như yêu cầu của Tòa án, từ đó Tòa án có thể tiến hành thụ lý vụ án nhanh hơn Trên thực tế, đương sự luôn có mong muốn vụ án của mình được thụ lý nhanh để Tòa án có thể giải quyết vụ án nhanh nhất và bảo vệ quyền lợi của mình Như vậy, việc khởi kiện trực tuyến cũng góp phần giúp Tòa án thụ lý vụ án nhanh hơn
Ngoài ra, mỗi Tòa án cần xem xét thụ lý và giải quyết nhiều VADS nên nếu việc thụ lý diễn ra nhanh hơn thì Tòa án có thể tiến hành các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án, từ đó đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bên cạnh đó,
về vấn đề liên hệ với đương sự thì khi tiến hành khởi kiện và thụ lý vụ án trực tuyến, đương sự sẽ được cấp tài khoản để đăng nhập vào Cổng thông tin của Tòa
án Khi Tòa án muốn liên lạc thì Tòa án chỉ cần gửi thông báo qua tài khoản đó và
hệ thống sẽ ghi nhận lại dữ liệu Từ đó, đương sự không thể viện cớ là chưa nhận được thông báo nên không biết về thông tin đó và không thể làm theo Việc này cũng khắc phục được bất cập về thời gian vận chuyển thư lâu và thất lạc thư khi Tòa
án gửi thông báo qua đường bưu điện Như vậy sẽ đảm bảo được hoạt động tố tụng của Tòa án được diễn ra tốt hơn, cụ thể hệ thống quản lý trực tuyến sẽ giúp Tòa án thực hiện các quy trình, thủ tục mang tính chất lặp đi lặp lại một cách chính xác hơn, nhanh hơn và chi phí thấp hơn so với khi làm thủ công Nếu như trước đây, việc đăng ký một vụ án phải mất vài ngày với sự tham gia của nhiều cán bộ Tòa án thì khi hệ thống này được áp dụng, việc đăng ký như vậy chỉ mất vài phút và do một cán bộ đảm nhiệm40 Hơn thế nữa, “việc nộp đơn bằng văn bản có nhiều hạn chế như việc lưu trữ văn bản chiếm quá nhiều diện tích, việc tìm kiếm văn bản gặp nhiều khó khăn và phụ thuộc rất nhiều vào các cán bộ văn thư lưu trữ Việc di chuyển các tài liệu từ nơi này qua nơi khác cũng dẫn đến việc mất mát hoặc thất lạc
40 Ngô Minh Tín (2020), “Mô hình Tòa án trực tuyến tại Trung Quốc – kinh nghiệm cho Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-gioi/mo-hinh-toa-an-truc-tuyen-tai-trung-quoc-kinh-nghiem- cho-vie t-nam, truy cập ngày 27/4/2021
Trang 19tài liệu Ngoài ra, nếu hồ sơ không được lưu giữ cẩn thận cũng có thể xảy ra khả năng hồ sơ bị hư hỏng”41 Vậy nên, “với việc áp dụng hệ thống nộp đơn qua mạng, tất cả các tài liệu sẽ được nộp bằng bản mềm và được nhập vào hệ thống máy chủ của Tòa án mà không cần phải in ra Những tài liệu này sẽ được quản lý trên máy tính và sẽ được đánh mã số để phục vụ cho việc tìm kiếm”42 Như vậy việc khởi kiện và thụ lý VADS trực tuyến còn hỗ trợ cho công việc của các cán bộ tại Tòa án
1.2 Cơ sở của việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo phương thức trực tuyến
1.2.1 Cơ sở lý luận
Trong công cuộc cải cách tư pháp, Việt Nam đã dần bắt kịp với xu hướng của thế giới khi quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện trực tuyến hay nói cách khác là gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo bằng phương thức trực tuyến thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án, ngoài ra các chủ thể có thể đăng ký để gửi và nhận các thông điệp dữ liệu điện tử43 của Tòa án qua Cổng thông tin này Tại Việt Nam, vấn đề giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được quy định tại Luật giao dịch điện tử năm 2005, tuy nhiên việc quy định còn quá chung chung và mơ hồ nên không được các cơ quan chú ý áp dụng Sau này, quy định về hình thức gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin được bổ sung trực tiếp và lần đầu tiên trong BLTTDS 2015 Vào năm 2016, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành việc gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, thay đổi, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử (Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP) cùng với một văn bản điện tử hướng dẫn về vấn đề nêu trên trên trang Cổng thông tin điện tử của Tòa án, điều này cho thấy Việt Nam dần có sự chuẩn bị và quan tâm nhiều hơn về vấn đề này khi ban hành các cơ sở pháp lý phù hợp để các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các cơ quan
tư pháp có thể làm theo Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về những cơ sở lý luận của vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến:
Thứ nhất, các lĩnh vực dân sự hiện nay pháp luật cho phép các chủ thể được quyền lựa chọn hình thức khởi kiện trực tuyến Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLTTDS 2015, người khởi kiện quyền gửi trực tuyến đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có cho Tòa án theo phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Vậy nên có thể thấy hiện tại pháp luật Việt Nam không giới hạn bất kỳ lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng nào miễn đó là các
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lựa chọn khởi kiện trực tuyến Từ góc nhìn này có thể thấy quy định này là đảm bảo sự lựa chọn và tôn trọng quyền khởi kiện của các chủ thể,
41 Ngô Minh Tín (2020), tlđd (40), truy cập ngày 27/4/2021;
42 Ngô Minh Tín (2020), tlđd (40), truy cập ngày 27/4/2021;
43 Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP: “2 Thông điệp dữ liệu điện tử trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (sau đây gọi là thông điệp dữ liệu điện tử) là dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu
trữ bằng phương tiện điện tử từ đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng đã được ban hành theo quy định của pháp luật”
Trang 20họ có thể lựa chọn hình thức khởi kiện để đảm bảo sự thuận lợi cho mình đồng thời cũng có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Tuy nhiên, ở khía cạnh khác, Việt Nam chưa có sự chuẩn bị, đầu tư nhiều cho Tòa án điện tử nói chung và việc khởi kiện trực nói riêng nên nếu thực tế các cá nhân, cơ quan, tổ chức đều lựa chọn hình thức khởi kiện trực tuyến mới này thì sẽ khó khăn trong việc xử
lý đơn trực tuyến và có thể dẫn đến tồn động vụ án và trì hoãn hoạt động tư pháp của Tòa án Vấn đề này sẽ được phân tích rõ hơn ở Chương 2 của đề tài
Thứ hai, về các điều kiện để có thể khởi kiện bằng phương thức trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Một trong những hình thức gửi đơn khởi kiện được quy định hiện nay là gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án44 Dù đã được ghi nhận từ năm 2015 nhưng trải qua hơn 5 năm hình thức này vẫn không phổ biến đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức
và cả Tòa án Về nguyên tắc, việc gửi, nhận đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ, việc cấp, tống đạt, thông báo về các văn bản bằng phương tiện điện tử trong lĩnh vực tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của BLTTDS 2015 Theo đó, những người có nhu cầu sử dụng các giao dịch điện tử nêu trên với Tòa án (như người khởi kiện, người tham gia tố tụng) phải đáp ứng một số điều kiện như có địa chỉ thư điện
tử (e-mail), có chữ ký điện tử được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền, đã đăng
ký thành công giao dịch điện tử với Tòa án trên Cổng thông tin điện tử và một số điều kiện khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và hướng dẫn của Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP45
Về cơ bản, có 02 lý do mà người khởi kiện và người tham gia tố tụng phải cung cấp địa chỉ thư điện tử của họ cho Tòa án Thứ nhất là Tòa án có thể thông báo giao dịch điện tử thành công thông qua Cổng thông tin điện tử khi người khởi kiện
và người tham gia tố tụng gửi đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ, văn bản điện tử liên quan cho Tòa án Thứ hai là bên cạnh việc Tòa án phải cấp, tống đạt, thông báo
về vụ án và các văn bản tố tụng trên Cổng thông tin điện tử thì Tòa án cũng phải cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng và thông tin liên quan đến vụ án cho người khởi kiện Vậy nên việc người khởi kiện cung cấp chính xác địa chỉ thư điện
tử sẽ hỗ trợ cho hoạt động này của Tòa án Từ đó có thể nâng cao trách nhiệm ở phía người khởi kiện và người tham gia tố tụng vì họ không thể đưa ra các lý do để cho rằng mình không nhận được thông báo nào từ Tòa án và đẩy mọi trách nhiệm cho Tòa án Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP, sau khi nhận được thông điệp dữ liệu điện tử do Tòa án cấp, tống đạt, thông báo thì người khởi kiện và người tham gia tố tụng có trách nhiệm gửi thông báo đến Tòa án qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án về việc đã nhận được thông điệp dữ liệu điện tử Điều này là nhằm hỗ trợ cho hoạt động tư pháp của Tòa án nói riêng và đảm bảo hiệu quả của hệ thống trực tuyến nói chung, bởi để vận hành tốt cơ chế trực tuyến và hạn chế sai sót trong khâu kỹ thuật và sự thuận lợi trong quá trình làm
44 Điều 190 về gửi đơn khởi kiện đến Tòa án BLTTDS 2015: “1 Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có);
45 Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP
Trang 21việc cũng như chất lượng của hệ thống trực tuyến thì cần có sự phối hợp và nỗ lực
từ phía các chủ thể có quyền khởi kiện và cơ quan tư pháp
Ngoài ra, người khởi kiện và người tham gia tố tụng phải cung cấp chữ ký điện tử46 cho Tòa án Theo đó, chữ ký điện tử này phải đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật để bảo an toàn, chính xác khi đưa vào sử dụng và chứng minh cho hành vi thông qua Cổng thông tin điện tử là hành vi của người khởi kiện hoặc người tham gia tố tụng Về cơ bản, chữ ký điện tử là chữ ký điện tử đã được chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền về cấp và công nhận chữ ký điện tử Việc quy định như vậy là để đảm bảo tối đa sự an toàn và chính xác liệu có phải người khởi kiện, người tham gia tố tụng là người đã ký và xác nhận thực hiện hành vi đó hay là bị giả mạo Bởi thời đại công nghệ thông tin phát triển, cá nhân, cơ quan, tổ chức có nhiều tri thức hơn về việc sử dụng công nghệ song song đó việc các tội phạm trong khía cạnh này cũng dần tinh vi hơn nên để phòng ngừa sự giả mạo thì pháp luật đã quy định các điều kiện cần thiết để hạn chế các vi phạm nêu trên
Tiếp theo, một trong những điều kiện quan trọng là người khởi kiện phải đăng
ký thành công giao dịch điện tử trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án Pháp luật Việt Nam cho phép người khởi kiện được lựa chọn giao dịch điện tử với Tòa án theo một trong hai phương thức là: thứ nhất là gửi và nhận thông điệp dữ liệu điện
tử với Tòa án, thứ hai là chỉ nhận thông điệp dữ liệu điện tử do Tòa án cấp, tống đạt, thông báo47 Quy định này cho thấy các chủ thể có thể căn cứ vào nhu cầu, điều kiện
và khả năng của mình hay nói cách khác là họ có thể chủ động lựa chọn hình thức
mà mình muốn giao dịch trực tuyến với Tòa án Về thủ tục thì cách thức thứ hai sẽ
có những điểm tương đồng với cách thức thứ nhất và trong phạm vi của đề tài này chúng ta sẽ tìm hiểu về cách thứ nhất Tại Việt Nam hiện nay không phải Tòa án ở bất kỳ đơn vị hành chính nào cũng có riêng cho mình một Cổng thông tin điện tử Vậy nên người khởi kiện phải truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để xem danh sách các Tòa án có thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực tố tụng dân sự Sau đó, người khởi kiện và người tham gia tố tụng (hay còn được gọi người đăng ký) truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tòa án nơi mình muốn khởi kiện và điền các thông tin cần thiết, ký điện tử và gửi đến Tòa án Người đăng ký có thể chọn các loại tài khoản phù hợp với tư cách khởi kiện của mình (gồm: tài khoản cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan/ tổ chức)48 Tiếp đến, theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP, trong thời gian ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đăng ký Tòa án phải gửi thông báo về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn đăng ký qua Cổng thông tin điện tử vào địa chỉ thư điện tử của người đăng ký Theo đó sẽ xảy ra một trong hai trường hợp sau: thứ nhất là Tòa án không chấp nhận đơn đăng ký và người đăng ký phải căn cứ vào thông báo mà Tòa án đã gửi trên Cổng thông tin điện tử và địa chỉ thư điện tử của mình để hoàn chỉnh đơn đăng ký hoặc liên hệ với Tòa án để được hỗ trợ hoặc thứ
46 Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP;
47 Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP;
48 “Hướng dẫn: gửi đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ và đăng ký nhận văn bản, thông báo tố tụng bằng phương thức trực tuyến”, https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/vb-huong-dan?dDocName=TA ND055163, truy cập ngày 31/5/2021
Trang 22hai là Tòa án sẽ chấp nhận đơn đăng ký đó và người đăng ký sẽ căn cứ vào thông báo của Tòa án về tài khoản giao dịch để đổi mật khẩu của tài khoản giao dịch được Tòa án cấp lần đầu để bảo đảm an toàn và bảo mật Từ đó người đăng ký có thể sử dụng tài khoản này để tiến hành giao dịch điện tử với Tòa án và Tòa án có trách nhiệm cấp, thông báo bằng phương tiện điện tử cho người đã đăng ký Ngoài ra, pháp luật còn cho phép người khởi kiện, người tham gia tố tụng vẫn có thể gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ bằng phương thức khác theo quy định của pháp luật tố tụng49 Bên cạnh đó, tài khoản giao dịch điện tử mà Tòa án cấp cho người đăng ký sẽ hết hiệu lực sử dụng sau sáu tháng kể từ ngày ban hành bản án, quyết định xét xử, giải quyết VADS50 Về cơ bản có thể thấy thủ tục đăng ký giao dịch trực tuyến tương đối dễ dàng và đơn giản, tuy nhiên hiện nay điều này vẫn còn rất xa lạ đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
Thứ ba, về cách thức nộp đơn khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa
án Sau khi đăng ký thành công giao dịch điện tử với Tòa án, người khởi kiện phải truy cập vào Cổng thông tin điện tử chọn phần “nộp đơn và tra cứu kết quả giải quyết trực tuyến” hoặc truy cập địa chỉ “nopdonkhoikien.toaan.gov.vn” trên trình
duyệt web của máy tính để truy cập vào hệ thống phần mềm Sau đó người khởi
kiện phải cắm chữ ký số vào máy tính và thực hiện đăng nhập vào phần mềm bằng tài khoản giao dịch đã được cấp Sau khi đăng nhập thành công vào phần mềm, người dùng sẽ chọn chức năng “soạn đơn khởi kiện” trên thanh công cụ và điền đầy
đủ các thông tin vào các ô dữ liệu theo yêu cầu của phần mềm Nếu chưa muốn gửi đơn đi, người khởi kiện có thể chọn chức năng lưu đơn hoặc chức năng lưu đơn và
in đơn để vừa lưu đơn trên phần mềm và in đơn theo mẫu quy định của Tòa án hoặc nếu muốn gửi đơn đi thì họ chỉ cần chọn chức năng gửi đơn và trước khi đơn đi, hệ thống sẽ yêu cầu xác minh lại chữ ký số, nếu chính xác thông tin thì hệ thống mới cho gửi đơn đi Một điểm lưu ý rằng trong quá trình từ lúc đăng nhập vào hệ thống đến lúc hoàn thành xong đơn khởi kiện thì chữ ký số phải luôn được cắm vào máy tính51
Thứ tư, về việc nộp tài liệu, chứng cứ qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP thì tài liệu, chứng cứ sẽ được gửi kèm theo đơn khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử Tuy nhiên đối với các tài liệu chứng cứ được quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS - chứng cứ là vật chứng; tài liệu nghe được, nhìn được hoặc những tài liệu, chứng cứ khác mà không thể định dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP thì Tòa án, người khởi kiện, người tham gia tố tụng không được gửi bằng phương thức điện tử mà phải giao nộp bằng phương thức khác theo quy định của pháp luật tố tụng52 Quy định như vậy là
để hỗ trợ cá nhân, cơ quan, tổ chức trong trường hợp có những vật chứng không thể chuyển đổi thành thông điệp dữ liệu điện tử thì họ có thể lựa chọn phương thức
49 Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP;
50 Khoản 4 Điều 12 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP;
51 “Hướng dẫn: gửi đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ và đăng ký nhận văn bản, thông báo tố tụng bằng phương thức trực tuyến”, tlđd (48), truy cập ngày 31/5/2021;
52 Khoản 2 Điều 19 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP
Trang 23khác để gửi đến Tòa án mà không cần phải tốn thời gian, công sức và tiền bạc để chuyển đổi chứng cứ đó Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP thì người khởi kiện đã gửi tài liệu chứng cứ qua Cổng thông tin điện tử cho Tòa án phải nộp bản chính hoặc bản sao hợp pháp tài liệu, chứng cứ đó chậm nhất là tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại Đối với các tài liệu, chứng cứ mà người tham gia tố tụng gửi cho Tòa án bằng phương tiện điện tử sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại thì thời hạn giao nộp bản chính và bản sao hợp pháp tài liệu, chứng cứ đó được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng Điều này có nghĩa là mặc dù người khởi kiện đã nộp tài liệu, chứng cứ bằng bản điện tử thì vẫn phải nộp bản chính hoặc bản sao hợp pháp của tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án trong khoảng thời gian theo quy định Nhìn nhận ở góc độ khách quan, việc quy định này hỗ trợ cho Tòa án trong việc lưu giữ bản giấy của các tài liệu, chứng cứ đồng thời Tòa án cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc xác minh mức độ tin cậy, chính xác của tài liệu đó
và giúp cán bộ Tòa án dễ dàng nghiên cứu hồ sơ giấy do họ đã quen với việc đọc và nghiên cứu các tài liệu giấy hơn là bản điện tử
Thứ năm, về việc thông báo xác nhận giao dịch điện tử thành công của Tòa án khi người khởi kiện đã gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo bằng phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLTTDS 2015 và khoản 1 Điều 17 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP, sau khi nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo bằng phương tiện điện tử, Tòa án phải in ra bản giấy, ghi vào sổ nhận đơn và xử lý đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng Đồng thời, Tòa án phải gửi thông báo đã nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử53 và Cổng thông tin sẽ tự động gửi thông báo xác nhận vào địa chỉ thư điện tử đã được đăng ký của người khởi kiện54 Theo quy định này thì sau khi Tòa án nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì họ phải thông báo cho người gửi qua Cổng thông tin điện tử và cả địa chỉ thư điện tử đồng thời Tòa án cũng phải tự in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn như cách làm truyền thống Quy định như vậy giúp Tòa án hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc thông báo tình trạng của đơn khởi kiện, cũng như khẳng định rằng mình đã nhận được đơn khởi kiện và đang tiến hành xử lý đơn đó Bên cạnh đó cũng có thể nâng cao trách nhiệm của người khởi kiện với đơn khởi kiện của mình, bởi họ là người có quyền, lợi ích bị xâm phạm nên bản thân họ phải thường xuyên kiểm tra thông báo từ Tòa án qua địa chỉ thư điện tử
và Cổng thông tin điện tử để đảm bảo việc cập nhật kịp thời tình trạng vụ việc của
họ từ Tòa án Nên khi Tòa án hoàn thành vai trò của mình ở giai đoạn này thì khi
53 Khoản 1 Điều 17 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP;
54 “Áp dụng thí điểm hệ thống gửi, nhận đơn khởi kiện… bằng phương tiện điện tử”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/co-the-ban-can-biet/ap-dung-thi-diem-he-thong-gui-nhan-don-khoi-kien-bang- phuong-tien-dien-tu, truy cập ngày 01/6/2021;
Trang 24xảy ra tình trạng chậm nhận thông báo từ phía người khởi kiện thì Tòa án sẽ không phải chịu trách nhiệm55
Thứ sáu, về việc nộp tạm ứng án phí, hiện nay Việt Nam chưa quy định về việc nộp tạm ứng án phí theo phương thức trực tuyến nên vấn đề này vẫn được tiến hành theo cách truyền thống được quy định trong BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14) Theo quy định pháp luật, sau khi Tòa án nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo và xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Thẩm phán được phân công phải thông báo cho người khởi kiện biết và nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Theo đó, Thẩm phán sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí và ghi vào giấy báo sau đó giao cho người khởi kiện để họ nộp tạm ứng
án phí Trong thời gian 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án56 Về cơ bản, theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 10 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, cơ quan có thẩm quyền thu tạm ứng án phí là Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) Đối với trường hợp người khởi kiện là đối tượng phải nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí (theo thông báo của Tòa án) cho CQHTADS cùng cấp với Tòa án nơi mà người khởi kiện đã nộp đơn khởi kiện Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 19 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, CQTHADS phải mở một tài khoản tạm thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước để thu tạm ứng án phí Từ đó có thể hiểu rằng, người khởi kiện sẽ nộp tiền tạm ứng án phí tại CQTHADS và được cơ quan này cấp biên lai thu tiền tạm ứng án phí Sau đó, CQTHADS phải mang tiền tạm ứng án phí mình
đã thu được đến Kho bạc nhà nước để gửi vào tài khoản tạm thu nêu trên Về phía người khởi kiện, khi họ nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí đó cho Tòa án, Tòa án
sẽ ra quyết định thụ lý vụ án57
Thứ bảy, về việc tống đạt, cấp, thông báo về văn bản tố tụng cũng như thông báo thụ lý vụ án của Tòa án BLTTDS 2015 không quy định về vấn đề Tòa án sẽ thông báo thụ lý cho người khởi kiện như thế nào trong trường hợp họ chọn khởi kiện trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 20 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP, trong trường hợp vụ án đó được Tòa án ra quyết định thụ lý cũng như nếu Tòa án có văn bản tố tụng cần tống đạt, cấp, thông báo cho người khởi kiện và người tham gia tố tụng thì Tòa án phải gửi từ Cổng thông tin điện tử đến địa chỉ thư điện tử đã được đăng ký của người khởi kiện
và người tham gia tố tụng trong thời hạn pháp luật quy định Như vậy, cũng tương
tự như cách thông báo xác nhận giao dịch điện tử đã thành công, khi Tòa án muốn thông báo, tống đạt, cấp văn bản tố tụng thì họ phải gửi qua Cổng thông tin điện tử đến địa chỉ thư điện tử đã được đăng ký
Trang 25Nhìn chung, Việt Nam đã có sự chuẩn bị về mặt pháp lý để tiến hành việc khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến, đây là một bước tiến đáng ghi nhận và là cơ sở để có thể áp dụng trên thực tế Từ đó có thể rút kinh nghiệm từ các thực tiễn áp dụng ở Việt Nam và học hỏi thêm kinh nghiệm từ các quốc gia đã
áp dụng mô hình này Như vậy, hệ thống trực truyến này sẽ dần hoàn thiện hơn, mang lại thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tiếp cận công lý và hỗ trợ cơ quan nhà nước làm tròn trách nhiệm của mình
sẽ tiếp nhận hồ sơ, xử lý vụ án trực tuyến Theo đó, các Tòa án này đã tiếp nhận gần
120000 vụ án từ 31/10/2019 và thời gian thụ lý vụ án giảm gần 50%59 Bên cạnh đó, một số quốc gia khác cũng áp dụng thành công mô hình này là Malaysia, Hàn Quốc,
Ấn Độ, Úc…60 Từ đó có thể thấy, thế giới đã tạo ra xu hướng này từ lâu, tuy nhiên đến năm 2015, Việt Nam mới có sự ghi nhận về hình thức trực tuyến này trong BLTTDS 2015 Và sau hơn 5 năm quy định về mô hình trực tuyến này vẫn không quá phổ biến tại Việt Nam
Tiếp theo, nhìn nhận lại các thủ tục, quy định về khởi kiện và thụ lý VADS ở nước ta là rườm rà và khá lạc hậu so với thế giới Ví dụ như, theo cách mà Việt Nam đang quy định, để có thể khởi kiện thì người khởi kiện cần làm đơn khởi kiện
và chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ dưới dạng giấy, sau đó trực tiếp đến Tòa án để nộp và nhận giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện của Tòa án Tuy nhiên, hiện nay, với những thành công mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, khi sử dụng công nghệ chúng ta có thể đơn giản hóa và tối ưu thời gian thực hiện bằng cách tạo ra một hệ thống trực tuyến, thông qua đó người khởi kiện có thể khởi kiện, nộp tài liệu, chứng cứ ở dạng điện tử mà không cần trực tiếp đến Tòa án, điều này
có thể tiết kiệm thời gian và chi phí cho người khởi kiện Thời đại công nghệ ngày nay là thời đại mà mọi người ưa chuộng việc sử dụng công nghệ để tiết kiệm thời gian và hạn chế việc thao tác thủ công rườm rà Việc tối ưu hóa được khoảng cách
và thời gian mà công nghệ mang lại như trên chứng tỏ chúng sẽ giải quyết được các thủ tục, công việc mà trước giờ chúng ta đã tốn quá nhiều thời gian để giải quyết
58 Srisakdi Charmonman - Pornphisud Mongkhonvanit, Harnessing the Power of information technology for efficiency in E-court and E-trial, tr 3;
59 Ngô Minh Tín (2020), tlđd (40), truy cập ngày 11/6/2021;
60 Thịnh Anh, “Giải quyết vụ án thông qua cơ chế ECourt – Tòa án điện tử”, http://ttpc.hcmussh.edu.vn/?Articl eId=0323bb7b-475d-4a0e-b23b-4008775bdd7b, truy cập ngày 11/6/2021
Trang 26Thứ hai, áp dụng phương thức trực tuyến cho việc khởi kiện và thụ lý VADS tại Việt Nam trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 diễn ra phức tạp là một giải pháp hiệu quả
Trong thời kỳ dịch bệnh bùng nổ, nhiều hoạt động xã hội, kinh tế, công lý…
đã bị trì hoãn Hiện nay các quốc gia đang hạn chế các hoạt động diễn ra trực tiếp tại Tòa án ví dụ như nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án, tuy nhiên đây cũng chỉ
là giải pháp tạm thời vì số lượng tranh chấp trong tình hình dịch bệnh vẫn không ngừng tăng và con số này còn có thể tăng lên rất nhanh do những dự kiến trong giao dịch dân sự vì đại dịch kéo dài mà phát sinh nhiều vấn đề khác Vậy nên cần có phương án khác để giải quyết tình huống này về lâu dài Bên cạnh đó, ở Việt Nam, theo mục 2.5 của Công văn số 125/TANDTC-VP về việc tiếp tục phòng, chống dịch bệnh COVID-19 được ban hành vào ngày 11 tháng 5 năm 2021, Tòa án nhân dân tối cao đã thông báo rằng Tòa án sẽ không tổ chức tiếp công dân và tiếp khách tại trụ sở Tòa án (trừ những trường hợp thực sự cần thiết) và tạm dừng việc nhận đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ trực tiếp tại trụ sở Tòa án Tòa án sẽ thông báo, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thông qua phương thức khác như gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử thông qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án và thông qua đường bưu điện Từ đó cho thấy, các hoạt động diễn ra trực tiếp tại Tòa án như nộp đơn khởi kiện đã bị hạn chế nên khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có nhu cầu khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình trong thời điểm này là rất khó khăn Vậy nên với phương thức trực tuyến trong khởi kiện và thụ lý VADS sẽ có thể giải quyết được nhu cầu cấp bách của cá nhân, cơ quan, tổ chức ở thời điểm hiện tại
Đồng thời, đây cũng là cơ hội để phổ biến về hình thức trực tuyến này đến các chủ thể có quyền khởi kiện Vì việc khởi kiện trực tuyến đã được ghi nhận trong BLTTDS 2015 nhưng hơn 5 năm trôi qua hình thức này vẫn kém phổ biến tại Việt Nam Bên cạnh đó, trong lúc tiến hành việc giãn cách xã hội thì người Việt Nam cũng đã tiếp cận được nhiều hơn với công nghệ và họ ưa chuộng những hình thức trực tuyến, ví dụ là sự thành công của mô hình mua sắm trực tuyến Từ đó cho thấy, nếu như nhà nước phổ biến về hình thức này, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết đồng thời chuẩn bị hệ thống Cổng thông tin điện tử mạnh mẽ, ổn định, chất lượng thì khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có nhu cầu khởi kiện họ sẽ tiến hành theo phương thức trực tuyến tốt hơn Sau khi kết thúc sự bùng nổ của dịch bệnh, cá nhân,
cơ quan, tổ chức cũng đã biết và quen với mô hình trực tuyến, từ đó mô hình này sẽ phổ biến hơn và có thêm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện việc khởi kiện và thụ lý VADS trực tuyến nói riêng và hoàn thiện Tòa án điện tử nói chung
Tóm lại, thời đại công nghệ phát triển đã tạo ra nhiều cơ hội khác để quốc gia
có thể tận dụng và phát triển theo, đồng thời cùng với xu hướng trên thế giới là xây dựng mô hình “Tòa án điện tử”, hiện đại hóa hệ thống tư pháp và tình hình dịch bệnh COVID-19 phức tạp dẫn đến việc trì hoãn nhiều hoạt động tại Tòa án như Việt Nam hiện nay thì việc đẩy mạnh áp dụng phương thức trực tuyến trong hoạt động khởi kiện, thụ lý vụ nói riêng và xây dựng mô hình Tòa án điện tử nói chung là cần thiết, cấp bách Việc này không chỉ giải quyết được một số tình trạng tồn đọng án
Trang 27hiện nay mà về lâu dài hệ thống điện tử này được xem như là một bước tiến mới của hoạt động tư pháp trong quá trình hiện đại hóa hệ thống tư pháp
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo phương thức trực tuyến
1.3.1 Yếu tố về con người
Việc áp dụng phương thức trực tuyến trong khởi kiện và thụ lý VADS là được tiến hành bởi con người, cho nên đây là một yếu tố quan trọng sẽ ảnh hưởng đến cách mà hệ thống trực tuyến này được hoàn thiện và cách mà hình thức trực tuyến này được diễn ra trên thực tế
Thứ nhất, trình độ của người sử dụng hệ thống trực tuyến sẽ ảnh hưởng đến sự hiệu quả và phổ biến của mô hình này Không phải ai nào cũng có đủ trình độ để sử dụng những công nghệ mới Đối với những người trẻ tuổi, khả năng tiếp thu kiến thức mới và tư tưởng ưa chuộng công nghệ thì việc tiếp cận phương thức trực tuyến
để khởi kiện VADS là một điều dễ dàng Tuy nhiên, ở vị trí của những người trung niên và người cao tuổi thì khả năng tiếp thu kiến thức về công nghệ là hạn chế nên
họ sẽ thấy khó khăn khi phải làm quen với mô hình khởi kiện mới này Ngoài ra, về phía những chủ thể ở vùng sâu vùng xa, nơi có điều kiện kinh tế kém, việc chuẩn bị các thiết bị điện tử, kết nối với mạng và sử dụng chúng là một vấn đề nan giải Vậy nên dù họ có cố gắng sử dụng nhưng không thuần thục và có quá nhiều thứ để chuẩn bị thì họ cũng sẽ cảm thấy hình thức này không hiệu quả, phức tạp Dù đây chỉ là một trong các hình thức mà các chủ thể có thể lựa chọn để khởi kiện, nhưng ở khía cạnh chúng ta đang phổ biến về hình thức này và hi vọng có thể áp dụng rộng rãi, thống nhất cả nước để tận dụng tối đa những tiện ích mà hình thức trực tuyến mang lại trong khi các hình thức cũ không thể mang lại các tiện ích đó thì vấn đề trình độ nêu trên sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả và phổ biến của mô hình này Bên cạnh đó, về phía Tòa án, không phải thẩm phán, chủ tọa phiên tòa nào cũng đủ kỹ năng và kinh nghiệm để tự tin điều hướng các hệ thống, phần mềm và tài nguyên điện tử khi tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện, điều này là một điểm hạn chế và dễ ảnh hưởng đến hoạt động động thụ lý vụ án Từ đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể mất niềm tin vào phương thức trực tuyến mới vì thấy không hiệu quả và không phù hợp Thứ hai, trình độ của người giám sát hệ thống trực tuyến để áp dụng cho việc khởi kiện và thụ lý VADS cũng là một nhân tố quan trọng Trên cơ sở những nền tảng về Cổng thông tin điện tử của Tòa án mà Việt Nam đang có thì chúng ta cũng không thể chắc rằng hệ thống này sẽ không có lỗi kỹ thuật hay có những khó khăn nào khi được thực hiện trên thực tế Vì mô hình này chưa được tiến hành phổ biến trên thực tế nên không có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện các lỗi kỹ thuật và cũng chưa được đầu tư nghiêm túc để hoàn thiện Tại thời điểm dịch bệnh này, Nhà nước cũng đã khuyến khích cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện theo hình thức trực tuyến nên sẽ có thể phát sinh các lỗi kỹ thuật của hệ thống này và cần được khắc phục nhanh nhất có thể để không gián đoạn việc khởi kiện của các chủ thể và không làm
họ mất niềm tin vào cách khởi kiện mới này Vậy việc đầu tư một đội ngũ chuyên môn là quan trọng để giải quyết cấp bách các lỗi kỹ thuật Ngoài ra, nếu đội ngũ phụ trách không đủ trình độ khắc phục lỗi thì quá trình thụ lý vụ án trực tuyến của
Trang 28Tòa án có thể bị ảnh hưởng Hiệu quả của hoạt động tư pháp tại Tòa án bị giảm thì các chủ thể có quyền khởi kiện cũng sẽ mất niềm tin vào Tòa án
Thứ ba, khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến chỉ mới được quy định trong BLTTDS từ năm 2015, điều này có nghĩa là khoảng thời gian dài trước đó họ vẫn tiến hành khởi kiện trực tiếp tại Tòa án và các cán bộ Tòa án vẫn xử
lý đơn và thụ lý theo cách thủ công, đây được xem như là thói quen của họ từ rất lâu Nếu là thói quen thì sẽ rất khó để thay đổi nên việc phổ biến này cần tiến hành chậm rãi nhưng phải chắc chắn để cá nhân, cơ quan, tổ chức biết mình cần và có thể làm gì khi khởi kiện trực tuyến Ngoài ra, các Thẩm phán và cán bộ Tòa án cũng đã quen với cách làm việc truyền thống thì khi áp dụng hình thức trực tuyến này sẽ tác động đến hiệu quả làm việc của họ ở thời điểm đầu Nhưng nếu vượt qua được các trở ngại này thì chúng ta có thể tận dụng được những lợi ích mà hình thức trực tuyến này mang lại
1.3.2 Yếu tố về quy định pháp luật
Việt Nam đang từng bước thực hiện mô hình “Tòa án điện tử” theo Nghị quyết
số 52-NQ-TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Hiện nay, chúng ta chỉ có những quy định liên quan đến áp dụng phương thức trực trong khởi kiện và thụ lý VADS tại một số điều trong BLTTDS 2015, các điều trong Luật giao dịch điện tử điều chỉnh về giao dịch điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước và Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP trong việc hướng dẫn thi hành việc gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, thay đổi, thông báo văn bản
tố tụng bằng phương tiện điện tử Từ đó có thể thấy nhiều vấn đề khác chưa được điều chỉnh cẩn thận, ví dụ như trong trường hợp Tòa án nhận được đơn khởi kiện gửi bằng phương thức trực tuyến thì Tòa án phải in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn thì sau đó Tòa án cần làm gì tiếp theo thì BLTTDS 2015 đã không quy định nên các chủ thể có quyền khởi kiện và các cán bộ Tòa án không biết mình cần phải làm như thế nào Việc quy định hướng dẫn cho vấn đề này còn thiếu sót nên sẽ khó khăn khi thực hiện trên thực tế Ngoài ra, có thể thấy rằng Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong việc áp dụng phương thức trực tuyến khi khởi kiện và thụ lý VADS,
dù có học hỏi việc này từ các quốc gia đã áp dụng thành công thì với các đặc điểm
về kinh tế, xã hội, chính trị ở mỗi quốc gia là khác nhau cũng dẫn đến sự tiếp cận để học hỏi của Việt Nam là hạn chế Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của việc quy định và thực tiễn thì chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng, kết hợp cẩn thận điều kiện của Việt Nam và kinh nghiệm của nước ngoài để hoàn thiện pháp luật của nước mình Thực tiễn tại Hàn Quốc, nhằm hoàn thiện hệ thống trực tuyến, Hàn Quốc đã hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật và sửa đổi luật và các quy định để hướng đến một hệ thống trực tuyến không cần sử dụng các tài liệu giấy61 Từ đó cho thấy, nếu không
có sự quy định rõ ràng, cẩn thận từ phía cơ quan nhà nước thì sẽ rất khó khăn để tiến hành áp dụng phương thức trực tuyến trong việc khởi kiện và thụ lý VADS nói riêng và xây dựng Tòa án điện tử nói chung
1.3.3 Yếu tố về cơ sở hạ tầng, cơ sở công nghệ thông tin
61 Doing Business (2014), Improving court effiency: The Republic of Korea’s e-court experience, tr 67
Trang 29Một khó khăn khác cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc khởi kiện trực tuyến và cũng như cho các đơn vị Tòa án khi tiến hành tiếp nhận đơn, xử lý đơn và thụ lý theo hình thức trực tuyến đó là cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho việc trực tuyến Mặc dù hiện nay, TANDTC đã cho trang bị hệ thống trực tuyến phục vụ cho việc khởi kiện, thụ lý trực tuyến, tuy nhiên, rất khó cho các đơn vị Tòa án tự mình triển khai sử dụng hệ thống này vào xét xử trực tuyến, vì không thể đảm bảo
tự thiết lập, vận hành cơ sở hạ tầng và bảo đảm kết nối ổn định Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng rằng không phải ai cũng sở hữu máy tính và có thể truy cập Internet Ví dụ như tại Ấn Độ, có tới khoảng 50% người Ấn Độ không có quyền truy cập Internet mặc dù đây là quốc gia có số lượng người dùng Internet cao thứ 2 trên thế giới62 Vậy nên điều cần thiết ở đây là các cơ sở công nghệ thông tin phù hợp phải được cung cấp công khai cho những người cần chúng và cơ sở hạ tầng phải đảm bảo kết nối điện, Internet ổn định Hay nói cách khác, về mặt vật chất, kết nối điện và máy tính kết nối Internet là những điều kiện cơ bản trước tiên phải được đáp ứng nếu các bên đương sự muốn tham gia vào phiên tòa trực tuyến63
Ngoài ra, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc xây dựng
hệ thống trực tuyến ổn định, mạnh mẽ, hạn chế lỗi kỹ thuật ở mức tối thiểu là điều khó khăn Vấn đề về kinh phí cũng là một yếu tố nan giải Việc xây dựng hệ thống trực tuyến là một dự án lâu dài, dựa trên nền tảng mà Việt Nam đã tạo ra, chúng ta cần phải tiến hành hoàn thiện ở nhiều góc độ để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng Vậy nên dù đã có được một Cổng thông tin điện tử nhưng việc khắc phục các lỗi về mạng hay các lỗi khác dẫn đến việc truy cập vào Cổng thông tin bị hạn chế là quan trọng Không chỉ khắc phục những lỗi kỹ thuật này mà chúng ta cần phải hoàn thiện và nâng cấp hệ thống để đảm bảo không lạc hậu so với các quốc gia khác trên thế giới mà vẫn phù hợp với điều kiện tại Việt Nam Vì đây là một dự án lâu dài và tốn nhiều chi phí nên cần phải chuẩn bị các kế hoạch có tầm nhìn xa và
có thể phát triển hệ thống trực tuyến theo từng lộ trình để đảm bảo về nguồn kinh phí khi hoàn thiện hệ thống này
1.3.4 Vấn đề tấn công và an ninh mạng
“Trong cuộc sống của thế kỷ 21, sự phát triển của không gian mạng cùng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mang lại những lợi ích vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cũng như làm thay đổi nhận thức, hành vi và lối sống của con người Song, bên cạnh những lợi ích mang lại, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, tác động trực tiếp đến chủ quyền, an ninh quốc gia
và trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Các cuộc tấn công mạng với động cơ chính trị vào hệ thống thông tin trọng yếu của các nước ngày càng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh Tội phạm mạng ngày càng nguy hiểm với nhiều thủ đoạn tinh vi, kỹ thuật cao,
sử dụng các loại mã đọc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tấn công, xâm nhập Không
62 Uzair Ahmad Khan (2020), “What happens as courts and tribunals go online – opportunities and challenges”, https://blog.ipleaders.in/courts-tribunals-online-opportunities-challenges/, truy cập ngày 18/6/2021;
63 Yashvi Singh (2020), “Virtual Courts: Challenges and Opportunities”, http://www.legalserviceindia.c om/legal/article-3613-virtual-courts-challenges-and-opportunities.html, truy cập ngày 18/6/2021
Trang 30gian mạng đang trở thành môi trường thuận lợi để các cơ quan đặc biệt nước ngoài,
cá nhân, tổ chức khủng bố liên lạc, tuyển mộ lực lượng, gây quỹ, truyền bá tư tưởng chống đối cực đoan, kích động sự hận thù và bạo lực”64 Đặc biệt, trong các giao dịch trực tuyến sẽ luôn tồn tại một số rủi ro mà buộc chúng ta phải chấp nhận Khi công nghệ phát triển thì sự bảo mật cho mọi người khi tham gia vào các giao dịch trực tuyến cũng được tăng cường tối đa tuy nhiên dù hiện nay đã có rất nhiều công
cụ như tường lửa, chương trình chống phần mềm gián điệp và chống vi-rút, nhưng việc hack và các vi phạm bảo mật khác vẫn có thể xảy ra Đây là một trong những yếu tố thách thức đối với mô hình Tòa án điện tử nói chung và áp dụng phương thức trực tuyến trong khởi kiện, thụ lý VADS nói riêng
Bên cạnh đó, sự ổn định và độ tin cậy của hệ thống trực tuyến trong việc khởi kiện và thụ lý VADS là điều cần thiết Một trong những “điểm mạnh” của hình thức này là người dùng có thể gửi, xem xét thông tin, tài liệu vào thời điểm phù hợp với
họ mà không cần phải di chuyển đến Tòa án Nếu việc người dùng nhận lại thường xuyên là dòng thông báo “yêu cầu không khả dụng” hay “không thể truy cập vào trang web” thì hình thức trực tuyến này sẽ chỉ là “một chiếc bánh vẽ” mà không thể thực hiện được như kỳ vọng65
Tóm lại, có thể nhìn nhận được những lợi ích mà Tòa án điện tử nói chung và việc áp dụng phương thức trực tuyến trong khởi kiện và thụ lý VADS mang lại, tuy nhiên để có thể ứng dụng tốt vào Việt Nam thì chúng ta cần phải chuẩn bị nhiều yếu
tố khác Bên cạnh hệ thống trực tuyến mà Tòa án Việt Nam hiện đang có thì những yếu tố cần thiết cho việc hoàn thiện hệ thống này không chỉ dừng lại ở việc trang bị cho hệ thống Tòa án những máy móc thiết bị cần thiết, nâng cao trình độ công nghệ thông tin của cán bộ Tòa án, mà quan trọng hơn là phải mở rộng phổ cập tin học đến cá nhân, cơ quan, tổ chức để họ có thể tự tin lựa chọn và dễ dàng tham gia vào các giao dịch điện tử66 Với điều kiện hiện nay của nước ta, dựa trên nền tảng mà Việt Nam đã xây dựng được, chúng ta có thể tiếp tục đi dần từng bước nhỏ bằng cách ban đầu hoàn thiện việc ứng dụng một phần của các dịch vụ của Tòa án điện tử như khởi kiện và thụ lý VADS theo phương thức trực tuyến
64 Nguyễn Minh Chính (2019), “Hoàn thiện pháp luật về an ninh mạng trong tình hình hiện nay”, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/an-ninh2/-/2018/812604/hoan-thien-phap-luat-ve-an-ninh- mang-trong-tinh-hinh-hien-nay.aspx, truy cập ngày 18/6/2021;
65 Nguyễn Thị Hoài Trâm – Lê Thị Minh Ngọc (2020), tlđd (2);
66 Ngô Minh Tín (2020), tlđd (40), truy cập ngày 18/6/2021