Một trong nhiều nội dung quan trọng của chính sách mở cửa là chủ trương thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và đặc biệt quan trọng là chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Trang 1Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Mối quan hệ giữa ngoại th-ơng và đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài tại Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS.NGƯT Bùi Xuân L-u
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Dung
Hà Nội - 2002
Trang 2Mục lục
Chương 1: Mối quan hệ giữa ngoại thương và việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài để phát triển ngoại thương
II Mối quan hệ giữa ngoại thương và thu hút FDI 10
1.1 Chính sách ngoại thương quyết định định hướng FDI và
1.2 Các hiệp định thương mại được kí kết làm tăng dung lượng
thị trường và khả năng thâm nhập thị trường của các doanh
2.1 Thu hút FDI nhằm tăng cường vốn cho đầu tư sản xuất hàng
chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa ngoại thương và fdi
tại Việt Nam trong 5 năm trở lại đây
Trang 32.3 Công nghệ điện tử 40
II Thực trạng mối quan hệ giữa ngoại thương và FDI thể hiện cụ thể qua hoạt động XNK tại các doanh nghiệp FDI và đóng góp của các doanh
nghiệp FDI cho sự phát triển của ngoại thương Việt Nam 43
1 Đóng góp chung của các doanh nghiệp FDI cho sự phát triển của ngoại
3 Cải thiện thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI
4 Xây dựng cơ chế xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thị trường hỗ trợ các doanh nghiệp FDI trong hoạt động XK 61
5 Mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư ở cấp chính phủ với các nước, khối kinh tế trên thế giới tạo sức hấp dẫn với các nhà đầu tư 62
6 Xúc tiến hoàn thiên và nhanh chóng đưa vào hoạt động Ngân hàng
hỗ trợ xuất khẩu tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước cũng
Từ phía doanh nghiệp
7 Củng cố phát huy tiền năng của doanh nghiệp 63
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp nguyễn thị Dung A4-K37A
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược mở cửa để đưa dần nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã được Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện từ năm 1987 Một trong nhiều nội dung quan trọng của chính sách mở cửa là chủ trương thu hút vốn đầu tư của nước ngoài và đặc biệt quan trọng là chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu có vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu này cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa ngoại thương và Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sao cho hai hoạt động này
hỗ trợ nhau phát triển và cùng đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu thực trạng của hoạt động Ngoại thương và FDI ở nước ta nói chung và hoạt động XNK của các doanh nghiệp FDI nói riêng trong 5 năm trở lại đây để thấy được mối quan hệ của hai hoạt động này
Đề xuất định hướng và giải pháp giải quyết tốt mối quan hệ giữa Ngoai thương và FDI từ phía Nhà nước và từ phía doanh nghiệp FDI nhằm thu hút hơn nữa nguồn FDI hướng về XK
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng và trình bày trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó có vận dụng lý thuyết kinh tế học hiện đại về đầu tư và ngoai thương Dùng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh và khái quát hoá đối tượng nghiên cứu để đạt được mục tiêu đề ra
Trang 54 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chương:
Chương1: Mối quan hệ giữa ngoai thương và việc thu hút FDI nhằm thúc đẩy ngoại thương
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa ngoại thương và FDI tại Việt Nam trong 5 năm trở lại đây
Chương 3: Định hướng và giải pháp thu hút FDI hướng về xuất khẩu nhằm phát triển ngoại thương
Qua đây em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của GS.TS NGƯT Bùi Xuân Lưu giảng dạy tại Khoa Kinh tế Ngoại thương – Trường Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm
ơn Ths Trần Bích Lộc công tác tại Vụ Kế hoạch – Bộ Thương mại đã cung cấp nhiều thông tin và gợi ý quý báu giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Trang 6Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
Chương I
Mối quan hệ giữa ngoại thương và việc thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển ngoại
Ngày nay sản xuất đã được quốc tế hoá Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với bên ngoài Đồng thời, ngày nay ngoại thương khômg chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán với bên ngoài, mà thực chất là cùng với các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế Do vậy cần coi ngoại thương không chỉ là môt nhân tố bổ sung cho nền kinh tế trong nước mà còn phải coi sự phát triển kinh tế trong nước phải thích nghi với
sự lựa chọn của phân công lao động quốc tế
Bí quyết thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước là nhận thức đựơc mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quạn hệ kinh tế với bên ngoài
Trang 7Vấn đề quan trọng ở đây, một mặt, là phải khai thác được mọi lợi thế của hoàn cảnh chủ quan trong nước phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính toán lợi thế tương đối có thể giành được và so sánh điều đó với cái giá phải trả
1.2 Nhiệm vụ:
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá đất nước
Trong nền kinh tế thị trường, như kinh nghiệm của nhiều nước
và của nước ta trong nhiều năm qua chỉ rõ: nhịêm vụ quan trọng và bao quát của ngoại thương là thực hiện chức năng động lực chính trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá đất nước thông qua hoạt động FDI Vấn đề là khi tham gia vào trao đổi hàng hoá trên thị trường thế giới, nền kinh tế nước ta phải chấp nhận những nguyên tắc của cạnh tranh trên thị trường, và điều đó đòi hỏi hoạt động ngoại thương phải tính toán kỹ lỗ lãi, giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, nghĩa là phải có hiệu quả Đồng thời, sự kinh doanh có hiệu quả trong hoạt động ngoại thương sẽ kéo theo những thay đổi của cơ chế bên trong một nước, tháo gỡ những ràng buộc, cản trở cho hoạt động ngoại thương nói riêng, hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường nói chung Thực tiễn nước ta cho thấy nhờ sự phát triển của xuất khẩu (XK)
mà đã hình thành nhiều cơ chế quản lý mang tính hành chính và kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường như vừa qua Và để phát triển ngoại thương, việc tháo gỡ những hạn chế chặt chẽ trong quản lý, tạo điều kiện cho tự do kinh doanh là cách làm nhằm tới hiệu quả kinh tế Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, ngoại thương có nhiệm vụ tìm kiếm những đầu vào mới cho công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp tức là tăng cường đầu vào và đầu ra cho công nghiệp là nơi thu
Trang 8Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
hút công nghệ, thiết bị và nguyên liệu mới cho công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp mới, đặc biệt là tại các doanh nghiệp FDI
Trong quá trình mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, ngoại thương còn được sử dụng như một công cụ thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế ở trong nước và giữa trong nước với nước ngoài Quá trình này không chỉ đơn thuần là gắn liền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới để tranh thủ những lợi thế do ngoại thương và phân công lao động quốc tế từ hoạt động FDI mang lại, mà quan trọng hơn là dùng ngoại thương để thúc đẩy các quá trình phát triển kinh tế trong nội bộ nền kinh
tế, phát triển nền kinh tế thị trường thống nhất ở trong nước qua hoạt
động XNK, chuyển giao công nghệ, vốn, know-how, marketing, từ các công ty nước ngoài, chủ đầu tư FDI vào nước ta Qua hoạt động liên doanh đầu tư vốn hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất mà hình thành nên các mối quan hệ gắn bó trên thị trường trong nước và thị trường trong nước với thị trường nước ngoài
Góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước : sử dụng vồn, công nghệ tiên tiến của FDI và tài nguyên trong nước
có hiệu quả
Trong những nghị quyết về phát triển kinh tế của Đảng CSVN
đã nhấn mạnh: Một nhiệm vụ quan trọng của hoạt động ngoại thương nói chung là thông qua hoạt động ngoại thương để tạo vốn và kỹ thuật nước ngoài cần thiết cho sự phát triển kinh tế của đất nước, sử dụng tốt hơn nguồn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công và tăng thu nhập quốc dân, tìm cách tạo cho nước mìmh một lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế
Trong bối cảnh hiện nay, không một nước đang phát triển nào lại đặt hy vọng vào việc thực hiện công nghiệp hoá chỉ bằng vốn của bản thân mà phải dựa vào đầu tư quốc tế, đặc biệt là FDI
Trang 9Quá trình công nghiệp hoá ở nước ta không những đòi hỏi các khoản bổ sung cho số hiện có, mà còn đòi hỏi nhiều khoản đầu tư mới
và lớn mà khả năng trong nước không thể đáp ứng Tuy nhiên cần xác
định những mục tiêu hợp lý, thực tế trước hết cần giảm bớt sự thiếu hụt , tiến tới cân bằng và có số dư trong cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán, tăng tích luỹ cho nền kinh tế, trả nợ nước ngoài, có một phần
để dự trữ
Mặt thứ hai nhưng quan trọng hơn về vốn là hiệu quả sử dụng vốn Có thể nói, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trở thành yếu tố có tác động mạnh nhất tới quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước kém phát triển như nước ta trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá
Kinh nghiệm thời kỳ qua chỉ ra rằng sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong nước, nếu không có ngoại thương hỗ trợ đắc lực thì không thu hút thêm được bao nhiêu lao động Đưa lao
động tham gia vào phân công lao động quốc tế là lối thoát lớn nhất để giải quyết vấn đề thất nghiệp ở nước ta hiện nay
Trong điều kiện kinh tế còn lạc hậu, cơ cấu kinh tế mang nặng tính chất nông nghiệp và khai khoáng, tỷ trọng hàng công nghiệp chưa lớn, thì XK tài nguyên thiên nhiên là khó tránh khỏi, những XK hàng dưới dạng nguyên liệu thô và mức độ chế biến thấp như hiện nay là lãng phí và chóng làm cạn kiệt nguồn dự trữ Chính vì vậy, cần hạn chế XK tài nguyên thô và sơ chế, khuyến khích XK có mức độ chế biến cao hoặc chế tạo thành sản phẩm tiêu dùng Đó không chỉ là cách để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên mà còn được nguồn tài nguyên với nguồn lao động dồi dào sẵn có và góp phần nâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển công nghệ chế tạo và chế biến
Đối với nước ta, phát triển công nghệ thông qua thu hút FDI
là một mục tiêu quan trọng của ngoại thương Đây vừa là mục tiêu trước mắt vừa là mục tiêu lâu dài của quá trình công nghiệp hoá Đối với nước
Trang 10Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
chậm phát triển như nước ta, trong thời gian đầu chúng ta có thể tăng nhanh thu nhập, đạt mức tăng trưởng cao nhờ khai khác tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn lao động dồi dào, nhưng nhìn về lâu dài, cái quyết
định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá chính là công nghệ Trong điều kiện hiện nay, nền công nghiệp trong nước còn yếu, trình độ thấp, chúng ta không còn cách nào tốt hơn là thực hiện một quá trình chuyển giao công nghệ từ ngoài vào dưới hình thức FDI, qua con đường ngoại thương để tranh thủ công nghệ mới của nước ngoài, áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta Cải tiến công nghê NK, tiến tới kết hợp với ứng dụng, cải tiến và sáng tạo ra những công nghệ có chất lượng cao và mới riêng của nước ta Tất nhiên, đây là một quá trình lâu dài, vất vả đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, nhưng ngoại thương phải
đóng vai trò tiên phong, ngành mũi nhọn trong phát triển công nghệ
2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI )
2.1 Khái niệm:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư quốc tế mà người có vốn tham gia trực tiếp vào qúa trình điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả, cùng hưởng lợi và cùng chia sẽ rủi ro tuỳ theo kết quả của hoạt động kinh doanh và phần vốn góp Đây là loại hình đầu tư phổ biến hiện nay
Hay theo điều 1 chương I của Luật đầu tư nước ngoài năm
2000 quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”
Cần phân biệt FDI với các loại hình đầu tư quốc tế khác:
-Đầu tư gián tiếp nước ngoài (foreign porfolio investment- FPI): là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư bằng hình thức mua
Trang 11cổ phần của công ty nước sở tại ở mức khống chế nhất định để thu lợi nhuận mà không tham gia vào điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư
-Tín dụng quốc tế ( commercial loan- CL ): là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất vay
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho kinh tế
Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ vốn góp của mình
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp cận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản
lý là những mục tiêu mà các hình thức khác không giải quyết
Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, các chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Chỉ có điều ở đây chủ đầu tư phải đóng góp một lượng vốn đủ lớn, đủ để họ có quyền tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 12Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
Các nước tiếp nhận vốn cần xác định rõ động cơ và định hướng của các dự án đầu tư để có chính sách thu hút hợp lý, phù hợp với mục tiêu kinh tế của từng thời kỳ, đặc biệt là chính sách phát triển ngoại thương
Động cơ:
- Nước tiếp nhận FDI: tiếp thu vốn, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước, mở rộng hoạt động ngoại thương, nâng cao vị thế trên thế giới
- Chủ đầu tư: tìm kiến thị trường đầu tư hấp dẫn, thụân lợi, an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và sự thịnh vượng lâu dài của doanh nghiệp Tuy nhiên, động cơ cụ thể của chủ đầu tư trong từng dự án lại rất khác nhau tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp và mục tiêu của nó ở thị trường nước ngoài, tuỳ thuộc mối quan hệ sẵn có của nó với nước chủ nhà Khái quát chung lại có ba động cơ chính cụ thể tạo nên
ba định hướng khác nhau trong FDI:
Đầu tư định hướng thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty sang nước sở tại Việc sản xuất sản phẩm cùng loại ở nước sở tại làm cho chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị, công nghệ mới lại có thể tận dụng được lao động rẻ, tiết kiệm chi phí vận chuyển, qua đó nâng cao tỉ suất lợi nhuận Đây là chiến lược bành trướng thị trường của các công ty đa quốc gia để vượt qua hàng rào bảo hộ thương mại của các nước sở tại và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp bằng cách khai thác các thị trường mới
Đầu tư định hướng chi phí
Đây là hình thức đầu tư ở nước ngoài nhằm giảm chi phí thông qua việc tận dụng lao động và tài nguyên rẻ của các nước sở tại nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao tỉ suất lợi nhuận Hình thức
đầu tư này đặc biệt thích hợp với những ngành nghề lĩnh vực đầu tư sử
Trang 13dụng nhiều lao động, sử dụng thiết bị cũ, lạc hậu, mức độ ô nhiễm môi trường cao mà nước chủ đầu tư không cho phép sử dụng hoặc chi phí sử
lí ô nhiễm môi trường đòi hỏi lớn
Đầu tư định hường nguồn nguyên liệu
Đây là hình thức đầu tư theo chiều dọc Các cơ sở đầu tư ở nước ngoài là một bộ phận cấu thành trong dây chuyền kinh doanh của công ty mẹ, có trách nhiệm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ của nước
sở tại cung cầp cho công ty mẹ để tiếp tục chế biến hoàn chỉnh sản phẩm Đầu tư này phù hợp với các dự án khai thác dầu khí và sơ chế sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp ở các nước sở tại
II mối quan hệ giữa ngoại thương và thu hút FDI
Nền kinh tế thế giới được hình thành và phát triển thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó trước hết là thương mại quốc tế Chính nhờ thương mại quốc tế mà các yếu tố sản xuất có tính lợi thế so sánh giữa các nước được khai thác có hiệu quả hơn Tuy nhiên, thương mại quốc tế cũng có những hạn chế, trong đó nhất là chưa khai thác một cách trực tiếp tiềm năng về lợi thế của các yếu tố đầu tư ở các nước Hơn nữa, thương mại quốc tế còn bị ngáng trở bởi các hàng rào thuế quan ở các quốc gia Bởi vậy, hình thức đầu tư quốc tế đã ra đời từ nhu cầu vượt qua những hạn chế và ngáng trở này
Đầu tư và thương mại là các khâu của quá trình tái sản xuất Thương mại hoạt động trong khâu lưu thông, còn đầu tư hoạt động trong khâu sản xuất Chúng là các khâu nối tiếp nhau trong một quá trình tái sản xuất ở phạm vi ngoài quốc gia, các hoạt động này có mối quan hệ bổ sung hơn là thay thế lẫn nhau Thông thường các nhà đầu tư cũng đồng thời là các nhà xuất nhập khẩu và phần lớn các nhà XNK đều có liên
Trang 14Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
quan trực tiếp tới các hoạt động đầu tư thông qua mô hình công ty thương mại tổng hợp
Như vậy hẹp hơn trong phạm vị một quốc gia cũng có thể nói mối quan hệ giữa ngoại thương và thu hút FDI có tính bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau Cụ thể là:
1 Ngoại thương ảnh hưởng tới FDI
1.1 Chính sách ngoại thương quyết định định hướng của FDI
và thu hút FDI
Chính sách ngoại thương là một bộ phận của chính sách kinh tế
đối ngoại của một nước Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm chính sách ngoại thương, chính sách thu hút FDI, chính sách phát triển các dịch
vụ thu ngoại tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách cán cân thương mại quốc tế Các nguyên tắc cơ bản để chủ động điều chỉnh mối quan
hệ thương mại quốc tế gồm nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc về chế
độ đãi ngộ quốc gia
Chính sách ngoại thương hỗ trợ đắc lực đối với quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đưa đất nước tham gia tích cực vào
sự phân công lao động quốc tế Do đó rõ ràng chính sách ngoại thương
có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thu hút FDI Cụ thể là:
Mức bảo hộ nhập khẩu thấp sẽ trở thành lực hút mạnh mẽ hơn với FDI hướng về XK so với cơ chế hoàn thuế NK So sánh dòng FDI chảy vào thị trường mở của một số nước châu á với những thị trường bảo hộ của các nước Mĩ La-tinh cho thấy thị trường châu á hấp dẫn dòng FDI hướng về XK hơn, còn thị trường Mĩ La-tinh lại thu hút dòng FDI hướng vào thị trường nội địa
Thực tế cho thấy rằng chính sách quan thuế thấp là chiến lược quan trọng của các nước tiếp nhận đầu tư với tham vọng hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu Và hàng rào quan thuế cần được ấn định
Trang 15cụ thể để xây dựng lòng tin của các nhà đầu tư vào chính sách này Do tính chất dài hạn của FDI nên quyết định đầu tư chắc chắn bị ảnh hưởng bởi sự biến động của chính sách hoàn thuế NK và các chính sách khuyến khích đầu tư khác có thể bị thay đổi hoặc rút lại tuỳ theo ý của chính phủ
ở nước ta, trong phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 của Đảng CSVN đã nêu rõ “Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ” Do đó Nhà nước có chính sách ngoại thương hợp lí để thu hút và kích thích,tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI đẩy mạnh XK cụ thể trong Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000, Nghị định của Chính phủ số 24/2000/NĐ-Chính Phủ , các Quy định, Thông tư của Bộ Thương mại như Quyết định1022/1999/QĐ-BTM ngày 1/9/1999 đã nới lỏng diện hành hoá mà các doanh nghiệp FDI không được mua để XK xuống chỉ còn 6 nhóm, Thông tư số 22/2000/TT-BTM, Thông tư số 26/2001/TT-BTM các quy định, thông tư của Bộ Tài chính về ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp FDI như Thông tư 172/TT/BTC , Công văn số 4519 ngày 13/5/2002
1.2 Các hiệp định thương mại được kí kết làm tăng dung lượng thị trường và khả năng thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp FDI tạo sức hấp dẫn thu hút FDI
Dung lượng thị trường là một điểm cân nhắc quan trọng của các công ty đa quốc gia (MNC) khi dự định rót vốn FDI Nhờ việc dỡ bỏ các rào cản thương mại trong nước, các khu vực tự do thương mại và liên minh thuế quan sẽ mang lại cho các MNC cơ hội có được một thị trương liên kết của một hoặc một vài khu vực sản xuất, và do đó thu được lợi ích
về quy mô kinh tế Điều này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới dòng FDI ít nhất
là cũng vào thời điểm mà các MNC cải tổ hoạt động sản xuất của họ Thị
Trang 16Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
minh và của các nước khác vào Liên minh, những ảnh hưởng tương tự tới dòng FDI cũng rất rõ ràng sau các hiệp định thương mại khu vực khác
được kí kết
Hình thức phổ biến nhất của hiệp định thương mại khu vực
là các khu vực tự do mậu dịch( khác với liên minh thuế quan ở chỗ mỗi nước vẫn duy trì hệ thống thuế quan riêng) Khu vực mậu dịch
tự do tạo ra yêu cầu cần thiết về “ quy tắc xuất xứ” để xác định xem sản phẩm được nhập khẩu vào một nước thành viên và được tiếp tục chế bíên có được hưởng quy chế đối xử giữa các nước thành viên hay không ( hay nói cách khác, liệu nó vẫn là sản phẩm của nước thứ ba, hay đã trở thành sản phẩm của nước thành viên) Bởi vì nguyên tắc xuất xứ có ảnh hưởng mang tính bảo hộ nên chúng tác động tới việc xác định vị trí đầu tư Ví dụ như theo quy tắc xuất xứ của NAFTA, hàng may mặc sản xuất ở Mexico dược hưởng chế độ miễm thuế khi vào thị trường Mĩ miễm là đáp ứng được quy định về sơi mà đối với nhiều sản phẩm khác yêu cầu 100% nguyên liệu có nguồn gốc từ Bắc
Mĩ Các nhà sản xuất hàng may mặc Mexico phải đối mặt với sự lựa chọn giữa việc nhập tất cả các nguyên liệu trừ sơi từ các nước Bắc Mĩ
để nhận được sự đối xử ưu đãi hoặc nhập nguyên liệu ở ngoài NAFTA với giá rẻ hơn nhưng không nhận được chế độ miễm thuế như đã nói ở trên khi vào những thị trường quan trong nhất Chế độ thuế quan tối huệ quốc đối với hàng may mặc vẫn còn cao nên có thể
họ vẫn chọn nguồn nguyên liệu ở ngoài Điều này rõ ràng đã khuyến khích các nhà sản xuất hàng dệt may ở nước thứ ba đầu tư vào các cơ
sở sản xuất ở trong khu vực NAFTA để lấy lại những khách hàng đã
bị mất hơn so với quy tắc xuất xứ lỏng lẻo
Việt Nam đã thành công trong việc mở cửa, hội nhập quốc
tế, phá thế cấm vận, bao vây kinh tế và thương mại Ngày 11/7/1995,
Mỹ đã tuyên bố bình thương hoá quan hệ ngoại giao với nước ta và
Trang 17ngày 12/7/1995 hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao Ngày 17/7/1995 nước ta và Liên minh Châu Âu đã ký Hiệp định chung về hợp tác kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật Ngày 28/7/1995 nước ta đã trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các nước Đông Nam á ASEAN Năm 1998 nước ta đã tham gia diễn đàn kinh tế các nước Châu á - Thái Bình Dương APEC Tháng 7/2000 nước ta ký Hiệp định thương mại với 61 trong đó có Mĩ góp phần đưa tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước từ con số 50 nước năm 1990 lên 170 nước và vùng lãnh thổ vào năm 2000 nhờ vậy tổng mức lưu chuyển ngoaị thương năm 2000 đã đạt 29,5 tỷ gấp 5,7 lần năm 1990, trong đó XK đạt 14,3 tỷ USD gần gấp 6,0 lần, NK đạt 15,2 tỷ USD gấp gần 5,5 lần Trong những năm 1991-2000 bình quân mỗi năm tổng mức lưu chuyển ngoại thương tăng 19,0% trong đó XK tăng 19,6% NK tăng 18,6% XK bình quân đầu người năm 2000 đạt 184,2 USD, đưa nước ta khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển Những thành tựu như vậy của ngoại thương đã tạo môi trường đầu tư hấp dẫn , thu hút vốn FDI hướng về XK
2 FDI ảnh hưởng tới ngoại thương
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động xuất khẩu, ngay từ thời gian đầu thực hiện đường lối "Đổi mới" nền kinh tế với ba chương trình kinh tế lớn trong đó có chương trình sản xuất hàng xuất khẩu Tại văn kiện hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương khoá VII đã khẳng định "Thực hiện chiến lược về xuất khẩu là chính, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả " hay " xuất khẩu càng phát triển, khả năng thu hút đầu tư nước ngoài càng lớn " đã cho ta thấy một chủ trương nhất quán, một quyết tâm mạnh mẽ mong muốn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá để phát triển kinh tế đất nước
Trang 18Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
2.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tăng cường thêm nguồn vốn cho đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu
Với bất cứ một chương trình kinh tế nào được đề ra, muốn đạt
được hiệu quả thì việc đòi hỏi đầu tiên là một hệ thống chủ trương chính sách và pháp luật được đề ra một cách đồng bộ và hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế trong nước và xu hướng phát triển của thế giới, mặt khác phải có tài chính để triển khai thực hiện chương trình kinh tế đó Cũng như các chương trình kinh tế khác, chương trình sản xuất hàng xuất khẩu cũng cần rất nhiều vốn, vốn cho đầu tư máy móc kỹ thuật và công nghệ, vốn cho đào tạo nhân lực, vốn cho xúc tiến thương mại
Trong bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam nhiều khó khăn, nhất
là thiếu vốn cho nhiều nhu cầu của nền kinh tế thì việc dành vốn cho chương trình sản xuất hàng xuất khẩu là một việc không đơn giản Do đó Nhà nước ta đã có chủ trương kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành sản xuất hàng xuất khẩu Chính vì ưu tiên cho chương trình sản xuất hàng xuất khẩu cho nên trong các điều khoản của đường lối chính sách đã quy định các mức độ khác nhau về tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy ở thị trường Việt Nam có một đội ngũ lao động hùng hậu, có trình độ văn hoá, có tay nghề ở mức chấp nhận được và có mức lương khá thấp so với các nước trong khu vực Mặt khác Việt Nam có ưu thế là một nước giàu tài nguyên, thiên nhiên
ưu đãi, có vị trí địa lý thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán và có chế độ chính trị ổn định Đây là những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của thị trường
đầu tư Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Để đẩy nhanh kim ngạch xuất khẩu, Nhà nước Việt Nam đã dành nhiều ưu tiên cho các nhà đầu tư nước ngoài như ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, ưu đãi về các khoản trích nộp lợi nhuận Nhà nước đã thành
Trang 19lập ra các khu công nghiệp, các khu chế xuất với một cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, như: đường giao thông, hệ thống điện nước, thông tin liên lạc và các biện pháp quản lý thông thoáng để các nhà đầu tư triển khai sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm để dành cho xuất khẩu Kết quả của các biện pháp khuyến khích trên đã tạo nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu ở Việt Nam và doanh số xuất nhập khẩu không ngừng ra tăng trong khu vực các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu đã có tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước nhà
2.2 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đóng góp vào hoạt động xuất khẩu bằng cách tăng thêm mặt hàng xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu mới của nước ta
So với trình độ và kinh nghiệm của doanh nghiệp sản xuất trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu thế hơn hẳn, những ưu thế đó thường về vốn, trình độ máy móc kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, trình độ về đào tạo và quản lý, trình độ cung cấp các dịch vụ và một thị trường bạn hàng xuất nhập khẩu
Từ việc nắm bắt các nhu cầu của thị trường thế giới một cách nhanh nhậy đã giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạch định và đề ra một chiến lược sản xuất có hiệu quả cao Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thường là vệ tinh, các chi nhánh của các công ty, tập đoàn nước ngoài, do vậy việc bao quát, nắm bắt thị trường thế giới có rất nhiều thuận tiện, việc đầu tư vào thị trường Việt Nam nhằm sản xuất kinh doanh ngành hàng gì, mặt hàng gì là nằm trong chiến lược sản xuất - kinh doanh của các công ty, tập đoàn nước ngoài Ngoài mục đích chiếm lĩnh thâm nhập thị trường nước ta, còn có nhu cầu sản xuất để xuất khẩu và như thế phù hợp với mục đích khuyến
Trang 20Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
khích sản xuất hàng xuất khẩu của ta, sự gặp gỡ đó đã là một trong những điều kiện để giúp cho các liên doanh đi đến thành công
Bằng những máy móc kỹ thuật và công nghệ cao, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã sản xuất ra nhiều mặt hàng mới có chất lượng cao, đóng góp thêm phong phú các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Trong bối cảnh cạnh tranh đang diễn
ra một cách quyết liệt trên thương trường quốc tế, yếu tố chất lượng sản phẩm có một vai trò vô cùng quan trọng, khi kết hợp với yếu tố về giá thành sản phẩm thấp hơn sẽ có nhiều cơ hội thành công
Thị trường xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều lợi thế hơn so với đa phần các doanh nghiệp trong nước, bởi lẽ họ nắm bắt được nhu cầu của thị trường thế giới, do vậy họ dễ dàng đề ra một chiến lược sản xuất và tiếp cận thị trường hợp lý Trong điều hành sản xuất họ áp dụng biện pháp quản lý tiên tiến, hợp lý hoá mọi công đoạn của quá trình sản xuất và bao tiêu sản phẩm để mang lại hiệu quả kinh tế cao Cùng với những ưu thế về vốn , máy móc kỹ thuật và quy trình công nghệ (như đã trình bày ở phần trên)
đã là một cơ sở vững chắc để cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đóng góp một cách có hiệu quả vào chương trình phát triển xuất khẩu của nước nhà
2.3 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đóng góp cho tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta ngày một gia tăng, đặc biệt là đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu, làm lành mạnh cán cân thanh toán thương mại
Khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đi vào thực hiện thì cũng là lúc các nhà đầu tư triển khai các lĩnh vực hoạt động đặt nền móng cho việc làm ăn lâu dài tại Việt Nam, các lĩnh vực đó bao gồm: Triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng như nhà xưởng, điện nước bỏ vốn ra nhập khẩu máy móc kỹ thuật và quy trình
Trang 21công nghệ, nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu mà tại nước ta chưa có điều kiện để đáp ứng Như vậy ngay từ đầu khi bắt tay vào triển khai dự án
đầu tư, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
đã tham gia vào hoạt động nhập khẩu, số kim ngạch nhập khẩu này được tính chung cho tổng số kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam mà Nhà nước
ta không phải bỏ hết tổng số ngoại tệ nhập khẩu, đây là một ưu điểm của
đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho nước được nhận đầu tư Nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không nhằm để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước mà nhằm để sản xuất ra hàng hoá phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Khi Nhà nước ta có chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp hướng mạnh về xuất khẩu như giảm thuế
và một số khoản đóng góp, có quỹ hỗ trợ xuất khẩu các nhà đầu tư nước ngoài đã tranh thủ các ưu đãi của Nhà nước ta để đẩy mạnh xuất khẩu
Do có ưu thế hơn các doanh nghiệp trong nước, nên kết quả xuất nhập khẩu đã nhanh chóng đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhất là kim ngạch xuất khẩu bởi sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thương trường quốc tế
Chỉ sau một thời gian ngắn triển khai các dự án đầu tư, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã từng bước tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ra thị trường bên ngoài
và đã đóng góp ngày càng tăng đáng kể vào tổng số kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Tuy kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng với kim ngạch nhập khẩu, thời gian đầu kim ngạch xuất khẩu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam chưa có và kim ngạch nhập khẩu lại ra tăng nhanh chóng, đến những năm gần đây kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng và đồng thời kim ngạch xuất khẩu hình thành và ra tăng với tốc độ nhanh hơn so với tốc độ của kim ngạch nhập khẩu, đây là một tín hiệu đáng mừng, nó chứng minh cho một điều là tăng nhập khẩu để
Trang 22Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn thị Dung A4- K37A
đẩy mạnh xuất khẩu Tăng nhập khẩu thiết bị máy móc để phát triển sản xuất, tăng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu ở trong nước chưa có điều kiện đáp ứng để sản xuất ra hàng hoá phục vụ tiêu dùng xã hội và tham gia xuất khẩu Khi kim ngạch xuất khẩu được gia tăng tương xứng sẽ là bằng chứng cụ thể để đánh giá hiệu quả của nhập khẩu Bước tiếp theo của phát triển xuất khẩu nhằm phát triển sản xuất trong nước và phát triển sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu, đây là một chu trình có quan hệ hữu cơ và quan hệ nhân quả với nhau Thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ luận cứ này
Tăng cán cân xuất khẩu là góp phần giảm thâm hụt thương mại, tiến tới cân bằng và thặng dư trao đổi mậu dịch quốc tế của nước nhà, đây là một định hướng đúng đắn mà nền kinh tế Việt Nam cần hướng tới, khi có sự trợ giúp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì định hướng này ngày càng có cơ sở để thực hiện
Tăng kim ngạch xuất khẩu nói chung và của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng sẽ tạo điều kiện để tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia, góp phần ổn định tài chính tiền tệ, tạo môi trường lành mạnh để phát triển kinh tế đất nước
2.4 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam còn cung cấp những dịch vụ có chất lượng cao góp phần thúc
đẩy hoạt động ngoại thương của nước ta
Những dịch vụ đó bao gồm:
- Dịch vụ tài chính ngân hàng, giúp cho việc thanh toán quốc tế
được dễ dàng thuận tiện, tạo lòng tin cho khách hàng có quan hệ buôn bán với Việt Nam
Trang 23- Dịch vụ vận tải chuyên chở, đây cũng là một lĩnh vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đóng góp
bổ xung cho công tác dịch vụ vận tải chuyên chở của nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xuất nhập khẩu hàng hoá
- Dịch vụ bảo hiểm: đây là một yêu cầu quan trọng của công tác xuất nhập khẩu, bởi thực hiện bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu tốt, sẽ góp phần tránh những rủi ro tổn thất cho các nhà xuất nhập khẩu
và góp phần phát triển kinh tế đất nước
- Ngoài ra còn có các dịch vụ tư vấn về pháp luật, cung cấp thông tin, marketing thị trường hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước nhà
Trang 24Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
1 Tổng mức lưu chuyển ngoại thương
Đường lối mở cửa và đổi mới của Đảng và Nhà Nước ta đã
đem lại kết quả kỳ diệu cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động ngoại thương nói riêng Tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm 2000
đạt 29,5 tỷ USD, gấp 6,5 lần năm 1989 Tổng mức lưu chuyển hàng hoá XNK bình quân mỗi năm giai đoạn 1990-2000 đạt 14,3 tỷ USD, gấp 2,5 lần mức bình quân thời kỳ 1981-1990
Số lượng đơn vị tham gia XNK đã tăng lên nhanh chóng qua các thời kỳ Năm 1985 chỉ có 40 đơn vị do Nhà Nước quản lý trực tiếp XNK, năm 1990 có 270 đơn vị, nhưng đến nay đã lên đến trên 10.000
đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó có cả các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI
Quan hệ quốc tế những năm qua đã có những thay đổi lớn thông qua việc tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực như Diễn đàn Kinh tế các nước Châu á Thái Bình Dương (APEC – 1998), ký Hiệp
định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ (7/2000) Năm 1990, nước
ta có quan hệ buôn bán với 50 nước và vùng lãnh thổ, năm 1995 con số này là 100 và đến nay là trên 170 Quan hệ thương mại ngày nay mở rộng tới các châu lục, các khối kinh tế khu vực và quốc tế Hoạt động
Trang 25XNK đã dần tạo được chỗ đứng vững chắc, mở ra những tiềm năng mới trong tương lai
Bảng 2: Cán cân XNK hàng hoá 1996 – 2001
Đơn vị tính: triệu USD
Tổng số Xuất khẩu Nhập khẩu Cân đối
Tỷ lệ nhập siêu%
Trang 26Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
1996 1997 1998 1999 2000 2001
Kim ngạch xuất nhập khẩu
1996 - 2001
Nhập khẩu Xuất khẩu
Từ bảng số liệu trên ta nhận thấy, nhìn chung tổng kim ngạch XNK hàng hoá tăng đều qua các năm mặc dù có nhiều biến động về kinh
tế và chính trị trên thế giới
Năm 1997 được đánh dấu là mốc lịch sử ra đời của Luật Thương mại, lần đầu tiên hoạt động thương mại trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu có một đạo luật điều chỉnh Tiếp theo là nghị định số
Trang 2757/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998, quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý bán hàng với nước ngoài, do Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định này có 6 chương và
29 điều quy định chi tiết về mọi hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá cũng tại nghị định này, lần đầu tiên Nhà nước khuyến khích
và nới lỏng cho phép tất cả các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hợp pháp được tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá
Cùng với luật thương mại, Nghị định số 57/1998/NĐ - CP đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, tạo ra tính chính đáng cho hoạt động xuất nhập khẩu của Nhà nước
Tuy nhiên năm 1997 cơn bão tài chính tiền tệ xảy ra ở các nước Đông Nam á và đã ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới, trong đó
có Việt Nam, đặc biệt là tác động tiêu cực lên hoạt động xuất nhập khẩu của nước nhà Chỉ số phát triển XNK hàng hoá có xu hướng giảm từ 135,2% năm 1996 xuống còn 100,4% năm 1998
Theo báo cáo của Bộ Thương mại ngày 20/3/1999 “Kim ngạch xuất khẩu năm 1998 đạt 9,361 tỷ USD bằng 91% kế hoạch đề ra (kế hoạch được Quốc hội điều chỉnh) và chỉ tăng ở dưới 2 chữ số Trong số này, khối các doanh nghiệp Việt Nam xuất 7,332 tỷ USD chiếm 78,3% tổng kim ngạch và giảm 1% so với năm 1997"
Nhưng kể từ năm 1999 đã bắt đầu có dấu hiệu khôi phục chỉ số phát triển kim nhạch XNK hàng hoá tăng đều 111% năm 1999, 127,4% năm 2000 Theo báo cáo của Bộ Thương mại ngày 15/11/`1999 : "Xuất nhập khẩu hàng hoá tiếp tục có bước chuyển biến tích cực, trước hết đó là nhịp độ xuất khẩu tăng dần, vượt mức dự kiến và nhập siêu giảm mạnh Tổng kim ngạch đạt 11 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm 1998 và vượt 10,5% so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, các mặt hàng chủ lực vẫn giữ được vai trò đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1999 Tổng kim
Trang 28Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
A4-ngạch nhập khẩu đạt 11,2 tỷ USD, giảm 2,8% (300 triệu USD) so với năm 1998”
Tuy nhiên năm 2001 hoạt động XNK lại gặp phải nhiều khó khăn Giá cả của nhiều hàng hoá trên thị trường thế giới giảm mạnh làm cho giá xuất khẩu của ta bị giảm như: hạt tiêu giảm 39,3%, cà phê 38%, hạt điều 28,3%, dầu thô 17,5%, gạo 13,7%; giá gia công hàng dệt - may giảm bình quân 15 - 20%, thậm chí có chủng loại giảm tới 30% nên lượng xuất khẩu tăng, nhưng lại giảm về giá trị hoặc kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng lại tăng chậm hơn lượng hàng xuất khẩu Nhà nước đã
có chính sách kịp thời để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương thông qua hàng loạt văn bản khuyến khích
+ Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 đã ban hành cơ chế quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá ổn định cho cả thời kỳ 2001- 2005; bãi bỏ quy định đầu mối và hạn ngạch đối với xuất khẩu gạo, nhập khẩu phân bón; chỉ tiêu xuất khẩu đối với sản phẩm gỗ rừng tự nhiên
+ Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP ngày 24/5/2001 bổ sung một
số giải pháp điều hành kế hoạch năm 2001, trong đó có các giải pháp tạo
điều kiện thuận lợi cho thương nhân đẩy mạnh xuất khẩu như : được xuất khẩu tất cả các loại hàng hoá mà pháp luật không cấm, không phụ thuộc vào ngành nghề đã đăng ký kinh doanh; được hỗ trợ một phần chi phí trong hoạt động phát triển thị trường và đẩy mạnh xúc tiến thương mại;
được thưởng theo kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gạo, cà phê, rau quả hộp và thịt lợn
+ Quyết định số 908/QĐ-TTg ngày 26/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu và quản lý nhập khẩu 6 tháng cuối năm 2001 đã dành ưu đãi cho gia công sản xuất thành phẩm hoặc sản xuất hàng xuất khẩu; bỏ lệ phí hải quan, phí hạn ngạch xuất khẩu; đơn giản hoá các thủ tục hải quan và thủ tục tại các cửa khẩu biên giới
Trang 29+ Nghị định số 44/2001/NĐ-CP ngày 2/8/2001 về sửa đổi và
bổ sung một số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 nhằm mở rộng quyền kinh doanh cho thương nhân như : được xuất nhập khẩu trực tiếp; được xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các loại hàng hoá, trừ hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu;
được thuê đại lý bán hàng ở nước ngoài và được xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc-thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên-phụ liệu và vật tư dư thừa, phế phẩm-phế liệu phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành
+ Cho phép tạm trữ và bù lỗ 70% cho các doanh nghiệp tạm trữ
150 ngàn tấn cà phê để giữ giá cà phê; tạm trữ 1 triệu tấn gạo để đẩy mạnh tiêu thụ lúa hàng hoá ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Do đó, mặc dầu thị trường thế giới có nhiều khó khăn, nhưng ngoại thương của Việt Nam vẫn đạt được những thành tích đáng khích lệ
Cán cân thương mại hàng hoá dần được cải thiện thể hiện ở mức nhập siêu ngày càng giảm từ 3887,3 triệu USD năm 1996 còn 900 triệu USD năm 2001 Tỷ lệ nhập siêu trên XK giảm mạnh từ trên 50% vào năm 1996 xuống chỉ còn 6% vào năm 2001 Đó là bằng chứng rõ ràng cho sự thành công của chính sách ngoại thương hướng về XK của Việt Nam
2 Kết quả xuất khẩu
Kết quả nổi bật của hoạt động XK thể hiện qua các mặt sau: Tăng trưởng cao và liên tục; Sự tham gia của các ngành, các thành phần kinh tế trong đó có đóng góp tích cực của các doanh nghiệp FDI; Thị trường XK mở rộng; Cơ cấu thị trường thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến; Một số mặt hàng chủ lực, đóng góp lớn cho tăng trưởng XK dần dần được khẳng định
Trang 30Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
A4-Tỷ trọng XK trong GDP và kim ngạch XK bình quân đầu người ngày càng tăng, năm 2000 đã đạt mức XK bình quân đầu người 184USD/người, đây là mốc quan trọng đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích FDI hướng về XK
Bảng 3: XK bình quân đầu người và so với GDP
1990 - 1995 1996 - 2000
1/ Xuất khẩu bình quân đầu người (USD) 47 136
2/ Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP (%) 26,4 37,6
Nguồn: Tổng cục thống kê
Những năm trở lại đây một số ngành công nghiệp khai thác và chế biến đã phát triển mạnh Cơ cấu hàng XK theo ngành kinh tế quốc dân đã thể hiện xu hướng đó Bình quân thời kì 1996-2000, trong tổng giá trị XK, sản phẩm nông lâm ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 14,5%, công nghiệp khai thác 20,3%, công nghiệp chế biến 63,3% Đáng chú ý là 3 nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến có tốc độ tăng bình quân cao nhất (34%) tiếp theo là công nghiệp khai thác (29%) và nông lâm sản (14%)
Trong những thay đổi quan trọng của hoạt động XK hàng hoá còn phải kể đến sự tham gia có hiệu quả của các doanh nghiệp FDI Khu vực này không những đã góp phần thúc đẩy doanh nghiệp trong nước vươn lên mà còn đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kim ngach XK
Bảng 4: Kim ngach XK của các doanh nghiệp FDI
Giá trị(triệu USD) Tỷ trọng trên tổng giá trị
Trang 31Sự gia tăng nhanh chóng của một số mặt hàng như dầu thô, gạo, hàng điện tử, máy tính, hàng dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản, cà phê, điều đã tạo diện mạo cho hàng XK nước ta Có 4 mặt hàng vượt qua mức 1 tỷ USD là dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản (riêng dầu thô đã vượt mức 2 tỷ USD từ năm 1999) Trước đây XK các mặt hàng chủ lực này chỉ chiếm khoảng 60%, hiện nay chiếm 75-80%
Xét về những thay đổi trong cơ cấu mặt hàng XK trong bảng
số liệu dưới đây ta thấy, trong số 10 măt hàng XK hàng đầu năm 1990
đến năm 1998 chỉ còn lại 8, đến năm 2000 thì 4 mặt hàng có mặt trong năm 1990 là hạt điều, cao su, hạt tiêu, than đá không còn nằm trong nhóm 10 Những mặt hàng lọt vào nhóm 10 này là linh kiện điện tử, sản phẩm đồ gỗ, nhóm hàng rau quả đã trở lại trong nhóm 10 Các mặt hàng dầu thô, thuỷ sản, dệt-may, giày dép, gạo khá ổn định trong nhóm 5 kể từ năm 1992 đến nay Gọi là 10 mặt hàng XK chủ yếu và nó đã chiếm trên dưới 75% tổng kim ngạch XK hàng năm ở hầu hết các mặt hàng dầu thô, gạo, cao su, than đá, cà phê, hạt tiêu đều có tỷ lệ tăng tổng kim ngạch nhanh hơn số lượng so với năm trước trong các năm 1999-2000, tình hình năm 2001 thì đã diễn ra ngược lại: có mặt hàng giá giảm 5-10%
Trang 32Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
A4-như cao su, chè, một số giảm đến 15% A4-như gạo A4-nhưng có loại giảm đến 40% như cà phê và 60% như hạt tiêu Nhìn chung giá nông sản đã giảm
đến 22% trong năm 2001, nên mặc dù khối lượng XK đã tăng hơn so với năm trước nhưng giá lại giảm nên kim ngạch XK nông sản năm 2001 vẫn thấp hơn so với năm 2000
Bảng 6: Kim ngạch XK một số mặt hàng chủ yếu
Thay đổi bq năm Xếp hạng 199
0 1996 1999 2000 2001 96-00 00/99 01/00 90 96 00 01
XK 2404 7256 11541 14438 15027 18,9 25,5 3,8
Dầu thô 390 1346 2092 3503 3126 27 67,7 -10,8 1 1 1 1 1000T 2617 8705 14882 15424 16732 15,4 3,6 8,5
Dệtmay 25 1150 1747 1892 1975 13,3 8,3 4,4 4 2 2 2 Hải sản 220 651 971 1479 1778 22,8 52,3 20,2 3 4 3 3 Giàydép 530 1392 1472 1560 29,1 5,7 6 5 4 4
Điện tử 788,6 595,6 -24,5 5 6 Gạo 272 855 1025 667,8 624,7 -6 -34,8 -6,5 2 3 5 5 1000T 1624 3003 4508 3477 3729 3,7 -22,9 7,2
Cà phê 25 337 585 501,4 391,3 10,4 -14,3 -22 7 6 7 7 1000T 90 248 482 734 931 26,8 52,3 26,8
S.p gỗ 294,2 335,1 13,9 8 8 Mỹnghệ 20 124 168 237,1 235,2 17,6 41,1 -0,8 8 9 9 10 Rauquả 52,3 90 105 213,1 330 24 54,9 5 11 10 9 Hạtđiều 130 110 176,3 151,7 6,5 52,1 -9,3 8 11 13 Cao su 16 163 147 166 166 0,5 12,9 0 9 7 12 12 1000T 75,9 194,5 265 273 308 8,8 3 12,8
Hạt tiêu 12 65,5 137 154,7 91,2 22,1 6,4 -37,4 10 12 13 15 1000T 9 25,3 35 37 57 10 5,7 54,1
Than đá 38 115 96 94 113,3 -4,9 -2,1 20,5 6 10 14 14 1000T 798 3647 3260 3251 4290 -2,8 -0,3 32
Cộng 1260 5401 8374 11047 10950
Tỷ trọng 52,4 74,4 72,6 76,3 72,9
Nguồn: Tổng cục thống kê (*)Thay đổi bq năm và Tỷ trọng tính theo %
Giá trị XK và Cộng tính theo 1000USD
Trang 33Về thị trường, hàng hoá Việt Nam đã thâm nhập ngày càng nhiều vào thị trường Nhật Bản, ASEAN, Đông Bắc á, EU, Bắc Mỹ Việc thâm nhập vào thị trường EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ đã đem lại hiệu quả cao cho hoạt động ngoại thương và đã khẳng định sự tiến bộ về chất lượng hàng hoá của nước ta vì đã đáp ứng khách hàng ở các thị trường khó tính Châu á là khu vực buôn bán lớn nhất với tổng kim ngạch hai chiều trên 70% Nhập siêu của Việt Nam với khu vực này tăng nhanh năm 1997 là 130%, năm 2000 là 360%, riêng năm 1999 là cao gấp 13 lần của tổng mức nhập siêu Năm 2000 XK vào thị trường châu á- Thái Bình Dương chiếm 58,4%, thị trường Âu- Mỹ 37%, thị trường châu Phi – Tây Nam
á 4,6% Sang năm 2001 XK sang thị trường Mỹ tăng mạnh 43,4%, thị trường Nga tăng 63,6%, thị trường Pháp tăng 21,1%, thị trường Irắc tăng 19% Sự thay đổi cơ cấu thị trường XK đã góp phần đưa nền kinh tế nước
ta vượt qua những khó khăn khi thế giới diễn ra những biến động lớn và khủng hoảng kinh tế khu vực 1997-1998 Đặc biệt trong những năm gần
đây chúng ta đã khôi phục được thị trường Đông Âu, vốn là thị trường truyền thống của ngoại thương nước ta Thị trường này cần NK hàng nông sản, nông sản chế biến, thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, giày dép
mà những mặt hàng này lại là thế mạnh của nước ta Năm quốc gia hàng
đầu NK hàng của Việt Nam là Nhật Bản, Trung Quốc, úc, Singapore và
Đài Loan chiếm 49%
Bảng 7: Thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Trang 34Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
CĐ=XK-NK tính theo triệu USD
3 Kết quả nhập khẩu
Cùng với tốc độ tăng trưởng của XK và cả nền kinh tế, NK cũng tăng với tốc độ khá Những mặt tích cực của hoạt động NK thể hiện
ở các điểm sau: NK đã hướng vào mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiến lược
XK và đáp ứng như cầu thiết yếu của sản xuất, tiêu dùng trong nước; Cơ cấu NK thay đổi theo hướng tăng NK tư liệu sản xuất giảm NK hàng tiêu dùng; Thị trường hàng NK mở rộng, chất lượng hàng NK được nâng cao, góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam
Thời kỳ 1996-2001 NK đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,2%/năm Riêng khu vực FDI mỗi năm NK chiếm 27,6% tổng kim ngạch NK cả nước
Bảng 8: Kim ngạch NK của các doanh nghiệp FDI
Giá trị(triệu USD) Tỷ trọng trên tổng giá trị
NK(%)
Trang 351999 1177 29
Nguồn: Vụ Kế hoạch-Bộ Thương mại
Dựa vào bảng số liệu dưới đây, có thể nhận thấy hàng NK chủ yếu của Việt Nam là để phục vụ cho sản xuất mà đặc biệt là để gia công hàng XK như chất dẻo, hoá chất nguyên liêu, nguyên phụ liệu may măc, máy móc thiết bị Nhóm hàng này tăng đều qua các năm và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Sự tăng lên của nhóm hàng NK này sẽ kéo theo sự tăng lên của giá trị XK ở khâu gia công, chế biến
Trang 36Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
A4-Nguồn: Bộ Thương mại
Hiện nay nước đã NK hàng hoá từ trên 130 nước và vùng lãnh thổ Thị phần chủ yếu là các nước châu á, trong đó Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm vị trí quan trọng Năm quốc gia XK lớn nhất vào Việt Nam
là Singapore, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung quốc chiếm 64% (số liệu năm 2000) NK từ các nước ngoài ASEAN và Mỹ tăng lên nhanh chóng Cơ cấu thị trường thay đổi đã phần nào thể hiện đường lối tăng cường hội nhập khu vực và đã có sự tính toán hiệu quả trong hoạt động ngoại thương
Bảng 10 : Tỷ trọng một số thị trường nhập khẩu chủ yếu
Trang 37năm 2001 khu vực FDI đã đóng góp 14% vào GDP, chiếm 26,5% tổng kim ngạch XK cả nước
Trong 9 tháng đầu năm 2002 vốn thực hiện đạt 1,65 tỷ USD tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái, doanh thu đạt 6,5 tỷ USD tăng 12%
so với cùng kỳ năm ngoái, XK đạt 3,079 tỷ USD tăng 12% so với cùng
kỳ năm ngoái, NK đạt 4,488 tỷ USD tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái
đáng chú ý là trong 9 tháng đầu năm 2002 có 181 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 601 triệu USD tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái dự kiến trong năm 2002, vốn thực hiên đạt 2,345 tỷ USD, doanh thu ước đạt 8,4 tỷ USD, XK đạt 4,2 tỷ USD, nộp ngân sách 460 triệu USD, khả quan hơn so với dự báo
Trong số các dự án đầu tư được cấp giấy phép, tính đến cuối tháng 8 năm 2001 đã thực hiện được khoảng 21 tỷ USD, chiếm 45% tổng
số vốn của các dự án Tính riêng thời kỳ 1996-2000 vốn đầu tư thực hiện
đạt 12,8 tỷ USD tăng 80% so với thời kỳ 1991-1995 Luồng vốn đầu tư nước ngoài thuần tuý chiếm khoảng 8,6% GDP trong thập kỷ qua
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong hơn một thập kỷ qua có thể
được nhìn nhận qua hai giai đoạn với hai xu hướng phát triển khác biệt với mốc là năm 1996 Giai đoạn trước năm 1996, FDI liên tục gia tăng về
số dự án và vốn đầu tư, đạt mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD vào năm 1996 trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của FDI đạt khoảng 50%/năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng đáng kể từ mức 34
dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326
dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký lên đến 8640 triệu USD năm 1996
Tuy nhiên kể từ 1997 đến nay và đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, vốn FDI vào Việt Nam liên tục giảm Trong giai đoạn 1997-2000 vốn FDI giảm trung bình khoảng 24% /năm FDI đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký khoảng 8,6 tỷ USD năm
Trang 38Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Dung K37A
A4-Phần lớn vốn FDI đến từ các nước châu á Trong đó FDI đến
từ Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Malaixia và Thái Lan chiếm khoảng 60% vốn đăng ký và 63% vốn thực hiện Phần còn lại là vốn đầu tư của châu âu (khoảng 20%) châu Mỹ (khoảng 13%) châu đại dương (khoảng 3%) Điều này ảnh hưởng lớn tới yếu tố thị trường XNK của các doanh nghiệp FDI cũng như của cả nước
đáng mừng là kể từ năm 2000 đến nay hoạt động FDI có dấu hiệu phục hồi thể hiện từ phía các nhà đầu tư Nhật Bản và Đài Loan Bù lại sự giảm sút về FDI từ các nước châu á những năm qua các nước châu
âu như Anh, Hà Lan, Liên bang Nga đã tăng vốn đầu tư ở Việt Nam 1.1 Về huy động nguồn lực
vốn FDI hiện đang tăng qua các năm nếu thời kỳ 1991-1995
đạt trên 7,15 tỷ USD trong đó vốn từ nước ngoài đạt 6,08 tỷ USD chiếm 85% vốn thực hiện và chiếm trên 25% tổng vồn đầu tư toàn xã hội thì thời kỳ 1996-2000 vồn FDI thực hiện đạt trên 12,8 tỷ USD trong đó vốn
từ nước ngoài đạt trên 11,56 tỷ USD chiếm trên 24% tổng vốn đầu tư xã hội Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào rõ ràng là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển nói chung và ngoại thương nói riêng
Thông qua vốn FDI nhiều nguồn lực trong nước ( lao động, đất
đai, tài nguyên ) được khai thác và đưa vào sử dụng với hiệu quả cao nhờ hoạt động XK; đồng thời Nhà Nước cũng chủ động hơn trong bố trí cơ cấu vốn đầu tư : dành nhiều vốn đầu tư trong nước, ngân sách cho đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đầu tư vào những vùng có dầu khí tại Trung Cận Đông Thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện nâng cao hiệu quả xản xuất chung của doanh nghiệp, gắn với việc đẩy mạnh XK hàng hoá, dịch vụ, lao
động ra nước ngoài