Cụ thể, năm 2020 đạt 143.239 triệu đồng tăng 4.066 triệu đồng tương ứng tăng 2,92%, sở dĩ có sự tăng trưởng không đều như vậy là do trong năm 2019 thì tình hình kinh tế thuận lợi làm cho người dân có nhu cầu về vốn nhiều để có thể mở rộng việc sản xuất kinh doanh của mình, tình hình ổn định của thị trường bất động sản, chứng khoán cũng đã góp phần không nhỏ cho sự gia tăng này, sang năm 2020 là năm lại có nhiều biến động cho ngành kinh tế nói chung và cho ngành ngân hàng nói riêng, đây cũng là thời kỳ khủng hoảng toàn cầu, tình hình lạm phát tăng cao, nền kinh tế suy thoái trầm trọng, cuộc khủng hoảng của thị trường bất động sản, chứng khoán cũng làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng. 4.2 TÌNH HÌNH TÍN DỤNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG VIETINBANK PHÒNG GIAO DỊCH AN BIÊN – CHI NHÁNH KIÊN GIANG 4.2.1 Doanh số cho vay Trong hoạt động cho vay, cho vay ngắn hạn thì luôn thu hồi vốn nhanh và ít xảy ra rủi ro hơn cho vay trung và dài hạn. Hoạt động cho vay của ngân hàng VietinBank phòng giao dịch An Biên, chi nhánh Kiên Giang nhằm sử dụng cho các mục đích kinh tế sau: sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thuỷ sản…và tài trợ mạnh cho hoạt động xuất nhập khẩu, đẩy mạnh cho vay theo phương chăm nhỏ lẻ nhưng với số lượng lớn. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được đầu tư vào các thành phần kinh tế nhằm hỗ trợ cho các đơn vị bổ sung vào nhu cầu vốn kinh doanh để phát triển sản xuất. ngân hàng đầu tư vào tín dụng ngắn, trung dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và cố định. 4.2.1.1 Doanh số cho vay theo thời hạn Trong hoạt động cấp tín dụng, nếu xét về thời hạn thì chủ yếu cho vay ngắn hạn, chiếm khoảng 80% DSCV. Bởi mục đích của tín dụng ngắn hạn là bổ sung vốn lưu động đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, tài trợ xuất nhập khẩu, và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Công tác cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng VietinBank phòng giao dịch An Biên, Chi nhánh Kiên Giang tập trung vào: cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, cho vay trả góp doanh nghiệp vừa và nhỏ…Thời gian gần đây hoạt động cho vay góp chợ và cho vay trả góp của cán bộ công nhân viên phát triển mạnh, góp phần vào sự tăng trưởng doanh số cho vay của ngân hàng, có được thành quả như vật là do ngân hàng mở rộng và phát triển trong việc năm bắt được thị trường mới cũng như đáp ứng tốt nhất, hiệu quả nhất nhu cầu khách hàng của mình. Nhìn bảng số liệu trên ta thấy tình hình cho vay ngắn hạn qua các năm có sự tăng trưởng không đều, cụ thể như sau: năm 2018 đạt 80.514 triệu đồng, đến năm 2019 có sự tăng trưởng mạnh đạt 101.597 triệu đồng tăng 21.083 triệu đồng, tương ứng tăng 26,19% so với năm 2018. Đến năm 2020 mặc dù doanh số cho vay vẫn tăng nhưng sự tăng trưởng giảm đáng kể so với năm 2019, năm 2020 đạt được 108.600 triệu đồng tăng 7.003 triệu đồng tương ứng tăng 6,89% so với năm 2019. Nguyên nhân trong năm 2019 doanh số cho vay tăng trưởng mạnh còn đến năm 2020 thì sự tăng trưởng không cao. Trong nông nghiệp giá đầu vào tăng cao: giá phân bón, thuốc trừ sâu…người dân cần vốn để đầu tư giống, vật tư để sản xuất cho vụ mùa tiếp theo. Còn đến năm 2020 thì tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến động như: thời tiết, dịch bệnh, giá cả không ổn định gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Cùng với sự phát triển kinh tế thì thị trường bất động sản cũng trở nên sôi động hơn do Nhà nước có chính sách phân lô, bán nền, nhiều khu dân cư mới được xây dựng. Nhu cầu nhà ở tăng cao, dân cư tập trung mua đất để xây dựng nhà cửa và kinh doanh nên đã tác động đến sự giảm sút của hoạt động tín dụng. Qua quá trình phân tích trên cần có những giải pháp kịp thời để tăng hiệu quả vay ngắn hạn ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) tại PGD An Biên càng được mở rộng và nâng cao hoạt động cho vay tại PGD An Biên nói riêng, chi nhánh Kiên Giang nói chung.
GIỚI THIỆU
ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngành Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng và thanh toán của Nhà nước, góp phần ổn định nền kinh tế Đồng thời, ngân hàng cũng cung cấp nguồn vốn kịp thời cho cá nhân và doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hiện nay.
Xã hội phát triển và công nghệ hiện đại đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, nâng cao đời sống người dân Sự ra đời của nhiều doanh nghiệp và khu công nghiệp đã làm gia tăng nhu cầu về vốn Để phát triển kinh tế một cách cân đối, cần có nguồn vốn để đảm bảo hoạt động liên tục của các đơn vị sản xuất và đáp ứng nhu cầu đời sống Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn từ nguồn nhàn rỗi và phân phối đến các doanh nghiệp và hộ sản xuất đang thiếu vốn Nhờ vào sự đa dạng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại, các doanh nghiệp và cá nhân có thể tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn.
Các vấn đề như cạnh tranh, thiên tai, dịch bệnh và biến động kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và các ngân hàng thương mại (NHTM) Để tồn tại và phát triển, các NHTM cần áp dụng các biện pháp tăng trưởng hiệu quả Hoạt động tín dụng, là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng, đóng góp lớn vào lợi nhuận và được xem là hoạt động quan trọng nhất Tuy nhiên, hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể dẫn đến tổn thất nghiêm trọng và thậm chí là phá sản Do đó, các NHTM cần chú trọng đến vấn đề này trong suốt quá trình hoạt động và phát triển.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank) chi nhánh Kiên Giang – Phòng giao dịch An Biên đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ về lượng khách hàng và chất lượng dịch vụ kể từ khi hoạt động Hoạt động tín dụng cho vay tại An Biên ngày càng được mở rộng, đóng góp đáng kể vào lợi nhuận của Chi nhánh Kiên Giang Do đó, Vietinbank PGD An Biên luôn chú trọng đến các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời như thanh toán hàng hóa, tài trợ, bổ sung vốn lưu động và nhu cầu sinh hoạt Đây là loại hình kinh doanh chủ yếu của ngân hàng, xuất phát từ việc huy động tiền gửi ngắn hạn, do đó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Nhận thấy tầm quan trọng của tín dụng ngắn hạn, đề tài “Giải pháp nâng cao hoạt động cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang – Phòng giao dịch An Biên giai đoạn năm 2018 đến năm 2020” đã được thực hiện.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Công Thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang – Phòng giao dịch An Biên trong giai đoạn 2018-2020 nhằm đánh giá thực trạng cho vay ngắn hạn tại An Biên thông qua các chỉ số tài chính Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng cho vay ngắn hạn tại VietinBank PGD An Biên.
Mục tiêu đầu tiên của bài viết là đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng VietinBank, chi nhánh Kiên Giang, cụ thể là phòng giao dịch An Biên trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020.
Mục tiêu thứ hai của bài viết là phân tích thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng VietinBank, chi nhánh Kiên Giang, cụ thể là phòng giao dịch An Biên trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020.
- Mục tiêu thứ ba: Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hoạt động cho vay ngắn hạn của Ngân hàng VietinBank, chi nhánh Kiên Giang – phòng giao dịch
An Biên tại địa bàn huyện An Biên.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian Đề tài được thực hiện tại Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam (VietinBank), chi nhánh Kiên Giang - phòng giao dịch An Biên
- Đề tài được thực hiện tháng 08/2021 đến tháng 10/2021
Đề tài nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp từ Bộ phận kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang, tập trung vào phòng giao dịch An Biên trong các năm 2018, 2019 và 2020.
Trong ba năm 2018, 2019 và 2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang - phòng giao dịch An Biên đã gặp phải nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng cho vay, đặc biệt là cho vay ngắn hạn.
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Hoạt động tín dụng vay ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại hiện nay rất phổ biến, giúp cá nhân và doanh nghiệp nhanh chóng tìm được nguồn vốn cho đầu tư kinh doanh với thời gian thanh toán ngắn Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để phân tích tình hình hoạt động tín dụng cho vay, nhằm đề xuất các biện pháp hiệu quả nhất để nâng cao và mở rộng hoạt động cho vay.
Nguyễn Kim Doanh (2019) trong khóa luận tốt nghiệp tại Đại học Dân Lập Hải Phòng đã nghiên cứu về hiệu quả công tác tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân - chi nhánh Hải Phòng, Phòng giao dịch Hải An Bài viết khái quát hoạt động kinh doanh và phân tích tín dụng của ngân hàng, đánh giá hiệu quả tín dụng qua các chỉ tiêu định tính như uy tín ngân hàng, chất lượng khách hàng vay và sự ổn định của nền kinh tế, cùng với các chỉ tiêu định lượng như hiệu quả vốn, lợi nhuận và hệ số rủi ro Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp như tăng trưởng tín dụng và huy động vốn để nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng.
Dương Quang Hiếu (2007) đã thực hiện một nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tân Châu, tỉnh An Giang trong khóa luận tốt nghiệp của mình tại Đại học Cần Thơ Nghiên cứu này phân tích các hoạt động của ngân hàng, bao gồm huy động vốn, tín dụng, và dịch vụ, cùng với các chỉ tiêu đánh giá như doanh số cho vay, doanh số thu nợ, nợ quá hạn và dư nợ Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn, cho vay, thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Quách Hữu Phi (2020) đã thực hiện phân tích rủi ro tín dụng tại ngân hàng Sacombank, chi nhánh Thạnh Phú, Sóc Trăng, với mục tiêu đánh giá tình hình nợ quá hạn và tìm kiếm các tình huống có thể dẫn đến rủi ro Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp phân tán, biện pháp về nhân sự, giám sát và kiểm soát rủi ro nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng Đặng Nguyên Anh Phương (2021) đã phân tích tình hình tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Chúng Việt Nam, phòng giao dịch An Phú, tập trung vào hoạt động tín dụng ngắn hạn, doanh số cho vay và tình hình nợ xấu Dựa trên kết quả đánh giá, đề tài đã đưa ra các giải pháp tăng trưởng tín dụng như đa dạng sản phẩm cho vay, lãi suất cạnh tranh và chính sách hấp dẫn để nâng cao hoạt động cho vay tại ngân hàng PVcomBank PGD An Phú.
N Meena, 2015 Short Term Sources of Financce Tạp chí nước ngoài
Nguồn tài chính ngắn hạn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh, với cho vay ngắn hạn được định nghĩa là khoản tín dụng mở rộng cho doanh nghiệp trong thời hạn dưới một năm Thỏa thuận này giúp doanh nghiệp thu hẹp khoảng cách giữa thu nhập và chi phí, quản lý các khoản nợ hiện tại như thanh toán lương và mua nguyên vật liệu Sự sẵn có của nguồn vốn ngắn hạn đảm bảo khả năng thanh khoản, tạo điều kiện cho hoạt động hàng ngày diễn ra suôn sẻ Các ngân hàng thương mại, đặc biệt là NHTM Việt Nam, luôn nỗ lực nâng cao và mở rộng hoạt động tín dụng cho vay ngắn hạn để tối ưu hóa hiệu quả và lợi nhuận trong kinh doanh.
Dựa trên các phương pháp nghiên cứu trước đây về hoạt động tín dụng, bài viết này sẽ tập trung vào việc nâng cao và mở rộng hoạt động tín dụng, đặc biệt là cho vay ngắn hạn Chúng tôi sẽ phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, với sự chú ý đặc biệt đến VietinBank An Biên, nhằm cải thiện hiệu quả cho vay ngắn hạn.
Giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Thương mại Công thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang – phòng giao dịch An Biên trong giai đoạn 2018 – 2020 được nghiên cứu nhằm cải thiện thực trạng tín dụng hiện tại Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn, từ đó đề xuất các biện pháp tối ưu hóa quy trình tín dụng, nâng cao hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Giai đoạn 2018-2020, VietinBank An Biên nhận thấy rằng các sản phẩm cho vay mặc dù đa dạng nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng Thủ tục và quy trình cho vay còn phức tạp, gây khó khăn cho người vay Đề tài này đề xuất các giải pháp nhằm đa dạng hóa sản phẩm, cải thiện quy trình cho vay, và nâng cao năng lực cán bộ tín dụng, từ đó giúp VietinBank An Biên phát triển và mở rộng, tăng doanh thu cho vay, đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay ngắn hạn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỞ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tổng quan hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục tiêu lợi nhuận, chủ yếu hoạt động bằng cách nhận tiền gửi từ khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu Hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên chế độ hạch toán kinh tế, cho phép thực hiện nhiều loại nghiệp vụ như nhận tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, dịch vụ thanh toán, và huy động vốn qua phát hành chứng chỉ nhận nợ.
2017 Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại Cần Thơ: Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ.)
2.1.1.2 Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng là mối quan hệ vay mượn, cho phép tạm thời sử dụng vốn dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng Trong nền kinh tế thị trường, tồn tại nhiều hình thức tín dụng như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng và tín dụng quốc tế Trong số đó, tín dụng ngân hàng được xem là hình thức quan trọng và phổ biến nhất, thường xuyên được nghiên cứu và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng thương mại và các bên vay.
Tổ chức tín dụng là đơn vị chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đóng vai trò kết nối với các chủ thể khác trong nền kinh tế Theo Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cấp tín dụng được định nghĩa là thỏa thuận cho phép khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả, thông qua các hình thức như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác Hoạt động tín dụng diễn ra khi tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động để thực hiện việc cấp tín dụng.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), mang lại lợi nhuận cao và bù đắp phần lớn chi phí liên quan đến quản lý ngân hàng như chi phí tiền gửi, dự trữ, kinh doanh, thuế và rủi ro đầu tư NHTM cung cấp nhiều hình thức tín dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
2.1.1.3 Chức năng hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế điều tiết hàng hóa điều tiết tiền tệ, tín dụng cho vay có
3 chức năng cơ bản như sau: a) Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả
Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và phân phối lại tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế, cho phép điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Quá trình này diễn ra tạm thời và kèm theo lãi suất Việc phân phối vốn thông qua tín dụng có thể được thực hiện theo hai phương thức: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp.
Phân phối trực tiếp là quá trình chuyển giao vốn từ các chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng đến các chủ thể cần vốn để phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp này thường diễn ra trong mối quan hệ tín dụng thương mại và thông qua việc phát hành trái phiếu của các công ty.
Phân phối gián tiếp là quá trình phân phối vốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng và công ty tài chính Một trong những chức năng quan trọng của các tổ chức này là tiết kiệm tiền mặt, giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng đa dạng và phát triển, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều này giúp giảm khối lượng giấy bạc lưu thông, giảm chi phí ngân hàng và cho phép nhà nước điều tiết linh hoạt khối lượng tiền tệ, đáp ứng kịp thời nhu cầu cho sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ để phục vụ tái sản xuất, đồng thời phản ánh nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế Do đó, tín dụng được xem là một công cụ thiết yếu của nhà nước trong việc kiểm soát và thúc đẩy các chiến lược phát triển kinh tế.
Tín dụng không chỉ giúp tiết kiệm tiền mặt mà còn hỗ trợ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân.
2.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Cho vay trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) là giao dịch tiền tệ giữa ngân hàng và cá nhân hoặc tổ chức vay Ngân hàng sẽ chuyển giao tiền cho bên vay để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, và bên vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001, cho vay được định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn khoản vay là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng rút vốn lần đầu cho đến khi hoàn tất việc trả nợ gốc và lãi vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Theo thời hạn vay, hoạt động cho vay của NHTM được chia thành:
- Là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
Các khoản vay cá nhân có thể được thực hiện qua hình thức cho vay từng lần hoặc phát hành thẻ tín dụng Đối với doanh nghiệp, hình thức cho vay cũng có thể là cho vay từng lần hoặc cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng.
Cho vay trung và dài hạn
Các khoản vay trung và dài hạn có thời gian vay từ 1 đến 5 năm và trên 5 năm, thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định với giá trị lớn Nguồn hoàn trả của các khoản vay này thường dựa vào dòng tiền ổn định và lâu dài Do thời gian tín dụng dài hơn, rủi ro tín dụng cũng cao hơn, dẫn đến lãi suất cho vay cao hơn và yêu cầu nhiều điều kiện hơn để đảm bảo an toàn tín dụng.
2.1.2.3 Đặc điểm hoạt động cho vay ngắn hạn
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo của Ngân hàng VietinBank, phòng giao dịch An Biên, Chi nhánh Kiên Giang, bao gồm báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của bộ phận kế toán tại ngân hàng này trong năm 2018.
- Đề tài nghiên cứu theo phương pháp thống kê tổng hợp số liệu qua các năm 2018, năm 2019, năm 2020
- Phương pháp so sánh bao gồm phương pháp so sánh tuyệt đối và phương pháp so sánh tương đối:
Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối:
- Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế
- ∆Y: Phần trên lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này được áp dụng để so sánh số liệu năm nay với số liệu năm trước nhằm xác định sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế Qua đó, chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân của những biến động này và đề xuất các biện pháp khắc phục hiệu quả.
Phương pháp so sánh bằng số tương đối:
- Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
- ∆Y: Phần trên lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế
- %Y: Biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này giúp làm rõ sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Nó cho phép so sánh tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu qua các năm và giữa các chỉ tiêu với nhau.
- Phương pháp thống kê, mô tả tổng hợp số liệu giữa các năm
- Phương pháp phân tích chỉ số tài chính để đánh giá tình hình và rủi ro tín dụng
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG -PHÒNG
QUÁT TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG
3.1.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Công Thương – VietinBank
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, được thành lập vào ngày 26/3/1988, là kết quả của việc tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng.
Tên đăng ký tiếng Việt: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Tên đăng ký tiếng Anh: VIETNAM JOINT STOCK COMMERCIAL BANK FOR INDUSTRY AND TRADE
Giấy phép thành lập: Số 142/GP-NHNN do Ngân hàng Nhà nước cấp ngày 03/7/2009
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0100111948 được cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội, lần đầu vào ngày 3/7/2009 và đã trải qua 10 lần thay đổi, với lần thay đổi gần nhất vào ngày 29/4/2014.
Vốn chủ sở hữu: 63.765.283.000.000 đồng (tại thời điểm 31/12/2017)
Địa chỉ hội sở chính: 108 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố
- Có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
- Là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000
Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng châu Á, và Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), tổ chức cũng tham gia vào việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế VISA và MASTER.
Ngân hàng này là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam mở chi nhánh tại châu Âu, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nền tài chính Việt Nam trên thị trường khu vực và toàn cầu.
Là ngân hàng số 1 của hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, tiện ích, tiêu chuẩn quốc tế
Ngân hàng đa năng, hiện đại, hiệu quả hàng đầu tại Việt Nam, đến năm
Đến năm 2030, ngân hàng 2030 sẽ nằm trong Top 20 ngân hàng mạnh nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Đến năm 2045, ngân hàng này dự kiến trở thành ngân hàng mạnh nhất và uy tín nhất tại Việt Nam, dẫn đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và có uy tín cao trên toàn cầu.
Ngân hàng VietinBank hơn 30 năm xây dựng và phát triển:
Giai đoạn I (từ tháng 7/1988 - 2000) đánh dấu sự chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam Trong giai đoạn này, Ngân hàng Công Thương, hiện nay là Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động.
Giai đoạn II (2001 - 2008) đánh dấu sự thành công trong việc thực hiện đề án tái cơ cấu Ngân hàng Công Thương, tập trung vào xử lý nợ, cải tiến mô hình tổ chức, cơ chế chính sách và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Giai đoạn III (từ năm 2009 - 2013): Thực hiện thành công cổ phần hóa, đổi mới mạnh mẽ, phát triển đột phá các mặt hoạt động ngân hàng
Giai đoạn IV (từ năm 2014 đến nay) tập trung vào việc xây dựng và thực thi quản trị theo chiến lược, đột phá công nghệ, và đổi mới toàn diện hoạt động ngân hàng Mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh gắn liền với hiệu quả, an toàn và bền vững.
3.1.2 Tổng quan về Ngân hàng VietinBank, chi nhánh Kiên Giang
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam, chi nhánh Kiên Giang, chính thức hoạt động từ ngày 19/08/1988, tọa lạc tại Số D11-5B đường 3 tháng 2, Phường Vĩnh Lạc, TP Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang.
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Chi nhánh Kiên Giang được thành lập theo giấy chứng nhận kinh doanh số: 0100111948-041 do Sở Kế hoạch
& Đầu tư tỉnh Kiên Giang cấp ngày 17/08/2009
1 KHÁCH HÀNG LÀ TRUNG TÂM
Ngân hàng đặt nhu cầu của khách hàng làm mục tiêu phục vụ chính Việc lắng nghe ý kiến của khách hàng và chia sẻ thông tin với các bên liên quan giúp ngân hàng đưa ra giải pháp và tư vấn phù hợp Đồng thời, ngân hàng cũng cam kết đảm bảo an toàn cho cả khách hàng nội bộ và khách hàng bên ngoài.
Luôn thể hiện sự sáng tạo và đổi mới liên tục, kết hợp với việc kế thừa để tạo ra giá trị tốt nhất cho hệ thống và khách hàng, đồng thời góp phần vào sự phát triển của đất nước.
VietinBank cam kết duy trì sự tuân thủ, kỷ luật và trung thực trong mọi hành động, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và đạo đức nghề nghiệp.
Thể hiện sự lắng nghe, chia sẻ và quan tâm đến khách hàng, đối tác, cổ đông, lãnh đạo và đồng nghiệp là rất quan trọng Ghi nhận và tôn trọng bản thân cũng là yếu tố cần thiết trong mọi mối quan hệ.
VietinBank cam kết thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với khách hàng, đối tác, cổ đông, lãnh đạo và đồng nghiệp, đồng thời bảo vệ thương hiệu của mình Chúng tôi tự hào thực hiện tốt trách nhiệm với cộng đồng và xã hội, coi đó là vai trò và vinh dự của VietinBank.
- An toàn, hiệu quả và bền vững;
- Trung thành, tận tụy, đoàn kết, đổi mới, trí tuệ, kỷ cương;
- Sự thành công của khách hàng là sự thành công của Vietinbank
Slogan: Nâng giá trị cuộc sống
3.1.2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng VietinBank chi nhánh Kiên Giang
Nguồn Ngân hàng VietinBank chi nhánh Kiên Giang
Hình 3.1 Bộ máy tổ chức tổ và quản lý của Ngân hàng VietinBank chi nhánh Kiên Giang
3.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ phòng ban
Người điều hành ngân hàng là người quản lý toàn bộ hoạt động, có trách nhiệm xét duyệt cho vay và đại diện cho chi nhánh trong quan hệ với ngân hàng cấp trên Họ cũng là người chịu trách nhiệm cao nhất về tài sản và kết quả kinh doanh của ngân hàng, đồng thời báo cáo trực tiếp cho Hội sở.