1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7

57 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Tác giả Nguyễn Mạnh Hải
Người hướng dẫn Ths. Đặng Ngọc Biờn
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 76,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giáđược đầy đủ và chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng, quản lý các loạivốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ tiềm nă

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tài chính là một bộ phận không thể thiếu trong doanh nghiệp Tất cả các hoạtđộng kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngược lạitình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hay kìm hãm quá trình kinhdoanh Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là mộtvấn đề được rất nhiều người quan tâm Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính làmột công việc cần thiết Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh giáđược đầy đủ và chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng, quản lý các loạivốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ tiềm năng và xu hướng phát triển củadoanh nghiệp trong tương lai Thông qua việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn, đưa

ra những giải pháp cần thiết và có hiệu quả để khai thác tới mức cao nhất những khảnăng tiềm tàng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phục vụ tốt cho sản xuất kinhdoanh

Từ những kiến thức đã học, trong thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Đầu

tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7, em đã cố gắng tìm hiểu thực tế hoạtđộng tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm vừaqua thông qua các bản báo cáo tài chính với mục đích nâng cao khả năng hiểu biếtcủa mình về vấn đề tài chính doanh nghiệp nói chung cũng như là phân tích tàichính nói riêng Vì vậy, em đã chọn đề tài chuyên đề: “Tình hình tài chính tại công

ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7”

Chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khucông nghiệp Sông Đà 7

Chương 3: Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ phầnĐầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo THs Đặng Ngọc Biên, cùng toàn thểcán bộ nhân viên Công ty đã hướng dẫn nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho emhoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này

Trang 2

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quátrình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định Tài chính doanh nghiệp làmột bộ phận trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thờiđây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp.Tài chính doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội hay là đến sựphát triển, suy thoái của nền sản xuất

Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanhnghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủyếu bao gồm:

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khidoanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và khi Nhà nước góp vốnvào doanh nghiệp

Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: quan hệ này được thểhiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tàichính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thểphát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanhnghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệpcũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa

sử dụng

Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác Trong nền kinh tế,doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hànghóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đó doanhnghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động… Điềuquan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầuhàng hóa dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngânsách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường

Trang 3

Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Đây là quan hệ giữa các bộ phận sảnxuất - kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữaquyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thôngqua hàng loạt các chính sách của doanh nghiệp như: chính sách tổ chức (phân phốithu nhập), chính sách đầu tư, chính sách cơ cấu về vốn, chi phí…

1.2 Báo cáo tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toántổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tạinhững thời điểm hoặc thời kỳ nhất định Các báo cáo tài chính phản ánh một cách

hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm và tình hình sử dụng vốntrong những thời kỳ nhất định, kết quả hoạt động kinh doanh; đồng thời được giảitrình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính biết được thực trạng tàichính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để ra các quyết định phù hợp

Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng sử dụng các thông tin tài chính rấtrộng rãi: các nhà quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, cổ đông, chủ đầu tư, chủtài trợ… Vì vậy, các báo cáo tài chính phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, số liệuphản ánh trung thực, chính xác phục vụ đầy đủ và kịp thời

1.2.2 Vai trò và tác dụng của báo cáo tài chính

- Vai trò:

+ Cung cấp những chỉ tiêu tài chính – kinh tế cần thiết giúp kiểm tra, phântích một cách tổng hợp, toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tìnhhình thực hiện các chỉ tiêu tài chính chủ yêu của doanh nghiệp

+ Cung cấp những thông tin, số liệu để kiểm tra, giám sát tình hình hạch toánkinh doanh và tình hình chấp hành các chế độ chính sách kinh tế - tài chính củadoanh nghiệp

+ Cung cấp những thông tin, số liệu cần thiết để phân tích đánh giá nhữngkhả năng và tiềm năng kinh tế - tài chính của doanh nghiệp, giúp cho công tác dựbáo và lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp

- Tác dụng:

Trang 4

+ Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Dựa vào các báo cáo tài chính để nhậnbiết và đánh giá khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, tình hình vốn liếng, công

nợ, thu chi tài chính… để ra các quyết định cần thiết, thực hiện có hiệu quả các mụctiêu của doanh nghiệp

+ Đối với các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, chủ nợ,ngân hàng, các đối tác kinh doanh… Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp đểphân tích đánh giá thực trạng kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, để quyếtđịnh phương hướng và quy mô đầu tư, khả năng hợp tác, liên doanh, cho vay haythu hồi vốn…

+ Đối vơi các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý nhà nước Dựa vào cácbáo cáo tài chính doanh nghiệp để phân tích, đánh giá, kiểm soát hoạt động kinhdoanh, hoạt động tài chính tiện tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách, chế độ vàluật pháp không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụvới Nhà nước và khách hàng…

1.2.3 Các loại báo cáo tài chính

1.2.3.1 Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính củamột doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đây là một báo cáo tài chính

có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinhdoanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp Thông thường, bảng cân đối kế toánđược trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán; một bên phảnánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp

Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện

có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó

là tài sản cố định, tài sản lưu động Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thànhcác loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn của chủ (vốn

Trang 5

Bên nguồn vốn: Nợ ngắn hạn (nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp,phải trả khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác); nợdài hạn (nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vaybằng cách phát hành trái phiếu); vốn chủ sở hữu (thường bao gồm: vốn góp banđầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới).

Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản; bênnguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tàichính của doanh nghiệp

Bên tài sản và nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ tiêu: sốđầu kỳ, số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội bảng còn có một số khoản mụcngoài bảng cân đối kế toán như: một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá nhận giữ

hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại

Nhìn vào Bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có thể nhận biết được loạihình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng cânđối kế toán là một tài liệu quan trọng nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá đượckhả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn củadoanh nghiệp

1.2.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tàichính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khác vớiBảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịchchuyển của tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép

dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhậpquỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuấtquỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác địnhđược kết quả sản xuất - kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh, phản ánhtình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấpnhững thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, laođộng, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 6

Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; doanh thu từ hoạt động tàichính; doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từng hoạt động

đó

Những loại thuế như: VAT, Thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải làdoanh thu và không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không được phản ánh trênbáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Toàn bộ các khoản thuế đối với doanhnghiệp và các khoản phải nộp khác được phản ánh trong phần: Tình hình thực hiệnnghĩa vụ với Nhà nước

1.2.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìmhiểm tình hình Ngân quỹ của doanh nghiệp Ngân quỹ thường được xác định chothời hạn ngắn (thường là từng tháng)

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ), bao gồm:dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ); dòngtiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ hoạtđộng bất thường

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ) bao gồm: dòngtiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt độngđầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường

Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực hiệncân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ

Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằmmục tiêu đảm bảo chi trả

1.2.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh các báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin vềtình hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồngthời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trìnhbày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể

Mẫu thuyết minh các báo cáo tài chính có thể do Nhà nước quy định, có thể

do doanh nghiệp lập để tiện cho công tác quản lý và phân tích tài chính

Trang 7

1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công

cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lýnhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ vàchất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyếtđịnh quản lý phù hợp

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phásản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ranhững dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoántài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thểđược ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị cácquyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phântích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)

1.3.2 Mục đích, ý nghĩa và quy trình của phân tích tài chính

1.3.2.1 Mục đích, ý nghĩa của phân tích tài chính

Có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như:chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng Mỗi đối tượng quan tâmvới các mục đích khác nhau nhưng thường liên quan với nhau

Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhà quảntrị doanh nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nângcao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí Tuy nhiên, doanh nghiệpchỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được

nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rút cục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộcphải đóng cửa, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợđến hạn trả cũng buộc phải ngừng hoạt động

Trang 8

Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họhướng chủ yếu vào khă năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến

số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánhvới số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảohiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro

Đối các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của Công ty,vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp Từ đó ảnh hưởng tới cácquyết định tiếp tục đầu tư và Công ty trong tương lai

Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhàcung cấp, người lao động cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanhnghiệp với những mục tiêu cơ bản giống như các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp

và nhà đầu tư

Tất cả những cá nhân, tổ chức quan tâm nói trên đều có thể tìm thấy và thoảmãn nhu cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích báo cáotài chính cung cấp

1.3.2.2 Trình tự và các bước tiến hành phân tích tài chính

a Thu thập thông tin

Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lýgiải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó baogồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kếtoán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị… Trong đócác thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáotài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy,phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanhnghiệp

b Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thôngtin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiêncứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là

Trang 9

quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, sosánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằmphục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.

c Dự đoán và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cầnthiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định hoạtđộng kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằmđưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăngtrưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với cho vay vàđầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư, đối với cấp trêncủa doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp

1.3.3 Phương pháp phân tích tài chính

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong

và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổnghợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưngtrên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:

1.3.3.1 Phương pháp so sánh

- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính đượccải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới

- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu củadoanh nghiệp

- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tìnhhình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưađược so với doanh nghiệp cùng ngành

- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báocáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợicho việc so sánh

Trang 10

- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và sốtương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.

Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ theo 2 điều kiện sau:

Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”

Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (hay các trị số của chỉ tiêu so sánh) phảiđảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhấtvới nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán

1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ

Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tàichính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phảixác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chínhdoanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệtham chiếu

Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụngngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Vì:

- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn

là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của mộtdoanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ lệ

- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những sốliệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặctheo từng giai đoạn

1.3.3.3 Phương pháp Dupont

Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh

ở Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trênphương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn.Từ việc phân tích:

ROI= Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng x Doanh thu

Trang 11

Dupont đã khái quát hoá và trình bày chỉ số ROI một cách rõ ràng, nó giúpcho các nhà quản trị tài chính có một bức tranh tổng hợp để có thể đưa ra các quyếtđịnh tài chính hữu hiệu

1.3.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

1.3.4.1 Phân tích các tỷ số tài chính

a Các tỷ số về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán

Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanhnghiệp càng tốt và ngược lại Nếu khả năng thanh toán chung nhỏ hơn 1 thì doanhnghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu con số này quácao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so vớinhu cầu Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận Vì thế

mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân

bổ vốn như thế nào cho hợp lý

Khả năng thanh toán

Trang 12

Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ

bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàntrả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho) Tỷ lệ nàythường biến động từ 0,5 đến 1

b Các tỷ số về khả năng cân đối vốn

Tỷ lệ này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanhnghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp Nó còn được coi là tỷ lệđòn bẩy tài chính và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ

nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào

sự bảo đảm an toàn cho các món nợ Nếu chủ sở hữu chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏtrong tổng nguồn vốn thì rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là do các chủ

nợ gánh chịu Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanhnghiệp vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, cáckhoản vay cũng tạo ra những khoản tiết kiệm nhờ thuế do chi phí cho vốn vay là chiphí trước thuế

Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản:

Hệ số nợ = NợTổng tài sản

Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối vớicác chủ nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng tàisản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trườnghợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích

tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soátdoanh nghiệp Song, nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mấtkhả năng thanh toán

Khả năng thanh toán lãi vay: cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khảnăng trả lãi hàng năm Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanhnghiệp bị phá sản Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp ta thấy đượctình trạng thanh toán công nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu Một tỷ lệ nợ trên tổng

Trang 13

tài sản cao cộng với khả năng thanh toán lãi thấp so với mức trung bình của ngành

sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc muốn gia tăng nợ

Khả năng thanh toán

sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu doanhthu được sử dụng chủ yếu trong tính toán các tỷ số này để xem xét khả năng hoạtđộng của doanh nghiệp

Vòng quay tiền cho biết số vòng quay tiền trong năm, được xác định bằng:

Tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán

Vòng quay dự trữ hàng tồn kho: là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giáhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Con số này càng cao thì khả năngbán ra càng lớn

Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần

Hàng tồn kho

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu là điềukhó tránh khỏi Nó có thể mang lại lợi nhuận tiềm năng song nó cũng có thể gây ranhững rủi ro về khả năng thu nợ, chi phí đòi nợ Do vậy, người quản lý doanhnghiệp cần phải quan tâm đến kỳ thu tiền bình quân và các biện pháp rút ngắn thờigian này

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu x 360

Trang 14

Doanh thu thuần

Kỳ thu tiền được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên

cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Các khoản phải thu lớnhay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và cáckhoản trả trước

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định, chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cốđịnh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm

Hiệu suất sử dụng tài sản

Doanh thu thuầnGiá trị còn lại của tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản, chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn

bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết mộtđồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần

Tổng tài sản

d Các tỷ số về khả năng sinh lợi

Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố vì thếkhác với các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từng hoạt độngriêng biệt của doanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệuquả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Mục đích chungcủa các doanh nghiệp là làm sao để một đồng vốn bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất

và khả năng sinh lời nhiều nhất Để đánh giá khả năng sinh lời người ta dùng cácchỉ tiêu sau:

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuần

Trang 15

Chỉ tiêu trên phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu.

Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thu thuần

và chi phí Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi đó chi phí

tăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là doanh

lợi tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định rõ nguyên nhân

của tình hình để có giải pháp khắc phục

Doanh lợi vốn chủ sở hữu: được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế

cho vốn chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các

nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp

Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài

chính doanh nghiệp Ta xét các nhân tố ảnh hưởng đến doanh lợi vốn chủ sở hữu

như sau:

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu thuần x Tổng tài sảnVốn chủ sở hữu Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba nhân tố:

- Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

- Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

Vì vậy, khi xem xét sự biến động của doanh lợi vốn chủ sở hữu ta cần phân

tích sự thay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra những kết luận đúng đắn

Doanh lợi vốn

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của

một đồng vốn đầu tư (ROA) Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được

phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế và lãi hay

lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản Đối với doanh nghiệp có sử dụng nợ

trong kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằng

cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho tổng tài sản

Doanh lợi vốn = Lợi nhuận trước thuế và lãi vayTổng tài sản

Trang 16

1.3.4.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn

Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thayđổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về nguồn vốn vàcách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổi của cáctài khoản trên bảng cân đối kế toán từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn và

sử dụng vốn

Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước tiên người

ta trình bày bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (Trình bày mộtphía) từ tài sản đến nguồn vốn, sau đó, so sánh số liệu cuối kỳ với đầu kỳ trong từngchỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệptheo nguyên tắc

- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốngiảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn

- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốntăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn vốn

- Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau

Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng,giảm bao nhiêu? Tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào là chủ yếuảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó cógiải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanhnghiệp

Ngoài việc phân tích việc sử dụng vốn và nguồn vốn, người ta còn phân tíchtình hình tài chính theo luồng tiền để xác định sự tăng (giảm) tiền và nguyên nhântăng (giảm) tiền Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp quản lý ngânquỹ tốt hơn

1.3.4.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian

Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ nhữngđánh giá về trạng thái tĩnh với những đánh giá về trạng động để đưa ra một bứctranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu như trạng thái tĩnhđược thể hiện qua bảng cân đối kế toán thì trạng thái động (sự dịch chuyển của các

Trang 17

dòng tiền) được phản ánh qua bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), quabáo cáo kết quả kinh doanh Thông qua các báo cáo tài chính này, các nhà phân tích

có thể đánh giá sự thay đổi về vốn lưu động ròng, về nhu cầu vốn lưu động, từ đó cóthể đánh giá những thay đổi về ngân quỹ của doanh nghiệp Như vậy, giữa các báocáo tài chính có mối liên quan rất chặt chẽ: những thay đổi trên bảng cân đối kế toánđược lập đầu kỳ và cuối kỳ cùng với khả năng tự tài trợ được tính từ báo cáo kếtquả kinh doanh được thể hiện trên bảng tài trợ và liên quan mật thiết tới ngân quỹcủa doanh nghiệp

Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định người tacòn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn tìnhhình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp Nhữngchỉ tiêu này là cơ sở để xác lập nhiều hệ số (tỷ lệ) rất có ý nghĩa về hoạt động cơ cấuvốn của doanh nghiệp

Thu nhập trước = Lãi gộp - Chi phí bán hàng, quản lý

khấu hao và lãi (không kể khấu hao và lãi)

Thu nhập trước = Thu nhập trước - Khấu hao

thuế và lãi khấu hao và lãi

Thu nhập

= Thu nhập trước - Lãi vaytrước thuế thuế và lãi

Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mức tăngtương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt động củadoanh nghiệp Đồng thời, nhà phân tích cũng cần so sánh chúng với các chỉ tiêucùng loại của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá vị thế của doanh nghiệp.Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán

Trang 18

Chương 2:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU

TƯ KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG ĐÀ 7

2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông

Đà 7

2.1.1 Sự hình thành và phát triển

Công ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7, là công

ty con của Công ty Cổ phần Sông Đà 7 thuộc Tổng công ty Sông Đà được thành lậpvào tháng 12/2007

Công ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7 - tên giaodịch quốc tế SONGDA URINCO7.JSC (SongDa7 Urban Industrial zone

Trang 19

Investement Joint Stock Company) có trụ sở chính đặt tại Tầng 4 – Trung tâmthương mại Machinco1 - Km9+500 - Nguyễn Trãi – Hà Đông - Hà Nội là mộtdoanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có tàikhoản số 4501006666668 tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà Tây.

Công ty Cổ phần Đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7 đượcthành lập theo Luật Doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân phù hợp với Pháp luật ViệtNam, có tài khoản tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà Tây và được sử dụng condấu theo mẫu quy định

Mặc dù, công ty Cổ phần Đầu tư đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7 mớiđược thành lập vào năm 2007 nhưng mà công ty đã và đang thực hiện một số dự ánxây dựng lớn ở thành phố Hà Nội như : dự án khu đô thị Đồng Quang, khu đô thịXuân Phương, khu nhà ở cho cán bộ công nhân viên Viện Bỏng, khu TT4 PhùngKhoang Công ty đang từng bước mở rộng và phát triển quy mô hoạt động sảnxuất kinh doanh

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

Các ngành nghề kinh doanh chính là:

- Đầu tư đô thị, khu công nghiệp và kinh doanh bất động sản

- Xây dựng công trình công nghiệp, dân dụng và đô thị;

- Xây lắp các công trình giao thông, công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ nông, thuỷ công,dân dụng, san lấp mặt bằng;

- Du lịch nhà vườn sinh thái, dịch vụ vui chơi giải trí (trừ loại hình vui chơi giải tríNhà nước cấm);

- Xây dựng các công trình thuỷ điện, xây dựng đường dây, trạm biến áp đến 220KVA;

- Cho thuê thiết bị máy xây dựng;

- Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị, thiết bị phụ tùng cơ giới và công nghiệp xâydựng;

- Dịch vụ thương mại, trông giữ xe ôtô, xe máy, thiết bị hàng hoá;

- Vận tải hành khách, hàng hoá đường bộ, đường thuỷ;

Trang 20

- Mua bán ôtô, xe máy, thiết bị công nghiệp, nông nghiệp, máy xây dựng, vật liệuxây dựng, kim khí, đầu tư khai thác khoáng sản (trừ các loại khoáng sản Nhà nướccấm);

- Nhận uỷ thác đầu tư của các tổ chức và cá nhân;

2.1.3 Nguyên tắc hoạt động và quản lý

Công ty thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ thủ trưởng trongquản lý, điều hình mọi hoạt động của công ty trên cơ sở thực hiện quyền làm chủtập thể của cán bộ công nhân viên công ty Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đượcgiao, Tổng Giám đốc Công ty tổ chức các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ giúp

đỡ Tổng giám đốc trong các lĩnh vực công tác Các xí nghiệp trực thuộc thực hiệnchức năng tổ chức sản xuất kinh doanh theo phương thức hạch toán phụ thuộc theoquy định và phân cấp quản lý của giám đốc Công ty

Công ty thành lập ra các xí nghiệp trực thuộc, các xí nghiệp này đều có chứcnăng thực hiện các nhiệm vụ thi công xây dựng, san nền, thi công các công trình hạtầng Các xí nghiệp có bộ máy điều hành riêng gồm: Giám đốc, các phó giám đốc,các ban nghiệp vụ giúp giám đốc quản lý và bộ phận trực tiếp sản xuất, hoạt độngtrên cơ sở giấy phép hành nghề được cơ quan có thẩm quyền cấp Các xí nghiệpđược Công ty giao cho một số tài sản như: Nhà xưởng, máy móc thiết bị, cơ sở vậtchất tương ứng để bảo đảm sản xuất, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kếtquả kinh doanh của mình, thực hiện chế độ lời ăn lỗ chịu

Do thực hiện có hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh nên công ty khôngnhững đứng vững trong cơ chế thị trường mà còn được xem là một trong nhữngdoanh nghiệp tiêu biểu của Tổng công ty Sông Đà cũng như Bộ xây dựng

Khi đất nước ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thịtrường thì công ty Cổ phần Đầu tư Đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà 7 phải tựxây dựng kế hoạch sản xuất để có thể cạnh tranh trong công tác đấu thầu các côngtrình xây dựng Công ty giao quyền chủ động cho các xí nghiệp tự kinh doanh hoặcthực hiện giao khoán nội bộ sau khi công ty đã thắng thầu Sau khi thắng thầu, công

ty tiến hành ký hợp đồng xây dựng với các đơn vị chủ đầu tư rồi giao khoán cho các

xí nghiệp

Trang 21

Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Đầu tư Đô thị vàKhu công nghiệp Sông Đà 7 được khái quát như sau:

2.1.4 Bộ máy tổ chức

 Tổng giám đốc: đứng đầu bộ máy quản lý, là đại diện pháp nhân của công tytrong các quan hệ đối tác, được Sở xây dựng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Sở,UBND thành phố về toàn bộ kết quả kinh doanh của công ty cũng như thực hiệnnghĩa vụ với Nhà nước

 Các phó Tổng giám đốc: là người giúp việc cho Tổng giám đốc về điều hànhcông tác sản xuất cũng như các hoạt động khác của công ty

 Phòng tổ chức – hành chính:

Phòng Tổ chức - Hành chính là bộ phận tham mưu, giúp việc Tổng giám đốcCông ty trong các lĩnh vực công tác sau:

- Công tác Tổ chức, lao động và tiền lương

- Công tác Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ

- Công tác Hành chính

- Công tác Thi đua - Khen thưởng và kỷ luật

- Công tác Thanh tra - Kiểm tra

- Công tác Bảo vệ - An ninh

 Phòng quản lý kỹ thuật chất lượng – thi công an toàn:

Phòng Quản lý kỹ thuật chất lượng - thi công an toàn là phòng chức năngtham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc Công ty trong các lĩnh vực:

- Công tác thẩm định phê duyệt thiết kế, dự toán và tổng dự toán

Trang 22

- Công tác quản lý kỹ thuật, chất lượng.

- Công tác quản lý tiến độ thi công, nghiệm thu thanh quyết toán

- Công tác thi công, an toàn lao động, vệ sinh môi trường

- Công tác ứng dụng các công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất

- Các công việc khác do Tổng giám đốc Công ty trực tiếp giao nhiệm vụ

 Phòng kinh tế - kế hoạch

Phòng Kinh tế - Kế hoạch là phòng chức năng tham mưu cho Tổng giám đốcCông ty trong các lĩnh vực:

- Công tác kế hoạch thống kê

- Công tác hợp đồng kinh tế, hợp đồng giao khoán

- Công tác thẩm định phê duyệt thiết kế, dự toán và tổng dự toán

- Công tác đấu thầu

- Công tác nghiệm thu thanh quyết toán

- Các công việc khác được Tổng giám đốc giao

 Phòng đầu tư

Phòng Đầu tư là phòng chức năng tham mưu giúp Hội đồng quản trị vàBan Tổng giám đốc Công ty trong các lĩnh vực sau:

- Công tác xây dựng định hướng chiến lược đầu tư

- Công tác quản lý thực hiện dự án đầu tư

- Công tác liên doanh, liên kết, phát triển Công ty

 Phòng kinh doanh và Quản lý thiết bị vật tư

Phòng Kinh doanh và Quản lý thiết bị vật tư có chức năng tham mưu, giúpviệc cho Tổng giám đốc Công ty trong các lĩnh vực sau:

- Kinh doanh nhà ở, văn phòng và các dịch vụ đô thị

- Nghiên cứu và phát triển sản phẩm

- Cung cấp thiết bị thi công, nguyên vật liệu chính cho các đơn vị trực thuộc

và các khách hàng

- Quản lý vật tư cơ giới trong toàn Công ty

- Công tác xây dựng, duy trì và phát triển thương hiệu của Công ty

- Các công việc khác do Tổng giám đốc giao

Trang 23

- Xây dựng kế hoạch huy động vốn trung, dài hạn, huy động kịp thời cácnguồn vốn tài chính có sẵn vào sản xuất kinh doanh, kế hoạch tạo lập và sử dụngcác nguồn tài chính có hiệu quả, đảm bảo tăng cường tiết kiệm chi phí sản xuất, hạgiá thành sản phẩm, tăng tích luỹ.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính và lập báo cáo tình hìnhthực hiện kế hoạch tháng, quý, năm

- Xác định mức vốn lưu động, nguồn vốn ngắn hạn đảm bảo cho sản xuấtkinh doanh

- Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán phù hợp nhằm tạo điều kiện điều hành vàquản lý kinh tế ở các đơn vị trực thuộc và Công ty

2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư đô thị và khu công nghiệp Sông Đà 7

2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty, ta sẽ tiến hành so sánhtổng tài sản và tổng nguồn vốn của qua các năm 2008, 2009 và 2010 Từ đó ta cóthể thấy được quy mô vốn của công ty là lớn hay nhỏ và sự biến đổi của nó, đồngthời ta có thể thấy được khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau của côngty

Đối tượng phân tích chủ yếu là các chỉ tiêu kinh tế trên BCĐKT qua cácnăm, việc phân tích giúp cho đánh giá tình hình tài chính của công ty một cách tổngquát nhất về sử dụng vốn và nguồn vốn Sau khi so sánh đối chiếu số liệu trên theonguyên tắc: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn

Trang 25

Bảng 2.1: Quy mô vốn của Công ty

Trang 26

Trong bảng 2.1, ta có thể thấy rằng trong năm 2008, 2009 quy mô vốn củaCông ty ít biến động, cơ cấu tương đối giống nhau Do Công ty mới được thành lậpvào năm 2007, nên phần tài sản chủ yếu tập trung vào đầu tư ngắn hạn và tài sản lưuđộng, chiếm 76,3% và 62,1% tổng tài sản lần lượt vào các năm 2008 và 2009 Vốnchủ sở hữu cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn 75,9% và 85,1% lần lượtvào các năm 2008, 2009 Năm 2009, Công ty đã huy động được các nguồn kinh phí,nguồn vốn kinh doanh, các quỹ nên vốn chủ sở hữu tăng thêm 54.912.705.287 đồngtập trung đầu tư vào tài sản lưu động và tài sản cố định.

Sang đến năm 2010, Công ty bắt đầu thực hiện một số dự án xây dựng lớn, tathấy rằng tỷ trọng vốn đã thay đổi đáng kể so với năm 2008 và 2009, nguồn vốn nợvay chiếm 83,1% tổng nguồn vốn, chủ yếu đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư dàihạn để thực hiện các công trình xây dựng Nguồn vốn tăng chủ yếu do các khoản nợtăng, Nợ phải trả tăng lên rất nhiều so với năm 2009 là 623.645.542.992 đồng, do

đó vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tổng tài sản rất nhiều điều này cho ta thấy sự rủi ro lớn

về khả năng thanh toán, trả nợ của Công ty Ta có thể thấy rằng sự tăng lên rõ rệtcủa tài sản cũng như nguồn vốn của Công ty qua các năm 2008, 2009 và 2010 trong

đó năm 2009 tăng 55.294.353.376 đồng so với năm 2008, năm 2010 tăng633.827.382.433 đồng so với năm 2009 Điều này chứng tỏ, Công ty đang mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên qua sự so sánh trên chúng ta chưa thể kếtluận một cách đầy đủ công ty làm ăn đạt hiệu quả cao hay thấp, có bảo toàn và pháttriển vốn của mình một cách đầy đủ hay không mà chúng ta phải tiếp tục xem xétqua các phần phân tích tiếp theo

2.2.2 Phân tích các tỷ số tài chính

2.2.2.1 Phân tích các tỷ số về khả năng thanh toán

Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của Công ty là thước đo khả năng thanhtoán ngắn hạn của Công ty, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạnđược trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạntương đương với thời hạn của các khoản nợ đó

Trang 27

Bảng 2.2: Khả năng thanh toán hiện hành

Đơn vị: đồng

TSLĐ 66.357.419.242 88.363.220.122 228.042.858.209

Nợ ngắn hạn 20.937.606.493 21.319.254.582 336.356.095.470Khả năng thanh

Qua bảng 2.2, ta có thể thấy rằng tỷ số khả năng thanh toán hiện hành củaCông ty qua các năm 2008, 2009 là rất cao, điều đó thể hiện rằng khả năng thanhtoán hiện hành là tốt, làm giảm rủi ro tài chính Tuy nhiên do con số này trong hainăm 2008, 2009 cao nên Công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so vớinhu cầu, cho thấy được sự đầu tư chưa được hiệu quả Từ năm 2009 đến năm 2010thì tỷ số khả năng thanh toán hiện hành giảm rất nhiều từ 4,14% xuống 0,68%, chothấy khả năng thanh toán hiện hành là rất thấp Điều này cho ta thấy Công ty đang

mở rộng hoạt động đầu tư kinh doanh, tăng quy mô về tài sản cố định và đầu tư dàihạn, tuy nhiên nó cũng làm cho nguy cơ rủi ro tài chính tăng cao Nhìn vào các chỉ

số trên thì ta thấy đây là một vấn đề mà Công ty cần lưu ý trong thời gian tới

Trong các năm gần đây, và với đặc thù là Công ty đầu tư xây dựng mới đượcthành lập nên các khoản dự trữ, hàng tồn kho của công ty là rất thấp và hầu như làkhông có nên tỷ số thanh toán nhanh ta có thể coi như là xấp xỉ tỷ số thanh toánhiện hành Tuy nhiên, thực chất thì trong tổng số tiền và các khoản tương đương vớitiền bao gồm các khoản phải thu, đây là khoản mà công ty không thể chủ động đểhuy động cho thanh toán nhanh, tức thời Do vậy, cần phải xem tỷ trọng của lượngtiền mặt cũng như tiền gửi ngân hàng so với tài sản lưu động

2.2.2.2 Phân tích tỷ số về khả năng cân đối

Các nhà quản lý cần đánh giá hiệu quả huy động vốn nhằm đảm bảo đạtđược hiệu quả sử dụng vốn tối đa Điều này không những quan trọng đối với doanhnghiệp mà nó cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, các nhà cung cấp,ngân hàng cho vay… Nếu khả năng tự chủ tài chính của Công ty lớn mạnh sẽ tạo

Trang 28

niềm tin cho các đối tượng có liên quan, do đó tạo thuận lợi cho Công ty về nhiềumặt trong kinh doanh và tăng nguồn vốn kinh doanh cho Công ty.

Các tỷ số về cân đối vốn được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ

sở hữu so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với công ty Nó tăng làm gia tăng tiềmnăng tạo ra lợi nhuận và đồng thời cũng làm tăng rủi ro cho các chủ sở hữu.Vì tăngvốn bằng cách vay nợ làm tăng khả năng vỡ nợ của công ty nên nguy cơ không thuhồi được nợ của các chủ nợ tăng, và nếu Công ty thu được lợi nhuận từ tiền vay thìlợi nhuận dành cho các chủ sở hữu sẽ tăng đáng kể

Năm 2008, tỷ số này của Công ty là 24,1% đến năm 2009 giảm còn 14,9%

và năm 2010 tăng lên 83,1% Do đó, các nhà lãnh đạo cần chú ý đến các chính sáchtín dụng và việc đầu tư vào tài sản, giảm bớt hệ số nợ ở mức vừa phải để tạo niềmtin đối với các chủ nợ

2.2.2.3 Phân tích tỷ số về khả năng hoạt động

Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản Chỉtiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu để tính toán các tỷ số này Để xem xét khảnăng hoạt động của công ty, ta cần xem xét các bảng số liệu sau:

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh

Ngày đăng: 21/06/2023, 19:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quy mô vốn của Công ty - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.1 Quy mô vốn của Công ty (Trang 25)
Bảng 2.2: Khả năng thanh toán hiện hành - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.2 Khả năng thanh toán hiện hành (Trang 27)
Bảng 2.3: Hệ số nợ - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.3 Hệ số nợ (Trang 28)
Bảng 2.5: Tỷ số về khả năng hoạt động - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.5 Tỷ số về khả năng hoạt động (Trang 29)
Bảng 2.6: Tỷ số về khả năng sinh lợi - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.6 Tỷ số về khả năng sinh lợi (Trang 32)
Bảng 2.7: Tình hình phân bổ vốn - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.7 Tình hình phân bổ vốn (Trang 34)
Bảng 2.8: Kết cấu nguồn vốn của Công ty - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.8 Kết cấu nguồn vốn của Công ty (Trang 37)
Bảng 2.9: bảng tài trợ - Tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư khu đô thị và khu công nghiệp sông đà 7
Bảng 2.9 bảng tài trợ (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w