1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh tt huế

156 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Huế
Chuyên ngành Khoa học quản lý và Du lịch
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

uống, nghĩ dưỡng nhằm mục tiêu lợi nhuận, đưa đến lợi ích kinh tế cho cá nhân, tổchức thực hiện nó [11].- Thứ ba, “Cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du l ịch

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, du lịch Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Du lịch được coi là một ngành kinh tế tổng hợp, gópphần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước; thúc đẩy, bảo tồn và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Du lịch xác lập và nângcao vị thế, hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam năng động, thân thiện, hòabình trên trường quốc tế; góp quần quan trọng vào tiến trình hội nhập kinh tế vàthực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng và

Nhà nước Có thể thấy, du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của

nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong những năm qua Đảng, Nhà

nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của ngành du lịch Công tác

quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch luôn được chú trọng, không ngừng đổimới và hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong công cuộccông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế

Việt Nam đang nhanh chóng trở thành một trong những điểm thu hút du lịch

ở khu vực Đông Nam Á, trong đó Thừa Thiên Huế là tỉnh có rất nhiều điểm đến du

lịch với 5 di sản, tài nguyên du lịch có giá trị lớn về vật thể và phi vật thể: Quần thể

di tích cố đô Huế, Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản triều Nguyễn, Thơ văn kiến trúc Cung đình và Nhã nhạc cung đình Huế Vì thế, du lịch Thừa Thiên Huế đã và đang

đóng một vai trò khá quan trọng trong ngành du lịch vùng kinh tế trọng điểm miền

Trung, sự phát triển của du lịch Thừa Thiên Huế đã đóng góp một phần không nhỏvào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chung và sự phát triển kinh tế - xãhội (KT-XH) của tỉnh nói riêng

Sở Du lịch Thừa Thiên Huế là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực dulịch thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế Trong thời gian qua công tácquản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được những

Trang 2

kết quả đáng ghi nhận trong nhiều mặt, cơ bản đảm bảo quản lý hoạt động du lịch

theo đúng quy định pháp luật Tuy nhiên, Sở Du lịch mới được thành lập từ ngày

06/6/2016, chức năng quản lý nhà nước về du lịch được tách ra khỏi cơ quan Sở

Văn hóa, Thể thao và Du lịch nên việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du

lịch trong thời gian tới là cần thiết Thực tế thời gian qua tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn

chưa sử dụng và phát huy được hết tiềm năng và lợi thế về phát triển du lịch của

mình, đặc biệt công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh vẫn còn bộc lộ nhiềutồn tại, hạn chế cần sớm được tháo gỡ Vấn đề hoàn thiện và nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước đối với ngành du lịch, nhất là trong việc quản lý các dịch vụ, côngtác xúc tiến, quảng bá du lịch, quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đảm bảochất lượng và uy tín đối với khách hàng đang trở thành đòi hởi cấp thiết Điều này

đặt ra cho tỉnh nhiệm vụ quan trong là phải hoàn thiện và nâng cao hơn nữa quản lýnhà nước về du lịch, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, về lâu dài sẽ phát triển ổnđịnh và hiệu quả cao

Trong điều kiện hiện nay, để đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với

hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, cần có những công trình nghiêncứu về cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới và hoàn thiện công tác này

Xuất phát từ nhận thức về cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả luận văn đã

lựa chọn đề tài: “Hoàn thi ện công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Thừa Thiên Hu ế” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 M ục tiêu chung

Thông qua đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch, đề tài nhằm đề

xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch củatỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 3

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnhThừa Thiên Huế đến năm 2022.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Là công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về du lịch

Thừa Thiên Huế tại Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2017;

- Phạm vi nội dung: Luận văn chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý nhà nước

được thực hiện bởi chính quyền cấp tỉnh như nghiên cứu các chính sách, kế hoạch,

hoạt động quản lý nhà nước về du lịch

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

tế du lịch, phát triển du lịch, quản lý nhà nước về du lịch; Luật Du lịch;

- Niêm giám thống kê của tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2001 đến năm 2016.

- Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ngoài ra còn tham khảo các đề tài, các báo cáo khoa học, các tạp chí chuyênngành; Các số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch của các địa phương lân cận;qua các cổng thông tin điện tử, mạng Internet

Tất cả các tài liệu được thu thập bằng cách sưu tầm, sao chép, trích dẫn trongluận văn theo danh mục các tài liệu tham khảo Các tài liệu này cung cấp nhữngthông tin cần thiết cho phần nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 4

* Số liệu sơ cấp:

Được thu thập từ điều tra, phỏng vấn CBCC Sở Du lịch và một số doanh

nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế bằng bảng hỏi Tiến hành điều trakhảo sát 20 cán bộ công chức và 130 lãnh đạo, nhà quản lý các doanh nghiệp (chọnngẫu nhiên mỗi đơn vị từ 1-2 người được điều tra, sử dụng thang đo Likert 5 mức

độ để đánh giá, thỏa mãn điều kiện tối thiểu cần 26 x 5 = 130 đối tượng khảo sát)

- Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên khônglặp, nội dung điều tra chủ yếu tập trung:

+ Phần 1: Thông tin đối tượng được tiến hành điều tra;

+ Phần 2: Nội dung đánh giá về công tác quản lý nhà nước về du lịch trongthời gian vừa qua;

4.2 Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh:

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh nhằm so sánh về chỉ tiêu, về chuyểndịch cơ cấu kinh tế của tỉnh qua các năm; để có cái nhìn về nguyên nhân tác động đếncác chỉ tiêu nhằm tìm ra nguyên nhân tác động đến sự phát triển của ngành du lịch

+ So sánh định lượng: So sánh dữ liệu thống kê hoạt động du lịch qua các

năm Từ đó thấy được sự khác biệt trước và sau khi thực hiện các giải pháp quản lý

để có những định hướng cho những năm tiếp theo

+ So sánh định tính: Sử dụng những chỉ tiêu về mặt xã hội và môi trường để

đánh giá

- Ph ương pháp chuyên gia chuyên khảo:

Thông qua việc trao đổi với các cán bộ có kinh nghiệm về lĩnh vực quản lý

nhà nước về du lịch của Sở Du lịch Từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên

cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp thống kê mô tả:

Là phương pháp sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp (số tuyệt đối, số tương đối, số

bình quân) để mô tả và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Sở Dulịch trong 6 năm 2012 - 2017

Trang 5

- Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu sau khi mã hóa, làm sạch và tiến hành

+ Kiểm định độ tin cậy của thang đo: Sử dụng Cronbach’s Alpha để kiểm tra

độ tin cậy các tham số ước lượng trong tập dữ liệu theo từng nhóm yếu tố trong mô

hình Những biến không đảm bảo độ tin cậy sẽ bị loại khỏi tập dữ liệu

+ Thống kê mô tả: các kết quả thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đưa ra các

đặc điểm chung về đối tượng điều tra và các thông tin thống kê ban đầu

4.3 Công cụ xử lý và phân tích

Luận văn sử dụng phần mềm Microsoft Excell 2013, phần mềm SPSS để xử

lý, tính toán các tiêu chí, từ đó phân tích số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, Mục lục, các danh mục và phụ lụcmẫu biểu, tài liệu tham khảo, nội đung luận văn được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về du lịch trong cácđơn vị hành chính nhà nước

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Thừa Thiên HuếChương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về

du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 6

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

nước trên thế giới Đối với nhiều quốc gia, du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng,

nguồn thu ngoại tệ lớn Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một trongnhững tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống Nhờ vậy, mà du lịch đã trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là dịch

vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi, không chuyển quyền sở hữukhi sử dụng, không thể di chuyển, có tính thời vụ, tính trọn gói, tính không đồng nhất.Tuy nhiên, thế nào là du lịch xét từ góc độ của người du lịch và bản thân người làm dulịch, thì cho đến nay vẫn còn có sự khác nhau, chưa thống nhất trong quan niệm giữanhững người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này

Vào năm 1941, ông w Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp những hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến” [18,7]

Tại Hội nghị của LHQ về du lịch họp tại Rome - Italia (21/8 - 5/9/1963), các

chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [18,7]

Trang 7

Các học giả Trung Quốc đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ về du lịch: Du lịch

là hiện tượng kinh tế - xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, là

sự tổng hòa các quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thỏa mãn mục đích chủyếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giới thiệu văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư

mà tạm thời lưu trú của mọi người dẫn tới

Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of

Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến

một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải

để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…”[18,8]

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền” [18,8]

Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhànghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiêncứu khác nhau:

Các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách

2 nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt:

- Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con

người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh,

di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịch được xem xét

ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch

- Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao vềnhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dântộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài làtình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang

Trang 8

lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế [18,8]

Theo Luật Du lịch do Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Namkhóa 11, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra định nghĩa như sau:

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [1,2]

Từ những khái niệm trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch

như sau:

- Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên;

- Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn;

- Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡnghoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứuthị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thunhập nơi đến viếng thăm Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhàcung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và cư dân ở địa phương

Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần

thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán

bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngànhkinh tế, do đó mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đócũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để

kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao

dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết,… Chính

vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển

như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hóa khác

1.1.1.2 Khái ni ệm hoạt động du lịch

Hoạt động du lịch có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế pháttriển, là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, những lợi ích mà hoạt động du lịch

đem lại thật là to lớn:

Trang 9

- Hoạt động du lịch giúp phục hồi và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, cótác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.

- Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiệntiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc Làmlành mạnh nền văn hóa địa phương, giúp cho việc khai thác, bảo tồn các di sản vănhóa của dân tộc, đổi mới truyền thống cổ xưa, phục hồi ngành nghề truyền thống,bảo vệ vùng sinh thái Từ đó hấp thụ những yếu tố văn minh của nhân loại nhằm

nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành

những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân dân… Điều này quyết định sự pháttriển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội

- Hoạt động du lịch làm tăng khả năng lao động, góp phần giải quyết vấn đề

lao động và việc làm, trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và

nâng cao hiệu quả của nó

- Hoạt động du lịch đóng vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh

giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thêm về đất nước, con người, lịch

sử truyền thống dân tộc, qua đó tranh thủ sự đoàn kết giúp đỡ của các nước

Ngày nay, khi mà du lịch được xem là ngành kinh trọng điểm, ngày càngkhẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân thì khái niệm về hoạt

động du lịch được hiểu một cách chính xác hơn

Luât du lịch 2005 đưa ra khái niệm hoạt động du lịch như sau: “Hoạt động

du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” [1,2] Với cách

tiếp cận này, hoạt động du lịch được hiểu trên ba khía cạnh

- Thứ nhất, “Hoạt động của khách du lịch” nghĩa là sự di chuyển đến vùng

đất khác với vùng cư trú thường xuyên của họ để phục vụ những mục đích: du lịch,

nghĩ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu những nền văn hóa, nghệ thuật mới, [11]

- Thứ hai, “Tổ chức kinh doanh du lịch” được hiểu là những cá nhân, tổ

chức tổ chức thực hiện các hoạt động mang bản chất du lịch như: Vận chuyển khách

du lịch, cung cấp nhà nghĩ, lưu trú và các hoạt động thương mại như dịch vụ ăn

Trang 10

uống, nghĩ dưỡng nhằm mục tiêu lợi nhuận, đưa đến lợi ích kinh tế cho cá nhân, tổchức thực hiện nó [11].

- Thứ ba, “Cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến

du l ịch” được hiểu là các cơ quan, ban ngành có liên quan từ địa phương đến trung

ương phối hợp tổ chức, quản lý, kiểm tra, phục vụ, điều phối hoạt động của khách du

lịch và tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo cho các đối tượng này,thõa mãn lợi ích của họ nhưng vẫn phải tuân thủ và thực hiện quyền và nghĩa vụ theo

đúng quy định của luật pháp [11]

Như vậy, hoạt động du lịch ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp

và gián tiếp cho du lịch Ở một chừng mực nhất định, hoạt động du lịch có thể được

coi là đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của du lịch

1.1.2.1 Đặc điểm

Xuất phát từ các khái niệm về du lịch và hoạt động du lịch, có thể rút ra một số

đặc điểm chủ yếu của du lịch như sau:

M ột là, du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ.

Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật và công nghệ pháttriển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia

tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người Từ đó,

hoạt động du lịch trở thành một ngành kinh tế độc lập Ở các nước phát triển và đangphát triển, tỷ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên Du lịch là mộtngành kinh tế tổng hợp, bởi vậy sản phẩm của nó có những đặc điểm chung của dịch

vụ (như sử dụng dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng ) vừa mang những đặc điểm riêng củadịch vụ du lịch [11]

Hai là, du l ịch nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du

l ịch trong thời gian đi du lịch.

Du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầucho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân Du lịch lànhằm thỏa mãn những nhu cầu của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở

Trang 11

thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin

về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác Như vậy, du lịch là loại hình dịch

vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng

văn minh, hiện đại Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu

nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi

vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ

dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người [11]

Ba là, du l ịch được xảy ra trong cùng một thời gian và không gian.

Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa

đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng

hóa Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quantrọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng [11]

B ốn là, du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch.

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi ích thiếtthực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội Tuy nhiên,

sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế Vì vậy, ở nhiều

nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi

nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm

xã hội Do đó, du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách dulịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gialàm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch [11]

Năm là, du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định.

Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội Du lịchchỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữacác dân tộc Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trạngmất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi

trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch Ngược lại, du lịch

có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con

Trang 12

người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa

bình và hữu nghị Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần cónhững biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa

phương với mức độ nhất định cũng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và

muốn khôi phục phải có thời gian Mặt khác, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi

trường cũng là những nhân tố rất quan trọng tác động đến khách du lịch [11]

1.1.2.2 Vai trò c ủa du lịch trong nền kinh tế quốc dân

Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra những chính sách hấp dẫn cũng như cáckhoản đầu tư lớn nhằm thu hút và phát triển Du lịch theo hướng lâu dài bởi họ nhậnthấy những lợi thế mà nó đem lại Du lịch là một ngành dịch vụ mà sản phẩm của nódựa trên và bao gồm tất cả sản phẩm có chất lượng cao của nhiều ngành kinh tế khácnhau Vì vậy, ngày nay du lịch không chỉ là ngành kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế

cao mà là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, tạo ra tích lũy

ban đầu cho nền kinh tế, là phương diện quan trọng để thực hiện các chính sách mởcửa, là cầu nối giữa thế giới bên ngoài và bên trong

Du lịch nhằm thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa vật chất và cáchàng hóa phi vật chất Do đó, nhu cầu về dịch vụ rất được du khách quan tâm Một

đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch và tiêu dùng hàng hóa

khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một lúc, cùng một nơi sản xuất ra

chúng Như vậy, ảnh hưởng kinh tế của du lịch được thể hiện thông qua tác động qua

lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch Quá trình này tác động lênlĩnh vực phân phối, lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác nhaucủa quá trình tái sản xuất xã hội Trên bình diện chung, hoạt động du lịch tác động

đến cán cân thu chi của khu vực và của đất nước Du khách mang ngoại tệ vào đấtnước mà họ đi du lịch, làm tăng nguồn thi ngoại tệ cho nước đến, ngược lại phần thu

ngoại tệ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch nước ngoài

So với ngoại thương ngành du lịch có nhiều ưu thế nổi trội Du lịch quốc tếxuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm được

lao động, chênh lệch giá giữa người mua và người bán không quá cao Ngược lại, nó

Trang 13

cũng có ảnh hưởng tiêu cực, rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả

hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng của địa phương, nhất là những người

mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch

Việt Nam, với chủ trương mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”,nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp

nước ngoài vào hợp tác cùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động

có thu nhập cao, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước tăng trường với nhịp độ cao, mứcsống của người dân ngày càng được cải thiện, giá cả trong nước ổn định Du lịchquốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho đất nước

Có thể thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của ngành du lịch, giá trị đóng gópthực sự của ngành du lịch trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Do vậy, việc xác định

rõ sự đóng góp và tác động tích cực của nó đối với nền kinh tế của mỗi quốc giacũng như toàn cầu là vô cùng cần thiết, qua đó thấy được ý nghĩa cốt lõi của vấn đềcần xem xét, để có cái nhìn tích cực hơn về du lịch và đưa ra phương hướng, chiến

lược phát triển một cách hiệu quả

nước về du lịch là một lĩnh vực của quản lý nhà nước, là hoạt động của hệ thống các

cơ quan nhà nước nhằm quản lý vi mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống cácchính sách, chương trình, văn bản quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo, điều

hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộccác thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực du lịch

Trang 14

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau về quản lýnhà nước đối với hoạt động du lịch, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như sau:

“Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng

quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động dulịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch

trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội đặt ra” Quản lý nhànước về du lịch nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình

phát triển đất nước và theo quy định của pháp luật [12]

Ở Việt Nam, cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực du

lịch trong phạm vi cả nước là Tổng cục Du lịch Tổng cục Du lịch thực hiện chức

năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước

và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trong phạm vi cả nước, quản lý các dịch vụcông về du lịch theo quy định của pháp luật

1.2.1 2 Đặc điểm quản lý nhà nước về du lịch

Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch diễn ra trongnền kinh tế thị trường Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp,

năng động và nhạy cảm Vì vậy, hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm

lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà

nước - vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức hoạt động du lịch Để hoàn thành sứ

mệnh của mình, Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch,…và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý hoạt động du lịch

Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch…phát triển du lịch là cơ sở, là công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt

động du lịch

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp với

sự đa dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động… Dù phức tạp thế

nào đi chăng nữa, sự quản lý của Nhà nước cũng phải đảm bảo cho hoạt động du

lịch có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng và có tính định hướng rõ rệt Do đó,

Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế

hoạch phát triển du lịch và dùng các công cụ này để tác động vào lĩnh vực du lịch

Trang 15

Ba là, quản lý nhà nước đối với du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy nhà nướcmạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có trình độ,

năng lực thật sự

Quản lý nhà nước đối với du lịch phải tạo được những cân đối chung, điềutiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lýthuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổchức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước không thể khác hơn là phải được

tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương

Bốn là, quản lý nhà nước còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của sự

gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật trong nền kinh tế thị trường với tư cách là

công cụ quản lý

Nền kinh tế thị trường với những quan hệ kinh tế rất đa dạng và năng động

đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt là khi vấn đề toàn cầu hóa

kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là mục tiêu mà các quốc gia hướng tới Trong bốicảnh đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉvới điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế Đây là sựthách thức lớn đối với mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Bởi vì, mọi quan hệ hợptác dù ở bất cứ lĩnh vực nào và với đối tác nào cũng cần có trình tự nhất định và chỉ

có thể dựa trên cơ sở chính sách, pháp luật

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch

Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa của hoạt động du lịch, việc hợp tácliên kết luôn đi liền với cạnh tranh đòi hỏi mỗi nước phải có chiến nước tổng thểphát triển du lịch xuất phát từ điều kiện của mình, vừa phát huy được tính đặc thù,

huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch vừa phù hợp với

thông lệ quốc tế, tranh thủ được nguồn lực bên ngoài, để có điều kiện hội nhập Tùy

theo điều kiện của từng quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển mà xác định nội

dung quản lý nhà nước về du lịch cho phù hợp Ở nước ta, nội dung quản lý nhà

nước về du lịch được quy định cụ thể tại Điều 10, Luật Du lịch 2005, mang tính

pháp lý chặt chẽ buộc các cấp chính quyền và các doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực du lịch phải tuân thủ

Trang 16

Để du lịch thúc đẩy nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn

hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội… nội dung quản lý

nhà nước về du lịch ở chính quyền cấp tỉnh có các nội dung chủ yếu sau đây [1]:

1.2.2.1 Xây d ựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chính sách trong ho ạt động du lịch

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng từ các quy địnhchính sách, pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo Để các quy

định, chính sách đó đi vào cuộc sống thì Nhà nước nói chung và các sở ban ngành

liên quan phải xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chúng một cách nghiêmchỉnh Như vậy, muốn quản lý sự phát triển ngành du lịch tại địa phương, các cơ

quan nhà nước ở địa phương cần chỉ đạo thực hiện các luật lệ, chính sách của Trungương ban hành có hiệu quả ở địa phương mình, ban hành các văn bản quy phạm

pháp luật tại địa phương xuất phát từ yêu cầu quản lý phát triển ngành ở địa

phương nhưng không trái với luật pháp của Nhà nước

Mục đích là thiết lập môi trường pháp lý để đưa các hoạt động du lịch vàokhuôn khổ, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển Tăng cường công tác kiểmtra, giám sát việc thực hiện các văn bản, các chính sách, pháp luật du lịch trên địabàn, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổi cácchính sách của mình, xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành,giảm tối đa sự trùng lắp gây khó khăn cho hoạt động du lịch

Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo theo đúng quy

định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thôngthoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển

Phải đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm minh trong quá trình thực thi vănbản quy phạm pháp luật

1.2.2.2 Xây d ựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp,

do đó, nhà nước phải đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch pháttriển du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch để thúc đẩy du

Trang 17

lịch phát triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn của quốc gia Đề

làm được điều này, Nhà nước phải xác định được chiến lược tổng thể phát triển

du lịch phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huy được tính đặc thù, huy

động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa phù hợp với

thông lệ quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài

Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu cuối cùng là các đơn vị kinh doanh cólợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí,kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa

phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kêt cấu hạ tầng các khu,điểm du lịch,…hoặc đầu tư xây dựng cơ sơ vật chất - kỹ thuật như nhà hàng, khách

sạn,…Vì thế, các đơn vị quản lý nhà nước về du lịch phải hết sức quan tâm đến việcxây dựng, công khai và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch pháttriển du lịch của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả

nước và phải đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới ngày càng

sâu rộng gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2.3 T ổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch

Du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, do đó quản lý nhà nước đối vớihoạt động du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường,

ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi

hoạt động du lịch phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy quản lý

nhà nước phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địaphương, đồng thời các cơ quan trong bộ máy đó phải luôn được phối hợp chặt chẽ

với nhau để đảm bảo du lịch luôn có sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động

Hiện nay, theo Luật Du lịch (2005) thì hoạt động du lịch chịu sự quản lýthống nhất của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch và trao cho Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước về du lịch và chịu trách nhiệm trước

Chính phủ Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và

Trang 18

theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà

nước về du lịch ở trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch

Tổng cục Du lịch là tổ chức trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thực hiệnchức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà

nước và tổ chức thực thi pháp luật về du lịch trong phạm vi cả nước, quản lý các

dịch vụ công về du lịch theo quy định của pháp luật

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thựchiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương

và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu

du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Các cơ quan quản lý nhà nước về

du lịch ở Trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối quan hệ chặtchẽ, liên quan mật thiết với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và thực hiệnquản lý nhà nước về du lịch

1.2.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch

Cũng như các lĩnh vực khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động dulịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Bởi lẽ, từ cạnhtranh toàn cầu, cạnh tranh quốc gia, giữa các ngành các doanh nghiệp cho đến cạnhtranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất

lượng nguồn nhân lực Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địaphương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng

nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên

Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cần phải có

chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậymới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương

Trang 19

1.2.2.5 Qu ản lý hoạt động xúc tiến quảng bá và kinh doanh du lịch

- Đối với hoạt động quảng bá:

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, xúc tiến quảng bá du lịch là mộtđiều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành du lịch Việc tạo sự liên kết chặt chẽhơn giữa các doanh nghiệp du lịch và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ tạo nên

một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt độngxúc tiến du lịch ở địa phương Một mặt, chính quyền cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụquản lý công tác xúc tiến du theo quy định của pháp luật Mặt khác, làm “đầu nối”thông qua việc tổ chức và thiết lập các kênh thông tin để các doanh nghiệp du lịch

có cơ hội giới thiệu, giao dịch với các tổ chức và doanh nghiệp có uy tín đang hoạtđộng tại các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới nhằm giúp các

doanh nghiệp có những cơ hội lựa chọn đối tác hợp tác kinh doanh

Hơn nữa, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng,

cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch của địa phương thông

qua việc tổ chức các cuộc hội thảo, tổ chức các đoàn công tác kết hợp tham quan

trao đổi kinh nghiệm với các địa phương khác trong nước hoặc nước ngoài…

- Đối với hoạt động kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, vai tròcủa quản lý nhà nước đã được thực tế khẳng định và nó càng trở nên quan trọng.Cùng với việc sử dụng và phát huy khả năng điều tiết, chi phối của kinh tế, chínhquyền cấp tỉnh cần phải quan tâm đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của cácdoanh nghiệp trên địa bàn Trước hết phải hoàn thành cơ chế chính sách, biện pháp

hành chính để quản lý sắp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch do địaphương quản lý, theo hướng từng bước trở thành các doanh nghiệp kinh doanh hiệnđại, chuyên nghiệp, có khả năng mở rộng các hoạt động du lịch liên vùng, khu vực

và kinh doanh lữ hành quốc tế Mặt khác, cần có chương trình hỗ trợ cho các doanhnghiệp du lịch với nhiều hình thức như hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, hỗ trợmột phần kinh phí quảng bá thương hiệu, xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch và đàocác bộ quản lý, lao động tay nghề cao

Trang 20

1.2.2.6 H ợp tác quốc tế, khu vực về lĩnh vực du lịch

Nâng cao tính liên kết là một điều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành

du lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên ngành, liên vùng,liên quốc gia Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp du lịch và cơ quanquản lý nhà nước cũng sẽ tạo nên một môi trường, cơ chế kinh doanh thuận lợi,công bằng Để đạt được điều này, một mặt, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch

ở trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ, liên

hệ mật thiết với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về du lịch; thực hiệnnguyên tắc và các cơ chế, chính sách phát triển du lịch của quốc gia nói chung và ở

địa phương nói riêng nhằm đảm bảo đạt hiệu lực, hiệu quả

Mặt khác, trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, để tạo điều kiện tốt hơncho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương, chính quyền cấptỉnh cần làm tốt việc cung cấp thông tin, cập nhật chính sách mới về du lịch, tổ chứctập huấn cho cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ quản trị doanh nghiệp để giúp họhiểu rõ về các cam kết, nghĩa vụ của Nhà nước và của doanh nghiệp theo luật phápquốc tế và điều kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới

Chính quyền cấp tỉnh cần phải trở thành trung tâm gắn kết giữa các doanhnghiệp du lịch trên địa bàn với thị trường liên vùng, khu vực và trên thế giới, nhất làvới các trung tâm kinh tế lớn Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động xúc du lịch, tổchức các hội thảo, famtrip kết hợp tham quan trao đổi kinh nghiệm với các địa

phương khác trong nước và quốc tế

1.2.2.7 Công tác thanh tra, ki ểm tra hoạt động du lịch

Cơ quan nhà nước địa phương phải thường xuyên thực hiện công tác kiểmtra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn

kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra như khai thác quá mức các công trình,

khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh

du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương Tạo lập một môi

trường kinh doanh, môi trường du lịch an toàn, thân thiện, lành mạnh

Trang 21

Để thực hiện tốt nội dung này, cơ quan nhà nước cần phải làm tốt công tác

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư

khai thác các điểm, khu du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt độngtheo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như:kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên du lịch đồng thời cần xử

lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

1.3.1.1 Nhân t ố về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch

Là một hoạt động đặc trưng, du lịch chỉ phát triển được trong những điều kiện

mà nó cho phép, bên cạnh đó do đặc điểm vị trí địa lý từng vùng mà nó tạo nên nhữngtiềm năng du lịch khác nhau Điều kiện tự nhiện là toàn bộ các điều kiện môi trường tự

nhiên như: địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều tài nguyên

du lịch tự nhiên và nhân văn… Đây là cơ sở cho quy hoạch phát triển du lịch và cácbiện pháp chính sách để phát triển sản phẩm du lịch, khai thác và bảo vệ tài nguyên dulịch Những yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi đã giúpcho việc hoạch định phát triển du lịch và đưa ra thực thi các quyết định quản lý nhà

nước về du lịch một cách chính xác, mang tính lâu dài

1.3.1.2 Nhân t ố kinh tế - xã hội

Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tác động tới sựphát triển của du lịch Khi các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của một điểm du lịchbiến động có thể là nguyên nhân làm vai trò và sự đóng góp của ngành du lịch cho nềnkinh tế trở nên không ổn định Khi kinh tế phát triển ổn định với môi trường chính sáchthuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp và du khách thuận lợi tham giavào các hoạt động du lịch, điều đó cũng thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước

Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón

tiếp và cung ứng dịch vụ cho khách hàng Có hai loại cơ sở vật chất kỹ thuật đó là: cơ

sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng xã hội Các thành tựu kinh tế, chính trịcũng có sức thu hút đối với nhiều khách du lịch

Trang 22

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

1.3 2.1 Đường lối phát triển du lịch

Đường lối phát triển du lịch có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với mỗi quốc gia,

mỗi địa phương, bởi nó chính là chìa khóa đem lại sự thành công cho ngành côngnghiệp không khói này Đường lối phát triển du lịch được biểu hiện cụ thể qua cácchính sách, chiến lược, phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch về tổng thể dài hạn

như: chiến lược đầu tư, xúc tiến, quảng bá du lịch, chiến lược về sản phẩm, nâng cao

chất lượng các dịch vụ, giữ gìn tôn tạo và phát triển tài nguyên môi trường đi kèm với

đó là những giải pháp cơ bản nhất để nhằm thực hiện chiến lược Nó góp phần hỗ trợ

và giúp các nhà quản lý chủ động trong kế hoạch đầu tư phát triển ngành du lịch, tạo cơ

sở xây dựng các quyết sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế

Bên cạnh đó, du lịch là ngành kinh tế đa ngành, đa vùng và đa lĩnh vực, cótính xã hội hóa cao, khi du lịch càng phát triển thì đối tượng của quản lý nhà nước

càng đa dạng, quy mô càng rộng lớn, vì vậy quản lý nhà nước cần phải có địnhhướng đổi mới về chính sách, tổ chức, điều hành tới kiểm soát, chỉ có vậy quản lýnhà nước mới có hiệu lực thật sự

1.3.2.2 Nhân t ố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về du lịch

Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch là gồm các cơ quan từ cấp địa phương đếncấp trung ương; bộ máy tổ chức ở địa phương cấp tỉnh cao nhất là UBND tỉnh tiếp theo

là Sở Du lịch (hay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch); ở cấp trung ương là Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch là cácquyết định quản lý nhà nước, quá trình này cũng đòi hỏi phải có các nguồn lực để thựchiện Do đó số lượng điều kiện nguồn lực cũng quyết định tới chất lượng hoạt động củacông tác quản lý nhà nước về du lịch

Để đảm bảo công tác quản lý nhà nước về du lịch có hiệu lực và hiệu quả thì các

nhân tố bên trong rất quan trọng như tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, nguồn nhânlực và nguồn lực cho quản lý

Trang 23

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh nằm ở phần đông của dãy Trường Sơn với điều kiện tự

nhiên đa dạng tạo thành những khu vực tài nguyên du lịch tự nhiên thuộc loại độc đáo

và có giá trị lớn nhất của Việt Nam Quảng Bình là một tỉnh ven biển có những điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển trong đó có du lịch, với bờ biển dài 116,04 km

trong đó có 2 cửa sông lớn có khả năng phát triển thành cảng biển quy mô lớn như

cảng Nhật Lệ, cảng Gianh Vùng ven biển Quảng Bình là nơi tập trung phần lớn tiềm

năng du lịch với 9 bãi tắm chính, nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng như cửa Nhật Lệ,

Bảo Ninh, vịnh Hòn La, bãi tắm Đá Nhảy… và một số bãi biển tắm còn ở dạng tiềm

năng ở khu vực Nam Lệ Thủy Ngày nay, Cửa Nhật Lệ là một thắng cảnh tuyệt vời của

tỉnh Quảng Bình

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở huyện Bố Trạch, và Minh Hóa,

tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ

đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được

UNESCO công nhận là di sản thế giới Bên cạnh đó trong khu vực Phong Nha KẻBàng còn rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn du khách như Khu du lịch nguyên sinh suối

nước Mộc, các bản dân tộc Rục, thôn Chày Lập Trong những năm qua, Khu du lịch

Phong Nha - Kẻ Bàng đã trở thành địa chỉ yêu thích của du khách Số lượng khách dulịch đến tham quan Phong Nha - Kẻ Bàng ngày càng tăng

Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nằm trong định hướng phát triểnKT-XH của tỉnh Quảng Bình, do đó, định hướng phát triển du lịch phải gắn với mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội, có như vậy, phát triển du lịch mới đáp ứng được nhu cầuphát triển của các ngành kinh tế khác của tỉnh Ngày 12/8/2011, UBND tỉnh ban hànhQuyết định số 1928/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dulịch tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 Khai thác có hiệu quảcác tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh phát triển du lịch, huy động mọi nguồn lựccủa các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và quốc tế để khai thác có hiệu quảcác tiềm năng du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Trang 24

Mục tiêu đưa Quảng Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn củaViệt Nam, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh; tập trung khai thác có hiệu quảcác tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, gópphần vào tăng trưởng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăngdần tỷ trọng GDP du lịch dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao

động và cộng đồng dân cư, tăng nguồn thu ngân sách; tạo tiền đề cho các ngành kinh tế

khác phát triển Phấn đấu đạt được các mục tiêu:

- Số lượng khách du lịch tăng trưởng từ 11 - 12%/năm, đến năm 2020 đón được

du lịch Quảng Bình, liên kết hợp tác với các địa phương, doanh nghiệp và thúc đẩy đầu

tư Việc xây dựng và phát triển sản phẩm được quan tâm và không ngừng nâng cao

chất lượng dịch vụ Nguồn nhân lực phục vụ cho ngành được chú trọng đào tạo, thu hútnhân tài, góp phần quan trọng vào việc đưa dịch vụ du lịch ngày càng chuyên nghiệp

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng được xem là thành phố du lịch của cả nước, là một trong những địaphương có ngành du lịch phát triển Đà Nẵng có lợi thế như nằm ở vị trí trung tâm của

các di sản, có hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, phát triển mang tính đồng bộ với cảngbiển, sân bay quốc tế, là điểm cuối ra biển Đồng của tuyến hành lang kinh tế Đông -Tây, có những bãi biển đẹp

Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ/TU

về Đẩy mạnh phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ mới, xây dựng các

chương trình hành động cụ thể như Tập trung phát triển mạnh mẽ về du lịch và các

dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trung tâm

Trang 25

thương mại, dịch vụ, du lịch lớn của đất nước theo tinh thần Nghị quyết 33

-NQ/BCT của Bộ Chính trị về Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tập trung xây dựng 04 chương trình phát triển dulịch đến năm 2020 gồm: Chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triểnsản phẩm du lịch, chương trình về cơ chế chính sách và chương trình xúc tiến quảng

bá du lịch

Về công tác phát triển sản phẩm du lịch, trên cơ sở những tiềm năng phongphú về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử Đà Nẵng có sản phẩm du lịch đadạng, hấp dẫn như: Cáp treo Bà Nà với 02 kỷ lục thế giới; Khu danh thắng Ngũ

Hành Sơn; Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chămpa; khu dịch Núi Thần Tài…

Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch được đặc biệt chú trọng, thành phố

dã xúc tiến mở và duy trì nhiều đường bay trực tiếp đến thành phố gồm: Singapore

-Đà Nẵng, đường bay Quảng Châu - -Đà Nẵng, đường bay -Đài Bắc - -Đà Nẵng, Hàn

Quốc - Đà Nẵng…

Việc tổ chức thành công các sự kiện hàng năm: Cuộc thi bắn pháo hoa Quốc

tế, Lễ hội Quan Thế Âm, đã thu hút hàng trăm nghìn du khách trong nước và quốc

tế đến tham gia, thưởng ngoạn, tạo hiệu ứng lớn về truyền thống, quảng bá du lịch

Đà Nẵng với bạn bè quốc tế

Bên cạnh khai thác hiệu quả các sản phẩm du lịch, Đà Nẵng cũng hết sứcquan tâm tới công tác bảo vệ môi trường, xanh sạch nhằm bảo đảm du lịch pháttriển bền vững, giữ gìn các sản phẩm du lịch, tạo sự thoải mái cho khách du lịch khi

ghé thăm tại thành phố Đồng thời, Đà Nẵng đã chỉ đạo dẹp bỏ tình trạng hàng rông,

và người ăn xin, nhằm hạn chế tình trạng chèo kéo khách du lịch, tạo ra môi trường

mỹ quan đẹp cho thành phố Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, hướng dẫn

hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh theo đúng pháp luật Nâng cao vai trò của Hiệp hội

Du lịch trong các hoạt động du lịch của Thành phố

1.4.3 Bài học rút ra cho công tác quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là địa phương có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển dulịch, Thừa Thiên Huế đặc biệt quan tâm đến tính bền vững trong phát triển du lịch,

Trang 26

gắn hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống,bảo vệ môi trường sinh thái, xúng đáng là thành phố xanh, thành phố Festival củaViệt Nam Để làm được điều đó, công tác quản lý nhà nước cần phải hoàn thiện vàhiệu lực hơn nữa Từ kinh nghiệm hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch ở các địa

phương trên, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:

- Phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển cho thời gian dài hợp lý; cóchiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng thúc đẩy du lịch pháttriển đồng bộ, thống nhất và có các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn phát triển

Đặc biệt quan tâm đến việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ

thuật phục vụ du lịch

- Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút khách dulịch Bên cạnh đó tăng cường tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch các sản phẩmcủa địa phương đến với du khách trong nước và nước ngoài

- Kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Sở Du lịch, phát huycông tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, quan tâm công tác đào tạo độingũ cán bộ, áp dụng các hình thức điều động, luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ

có điều kiện tiếp cận thực tiễn trong quản lý, điều hành hoạt động du lịch

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với hoạt động du lịch, kịp thời ngănchặn các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh du lịch, đồng thời làm tốt việcbảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường tự nhiên và xã hội của du lịch

- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt

động du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, thân thiện, mến khách

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH VÀ SỞ DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ

2.1.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thừa Thiên Huế là một trong năm tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm MiềnTrung Diện tích tự nhiên là 5.053,99 km2, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,

nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng

chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xãQuảng Công (Quảng Điền), phường Tứ Hạ (thị xã Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba

Lé (A Lưới) 65km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2-3km

Dân số năm 2015 là 1.143.572 người, mật độ dân số là 228 người /km2; Vềphân bố, có 556.056 người sinh sống ở thành thị và 587.516 người sinh sống ở vùngnông thôn; Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên là 623.480 người (trong đó lao động

nữ 306.450 người); có ranh giới chung với các tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc, tỉnhQuảng Nam và thành phố Đà Nẵng ở phía Nam, nước Cộng hoà nhân dân Lào ởphía Tây và biển Đông ở phía Đông tạo điều kiện thuận lợi để kết nối với các điểm

du lịch nổi bật khác trong khu vực… hay các điểm du lịch ở Lào, Thái Lan… theotuyến hành lang đông - tây được hình thành trong khu vực Thừa Thiên Huế cách

Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km

* Địa hình

Lãnh thổ Thừa Thiên Huế được cấu tạo bởi các dạng địa hình chủ yếu sau:

- Địa hình núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, từ biên giới Việt - Lào và kéo dài

đến thành phố Đà Nẵng

- Địa hình trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích, độ cao phần lớn dưới 500 m,

có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải và phần lớn là đồi bát úp, với chiều

rộng vài trăm mét

Trang 28

- Địa hình khu vực đồng bằng duyên hải: Chiếm tỷ lệ khoảng 16% diện tíchThừa Thiên Huế Đồng bằng duyên hải trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Namtrên 100 km.

- Địa hình khu vực đầm phá và biển ven bờ: Chiếm gần 9% diện tích tỉnh

nằm dọc theo bờ biển phía Đông tỉnh

Như vậy, Thừa Thiên Huế có đầy đủ các dạng địa hình núi, gò đồi, đồng

bằng, đầm phá, duyên hải, biển… Sự đa đạng về địa hình tạo ra tiền đề cho việc tổchức nhiều loại hình du lịch khác nhau: du lịch leo núi, du lịch nghỉ biển, du lịch thểthao trên mặt nước, du lịch tham quan, du lịch sinh thái biển, sinh thái đầm phá sinh

thái sông nước…

* Khí hậu

Thừa Thiên Huế là khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới giómùa nên thời tiết diễn ra theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẽ, ấm áp; mùa hè nóngbức; mùa thu dịu và mùa đông gió rét Nhiệt độ trung bình cả năm 25°C, số giờnắng cả năm là 2000 giờ Mùa du lịch đẹp nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 4

năm sau với những đặc điểm khí hậu nổi bật:

- Nhiệt độ khá cao đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm

dao động từ 21,5 - 25 0C Tuy nhiên ở một số khu vực như A Lưới, Bạch Mã khí

hậu luôn mát mẻ rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái

- Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.800 mm - 3.000 mm, một năm được

phân chia thành mùa mưa từ tháng 9 - 12 và và mùa ít mưa từ tháng 1 - 8

Nhìn chung các điều kiện khí hậu ở Thừa Thiên Huế thích hợp với các hoạt

động du lịch, một số hiện tượng thời tiết không thuận lợi như mưa bão, lũ lụt…

cũng ảnh hưởng đến hoạt động du lịch nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn

* Thuỷ văn

Hệ thống sông của Thừa Thiên Huế khá dày đặc, phân bố tương đối đồng

đều nhưng phần lớn ngắn và có lưu vực hẹp Các sông chính ở Thừa Thiên Huế

bao gồm: Sông Ô Lâu dài 66 km, diện tích lưu vực 900 km2; Hệ thống sông

Hương: dài 104 km, diện tích lưu vực 2.830 km2 với 3 nhánh chính là sông Bồ,

Trang 29

sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch; Sông Nong: dài 20 km, diện tích lưu vực 99km2; Sông Truồi: dài 24 km, diện tích lưu vực 149 km2; Sông Cầu Hai: dài 10

km, diện tích lưu vực 29 km2; Sông Bù Lu: dài 17 km, diện tích lưu vực 118 km2.Ngoài ra còn có nhiều sông đào từ thời Nguyễn nhằm giải quyết yêu cầu thủy lợi,giao thông thuỷ và môi trường như: sông An Cựu (sông Lợi Nông) dài 27 km;

sông Đông Ba dài 3 km; sông Kẻ Vạn dài 5,5 km…

Hệ thống sông ngòi của Thừa Thiên Huế tạo ra điều kiện phát triển các loại hình

du lịch liên quan đến sông nước như du lịch sinh thái, du thuyền trên sông nước…

* Hệ thống đầm phá

Đây là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị có khả năng phát triển nhiều loại hình

du lịch sinh thái cũng như văn hoá, hệ thống đầm phá của Thừa Thiên Huế gồm:

- Phá Tam Giang: Kéo dài từ cửa sông Ô Lâu đến cầu Thuận An, thông với

biển Đông qua cửa Thuận An, chiều dài 25 km, chiều rộng từ 0,5 - 4 km, chiều sâuphá vào mùa cạn phổ biến từ 1 - 1,5 m và gần cửa Thuận An lên đến 4 - 6 m, diệntích mặt nước khoảng 52 km2

- Đầm Thủy Tú: Gồm các đầm An Truyền, Thanh Lam (Sam), Hà Trung và

Thuỷ Tú tạo thành, kéo dài từ cầu Thuận An đến Cồn Trai trên chiều dài 33 km,chiều rộng đầm biến đổi từ 0,5 - 5,5 km, chiều sâu đầm phổ biến từ 1,5 - 2 m, diệntích mặt nước khoảng 60 km2

- Đầm Cầu Hai: Kéo dài từ Cồn Trai đến cửa sông Rui với chiều dài 9 km và

từ cửa sông Truồi đến núi Vinh Phong gần 13 km, chiều sâu trung bình khoảng 1,4

km, diện tích mặt nước khoảng 104 km2 Đầm Cầu Hai thông với biển Đông quacửa Tư Hiền

- Đầm An Cư: Là thuỷ vực biệt lập, kéo dài theo hướng Bắc - Nam, chiều dài

tìư 5 - 6 km, chiều rộng từ 2 - 4 km, diện tích mặt nước 15 km2, chiều sau phổ biến

từ 1 - 3 m Đầm An Cư thông với biển Đông qua cửa Lăng Cô

* Hệ thống trằm bàu, hồ và hồ chứa nước nhân tạo

Thừa Thiên Huế có số lượng lớn các trằm bàu và hồ nước, theo thống kê hiệnnay tỉnh có đến 78 trằm, 4 bàu lớn nhỏ, hàng trăm hồ nước (riêng trong nội thành

Trang 30

Thành phố Huế chỉ rộng 520 ha đã có 43 hồ lớn nhỏ) Các trằm hồ này không chỉ là

nơi chứa nước tuới tiêu cho hoạt động sản xuất sinh hoạt, điều hoà không khí… một

số hồ như hồ Truồi, hồ Hoà Mỹ, hồ Thọ Sơn, hồ Phú Bài, hồ Tĩnh Tâm, hồ HọcHải, hồ Thuỷ Tiên… là những thắng cảnh nổi tiếng đồng thời có khả năng phát triển

du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng…

* Nước ngầm

Nguồn nước ngầm của Thừa Thiên Huế rất phong phú, dễ dàng khai thác tạo

điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội và du lịch

Ngoài ra do nằm trong khu vực kiến tạo địa chất mạnh mẽ, Thừa Thiên Huếcũng là khu vực có khá nhiều nguồn nước khoáng, các nguồn nước khoáng này cóchứa nhiều thành phần hoá học, khoáng chất và nhiệt độ cao, trữ lượng tương đốikhá phù hợp với mục đích khai thác phát triển các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng,chữa bệnh, nghỉ cuối tuần…

* Hệ sinh thái

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của biển

Đông, có kiểu khí hậu chuyển tiếp bắc nam Việt Nam, do đó hệ sinh thái của Thừa

Thiên Huế rất đa dạng phản ánh sự giao thoa nhiều luồng sinh vât thuộc khu hệ

phương Bắc và khu hệ phương Nam Việt Nam

Bên cạnh đó, với chiều dài bờ biển trên 120km, Thừa Thiên Huế có nguồnhải sản phong phú đảm bảo cung cấp đặc sản cho du khách và tạo điều kiện tổ chứccác loại hình du lịch như câu cá, tôm, mực, lặn biển…

Sự đa dạng của hệ sinh thái Thừa Thiên Huế tạo điều kiện thuận lợi để pháttriển các loại hình du lịch gắn liền với môi trường thiên nhiên như du lịch sinh thái,

du lịch giáo dục môi trường…

2.1.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế

Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, là vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, có nhiều tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, về tài nguyên thiên nhiên, vềnguồn lực khoa học và công nghệ, về văn hóa để phát triển kinh tế trên nhiều mặt.Ngày nay, Thừa Thiên Huế được biết đến là một trung tâm văn hóa - du lịch, trung

Trang 31

tâm y tế chuyên sâu, trung tâm đào tạo đa ngành chất lượng cao của Việt Nam; Huế thành phố Xanh ASEAN, Thành phố Festival của Việt Nam… những đặc điểm đó là

-điều kiện để Huế phát triển, nhất là ngành dịch vụ

Trong 15 năm, cơ cấu kinh tế của Thừa Thiên Huế có sự chuyển biến tích cực,

sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ bước đầu đã hình

thành cơ cấu kinh tế mới Nền kinh tế trong những năm 2001-2005, nông nghiệp còn

chiếm tỷ trọng lớn, những đến những năm 2006 trở lại đây tỷ trọng nông nghiệp giảm

đáng kể, thay vào đó, tỷ trọng kinh tế công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng qua các giaiđoạn, góp phần định hướng cơ cấu kinh tế hiệu quả Tuy nhiên, tỷ trọng của công

nghiệp và xây dựng, dịch vụ của tỉnh Thừa Thiên Huế tăng không đồng đều, chưathực sự tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh

Bảng 2.1 Tốc độ tăng GDP tỉnh Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2001 – 2015,

năm 2016, năm 2017

ĐVT: %

Thời kỳ

Toàn bộ nền kinh tế

Chia ra Nông, lâm

nghiệp và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Thừa Thiên Huế vẫn là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định,

được thể hiện ở Bảng 2.1 Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng từng giai đoạn, nên đã

làm cho GDP bình quân đầu người được cải thiện nhanh chóng, GDP bình quân đầu

người năm 2015 đạt 2.000 USD/người Nhìn tổng quát từng giai đoạn 5 năm và các

Trang 32

năm 2016, 2017, tốc độ tăng sản phẩm trên địa bàn tỉnh bình quân chưa thật sự ổn định,

thế mạnh của tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn là các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

Bảng 2.2 Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế

giai đoạn 2000 - 2017

ĐVT: %

Năm Ngành

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Nông - Lâm - Ngư nghiệp 24,1 21,7 14,97 11,21 13,48 12,15Công nghiệp - xây dựng 30,9 34,8 33,75 32 30,83 31,36

Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế năm 2005, 2015, 2016, 2017

Theo đó, tỷ trọng của nông - lâm - ngư nghiệp năm 2000 là 24,1% đến năm

2017 chỉ số này chỉ là 12,15% Công nghiệp - xây dựng tăng từ 30,9% năm 2000

lên 32% năm 2015, năm 2017 còn 31,36% Khu đặc biệt là khu vực dịch vụ, theo

chiều hướng ổn định, và ngày càng tăng cao từ 45% năm 2000 lên 56,49% năm

2017, ngày càng khẳng định vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm của nềnkinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế

Cơ cấu loại hình kinh tế: Các thành phần kinh tế ở tỉnh Thừa Thiên Huế được

khuyến khích phát triển, nhằm đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung củatỉnh Do kinh tế có sự biến động và theo quy định, số lượng doanh nghiệp nhà nướcgiảm, chưa có sự ổn định trong giai đoạn 2010 - 2015, giai đoạn 2010 - 2012 tăng từ

25,99% lên 27,42% tăng 1,43%, qua các năm 2013-2017 lại có sự giảm nhẹ

Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế theo loại hình kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 33

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ, trong giai đoạn 2010

-2017 tăng trưởng không đều, doanh nghiệp đầu tư vào Thừa Thiên Huế chưa có

thay đổi lớn, năm 2013 chiếm 16,35%, đến năm 2014 lên 19,51 tăng 3,16%, đếnnăm 2017 con số này còn 18,76%, giảm 0,75% Tỷ trọng các thành phần kinh tếngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao trong thành phần kinh tế, năm 2012 là 55,53%đến năm 2017 chiếm 57,54%

2.1.1.3 Điều kiện xã hội

Tỉnh Thừa Thiên Huế hiện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thành phốHuế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà và 06 huyện (Phong Điền, Quảng Điền,Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông) Thành phố Huế là trung tâm kinh tế -chính trị - văn hóa của tỉnh hơn 348 nghìn người (năm 2015) chiếm 30,46 % dân số.Dân số của tỉnh hiện phân bố không đều, thường tập trung tại những nơi có điềukiện tự nhiên - xã hội thuận lợi

Dân tộc ít người thuộc các nhóm chính là Bru-Vân Kiều, Cơ tu, Tà Ôi, paKôh v.v sống tập trung ở hai huyện miền núi A Lưới, Nam Đông và một số xãthuộc các huyện Phong Điền, Phú Lộc

Tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 4 tôn giáo chính là: Phật giáo,Công giáo, Tin lành, Cao đài

2.1.1.4 Tình hình v ề hạ tầng du lịch

a H ệ thống đường bộ

Toàn tỉnh có hơn 2.500 km đường bộ, Quốc lộ 1A chạy xuyên qua tỉnh từBắc xuống Nam cùng với các tuyến tỉnh lộ chạy song song và cắt ngang như tỉnh lộ

2, 3, 4, 5, 6, 7, 8A, 8B, 10A, 10B, 10C, 11A, 11B, 15 và các tỉnh lộ khác

Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ 49 chạy ngang qua từ tây sang đông nối tiếpvùng núi với biển Khu vực ven biển, đầm phá có quốc lộ 49B và một số tuyến venbiển khác Khu vực gò đồi trung du và vùng núi rộng lớn phía tây thuộc các huyện

A Lưới, Nam Đông có quốc lộ 14, tỉnh lộ 14B, 14C, quốc lộ 49 đi sang Lào

Tính đến nay hệ thống đường bộ toàn tỉnh đã nhựa hóa được 80% đường

tỉnh, bê tông hóa 70% đường giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã), 100%

xã có đường ô tô đến trung tâm

Trang 34

b Đường sắt

Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài 101,2km

đóng một vai trò quan trọng trong giao thông của tỉnh Trong đó ga Huế là một

trong những ga chính trên tuyến Đường sắt là tuyến giao thông quan trọng đưakhách du lịch đến với Thừa Thiên Huế, đặc biệt trong năm 2016 đã khai trươngtuyến đường sắt Huế - Nha Trang và ngược lại nhằm phục vụ du lịch

c Đường biển và đường thủy

Tổng chiều dài 563km sông, đầm phá Tỉnh có cảng biển là cảng nước sâuChân Mây và cảng Thuận An Cảng Thuận An nằm cách trung tâm thành phố Huếkhoảng 13 km về phía đông bắc Trong nhiều năm tỉnh đã tập trung đầu tư cho cảngThuận An 5 cầu tầu dài 150m, có khả năng tiếp nhận tầu 1.000 tấn, được nhà nướccông nhận là cảng biển quốc gia Cảng nước sâu Chân Mây cách TP Huế 49 km về

phía Nam đang được triển khai xây dựng một số hạng mục hạ tầng kỹ thuật đầu

tiên nhằm khai thác lợi thế trục giao thông Bắc Nam và tuyến hành lang Đông Tây,tạo động lực phát triển kinh tế những năm sau Hàng năm, Cảng Chân Mây đón hơn

30 chuyến tàu biển cập cảng, đưa khách du lịch đến với Thừa Thiên Huế và các tỉnhmiền Trung

thay đổi diện mạo du lịch của tỉnh như Khách sạn Kinh Thành, Indochine Palace

Hiện nay, khu vực vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai thuộc các địa phương

như huyện Phú Vang, Phú Lộc, thị xã Hương Trà đang có nhiều dự án du lịch ven

biển đã được cấp phép đầu tư Các dự án này tập trung các vùng trọng điểm pháttriển biển và đầm phá như Thuận An, Lăng Cô

Trang 35

Bên cạnh các dự án trên, việc xúc tiến lập danh mục dự án du lịch tại một

số điểm quanh vùng đầm phá để xúc tiến kêu gọi đầu tư như ở Vinh Thanh, VinhXuân, Quảng Công, Quảng Ngạn, Hải Dương, Tư Hiền, Lộc Bình Đặc biệt đãhình thành các khu, điểm du lịch nghỉ dưỡng đặc trưng, có thương hiệu nhưLaguna – Lăng cô, PSH, tập đoàn Bitexco,…đã tạo động lực cho việc phát triển

du lịch trong thời gian tới

2.1.2 Tổng quan về Sở Du lịch Thừa Thiên Huế

2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát tri ển

Tên cơ quan: Sở Du lịch Thừa Thiên Huế

Địa chỉ: số 22 Tố Hữu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Website:http://sdl.thuathienhue.gov.vn

Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 củaChính phủ, từ tháng 4 năm 2008, Sở Du lịch được hợp nhất với Sở Văn hóa Thôngtin và Sở Thể dục Thể thao thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thực tế qua hơn

6 năm thực hiện mô hình Sở quản lý nhà nước đa ngành, riêng đối với lĩnh vực du

lịch, đã có bước phát triển đột phá với nhiều loại hình và sản phẩm du lịch phong

phú, đa dạng và có chất lượng cao như du lịch biển, nghỉ dưỡng biển, núi, văn hóa,

sự kiện, công vụ

Ngày 04/4/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2014/NĐ-CP quy định

tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương, trong đó cho phép thành lập Sở đặc thù khi cần thiết phù hợp với đặc điểm,

tình hình thực tế của các địa phương Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh nghiêncứu, xây dựng Đề án tách Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành Sở Văn hóa & Thểthao và Sở Du lịch để phù hợp với định hướng phát triển của địa phương

Sở Du lịch Thừa Thiên Huế được thành lập theo Quyết định số

35/2016/QĐ-UBND ngày 27 tháng 5 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế với

các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Du lịch

2.1.2.2 V ị trí, chức năng của Sở du lịch

Sở Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có chức năng

Trang 36

tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch

ở địa phương theo quy định của pháp luật; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo

phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Sở Du lịch có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ

đạo quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời

chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục Du lịch

2.1.2.3 Nhi ệm vụ và quyền hạn của Sở du lịch

- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh dự thảo quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kếhoạch dài hạn, 05 (năm) năm và hàng năm; đề án, dự án, chương trình phát triển dulịch; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính

nhà nước; phân cấp quản lý và xã hội hóa trong lĩnh vực du lịch ở địa phương

- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,chính sách, quy hoạch, kế hoạch, dự án, đề án, chương trình sau khi được phêduyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hànhpháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở Du lịch

- Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt; Tổ chức thực hiện điều

tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của địa phươngtheo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

- Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và pháttriển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch ở địa phương

- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữhành quốc tế của các doanh nghiệp tại địa phương theo quy định của pháp luật.Thẩm định và quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch,hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch, tàu thủy du lịch

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, côngchức, viên chức, người lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch ở địa phương

- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện

chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của địaphương sau khi được phê duyệt

Trang 37

- Tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tổ chức các lễ hội du lịch quy

mô cấp tỉnh Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và côngnghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước vàchuyên môn nghiệp vụ của Sở

- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch theo quy định của phápluật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng

và xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy

định của pháp luật về du lịch theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc

ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh

- Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao và thực hiện

ngân sách được phân bổ hàng năm theo quy định của pháp luật và theo sự phân

công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhândân tỉnh giao và theo quy định của pháp luật

2.1.2.4 Cơ cấu tổ chức của Sở du lịch

a) Lãnh đạo Sở

- Sở Du lịch có Giám đốc và không quá 03 phó Giám đốc

- Giám đốc Sở là người đứng đầu Sở, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhândân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và trước pháp luật về thực hiện chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Sở; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban nhândân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch; báo cáo trước Hội đồng nhân dân tỉnh, trả lời kiến nghị của cử tri, chất vấn của

đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo yêu cầu;

- Phó Giám đốc Sở là người giúp Giám đốc Sở chỉ đạo một số mặt công tác,chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân

công Khi Giám đốc Sở vắng mặt, một Phó Giám đốc Sở được Giám đốc Sở ủy

nhiệm điều hành các hoạt động của Sở;

- Việc bổ nhiệm Giám đốc Sở, Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân

Trang 38

dân tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ được Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch ban hành và theo quy định của pháp luật.

- Giám đốc, Phó Giám đốc Sở không kiêm chức danh Trưởng của đơn vị cấp

dưới có tư cách pháp nhân (trừ trường hợp văn bản có giá trị pháp lý cao hơn quyđịnh khác) Việc miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ

chức, nghỉ hưu và thực hiện các chế độ, chính sách đối với Giám đốc Sở, Phó Giám

đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật

- Phòng Nghiên cứu Phát triển du lịch

c) Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở: Trung tâm Thông tin Xúc tiến du lịch.

Ngoài các đơn vị nêu trên, căn cứ vào đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế

-xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước về Du lịch ở địa phương, Giám đốc Sở Du lịchphối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thànhlập thêm một số đơn vị sự nghiệp khác trực thuộc Sở theo quy định của pháp luật

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Giai đoạn 2012 - 2017, ngành du lịch được tỉnh quan tâm chỉ đạo, đầu tư

mạnh để khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh Vì vậy, ngành đã tạo được bộ mặtmới, đưa năng suất lao động cao hơn so với nhiều ngành khác và tăng trưởng khátốt trong giai đoạn vừa qua Khách tham quan du lịch đạt 2.544.762 lượt lên

3.800.012 lượt, doanh thu ngành tăng từ 2209,7 tỷ đồng năm 2012 lên 3520 tỷ đồngnăm 2017, phấn đấu đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

Về nhận thức, tổ chức quản lý, các ngành các cấp nhận thức đầy đủ vai trò, vịtrí quan trọng của ngành du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội khi tỉnh, quan tâmtạo điều kiện khai thác các tiềm năng, tạo lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, phương

Trang 39

thức tổ chức, quản lý hoạt động du lịch và đầu tư phát triển ngành chưa đồng bộ, cơ

sở hạ tầng phục vụ du lịch tại trung tâm thành phố chưa được quy hoạch hoàn chỉnhvới các hạ tầng nhà để xe, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ du lịch; bên cạnh trình độquản lý, chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao chưa được đầu tư, kêu gọi; môi

trường kinh doanh, môi trường du lịch đang dần được hoàn thiện

2.2.1 Thực trạng tăng trưởng về khách du lịch

Trong giai đoạn 2012 - 2017, số lượng khách du lịch đến Thừa Thiên Huế có

chiều hướng tăng trưởng nhanh chóng Tổng số lượt khách du lịch năm 2012 là2.544 nghìn lượt khách đến năm 2013 con số này là 2.609 nghìn lượt người, chỉ

tăng 2,55% so với cùng kỳ năm 2012 Qua năm 2014, con số này là 2.906 nghìnlượt khách, tăng hơn 300 nghìn lượt khách so với năm 2013, và tăng 11,81% so vớinăm 2013

Bảng 2.4 Số lượng khách du lịch đến TT.Huế giai đoạn 2012 – 2017

Số lượng (1.000 lượt)

Tăng

so với năm trước (%)

Tỷ lệ khách quốc tế/tổng lượt khách (%)

Số lượng (1.000 lượt)

Tăng

so với năm trước (%)

Tỷ lệ khách nội địa/tổng lượt khách (%)

Trang 40

Đến năm 2017 tổng lượt khách du lịch đạt 3.800 nghìn lượt người, tăng

16,63% so với cùng kỳ năm 2016 Tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2012 - 2017 là

8,4%/năm Khách du lịch đến Thừa Thiên Huế chủ yếu ghé thăm các điểm di tích

thuộc Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Lăng Cô, Vườn Quốc gia Bạch Mã Cácnguồn khách du lịch chính của Thừa Thiên Huế được xác định sơ bộ:

- Nguồn khách du lịch từ phía Bắc: Chủ yếu từ Hà Nội theo đường quốc lộ(quốc lộ 1), đường sắt Bắc Nam là chủ yếu Đường hàng không hiện đang chiếm tỷ

lệ nhỏ (ngày khoảng 4 chuyến bay)

- Nguồn khách từ phía Nam: chủ yếu từ khu vực miền trung, miền nam trung

bộ (từ Khánh Hòa trở ra Đà Nẵng), thành phố Hồ Chí Minh theo đường bộ (quốc lộ

1), đường sắt Bắc Nam là chủ yếu Đường hàng không hiện đang chiếm tỷ lệ nhỏ

(ngày khoảng 4-6 chuyến bay)

- Nguồn khách phía Tây: chủ yếu từ thị trường Lào, Thái Lan theo cửa khẩuLao Bảo, A Đớt

- Nguồn khách phía Đông: chủ yếu là khách tàu biển cập cảng Chân Mây

Khách du lịch quốc tế

Mặc dù sở hữu 05 di sản thế giới cũng như có nhiều loại hình sản phẩm dulịch hấp dẫn, thắng cảnh đẹp, môi trường du lịch thân thiện, an toàn, vị trí thuận lợikhi nằm trên các tuyến du lịch xuyên Việt song những năm vừa qua, Thừa ThiênHuế chưa thu hút được số lượng khách du lịch quốc tế tương xứng với tiềm năng

Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy, lượt khách du lịch giai đoạn 2012

-2017 tăng đều qua các năm, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế giai đoạn này tăngnhanh đạt 11,6%, tuy nhiên, có thể thấy sự tăng trưởng là không đáng kể Năm

2012, Thừa Thiên Huế chỉ đón 867 nghìn lượt khách, chỉ chiếm 34,1% trong tổng

số lượt khách du lịch ghé thăm Huế, đến những năm 2013, 2014, 2015 tỷ trọng này

tăng lên lần lượt là 35,53, 34,65%, 33,73%, tăng khá cao là năm 2017, đạt 42,6%

Số lượng khách du lịch giai đoạn 2012-2017 tăng nhanh về số lượng chủ yếu đến từNhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… và các nước trong khu vực ASEAN, tuy nhiên,

tỷ lệ khách du lịch quốc tế đến Thừa Thiên Huế chiếm tỷ trọng nhỏ và chưa tương

Ngày đăng: 21/06/2023, 19:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm