1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của hoạt động khai thác caolanh – fenspat đến môi trường tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ

93 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của hoạt động khai thác caolanh – fenspat đến môi trường tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Thanh Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, được biết đến là một huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản như Caolanh, fenspat, Talc, đá xây dựng, cát, sỏi… B

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thanh Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, được biết đến là một huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản như Caolanh, fenspat, Talc, đá xây dựng, cát, sỏi… Bên cạnh sự tích cực về mặt kinh tế, hoạt động khai thác khoáng sản này cũng đánh dấu một loạt những vấn đề môi trường và xã hội nghiêm trọng, nhất là tại các khu vực khai thác Caolanh- fenspat Nguyên liệu caolanh - fenspat đã và đang được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như làm nguyên liệu sản xuất đồ gốm, sứ, thuỷ tinh và sản xuất các loại sơn, mỹ phẩm, giấy Hàng năm, các nhà sản xuất đã tiêu thụ hàng triệu tấn caolanh - fenspat cho các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và một số ít làm chất phụ gia cho các ngành công nghiệp sản xuất giấy, sơn, cao su, xà phòng Với tốc độ tăng trưởng ngày càng cao của các ngành công nghiệp trong nước thì nhu cầu về caolanh- fenspat ngày càng tăng trong khi các cơ sở khai thác trong nước đã phát triển nhiều, song quy mô khai thác còn nhỏ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu

Những năm gần đây, môi trường tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đang chịu tác động lớn bởi các hoạt động như khai thác khoáng sản, giao thông, xây dựng, hoạt động của các nhà máy chế biến khoáng sản, đặt ra cho huyện Thanh Sơn nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết Việc thực hiện bảo vệ môi trường ở các cơ sở khai thác được chú trọng, đã áp dụng các phương pháp, công nghệ xử lý chất thải hiện đại, giảm thiểu khói bụi trong khai thác Nhiều cơ sở xây dựng hồ chứa, bể lắng, bể lọc chất thải trong khai thác, chế biến theo tiêu chuẩn quy định Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một

số cơ sở chạy theo sản lượng, lợi nhuận còn chưa thực sự chú trọng đến bảo

vệ môi trường, gây khiếu kiện trong nhân dân Các hoạt động khai thác khoáng sản cũng đã gây nên những tác động rất đa dạng ảnh hưởng không

Trang 2

nhỏ đến môi trường xung quanh Câu hỏi đặt ra là: hoạt động khai thác khoáng sản ảnh hưởng như thế nào đến môi trường của huyện Thanh Sơn, tác động môi trường của việc khai thác khoáng sản và đến đời sống sinh hoạt của con người? cần có những giải phápgì nhằm hạn chế những tác động trên? Tuy nhiên điểm quan trắc chất lượng môi trườngtại huyện Thanh Sơn chưa nhiều

và phân bố chưa đều Do vậy, kết quả quan trắc chưa đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng không khí khu vực Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài:

“Ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh – Fenspat đến môi trường tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”được thực hiện.Với mục tiêu cung cấp

thêm cơ sở khoa học và dữ liệu cho việc theo dõi, giám sát và đánh giá diễn biến mức độ ô nhiễm môi trường, làm cơ sở khoa học đề ra các giải pháp giảm thiểu tác động của ô nhiễm môi trường đến môi trường và sức khỏe con người tại khu vực nghiên cứu

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Khái niệm môi trường:

Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, môi

trường được định nghĩa như sau:“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất

tự nhiên và nhân tạo có tác động với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”

- Ô nhiễm môi trường:

Theo Khoản 8 Điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”

- Tiêu chuẩn môi trường:

Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyên áp dụng để bảo vệ môi trường”

- Quan trắc môi trường: Theo Khoản 20 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:“Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường”

- Chỉ thị môi trường: Chỉ thị (indicator) là một tham số (parameter) hay

số đo (metric) hay một giá trị kết xuất từ tham số, dùng cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình trạng của một hiện tượng môi trường khu vực, nó là

Trang 4

thông tin khoa học về tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý nghĩa vượt ra ngoài các giá trị đo liên kết với chúng Các chỉ thị là các biến số hệ thống đòi hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian nhằm đưa ra chiều hướng, các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu

1.2 Tổng quan về khoáng sản

1.2.1 Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản trên Thế giới

Khác với các loại tài nguyên khác như tài nguyên đất (dưới góc độ sử

dụng cho việc trồng trọt, xây dựng ), tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản

không những không tái tạo được mà nếu khai thác không hợp lý thì việc khắc phục những sai lầm sẽ có những khó khăn, bất cập lớn hơn gấp bội so với việc định hướng đúng lúc ban đầu về mục đích và mục tiêu của việc khai thác Trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua nhu cầu của con người về tài nguyên khoáng sản tăng trưởng vói tốc độ rất lớn Tình trạng cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây đã trở thanh vấn đề nóng bỏng và Việt Nam không phải là ngoại lệ

Để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội không những cho trước mắt và cần phải tính tới nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai, rất nhiều nước ưên thế giới đã có những chính sách hạn chế khai thác khoáng sản trong nước và tăng cường nhập khẩu quặng, đồng thời cải tiến công nghệ nhằm tận thu tối đa các sản phẩm khoáng sản có ích Tùy theo từng nước, các quy định trong các Luật Khoáng sản hay Luật Mỏ có những quy định về chính sách của nước đó về lĩnh vực khoáng sản

Hoạt động khai thác khoáng sản phát triển mạnh trong một thập niên vừa qua ở nhiều quốc gia Châu Á giàu tài nguyên như Campuchia, Indonesia, Phillipines và Ấn Độ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới Mặc

dù khai thác khoáng sản là nguồn thu quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng

Trang 5

kinh tế ở nhiều quốc gia, việc phát triển ngành này cũng mang lại những tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng

Các phương pháp khai thác khoáng sản hiện nay là dùng mìn nổ hoặc khoan đều rất thô sơ và không hề có nỗ lực nào nhằm khôi phục lại những khu vực đã khai thác do chi phí khôi phục thường cao hơn nhiều so với giá trị

mà việc khai thác khoáng sản mang lại Trong khi các công ty khai thác ở các nước đang phát triển ở Châu Á đều ít quan tâm đến vấn đề này; trong khi đó, bản thân các Chính phủ của các quốc gia này lại thiếu năng lực hành chính -

kỹ thuật cũng như ý muốn chính trị để quản lý và kiểm soát hiệu quả.Và thực

tế nhiều thỏa thuận khai thác giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thường thiếu minh bạch, dẫn đến hậu quả càng trở nên nghiêm trọng Ở các quốc gia này, việc quản lý thuộc thẩm quyền liên ngành; nên thực tê có nhiều những mâu thuẫn, chồng chéo:

Như ở Ấn Độ, Tổng cục Mỏ phụ trách về kế hoạch khai mỏ và đóng

mỏ và tiến hành hoạt động giám sát và quản lý theo Quy chế Bảo tồn và Phát triển Khoáng sản (1998), gồm cả việc quản lý đối với ô nhiễm không khí vàxả thải chất độc hại Mặc dù Tổng cục này có trách nhiệm rõ ràng đối với cácvấn

đề môi trường nhưng họ lại không có thẩm quyền đánh giá tác động môi trường và lập kế hoạch quản lý môi trường mà lại do Bộ Môi trường và Lâm nghiệp thực hiện Ban kiểm soát ô nhiễm quốc gia lại có thẩm quyền đồng ý với việc thiết lập vận hành hệ thống khai thác mỏ và theo dõi ô nhiễm nước và không khí Cơ quan này có chức năng tương tự như Tổng cục Mỏ nhưng hoạt độngdựa trên một cơ sở pháp lý khác, cụ thể là Luật Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm nước 1974 và Luật Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm không khí 1984

Ở Bangladesh, theo một chuyên gia về khai thác khoảng sản tại nướcnày, vấn đề chính là không có sự điều phối giữa các cơ quan chính phủ khác nhau Điều này dẫn tới sự quản lý chồng chéo các dự án và chỉ có một vài dự án tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật

Trang 6

Ngoài những vấn đề trên, việc quản lý khai thác khoáng sản gặp không

ít khó khăn do các quy định pháp luật không rõ ràng, năng lực quản lý yếu kếm, hoặc do thiếu sự trao đổi và chính sách liên ngành

Tuy nhiên, với nhiều quốc gia khác có cách áp dụng tiếp cận tổng thể trong qưản lý tài nguyên và môi trường đang mang lại những lợi ích quan trọng Trong đó, cộng đồng dân cư những người trực tiếp gánh chịu các tác động qua lại từ khai thác sẽ đưa ra ý kiến của mình, các tổ chức phi chính phủ nâng cao nhận thức và tham gia vào các dự án để giải quyết vấn đề này, các chuyên gia tài nguyên, các nhà hoạch định áp dụng cách nhìn đồng bộ này vào trong quyết định của mình

1.2.2 Tổng quan về tình hình khai thác khoáng sản tại Việt Nam

So với các nước trong khu vực và trên thếgiới tài nguyên và khoáng sản Việt Nam được đánh giá là rất phong phú và đa dạng do đặc điểm địa hình và khí hậu như: Đá vôi, cát, đất sét, sắt, dầu khí, đồng Trong đó, một sốloại có trữ lượng lớn như:than đá có trữ lượng lớn và chất lượng cao nhất khu vực Đông Nam Á Bên cạnh một số loại đã kể trên thì những khoáng sản khác có trữlượng nhỏvà phân tán

Công nghiệp khai khoáng Việt Nam hình thành từ cuối thế kỷ XIX do Pháp khởi xướng Năm 1955, Việt Nam bắt đầu tiếp quản, duy trì, phát triển các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản.Đến nay, Việt Nam đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ Trong đó, một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp đã được đánh giá như dầu – khí (1,2 tỷ – 1,7 tỷ m3), than (240 tỷ tấn), sắt (2 tỷ tấn), đồng (1 triệu tấn kim loại), titan (600 triệu tấn khoáng vật nặng), bauxit (10 tỷ tấn), chì kẽm, thiếc, apatít (2 tỷ tấn), đất hiếm (11 triệu tấn) và các khoáng sản làm vật liệu xây dựng (52 tỷ m3

)

Tuy vậy, với vùng thềm lục địa rộng lớn trên 1 triệu km2, việc thăm dò

và khai thác tài nguyên khoáng sản biển còn nhiều hạn chế, chủ yếu do vấn đề

Trang 7

năng lực thăm dò địa chất biển và vốn đầu tư Trong các loại khoáng sản kể trên, trừ các loại khoáng sản như dầu khí, than, sắt, titan apatit đã được thăm

dò tương đối cơ bản và chắc chắn; các khoáng sản kim loại còn lại gồm kim loại màu và khoáng sản quý mới được thăm dò ở mức độ điều tra cơ bản (tìm kiếm) Trước khi đầu tư khai thác, các doanh nghiệp đều phải tiến hành thăm

dò bổ sung để hạn chế rủi ro

Hầu hết các khoáng sản ở Việt Nam có trữ lượng không lớn và phân bố tản mạn, không tập trung.Việc khai thác khoáng sản từ dưới sâu yêu cầu công nghệ rất phức tạp, hiện nay chưa có giải pháp thỏa đáng để vừa khai thác ngầm, vừa bảo vệ được đất Nếu không có công nghệ thích hợp, việc khai thác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và an sinh xã hội

PGS.TS Lưu Đức Hải, Khoa Môi trường, ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN cho rằng, vấn đề bất cập hiện nay trong chế biến khoáng sản ở Việt Nam là có rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các sản phẩm phụ và chất thải có thể tận thu trong quá trình chế biến khoáng sản, gây lãng phí tài nguyên của đất nước Một số trường hợp, giá trị của chất thải rắn, lỏng bị loại

bỏ khỏi dây truyền chế biến quặng có giá trị kinh tế, chưa được tận dụng

1.2.3 Tình hình khai thác khoáng sản tại tỉnh Phú Thọ

1.2.3.1 Tổng quan về đặc điểm phân bố và chất lượng khoáng sản

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã ghi nhận 215 điểm khoáng sản các loại gồm: uranium - thori, asbest, than nâu, sắt, chì - kẽm, vàng, caolanh, felspat, barit, talc,quarzit, mica, graphit, pyrit, puzơlan, serpentin, vermiculit, silic, photphorit, đá vôixi măng, sét xi măng, dolomit, đá ốp lát, đá quý và bán quý,

đá vôi làm vật liệu xâydựng thông thường, cát kết kết, than bùn, đá ong, cuội sỏi, cát xây dựng, sét gạchngói, đá bazan, nước khoáng nóng

Phú Thọ có một số loại khoáng sản lớn có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế, theo số liệu báo cáo Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, trên

Trang 8

địa bàn tỉnh Phú Thọ có hơn 300 mỏ và điểm khoáng sản các loại gồm: uranium - thori, asbest, than nâu, sắt, chì - kẽm, vàng, caolanh, felspat, barit, talc, quarzit, mica,graphit,

Hình 1.1 Tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ qua các năm Bảng 1.1 Trữ lƣợng và tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

TT Loại khoáng sản Đơn

vị

Trữ lƣợng và tài nguyên (năm)

Cấp trữ lƣợng và cấp tài nguyên

Trang 9

TT Loại khoáng sản Đơn

vị

Trữ lƣợng và tài nguyên (năm)

Cấp trữ lƣợng và cấp tài nguyên

(Báo cáo số 88/BC-TNMT, ngày 30/6/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường)

Các loại khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh cấp phép tính đến năm 2018 gồm có 131 mỏ phân theo loại khoáng sản như sau:

- Caolin Fenspat: 12 mỏ - Đá xây dựng, ximăng: 40 mỏ

- Dolomit talc: 04 mỏ - Nước khoáng nóng: 01 mỏ

- Secpentin 01 mỏ - Cát sỏi lòng sông : 23 mỏ

Trang 10

Khoáng sản trên địa bàn tỉnh được phân theo các vùng chủ yếu như: Mica, Caolin, Felspat ở Thanh Sơn - Thanh Thủy, Tam Nông, Hạ Hòa; Talc, Sắt, Quaczit và Barit ở Thanh Sơn, Cẩm Khê…

Bảng 1.2 Sản lƣợng khai thác một số loại tài nguyên trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ

TT Loại khoáng sản ĐV

T

Sản lƣợng khoáng sản khai thác Năm

2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018

- Felspat: thực chất là các khoáng vật có kích thước, hàm lượng và mức độtập trung có thể thu hồi trong quá trình khai thác các thể pegmatit Pegmatit cóthành phần khoáng vật chính gồm thạch anh, felspat, mica Các thành phần này đềucó thể thu hồi trong quá trình khai thác

Theo kết quả điều tra địa chất, tìm kiếm và thăm dò, trên địa bàn của tỉnh có 61 khu mỏ và điểm caolanh - felsapt, gồm: Huyện Thanh Sơn 6 khu

Trang 11

mỏ và điểm mỏ, Huyện Cẩm Khê 5 mỏ và điểm mỏ, huyện Thanh Thuỷ 9 mỏ

và điểm mỏ, huyện Đoan Hùng 15 mỏ và điểm mỏ caolanh và fenspat, huyện

Hạ Hoà 14 mỏ và điểm mỏ, thị xã Phú Thọ 7 mỏ và điểm mỏ, huyện Thanh

Ba 3 mỏ và điểm mỏ caolanh, huyện Phù Ninh 2 mỏ và điểm mỏ caolanh

* Talc

Talc phân bố chủ yếu trong các đá trầm tích biến chất hệ tầng Suối Chiềng và đá vôi dolomit hoá, dolimit hệ tầng Bến Khế, hệ tầng Sinh Vinh Các thân quặng dày 0,5 - 1m đến 10 - 12m (mỏ Tân Lập) Quặng có nguồn gốc nhiệt dịch Tại mỏ Xóm Giấu, hàm lượng SiO2 = 48,67%; Al2O3 = 0,03%; Fe2O3 = 4,15%; CaO = 1,9%; MgO = 25,25% Hiện đã ghi nhận 17

mỏ và điểm talc, gồm: Huyện Thanh Sơn 8 mỏ và điểm mỏ, huyện Tân Sơn 7

mỏ và điểm mỏ, huyện Yên Lập 2 mỏ và điểm mỏ

* Sắt

Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây và kết quả khảo sát cho thấy, trênđịa bàn tỉnh Phú Thọ đã ghi nhận nhiều mỏ và điểm quặng sắt có nguồn gốc khácnhau: nguồn gốc nhiệt dịch; trầm tích biến chất và phong hoá Trong đó quặng sắtnguồn gốc nhiệt dịch thường có hàm lượng sắt cao hơn so với hai loại nguồn gốccòn lại Về quy mô, sắt nguồn gốc trầm tích biến chất thường có quy mô lớn hơn.Theo tính chất vật lý và thành phần khoáng vật, quặng sắt chủ yếu thuộc loại quặngmanhetit, ít hơn là hematit và limonit Tổng hợp các kết quả phân tích mẫu chothấy, hàm lượng sắt trong các mỏ và điểm quặng thay đổi trong phạm vi rất rộng: mỏ sắt Chòi Hãn - Thanh Sơn, Hương Lung - Cẩm Khê có hàm lượng TFe = 62,29 -70,50%; các mỏ và điểm sắt còn lại có hàm lượng TFe thấp, phổ biến từ 30 - 40%đến < 54%

Hiện đã ghi nhận 33 mỏ và điểm quặng, trong đó: huyện Thanh Sơn 11

mỏ và điểm quặng; huyện Tân Sơn 8 mỏ và điểm quặng, huyện Cẩm Khê 5

mỏ và điểm quặng, huyện Thanh Thuỷ 2 mỏ và điểm quặng, huyện Yên Lập 5

mỏ và điểm quặng, huyện Hạ Hoà 2 điểm mỏ

Trang 12

* Quarzit

Quarzit phân bố chủ yếu trong các đá trầm tích biến chất hệ tầng Bến Khế, Bản Nguồn, Thạch Khoán Các thân quarzit dài vài trăm mét đến > 4km, dày 20 - 50m Hàm lượng SiO2 = 96,44 - 98,56%; Al2O3 = 0,26 - 0,48%; Fe2O3 = 0,26 - 0,99% Hiện đã ghi nhận 6 mỏ và điểm quarzit, gồm: huyện Cẩm Khê 2 điểm mỏ, huyện Hạ Hoà 1 điểm mỏ, huyện Thanh Sơn 3 mỏ và điểm quặng

* Serpentin: 1 điểm mỏ tại huyện Thanh Sơn

* Đá làm vật liệu xây dựng thông thường

- Đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường phân bố thành dải hoặc thấu kính trong hệ tầng Thác Bà, Bến Khế, Bó Hiềng, Bắc Sơn, Si Phay và Na Vang Hầu hết chúng lộ ra dưới dạng các dãy núi hoặc quả núi độc lập ở khu vực Vân Du, Phú Thứ, Thu Cúc, Yên Lập, Hương Cần, Xuân Sơn Đá vôi xây dựng bị nứt nẻ mạnh, cấu tạo phân lớp dày đến dạng khối, có thành phần khoáng vật gồm canxit thay đổi từ 60 - 95%, đolomit từ rất ít đến 40%, các khoáng vật khác như thạch anh và quặng rất ít Thành phần hoá học: CaO = 47,22 % - 53,66 %; MgO = 0,19 % - 3,83 % Kết quả phân tích mẫu cơ lý đá: thể trọng từ 2,65 đến 2,70g/cm3; cường độ kháng nén bão hoà 500 - 600 kg/cm2, cường độ kháng nén khô 550 – 700 kg/cm2

Các loại đá này đáp ứng các chỉ tiêu làm vật liệu xây dựng thông thường

Hiện có 35 mỏ đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường đã được cấp phép trên địa bàncác huyện gồm: huyện Thanh Sơn 12 mỏ; Tân Sơn 2 mỏ; Yên Lập 13 mỏ; Cẩm Khê 2 mỏ; Đoan Hùng 5 mỏ; Tam Nông 1 mỏ

- Đá laterit: đã ghi nhận 1 mỏ ở huyện Thanh Ba

* Cát kết

Cát kết kết tạo thành lớp dày vài chục mét trong hệ tầng Phan Lương tuổiNeogen Chúng nằm xen với bột kết, sét kết, cuội kết và cắm về tây nam với góc dốc thoải 20 - 250 Phủ lên trên đá gốc là lớp vỏ phong hoá có chiều dày từ 0,5 đến 6 - 7 m, đôi khi lớn hơn

Trang 13

Cát kết màu xám, cấu tạo phân lớp tương đối dày, kiến trúc cát hạt thô Thành phần khoáng vật gồm: mảnh vụn có thạch anh 55%, mảnh đá 10%, felspat 5%; ximăng gồm sét - silic - cacbonat Hàm lượng thành phần các oxyt SiO2 = 73,79%; Al2O3 = 6,69%, Fe2O3 = 2,12% Cát kết có thể trọng = 2,65 g/cm3; cường độ kháng nén khô = 439 kg/cm3; cường độ kháng nén bão hoà =

395 kg/cm3 Từ kết quả nghiên cứu cho thấy cát kết, cát - sạn kết chỉ có thể sử dụng làm đá hộc để kè đê, bờ sông và cầu cống có quy mô không lớn do loại đá này có độ kiên cố nhỏ và hàm lượng khoáng vật felspat cao nên dễ bị phong hoá phá huỷ Hiện đã ghi nhận 1 mỏ đá ở xã Trị Quận, huyện Phù Ninh

- Sét trầm tích nằm trong các thành tạo trầm tích bở rời hệ tầng Thái Bình vàtrầm tích aluvi hiện đại tạo thành bậc thềm và bãi bồi phân bố dọc theo ven sôngHồng, bờ trái sông Đà, bờ phải sông Lô, hai bờ sông Bứa và trong các thung lũng giữanúi Trong đó, diện phân bố lớn nhất nằm ven hai bên thung lũng sông Hồng thuộc địaphận các huyện Hạ Hoà, Thanh Ba, Lâm Thao, Tam Nông, Cẩm Khê Các thân sétthường có dạng lớp, thấu kính, dày

từ 1 - 3 m và nằm dưới lớp đất trồng từ 0,5 - 1 m, đôi khi lộ trực tiếp ngay trên bề mặt Sét trầm tích màu nâu vàng, xám phớt vàng, cóđộ dẻo và độ hạt

Trang 14

biến động hơn so với sét phong hoá Thành phần độ hạt của sét: cỡ hạt < 0,005 mm chiếm từ 41,5 - 50%, cỡ hạt > 10 mm không có Thành phần hoá học: SiO2 = 55,90 - 69,60%, Al2O3 = 14,25 - 20,65%, Fe2O3 = 5,85 - 8,5% Trongnhiều năm qua, sét trầm tích là đối tượng chính được các doanh nghiệp

ở hầu hếtcác huyện khai thác làm gạch ngói

Thực tế, một số doanh nghiệp trên địa bàn của tỉnh đã sử nguyên liệu sét được phối trộn từ sét phong hoá, sét trầm tích cùng với phù sa sông để sản xuất gạch bằng công nghệ lò tuynel và lò cải tiến

Các mỏ và điểm sét gạch ngói được Tổng cục Địa chất phát hiện trên địa bàn các huyện gồm: Hạ Hoà 1 mỏ; Cẩm Khê có 4 mỏ; Thanh Ba có 2 mỏ; Thị xã Phú Thọ có 1 mỏ; Lâm Thao có 1 mỏ; Đoan Hùng có 1 mỏ; Phù Ninh

3 mỏ; Thành phố Việt Trì 3 mỏ; Thanh Sơn 1 mỏ

Ngoài các mỏ và điểm sét có quy mô lớn và trung bình đã nêu, trên địa bàn của tỉnh còn các mỏ quy mô nhỏ do các doanh nghiệp tiến hành điều tra – thăm dò và đã được tỉnh cấp phép khai thác (các mỏ này được trình bày cụ thể trong phần hiện trạng thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản)

* Cát xây dựng

Cát phân bố tập trung ở sông Lô, sông Chảy, sông Hồng, sông Đà, sông Bứa và ngòi Giành Trong đó cát sông Lô, sông Chảy, sông Hồng, sông Đà có tiềm năng lớn

- Cát sỏi sông Lô, sông Chảy: phân bố trong thềm bậc I, các bãi bồi nổi

cao hơn mặt nước và dưới mực nước (cát lòng sông) Cát chủ yếu thuộc loại hạt trung đến lớn chứa cuội, sỏi và lẫn ít bùn sét Sỏi có cỡ hạt > 10 mm thường nhỏ hơn 10%, loại 10 – 5 mm chiếm 4,9 - 8,3%; cỡ hạt cát < 0,15 mm

từ 7,5 - 8,3%; lượng sót tích luỹ trên dây đến 0,15 mm đạt 93,4%, mô đun độ lớn từ 2,8 - 3,1 Tài nguyên - trữ lượng cát sỏi tự nhiên sông Lô, sông Chảy khá lớn, trong đó riêng sông Lô đạt trên 170,833 triệu m3

- Cát sông Hồng: Cát tích tụ tạo thành các bãi bồi cao và bãi bồi thấp

Trang 15

phân bốdọc sông Hồng Ngoài ra còn lượng cát đáng kể tích tụ thành các bãi bồi nằm chìmdưới nước (cát lòng sông) Cát sông Hồng thuộc loại hạt nhỏ đến trung, chủ yếu rơivào trường cỡ hạt từ 0,315 - < 0,15% Loại cát có cỡ hạt

từ 2,5 - 0,15 mm chiếm tỷlệ không đáng kể Tài nguyên - trữ lượng cát sông Hồng tính cho các bãi bôi nổi cao có diện tích từ vài ha trở lên đạt 57,777 triệu m3 Nếu tính cả cát nằm dưới mực nước thì tài nguyên sẽ tăng lên khoảng 2 – 3 lần

- Cát sông Đà: Cát tích tụ thành các bãi bồi thấp nhô cao hơn mặt nước 0,5 - 1m và các bãi bồi nằm chìm dưới nước Trong các bãi bồi thấp, cát có cỡ hạt thay đổi trong khoảng khá rộng: từ Lương Nha đến La Phù, tỷ lệ cát hạt nhỏ chiếm chủ yếu, còn từ La Phù đến cầu Trung Hà thì cát hạt trung tăng lên đáng kể Tài nguyên - trữ lượng cát sông Đà tính riêng cho các bãi bôi nổi có diện tích từ vài ha trở lên đạt trên 36,517 triệu m3

- Cát sông Bứa: Trên sông Bứa rất ít gặp các bãi bồi cát, cuội sỏi, nếu gặp thì đó là các bãi bồi có thành phần chính là cuội sỏi kích thước lớn lẫn đá tảng và cát Cát sông Bứa thuộc loại hạt trung lẫn bùn sét và chứa cuội, sỏi Cuội sỏi có thành phần đa dạng gồm chủ yếu là đá biến chất, đá magma xẫm màu và thạch anh màu sáng Cát có cỡ hạt từ 2,5 - 0,15 mm chiếm 93,9 - 94,1%; loại cát có cỡ hạt <0,15mm từ 5,9 - 6,1%

* Cuội sỏi

Cuội sỏi xây dựng được phát hiện ở xã Thanh Hà - huyện Thanh Ba, xã

Cổ Tiết - huyện Tam Nông, xã Tử Đà - huyện Phù Ninh Ngoài ra, cuội sỏi còn được thu hồi trong quá trình khai thác cát dọc lòng sông Lô, sông Chảy

và sông Bứa

Cuội sỏi nằm trong trầm tích Đệ tứ phân bố dọc ven sông hoặc phủ trực tiếp lên các thành tạo tuổi Neogen (Cổ Tiết) Các thân cuội sỏi có dạng lớp, thấu kính, ổ, nằm ngang và thường bị phủ bởi lớp sét dày 0,5 - 2m, có chiều dài từ vài trăm mét đến 1- 6 km, rộng 200 - 500m, dày 0,2 - 7 m

Trang 16

Các thân cuội sỏi có thành phần chính gồm thạch anh, quarzit và đá silic, lẫn cát, sét Thạch anh màu trắng, trắng đục, độ mài tròn tốt, kích thước

từ 1 – 40 cm, độ thu hồi trên 31% Quarzit và đá silic màu xám trắng, chiếm khoảng 20,3 - 40,9%

Cuội sỏi chủ yếu sử dụng làm phối liệu trong bê tông Các mỏ và điểm cuội sỏi xây dựng được phát hiện trên địa bàn các huyện gồm: huyện Tam Nông 1 mỏ: Cổ Tiết; huyện Thanh Ba 1 mỏ: Thanh Hà; huyện Phù Ninh 1 mỏ: Tử Đà

* Than bùn

Than bùn phân bố chủ yếu trong các bồn trũng nhỏ giữa núi, hồ đầm ven núi và các suối cổ bị chết Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, than bùn chủ yếu liên quan đến các thành tạo Đệ tứ hiện đại Lớp than bùn dạng thấu kính nằm ngang và dày 0,6 ÷ 2,0 m, thường bị phủ bởi lớp thổ nhưỡng

có chiều dày 0,1 ÷ 0,4 m Than bùn khi mới lấy lên có màu đen đến đen nâu, khi khô có màu xám đen đến xám nâu nhạt, nhẹ và xốp Hiện đã phát hiện 10

mỏ và điểm than bùn, gồm: huyện Thanh Sơn 1 điểm mỏ: Cự Thắng; thành phố Việt Trì 4 mỏ và điểm mỏ: Minh Nông, Quất Hạ, Đầm Nâu, Kim Đức; huyện Thanh Thuỷ 2 mỏ và điểm mỏ: Gốc Sồi, Phương mạo; huyện Tam Nông 1 điểm mỏ: Phà Ghềnh; huyện Hạ Hoà 1 điểm mỏ: Chính Công; thị xã Phú Thọ 1 điểm mỏ: Văn Lung

1.2.3.2 Thực trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

a Khái quát về tình hình hoạt động khoáng sản

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 142 giấy phép khai thác khoáng sản đang còn hiệu lực, trong đó: 01 giấy phép khai thác than nâu; 18 giấy phép caolanh

- felspat; 06 giấy phép khoáng chất công nghiệp khác; 13 giấy phép khai thác quặng sắt; 40 giấy phép khai thác đá xây dựng; 06 giấy phép khai thác đá làm nguyên liệu xi măng; 34 giấy phép khai thác sét gạch ngói; 23 giấy phép khai thác cát, sỏi lòng sông; 01 giấy phép khai thác nước nóng (có danh sách các

Trang 17

mỏ kèm theo) Thực tế đến năm 2018 có 106 mỏ hoạt động, 26 mỏ mới được cấp giấy phép chưa hoạt động, 18 mỏ phải tạm dừng hoạt động do hết hạn giấy phép hoặc khai thác không có hiệu quả

b Thực trạng khai thác khoáng sản

Sau khi Luật Khoáng sản được ban hành năm 1996, Luật Khoáng sản sửa đổibổ sung một số điều năm 2005, Luật khoáng sản năm 2010 vàQuyết định số 10/2014/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản giai đoạn 2010-2020 định hướng đến 2030 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, các hoạt động khai thác khoáng sản đã từng bướcphát triển cả về quy mô và các thành phần kinh tế tham gia Đặc

biệt hoạt động khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh

diễn ra khá sôi động, nhất là đối với caolanh - felspat, cát sỏi, đá vôi và sét xi măng, đá vôi xây dựng, sét gạch ngói và cát cuội sỏi, cụ thể:

* Caolanh - fenspat

- Caolanh: Phần caolanh phong hoá nằm trên thân pegmtit được khai thác lộ thiên bằng phương pháp cắt tầng với độ cao mỗi tầng 3 – 5 m Độ cao khai thác ở phần lớn các mỏ thường cao hơn mực xâm thực địa phương nên việc tháo khô mỏ chủ yếu bằng phương pháp thoát nước tự chảy Một số mỏ có

độ cao khai thác thấp hơn mựcxâm thực địa phương, lượng nước chảy vào mỏ được tháo khô bằng phương pháp cưỡng bức như mỏ Ba Bò, Bưa Mè, Hang Dơi Quy trình khai thác đơn giản,gồm: bóc đất đá phủ đưa ra bãi thải, xúc bốc caolanh lên ô tô bằng gàu xúc, vậnchuyển về bãi chứa ở khu chế biến

- Felspat: Chủ yếu được khai thác sau khi đã khai thác hết quặng

caolanh nằm trên Quặng felspat được khai thác lộ thiên bằng phương pháp cắt tầng với độ caomỗi tầng 4 – 5 m Độ cao khai thác tại các mỏ phụ thuộc vào điều kiện địa chất thuỷvăn - địa chất công trình của mỏ Với các mỏ có độ cao khai thác cao hơn mực xâmthực địa phương, việc tháo khô mỏ chủ yếu bằng phương pháp thoát nước tự chảy

Trang 18

Các mỏ có độ cao khai thác thấp hơn mực xâm thực địa phương, lượng nước chảy vào mỏ được tháo khô bằng phương pháp cưỡng bức Phần lớn các

mỏ felspat có caolanh phong hoá đi cùng nên để khai thác lấy felspat phải khai thác thu hồi caolanh nằm phủ trên thân khoáng Quy trình công nghệ khai thác thu hồi felspat đi cùngtương tự như đã trình bày ở trên Ở các mỏ này, quy trình công nghệ khai thácfelspat gồm: khoan nổ mìn để phá quặng (pegmatit), xúc bốc quặng lên xe cơ giới và chở về bãi chứa để đưa vào chu trình tuyển Đối với những tảng quặng có kíchthước lớn thường dùng búa 3 - 5kg để đập phá tạo cục kích thước nhỏ trước khi đưalên phương tiện vận chuyển Những mỏ hoặc các thân felspat không có caolanh đi cùng, quy trình công nghệ khai thác có thêm công đoạn bóc bỏ tầng đất đá phủ và vận chuyển

* Quặng sắt

Các mỏ quặng sắt được cấp phép khai thác đều khai thác lộ thiên theo phươngpháp cắt tầng với chiều cao từ 5 đến 7 m Trong quá trình khai thác sử dụng mìn để phá đá và quặng Phần đất đá thải được vận chuyển về khu bãi thải bằng xe cơ giới Đá chứa quặng và quặng được bốc lên xe và chở về bãi chứa để đưa vào chu trình tuyển quặng Tại những vị trí không thể dùng được máy móc, thiết bị chủ yếu sử dụng lao động phổ thông để thu gom quặng về

vị trí thuận lợi Trong số 13 doanh nghiệp được Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp phép khai thác quặng sắt, thực tế có 6 mỏ đang khai thác và chế biến, 6 mỏ đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, 1 mỏ không thực hiện dự án Về triển khai thực hiện theo giấy phép khai thác được cấp có 3 mỏ chậm tiến độ là mỏ

Trang 19

sắt xóm Mịn - xã Mỹ Thuận, xóm Lóng -xã Thạch Kiệt và xóm Cả - xã Tân Phú Sản lượng quặng sắt được cấp phép là 1.876.000 Các đơn vị được cấp phép khai thác quặng sắt trình bày phần phụ lục

* Quarzit: các mỏ quarzit khai thác bằng phương pháp lộ thiên Quy

trình côngnghệ khai thác tương tự các mỏ felspat và quặng sắt gốc v.v Quarzit có chất lượngtốt, hàm lượng SiO2 98% nên chủ yếu khai thác phục vụ nhu cầu của nhà máy gang thép Thái Nguyên và làm nguyên liệu sản xuất ferosilic Sản lượng khai tháctheo giấy phép là 77.210 m3/năm và 4000 tấn/năm

* Talc: khai thác lộ thiên bằng phương pháp cắt tầng với độ cao khai

thác caohơn mực xâm thực địa phương Do quặng talc có tính chất vật lý khác hoàn toàn sovới đá vây quanh nên sau khi khai thác ra chúng được xúc bốc trực tiếp lên lên ô tôvà vận chuyển về kho chứa.Trong số 4 mỏ Talc đã cấp phép khai thác mới có mỏ 3 tiến hành khai thác, 1 mỏ (mỏ đồi Con Chuột - xã Tân Lập - Thanh Sơn cấp phép năm 2008) chậm tiến độ -đang xây dựng cơ bản mỏ Sản lượng theo cấp phép 35.000 m3/năm

* Secpentin: có 1 mỏ serpentin được cấp phép khai thác Mỏ được khai

thác bằng phương pháp lộ thiên Sản lượng theo giấy phép 40.000 tấn/năm

* Đá phụ gia xi măng: Đá làm phụ gia hoạt tính trong sản xuất xi măng

được khai thác bằng phương pháp lộ thiên Đá khai thác ra được nghiền nhỏ

và đóng bao, sau đó vận chuyển về nhà máy xi măng Hiện có 1 mỏ được UBND tỉnh cấp phép cho Công ty cổ phần xi măng Phú Thọ khai thác với sản lượng 46.000 m3/năm

* Đá vôi xây dựng: Đá vôi được khai thác lộ thiên bằng phương pháp

cắt tầng suốt và cắt tầng với độ cao 7 – 10 m Độ cao khai thác ở phần lớn các

mỏ thường cao hơn mực xâm thực địa phương nên việc tháo khô mỏ chủ yếu bằng phương pháp thoát nước tự chảy Một số mỏ có độ cao khai thác thấp hơn mực xâm thực địa phương nên lượng nước chảy vào mỏ được tháo khô

Trang 20

bằng phương pháp cưỡng bức (bơm hút) như mỏ Gò Măng, Gò Hèo Sản lượng khai thác năm 2018 là 1.155,4 ngàn m3

Trong số các mỏ đá xây dựng được cấp phép, có 10 mỏ đang trong thời

kỳ xây dựng cơ bản, 1 mỏ không thực hiện dự án là mỏ Hang Moong - xã Hương Cần - huyện Thanh Sơn; 11 mỏ khai thác không đúng quy định, vi phạm về chiều cao tầng, góc nghiêng sườn tầng và trình tự khai thác; 6 mỏ không thành lập bản đồ hiện trạng mỏ Hiện có 37 mỏ được cấp phép thăm dò

và có văn bản chủ trương của UBND tỉnh; trong đó có 33 mỏ được cấp phép khai thác với sản lượng 2.228.000 m3 và sản lượng thực tế năm 2013 ước đạt 1.121.500 m3

* Cát kết: Cát kết được khai thác bằng phương pháp lộ thiên với quy

mô nhỏ và sản lượng thấp Quy trình công nghệ khai thác đơn giản, chủ yếu là bóc đất phủ, khoan nổ mìn tạo đá hộc, sau đó vận chuyển bằng ô tô đến nơi tiêu thụ Sản phẩm đá hộc được sử dụng để kè đê và bờ sông bị sạt lở, xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi Trên địa bàn của tỉnh có 1 mỏ đá Trị Quận, huyện Phù Ninh do Công ty CPXD &PTNT Phú Thọ khai thác với sản lượng cấp phép 10.000m3/năm

* Sét gạch ngói: Hoạt động khai thác sét làm gạch ngói phát triển khá

mạnh ở hầu khắp các huyện, thị trong toàn tỉnh, đặc biệt là dọc hai bờ sông Hồng Sét được khai thác bằng phương pháp lộ thiên, quy trình công nghệ khai thác gồm: bóc đất phủ, xúc bốc sét lên ô tô và vận chuyển về

khu chế biến Trong số các mỏ sét được cấp phép, có 5 mỏ đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản Đến năm 2018, tổng sản lượng sét theo cấp phép của 36 mỏ là 306.830 m3/năm

* Khai thác cát: Cát trên sông là loại khoáng sản có đặc thù riêng, đó là

các trầm tích bở rời tích tụ tạo bãi bồi nằm cao hơn mực nước hoặc nằm chìm dưới nước với độ sâu không lớn Vì vậy, công nghệ khai thác chúng phụ thuộc vào loại hình mỏ

Trang 21

- Cát lòng sông: chủ yếu nằm chìm dưới mặt nước nên chúng được khai thác đồng thời bằng ba loại công nghệ chính là tàu cuốc, gàu ngoạm cạp và bơm hút (tàu hút cát tự hành)

- Cát trong bãi bồi cao: quy trình công nghệ khai thác cát đơn giản, gồm xúc bốc cát sỏi lên ô tô bằng máy xúc và vận chuyển đến nơi tiêu thụ Đến năm 2018 có 23 mỏ được phép khai thác với tổng sản lượng theo giấy phép khai thác là 1.091.700 m3 Các đơn vị được cấp phép khai thác các loại khoáng sản nêu trên được trình bày trong phần phụ lục

1.2.3.3 Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường

Bên cạnh những lợi ích to lớn do việc khai thác, chế biến khoáng sản đem lại,chúng ta đang phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực do chúng gây

ra Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã trực tiếp làm thay đổi môi trường xung quanh, phá vỡ cân bằng của điều kiện tự nhiên, gây ra ô nhiễm môi trường

Các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản bao gồm một chuỗi các công đoạn từ khai khoáng đến tuyển khoáng Quặng có thể được khai thác bằng phương pháp lộ thiên hoặc hầm lò, nhưng dù là bất cứ hình thức nào thì tác động của các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đến môi trường xung quanh là không nhỏ Các tác động chính của khai thác, chế biến khoáng sản có thể phân thành các nhóm sau:

Trang 22

quanh làm thay đổi thành phần cơ giới của đất, tất cả dẫn đến suy thoái đất làm giảm năng xuất cây trồng, thậm chí làm mất khả năng canh tác của đất

- Ô nhiễm kim loại nặng và các chất độc hại

* Khai thác khoáng sản làm mất rừng: Các mỏ, đặc biệt là mỏ khai

thác lộ thiên thường chiếm diện tích khá lớn và tương ứng với nó là diện tích rừng bị mất đi

* Ảnh hưởng của khai thác khoáng sản đến môi trường nước

- Thay đổi điều kiện thủy văn như, các yếu tố dòng chảy như thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thủy văn của các sông suối như mực nước, lưu lượng, trong nhiều trường hợp dẫn đến cạn kiệt nguồn nước

- Việc tháo khô nước trong các moong khai thác (nhiều khi tới độ sâu hàng trăm mét) dẫn đến hình thành các phễu hạ thấp mực nước dưới đất có thể kéo theo sự tháo khô của các công trình chứa nước trên mặt như ao hồ, giếng xung quanh khu mỏ

- Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản gây ô nhiễm nguồn nước: + Sự tạo thành dòng thải acid;

+ Ô nhiễm kim loại nặng và các chất độc hại;

Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào kiểu mỏ, đặc điểm thành phần của quặng và đất đá vây quanh

- Tăng hàm lượng các chất lơ lửng gây đục nước, thay đổi tính chất vật

lý và thành phần hóa học của nước

- Các hóa chất sử dụng trong tuyển quặng có thể gây ô nhiễm nguồn nước

* Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Tất cả các ảnh hưởng của việc khai thác khoáng sản đến môi trường đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, trong nhiều trường hợp nó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của cộng đồng dân cư sống xung quanh khu mỏ

Trang 23

* Đánh giá chung về những ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Phú Thọ

Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Thọ về vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản năm 2018, trong quá trình hoạt động các cơ sở khai thác khoáng sản đã chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường, tiến hành áp dụng nhiều phương pháp, công nghệ xử lý chất thải hiện đại, giảm thiểu khói bụi gây độc hại trong khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản Nhiều cơ sở xây dựng hồ chứa, bể lắng, bể lọc chất thải trong khai thác, chế biến theo tiêu chuẩn quy định Đã thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường sau khai thác theo quy định với tổng số tiền lên tới hơn 9 tỷ đồng

Tuy nhiên các hoạt động khai thác khoáng sản vẫn đang gây ra những vấn đề bức xúc về môi trường

- Phần lớn các mỏ đều khai thác theo phương pháp lộ thiên chiếm những diện tích không nhỏ

- Nhiều mỏ khai thác chưa đúng quy trình kỹ thuật, việc quản lý đất đá thải chưa tốt Ở một số nơi đã có hiện tượng sạt lở đất đá tại các bãi thải hoặc hiện tượng xô lũ vùi lấp diện tích canh tác của nhân dân

- Nước thải trong quá trình tuyển quặng không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt nước thải của các cơ sở tuyển quặng sắt có hàm lượng chất lơ lửng cao làm đục nguồn nước Nguồn nước này khi được sử dụng làm nước tưới

ở vùng hạ lưu đã gây ảnh hưởng đến chất lượng đất và sinh trưởng của cây

- Việc phục hồi môi trường sau khai thác ở mỏ pyrit Giáp Lai chưa tốt nên vẫntiếp tục gây ảnh hưởng tán dư như ô nhiễm nguồn nước, dòng thải axit vẫn tồn tại

- Việc khai thác bừa bãi cát sỏi dọc các sông, đặc biệt là sông Lô gây xói lởbờ sông ở nhiều nơi

- Tại nhiều khu mỏ do lượng xe có trọng tải lớn ra vào mỏ cao nên đường xá nhiều nơi bị xuống cấp và hư hại nặng

Trang 24

1.2.4 Các nghiên cứu về đánh giá tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường

Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong đánh giá chất lượng môi trường đã được thực hiện ở nhiều khu vực với quy mô khác nhau, đã thu được một số kết quả nhất định

Năm 2017, nghiên cứu “Sử dụng ảnh Landsat xây dựng bản đồ phân bố

ô nhiễm không khí do hoạt động khai thác khoáng sản tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Hải Hòa, Nguyễn Thị Hương đã sử dụng các chỉ số thực vật để xây dựng bản đồ phân bố mức độ ô nhiễm không khí khu vực nghiên cứu

Năm 2018, nghiên cứu “Ứng dụng GIS và viễn thám trong xây dựng bản đồ chất lượng không khí khu vực khai thác khoáng sản, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện bởi nhóm tác giả Trần Quang Bảo, Hồ Ngọc Hiệp và Lê Sỹ Hòa tiếp tục sử dụng ảnh Landsat thông qua tính toán chỉ

số API để đánh giá chất lượng không khí khu vực nghiên cứu Kết quả đem lại rất khả quan và góp phần trong công tác quản lý giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản.Nhìn chung, các nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng tư liệu viễn thám trong theo dõi, giám sát và đánh giá chất lượng không khí có độ tin cậy và khả thi cao trong điều kiện hạn chế về số lượng trạm quan trắc môi trường Kết quả nghiên cứu nghiên cứu cho thấy có thể ứng dụng tư liệu viễn thám trong giám sát và đánh giá môi trường không khí tại Việt Nam

Tại Phú Thọ, năm 2012, nghiên cứu “Đánh giá ô nhiễm tồn lưu khu vực mỏ pyrit Giáp Lai - Phú Thọ, đề xuất giải pháp xử lý và kiểm soát ô nhiễm” của tác giả Lưu Văn Doanh đã sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tích và điều tra xã hội học để phân tích về hàm lượng kim loại trong chất thải

và khả năng đệm của các vật liệu cũng như các thí nghiệm động học về sự hình thành ARD trong thời gian lâu dài được mô phỏng trong các điều kiện được kiểm soát

Trang 25

Năm 2014, nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng tới môi trường của một số

dự án khai thác và chế biến quặng sắt trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Trần Mạnh Toàn đã sử dụng phương pháp phân tích mẫu và so sánh với quy chuẩn từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục và quản lý hiệu quả

Hầu hết các nghiên cứu dừng lại ở việc lấy mẫu, phân tích, đánh giá và

đề xuất giải pháp chưa đưa ra được bức tranh tổng thể về chất lượng môi trường khu vực nghiên cứu

Trang 26

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cửu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu nội dung và thời giancủa đề tài, nghiên cứu tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản, bao gồm khai thác Caolanh - Fenspat đến chất lượng môi trường không khí, chất lượng nước mặt, môi trường xã hộitại khu vực khai thác khoáng sản,huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện trong khu vực khai thác khoáng sản tạixã Giáp Lai, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Đây là khu vực tập trung mỏ có

các hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat diễn ra mạnh mẽ

Thời gian thực hiện luận văn: Luận văn thực hiện đề tài tháng 03/2019

- 11/2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá thực trạng chất lượng môi trường và hoạt động quản lý tại khu vực khai thác Caolanh - Fenspat tại xã Giáp Lai và Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Thực trạng chất lượng môi trường (không khí, nước, đất, môi trường

xã hội) khu vực khai thác Caolanh - Fenspat tại xã Giáp Lai và Sơn Hùng huyện Thanh Sơn;

Trang 27

- Đánh giá hoạt động quản lý chất lượng môi trường trong khai thác khoáng sản tại huyệnThanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (vai trò các bên liên quan, thuận lợi, khó khăn…)

2.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat đến chất lượng môi trường

- Chất lượng môi trường không khí: Kết quả quan trắc môi trường không khí; bản đồ phân cấp chất lượng không khí;

- Chất lượng môi trường nước: Chất lượng nước mặt, nước thải;

- Môi trường xã hội: sức khỏe người dân gần khu vực nghiên cứu

2.3.3 Xác định thuận lợi, khó khăn trong hoạt động quản lý chất lượng môi trường khu vực khai thác Caolanh – Fenspat

- Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với hoạt động quản lý chất lượng môi trường

2.3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác và cải thiện chất lượng môi trường

- Đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý;

- Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường tại có các hoạt động khai thác Caolanh- Fenspat

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1.Thực trạng chất lượng môi trường và hoạt động quản lý tại khu vực khai thác Caolanh - Fenspat

Để hoàn thành các nội dung đánh giá thực trạng chất lượng môi trường và hoạt động quản lý tại khu vực khai thác Caolanh - Fenspat tại xã Giáp Lai và Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đề tài sử dụng các phương pháp sau:

- Thu thập một số tài liệu thứ cấp khác để phục vụ trong quá trình nghiên cứu bao gồm:

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tại tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Thanh Sơn nói riêng trong năm 2018: Số liệu do Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Thanh Sơn cung cấp;

Trang 28

+ Đặc điểm về tài nguyên khoáng sản đặc biệt là Caolanh - Fenspat trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; tình hình quản lý của địa phương, đối với các dự án khai thác Caolanh - Fenspat trên địa bàn tỉnh: số liệu do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cung cấp;

+ Thu thập các tài liệu ĐTM của một số dự án khai thác Caolanh - Fenspat trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: số liệu do Chi cục Bảo

vệ môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cung cấp;

+ Thu thập báo cáo về kiểm soát ô nhiễm đối với một số mỏ khai thác Caolanh- fenspat trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ;

+ Đánh giá hoạt động quản lý khai thác khoáng sản và chất lượng môi trường Tìm hiểu cơ cấu tổ chức quản lý thông qua các văn bản ban hành

2.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat đến chất lượng môi trường

Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat đến chất lượng môi trường không khí, môi trường nước và môi trường xã hội, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể:

2.4.2.1.Ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat đến môi trường không khí

Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat, nghiên cứu lựa chọn các điểm quan trắc chất lượng không khí Kết quả quan trắc sẽ được so sánh với QCVN 05:2013/BTNMT ngày 22/03- 22/9/2019 về chất lượng không khí Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng ảnh viễn thám Landsat 8 ngày 30/09/2019 để xây dựng bản đồ phân cấp chất lượng không khí khu vực nghiên cứu Kết quả sẽ được kiểm tra độ tin cậy và là cơ sở khoa học để quan

lý chất lượng không khí trong phạm vi tổng thể Cụ thể:

- Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích chất lượng không khí được trình bày tại Phụ lục 1 của luận văn Các chỉ tiêu quan trắc bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, độ rung, tiếng ồn, ánh sáng, CO, SO2, NO2,

Trang 29

TSP.Các điểm quan trắc môi trường không khí trên địa bàn khu vực nghiên cứu được thể hiện tại Bảng 2.1 và Hình 2.1

Bảng 2.1 Vị trí quan trắc mẫu không khí

Vĩ độ Kinh độ

K7 Khu dân cư xung quanh cách khu vực mỏ Ba Bò 50 m 21.21129 105.22012

Trang 30

Dưới đây là bản đồ tổng hợp các điểm qua trắc tại khu vực nghiên cứu:

Hình 2.1 Bản đồ vị trí các điểm quan trắc

Để đánh giá chất lượng không khí, nghiên cứu đã tiến hành quan trắc 3 đợt vào tháng 03, tháng 06, tháng 09 năm 2019 để tính toán API thực tế Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng tư liệu ảnh Landsat 8để ước tính chỉ số ô nhiễm không khí API và thành lập bản đồ chất lượng không khí tại huyện Thanh Sơn trong năm 2019

Bảng 2.2 Dữ liệu ảnh viễn thám sử dụng trong nghiên cứu

chụp

Độ phân giải (m) Path/row

1 LC81270452019273LGN00 30/09/2019 30 128/45

Để xây dựng bản đồ chất lượng không khí thông qua chỉ số ô nhiễm không khí API (Air Pollution Index)tạixã Sơn Hùng và xã Giáp Lai, nghiên cứu đã tính toán các chỉ số thực vật NDVI (Normalised Difference Vegetation Index), VI (Vegetation Index) và TVI (Transformed Vegetation Index) Các bước xây dựng bản đồ chất lượng không khí được thể hiện tại Sơ đồ 01

Bước 1: Phương pháp tiền xử lý ảnh Landsat

- Phương pháp tiền xử lý ảnh được áp dụng để loại trừ sai số vị trí điểm ảnh do góc nghiêng ảnh chụp và địa hình gây ra Việc chuyển đổi cấp độ sáng thành giá trị bức xạ và phản xạ rất cần thiết nhằm loại bỏ sự khác biệt giữa giá trị ghi trong ảnh và giá trị phản xạ phổ bề mặt (Nguyễn Hải Hòa và cộng sự,

Trang 31

2017b) Ngoài ra, nó cũng giúp giảm sự khác biệt giá trị phản xạ phổ của các đối tượng ở các Sensors khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Hòa và cộng sự (2016), quá trình tiền xử lý ảnh được thực hiện qua 2 bước:

+ Chuyển các giá trị số (Digital number) trên ảnh về giá trị của bức xạ vật lý tại sensor:

L = MLQcal + AL

Trong đó:

- L : Giá trị bức xạ phổ tại sensor;

- Qcal: Giá trị số trên ảnh (DN);

- ML: Giá trị Radiance_Mult_Band_x;

- AL: Giá trị Radiance_Add_Band_x

+ Chuyển các giá trị bức xạ vật lý tại sensor về giá trị của phản xạ ở tầng trên khí quyển của vật thể:

ρ= L/sin(θsz)

Trong đó:

- ρλ: Phản xạ ở tầng trên của khí quyển (Planetary TOA Reflectancre) (thứ nguyên, không có đơn vị);

- θsz: Góc thiên đỉnh (góc cao) của mặt trời (độ)

- Nắn chỉnh: Mục đích của quá trình nắn chỉnh là chuyển đổi các ảnh quét đang ở tọa độ hàng cột của các pixel về tọa độ trắc địa (tọa độ thực, hệ tọa độ địa lý hay tọa độ phẳng) Công việc này nhằm loại trừ sai số vị trí điểm ảnh do góc nghiêng của ảnh gây ra và hạn chế sai số điểm ảnh do chênh lệch cao địa hình

- Gom nhóm kênh ảnh: Dữ liệu ảnh thu nhận được bao gồm các kênh phổ riêng lẻ, cần phải tiến hành gom các kênh ảnh để phục vụ việc giải đoán ảnh Khi ảnh thu thập ảnh viễn thám từ các vệ tinh các ảnh thu được nằm ở dạng các kênh phổ khác nhau và có dạng màu đen trắng Do vậy, để thuận lợi cho việc giải đoán ảnh và tăng độ chính xác người ta thường tiến hành tổ hợp màu cho ảnh viễnthám Việc tổ hợp màu, trộn ảnh màu với ảnh đen trắng để tăng độ phân giải của ảnh và chỉnh lý bản đồ hiện trạng

Trang 32

Sơ đồ 2.1 Phương pháp xây dựng bản đồ chất lượng không khí tại xã

Sơn Hùng và xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn

- Cắt ảnh theo ranh giới: Thông thường trong một cảnh ảnh viễn thám thu được thường có diện tích rất rộng ngoài thực địa (185 km x185 km), trong khi đối tượng nghiên cứu chỉ sử dụng một phần hoặc diện tích nhỏ trong cảnh ảnh đó Để thuận tiện cho việc xử lý ảnh nhanh, tránh mất thời gian trong việc

xử lý và phân loại ảnh tại những khu vực không cần thiết, cần cắt bỏ những phần thừa trong cảnh ảnh Một lớp dữ liệu ranh giới khu vực nghiên cứu được

sử dụng để cắt tách khu vực nghiên cứu của đề tài ra khỏi tờ ảnh

Bước 2: Tính toán các chỉ số NDVI, VI và TVI

- Chỉ số NDVI (Normalised Difference Vegetation Index)(Boken và

cộng sự, 2008; Nguyễn Hải Hòa và cộng sự, 2017a):

Tọa độ các điểm quan trắc

Hiệu chỉnh bức xạ

Tổ hợp kênh ảnh

Cắt ảnh khu vực nghiên cứu

Thu thập dữ liệu ảnh Landsat

Ranh giới xã Sơn Hùng và xã Giáp Lai

Xử lý ảnh Landsat

Tính toán các chỉ số NDVI, VI, TVI

Tính toán chỉ số API

Bản đồ chất lượng không khí

Trang 33

Trong đó: NIR là băng phổ cận hồng ngoại (Near Infrared); RED là băng phổ thuộc bước sóng màu đỏ.Đối với Landsat 8, RED là Band 4, NIR là Band 5, SWIR là Band 6 và Band 7

- Chỉ số biến đổi thực vật (TVI): Do Deering và cộng sự (1975)đề

xuất nhằm loại trừ các giá trị âm và chuyển đổi biểu đồ NDVI thành một phân

bố bình thường:

- Chỉ số thực vật đơn giản (VI): Chỉ số thực vật đơn giản có thể thu

được bằng cách lấy sự khác biệt về giá trị điểm ảnh màu đỏ (RED) và Band cận hồng ngoại (NIR) (Nguyễn Hải Hòa và cộng sự, 2017a):

Bước 3: Tính toán chỉ số ô nhiễm không khí API

Từ các giá trị phản xạ đối với NIR, các kênh SWIR1 và chỉ số thực vật (VI, TVI), chỉ số ô nhiễm không khí (API) được tính bằng công thức(Mozumder và cộng sự, 2012):

Sau khi tính toán được chỉ số ô nhiễm không khí theo Mozumder và cộng sự (2012), mức độ ô nhiễm không khí được chia theo Bảng 2.3

Bảng 2.3 Thang chia mức độ ô nhiễm không khí theo chỉ số API

TT Mức độ chất lượng không khí Giá trị API Màu hiển thị

1 Không khí trong lành (Good) 0 ÷ 50

2 Ô nhiễm nhẹ (Moderate) 51 ÷ 100

3 Ô nhiễm vừa phải (Unhealthy) 101 ÷ 200

4 Ô nhiễm nặng (Very unhealthy) 201 ÷ 300

5 Ô nhiễm nghiêm trọng (Hazardous) >300

Trang 34

Hiệu chỉnh sai số của bản đồ chất lượng không khí theo API

Để bản đồ có độ chính xác cao, việc hiệu chỉnh sai số của bản đồ là rất quan trọng do bản đồ chất lượng không khí dựa trên nồng độ bụi (TSP) nên thường bị ảnh hưởng bởi sự bốc thoát hơi nước của ao hồ, sông suối và thảm thực vật Hơn nữa, đặc thù khu vực nghiên cứu có diện tích rừng lớn nên để hiệu chỉnh sai số của bản đồ là rất cần thiết Nghiên cứu đã loại bỏ các giá trị API < 0 (ảnh hưởng của nước, hơi nước) và API > 325 (ảnh hưởng của thực vật)

Bước 5: Đánh giá sự sai khác giữa giá trị API từ ảnh vệ tính và API quan trắc

Đánh giá sự sai khác giữa giá trị API từ ảnh vệ tinh và API từ quan trắc được thực hiện theo công thức:

APILandsat_n - APIQuan trắc_nTrong đó: APILandsat_n: giá trị API tại điểm n; APIQuan trắc_n: giá trị quan trắc tại điểm n; n số điểm quan trắc

2.4.2.2 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác Caolanh - Fenspat đến môi trường nước

Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường nước, nghiên cứu lựa chọn các điểm quan trắc và thời gian quan trắc

Trang 35

từ ngày 22/03- 22/9/2019 với 3 đợt khảo sát lấy mẫu vào tháng 3, tháng 6, tháng 9/2019 Kết quả quan trắc nước thải sẽ được so sánh với QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 14:2008/BTNMT, nước mặt nguồn tiếp nhận sẽ được so sánh với QCVN 08:2015/BTNMT Cụ thể:

- Các chỉ tiêu:

+ Môi trường nước thải: pH, Cr, TSS, NO2, NO3-, F-, BOD5, Fe, Cu,

Hg, Cd, As, Pb, Xianua, dầu mỡ, Coliform,

+ Môi trường nước mặt: pH, DO, BOD5, TSS, TDS, dầu mỡ, PO43-, S2-,

NH4+, NO3-, Chất HĐBM, Coliform

- Phương pháp lấy mẫu phương pháp bảo quản và phân tích chất lượng nước được trình bày tại Phụ lục 2 của luận văn Dưới đây là bảng vị trí các điểm lấy mẫu nước của tại xã Sơn Hùng và xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Bảng 2.4 Vị trí các điểm lấy mẫu nước

Vị trí lấy mẫu

Vĩ độ Kinh độ

1

Nước thải sinh hoạt tại khu vực chế biến

caolin khu 5, xã Giáp Lai ra hệ thống thoát

nước chung của khu vực

2

Nước thải sinh hoạt tại khu vực nghiền

fenspat của khu 7, xã Giáp Lai ra hệ thống

thoát nước chung khu vực

Trang 36

Hình 2.2 Một số hình ảnh lấy mẫu môi trường

- Lập biểu đồ cột so sánh các chỉ tiêu trong môi trường nước thải

và nước mặt từ đó đưa ra đánh giá về tác động của nước thải sinh họat cũng như nước thải sản xuất đến môi trường nước mặt tại suối Bưa Mè

- Đối tượng điều tra: Các hộ dân sống xung quanh các mỏ Caolanh – Fenspat tại xã Giáp Lai và xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn

- Số lượng phiếu điều tra: 60 phiếu

- Mẫu phiếu điều tra được trình bày tại Phụ lục 3 của luận văn

- Hình thức phỏng vấn:

+ Phỏng vấn trực tiếp

+ Thông qua phiếu điều tra

Trang 37

Kết quả phỏng vấn phục vụ cho công tác đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến sức khỏe người dân gần khu vực nghiên cứu

2.4.3 Xác định thuận lợi, khó khăn trong hoạt động quản lý chất lượng môi trường khu vực khai thác Caolanh – Fenspat

Dựa vào thông tin thu thập để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong hoạt động quản lý khai thác khoáng sản, nghiên cứu sử dụng

mô hình SWOT (Strengths, Weakness, Opportunity, Threats) Kết quả phỏng vấn sẽ được phân tích, đánh giá để xác địnhđiểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức theo mô hình SWOT Kết quả phân tích SWOT là cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và cải thiện chất lượng môi trường

2.4.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác và cải thiện chất lượng môi trường

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá kết hợp với tham vấn một số chuyên gia là giảng viên Trường Đại học, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Sơn đề tài tiến hành đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý các hoạt động khai thác và cải thiện môi trường tại những khu vực khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

+ Đề xuất nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản

+ Đề xuất nhóm giải pháp cải thiện chất lượng môi trường khu vực khai thác khoáng sản

Trang 38

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Thanh Sơn nằm phía Tây Nam, tỉnh Phú Thọ có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp các huyện Tam Nông và Yên Lập, tỉnh Phú Thọ;

- Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình;

- Phía Tây giáp huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;

- Phía Đông giáp huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ và tỉnh Hoà Bình Huyện Thanh Sơn có đường quốc lộ 32A từ Hà Nội đi Sơn La, Yên Bái Với tuyến quốc lộ và 7 tuyến đường tỉnh, huyện Thanh Sơn ở vị trí khá thuận tiện về giao thông Nơi đây là đầu mối giao thông quan trọng, nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng với trung du miền núi Từ đây có thể mở rộng giao thương với các huyện lân cận cũng như với tỉnh khác Với vị trí địa lý

đó, Thanh Sơn thực sự là đầu mối giao lưu quan trọng, của ngõ chuyển tiếp của khu vực trung du và miền núi tạo những tiềm năng phát triển thị trường, giao lưu hàng hoá giữa các khu vực

Xã Sơn Hùng và xã Giáp Lai là nằm ở phía Bắc, Tây Bắc của huyện Thanh Sơn có tiềm năng về phát triển kinh tế và du lịch Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý môi trường đã được quan tâm, đặc biệt về chất lượng môi trường nước và không khí Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy môi trường xã Sơn Hùng và xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn đang chịu tác động lớn bởi các các hoạt động như khai thác, chế biến khoáng sản, giao thông, xây dựng trong khi các điểm quan trắc chất lượng không khí chưa nhiều và phân bố chưa đều Do vậy, kết quả quan trắc chưa đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng không khí tại xã Sơn Hùng và xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn

Trang 39

3.1.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Thanh Sơn là đoạn cuối của dãy Hoàng Liên Sơn với nhiều dãy núi nằm nhô trong phức hợp vùng núi thấp có độ cao trung bình từ 500 đến 700m Đây là vùng thượng lưu của sông Bứa Về cơ bản huyện Thanh Sơn là huyện miền núi với địa hình đặc trưng là núi đồi có sườn dốc, bị phân cắt bởi nhiều thung lũng hẹp và trung bình Địa hình đó cũng tạo cho huyện Thanh Sơn có cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp đa dạng, tuy nhiên địa hình bị chia cắt phức tạp, đồi núi dốc cũng gây cho Thanh Sơn nhiều trở ngại trong phát triển kinh tế và xã hội

Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện Thanh Sơn

3.1.3 Khí hậu và thời tiết

Huyện Thanh Sơn nằm trong vùng khí hậu Trung du miền núi phía Bắc, mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều Khí hậu trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

Trang 40

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.Các số liệu thống kê về khí tượng thuỷ văn khu vực thực hiện đề tàiđược lấy từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2018

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 23,50C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,80C và nhiệt độ trung bình của tháng thấp nhất là 16,10

C

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 89% (tháng 8, 12 năm

2018) Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 82% (tháng 6 năm 2018).Nhìn chung, độ ẩm của khu vực mang đậm nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao và tương đối ổn định

- Tốc độ gió: Tốc độ gió trung bình thay đổi qua các tháng, trung bình

từ 1,5-3 m/s Trong mùa lạnh tốc độ gió trung bình các tháng đầu mùa nhỏ hơn các tháng cuối mùa Thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa đông sang mùa hè và những tháng đầu hè tốc độ gió trung bình lớn hơn các tháng cuối hè Hàng năm thường xảy ra từ 8 - 10 trận gió bão ảnh hưởng đến khu vực Bão có tốc

độ từ 20-30 m/s và thường kèm theo mưa lớn kéo dài, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong khu vực Tốc độ gió trung bình trong

năm là 2,1 m/s Tốc độ gió mạnh nhất trong năm là 28 m/s

+ Độ bức xạ cực đại 1.800 đến 1.850 kcal/năm Độ dài ngày và độ cao mặt trời rất lớn, nên tổng bức xạ lớn

- Mưa:Vào mùa mưa, thời tiết nóng, lượng mưa lớn, chiếm 80% lượng

mưa cả năm, đặc biệt có những trận mưa rào rất lớn kéo theo gió bão từ 3 - 5 ngày gây hiện tượng ngập úng cục bộ Vào mùa khô, lượng mưa rất ít có

Ngày đăng: 21/06/2023, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quang Bảo, Hồ Ngọc Hiệp, Lê Sỹ Hoà (2018), Ứng dụng GIS và viễn thám trong xây dựng bản đồ chất lượng không khí khu vực khai thác khoáng sản, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, số 6 (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS và viễn thám trong xây dựng bản đồ chất lượng không khí khu vực khai thác khoáng sản, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Trần Quang Bảo, Hồ Ngọc Hiệp, Lê Sỹ Hoà
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp
Năm: 2018
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh – QCVN 05: 2013/BTNMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh – QCVN 05: 2013/BTNMT
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2013
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh - QCVN 06:2009/BTNMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh - QCVN 06:2009/BTNMT
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
5. Nguyễn Hải Hoà, Nguyễn Thị Hương (2017a). Sử dụng ảnh Landsat xây dựng bản đồ phân bố ô nhiễm không khí do hoạt động khai thác khoáng sản tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 4 (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng ảnh Landsat xây dựng bản đồ phân bố ô nhiễm không khí do hoạt động khai thác khoáng sản tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Hải Hoà, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2017
6. Nguyễn Hải Hòa, Nguyễn Văn Quốc (2017b). Sử dụng ảnh viễn thám Landsat và GIS xây dựng bản đồ biến động diện tích rừng tại vùng đệm vườn quốc gia Xuân Sơn. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, số 3 (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng ảnh viễn thám Landsat và GIS xây dựng bản đồ biến động diện tích rừng tại vùng đệm vườn quốc gia Xuân Sơn
Tác giả: Nguyễn Hải Hòa, Nguyễn Văn Quốc
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Năm: 2017
7. Trần Thị Vân, Nguyễn Phú Khánh, Hà Dương Xuân Bảo (2014). Viễn thám độ dày quang học mô phỏng phân bố bụi PM10 nội thành Thành phố Hồ Chí Minh thành phố. Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2: 52 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viễn thám độ dày quang học mô phỏng phân bố bụi PM10 nội thành Thành phố Hồ Chí Minh thành phố
Tác giả: Trần Thị Vân, Nguyễn Phú Khánh, Hà Dương Xuân Bảo
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
8. Trần Thị Vân, Trịnh Thị Bình, Hà Dương Xuân Bảo (2012). Nghiên cứu khả năng phát hiện ô nhiễm bụi trên khu vực đô thị bằng công nghệ viễn thám nhằm hỗ trợ quan trắc môi trường không khí. Tạp chí Phát triển KH&amp;CN, 15(2): 33-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng phát hiện ô nhiễm bụi trên khu vực đô thị bằng công nghệ viễn thám nhằm hỗ trợ quan trắc môi trường không khí
Tác giả: Trần Thị Vân, Trịnh Thị Bình, Hà Dương Xuân Bảo
Nhà XB: Tạp chí Phát triển KH&amp;CN
Năm: 2012
9. Thai Thi Thuy An, Ly Tien Lam, Nguyen Hai Hoa, Le Thai Son, Nguyen Van Hung, (2018). Using Landsat imageries for particle pollution mapping in Ha Noi city. Journal of Forestry Science and Technology. 5:53- 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using Landsat imageries for particle pollution mapping in Ha Noi city
Tác giả: Thai Thi Thuy An, Ly Tien Lam, Nguyen Hai Hoa, Le Thai Son, Nguyen Van Hung
Nhà XB: Journal of Forestry Science and Technology
Năm: 2018
10. Boken, V.K., Hoogenboom, G., Williams, J.H., Diarra, B., Dione, S., Easson, G.L (2008). Monitoring peanut contamination in Mali (Africa) using the AVHRR satellite data and a crop simulation model. International Journal of Remote Sensing. 29(1), 117–129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monitoring peanut contamination in Mali (Africa) using the AVHRR satellite data and a crop simulation model
Tác giả: Boken, V.K., Hoogenboom, G., Williams, J.H., Diarra, B., Dione, S., Easson, G.L
Nhà XB: International Journal of Remote Sensing
Năm: 2008
11. Deering, D.W., Rouse, J.W., Haas, R.H., Schell, J.A (1975). Measuring “Forage Production” of Grazing Units From Landsat MSS Data.Proceedings of the 10th International Symposium on Remote Sensing of Environment, II, 1169-1178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring “Forage Production” of Grazing Units From Landsat MSS Data
Tác giả: Deering, D.W., Rouse, J.W., Haas, R.H., Schell, J.A
Nhà XB: Proceedings of the 10th International Symposium on Remote Sensing of Environment
Năm: 1975
12. Department of Environment Malaysia (DOE) (2000). A guide to air pollutant index (API) in Malaysia. Department of Environment, Ministry of Science, Technology and the Environment Sách, tạp chí
Tiêu đề: A guide to air pollutant index (API) in Malaysia
Tác giả: Department of Environment Malaysia (DOE)
Nhà XB: Department of Environment, Ministry of Science, Technology and the Environment
Năm: 2000
13. Jamil, A., Makmom, A.A., Saeid, P., Firuz, R.M., Prinaz. R (2011). PM10 monitoring using MODIS AOT and GIS, Kuala Lumpur, Malaysia.Research Journal of Chemistry and Environment,Vol.15 (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: PM10 monitoring using MODIS AOT and GIS
Tác giả: A. Jamil, A.A. Makmom, P. Saeid, R.M. Firuz, R. Prinaz
Nhà XB: Research Journal of Chemistry and Environment
Năm: 2011
14. Mozumder, C., Reddy, K.V., Pratap, D (2012). Air pollution modeling from remotely sensed data using regression techniques, Indian Society of Remote sensing, DOI 10.1007/s12524-012-0235-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Air pollution modeling from remotely sensed data using regression techniques
Tác giả: C. Mozumder, K.V. Reddy, D. Pratap
Nhà XB: Indian Society of Remote sensing
Năm: 2012
15. Rani, N. L. A., Azid, A., Khalit, S.I., Juahir, H., Samsudin, M.S (2018). Air Pollution Index Trend Analysis in Malaysia, 2010-15. Polish Journal of Environmental Studies, volume 27 (2/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Air Pollution Index Trend Analysis in Malaysia, 2010-15
Tác giả: Rani, N. L. A., Azid, A., Khalit, S.I., Juahir, H., Samsudin, M.S
Nhà XB: Polish Journal of Environmental Studies
Năm: 2018
16. Rao M., Hima Bindu V., Sagareshwar G., Indracanti J., Anjaeyulu, Y (2009). Asssessment of Ambient air quality in the rapidly industrially growing Hyderabad urban environment, Proc. BAQ 2004, Workshop program and presentation, Poster 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asssessment of Ambient air quality in the rapidly industrially growing Hyderabad urban environment
Tác giả: Rao M., Hima Bindu V., Sagareshwar G., Indracanti J., Anjaeyulu, Y
Nhà XB: Proc. BAQ 2004
Năm: 2009

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w