Từ trước tới nay chưa có một bộ tiêu chuẩn nào được đưa ra để đánh giá các hoạt động du lịch tại Hà Nội, vì vậy đề tài nghiên cứu: “Xây dựng bộ tiêu chí môi trường hướng tới phát triển d
Trang 1ẶT VẤ Ề
Trong những năm qua, hoạt động du lịch đã đem lại nhiều kết quả to lớn, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Có thể nói du lịch ngày càng phát huy được thế mạnh của mình, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, đặc biệt là các giá trị di sản thế giới ở Việt Nam Theo Diễn đàn cấp cao du lịch Việt Nam năm 2019, Việt Nam đã được Tổ chức
Du lịch thế giới (UNWTO) xếp hạng 6 trong 10 quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng khách du lịch hàng đầu thế giới, năm 2018 tổng doanh thu từ ngành
du lịch đạt 8,39% tổng GDP cả nước, năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2019 là 63/140 tăng 12 bậc so với năm 2015 Những con số trên đã cho thấy tiềm năng phát triển của ngành du lịch tại Việt Nam là rất lớn và ngành công nghiệp không khói này cần được phát triển nhưng phải cần đảm bảo được sự bền vững theo thời gian
Môi trường được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch Ngược lại các hoạt động
du lịch cũng gây ra những hệ lụy nhất định đến môi trường Cùng với sự gia tăng về lượng khách thì các chất thải từ hoạt động du lịch cũng ngày một tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là ở các trọng điểm phát triển du lịch
Sự phát triển du lịch cũng làm gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, gia tăng
ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên và sự thay đổi sự quân bình môi sinh đối với môi trường sống của sinh vật Các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc vốn rất nhạy cảm của cộng đồng các dân tộc thiểu số đã có những biến đổi nhất định do tiếp xúc thường xuyên với khách
Trang 2du lịch Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng nêu trên
là công tác quản lý bảo vệ môi trường ở các khu, điểm du lịch chưa được quan tâm thoả đáng Bên cạnh đó, dưới góc độ quản lý nhà nước, ngành du lịch vẫn chưa xây dựng, ban hành các hướng dẫn đầy đủ về tiêu chí, điều kiện, đánh giá tác động môi trường và hệ thống kiểm soát, quản lý các vấn đề
về môi trường liên quan đến các hoạt động du lịch
Chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức là một danh thắng nổi tiếng của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng với tiềm năng rất lớn về du lịch Với địa điểm thuộc thủ đô Hà Nội nhưng nằm ở vùng ngoại thành không ồn ào, tấp lập chùa Hương giữ được nét yên bình, thiêng liêng đặc trưng Nhờ những lợi thế về cảnh sắc thiên nhiên cũng như những di tích chùa chiền, hang động mang đậm phong cách Phật giáo truyền thống điểm du lịch này đã và đang hấp dẫn rất nhiều du khách cả trong và ngoài nước Tuy nhiên với đà phát triển như hiện nay, Chùa Hương cũng không thể tránh khỏi những vấn đề bất cập chung của ngành du lịch Ở Việt Nam nói chung và ở Chùa Hương nói riêng đang phải gánh chịu những hậu quả của việc quy hoạch phát triển du lịch một cách tự phát không có tầm nhìn xa về tương lai gây ra những ảnh hưởng xấu cho môi trường và sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch Vấn đề cấp thiết đang đặt ra là làm thế nào để việc phát triển du lịch tại Chùa Hương không chỉ mang lại nguồn lợi nhuận về kinh tế mà còn quản
lý hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ cảnh quan môi trường
Từ trước tới nay chưa có một bộ tiêu chuẩn nào được đưa ra để đánh
giá các hoạt động du lịch tại Hà Nội, vì vậy đề tài nghiên cứu: “Xây dựng bộ tiêu chí môi trường hướng tới phát triển du lịch bền vững tại à ội”
được tiến hành thực hiện nhằm khắc phục các tồn tại, hạn chế nêu trên, sớm tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường, không ngừng cải thiện chất lượng môi trường Việc đề xuất xây dựng một hệ thống tiêu
Trang 3chí và chỉ số để đánh giá các hoạt động du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững là hết sức cần thiết và thực tiễn giúp cơ quan quản lý có thêm công cụ để theo dõi, giám sát và đánh giá mức độ thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường qua đó có thể kiểm soát tốt hơn việc bảo vệ môi trường của các các khu, điểm du lịch đồng thời bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo cho các dự án tương tự sau này
Trang 4Chương 1
TỔ QUA VẤ Ề Ê CỨU
1.1 Tổng quan phát triển bền vững
1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau về
khái niệm “Phát triển bền vững“ Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” Định nghĩa này chú trọng đến việc
sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới
đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một chúng ta: “Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất” Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED, “Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi
Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO 92 và RIO 92+5, quan niệm
về phát triển bền vững được các nhà khoa học bổ sung Theo đó, “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ kinh tế, hệ xã hội và hệ môi trường”
Theo quan điểm này, phát triển bền vững là sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống nói trên Như thế, phát triển bền vững không
Trang 5cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác Thông điệp ở đây thật đơn giản: Phát triển bền vững không chỉ nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phát triển phải dựa trên tính bền vững cả về môi trường - sinh thái, văn hoá - xã hội và kinh tế
Phát triển bền vững mang tính ba chiều, giống chiếc kiềng 3 chân Nếu một chân bị gãy, cả hệ thống sẽ bị sụp đổ dài hạn Cần phải nhận thức được rằng,
ba chiều này phụ thuộc nhau về rất nhiều mặt, có thể hỗ trợ lẫn nhau hoặc cạnh tranh với nhau Nói đến phát triển bền vững có nghĩa là tạo được sự cân bằng giữa ba chiều (ba trụ cột) Cụ thể là:
- Sự bền vững về kinh tế: Tạo nên sự thịnh vượng cho cộng đồng dân
cư và đạt hiệu quả cho mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lõi là sức sống và sự phát triển của doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp phải được duy trì một cách lâu dài;
- Sự bền vững xã hội: Tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả
mọi người Đòi hỏi phân chia lợi ích công bằng, chú trọng công tác xoá đói giảm nghèo Thừa nhận và tôn trọng các nền văn hoá khác nhau, tránh mọi hình thức bóc lột;
- Sự bền vững về môi trường: Bảo vệ, quản lý các nguồn tài nguyên;
hạn chế đến mức tối thiểu sự ô nhiễm môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên khác
Theo Khoản 4, Điều 3, Chương I Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ
xã hội và bảo vệ môi trường”
Có thể thấy khái niệm này đã nêu rõ được mục đích, mục tiêu, nguyên tắc và cơ sở triển khai của quá trình phát triển bền vững
Trang 61.1.2 Bộ tiêu chí phát triển bền vững
Hiện nay, lý thuyết phát triển bền vững đang được các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực quan tâm nghiên cứu, phát triển thành hệ thống lý luận vừa có tính toàn cầu, tính quốc gia, vừa mang tính địa phương Các chương trình phát triển bền vững đã được thực hiện từ cấp độ cộng đồng ở hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới với những chỉ tiêu và mục tiêu định lượng để đánh giá chất lượng cuộc sống và tiến bộ vươn tới cấp độ bền vững Tuy nhiên việc đưa ra được bộ tiêu chí để “đo lường” sự phát triển bền vững trên phạm vi cả nước cũng như tại các địa phương vẫn chưa đạt được sự thống nhất và đang được nghiên cứu ở trong và ngoài nước
Đến nay đã có nhiều hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu được đề xuất, xét về mặt nội dung, bộ tiêu chí cần bao gồm ít nhất 5 khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa (bao gồm cả các vấn đề phát triển con người) và thể chế làm
“thước đo” cho phát triển bền vững Điều quan trọng là các khía cạnh này phải liên kết với nhau như một thể thống nhất mới bảo đảm phát triển bền vững Khâu gắn kết đó được bảo đảm chính là hệ thống thể chế được xây dựng mang tính hệ thống và thực thi nghiêm chỉnh, nhất là khi nhiều tác động đến phát triển bền vững khó mà đánh giá trong một thời gian ngắn
Đã có mười hai tổ chức và phương án đánh giá định tính và định lượng phát triển bền vững đó là: Bộ 58 tiêu chí của Ủy ban phát triển bền vững (CSD) của Liên hợp quốc; Bộ 46 tiêu chí của nhóm đầu tư về tiêu chí phát triển bền vững (CGSG); Phương án chỉ số thịnh vượng gồm 88 tiêu chí của
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN); Phương án chỉ số bền vững môi trường của Diễn đàn kinh tế thế giới có 68 tiêu chí; Bộ 65 tiêu chí của nhóm Bối cảnh toàn cầu, dấu chân sinh thái; Nhóm tiêu chí tiến bộ đích thực (GPI);
Nhóm hành động liên cơ quan Hoa Kỳ về các tiêu chí phát triển bền vững (I WGSDI); Hệ thống tiêu chí của Costa Rica về PTBV; Dự án các tiêu chí Boston; Nhóm đánh giá các thất bại, sáng kiến thông báo toàn cầu
Trang 7Ủy ban phát triển bền vững của Liên hợp quốc (CSD) được ra đời năm
1992 và đã tập trung xây dựng, thử nghiệm một bộ gồm 58 tiêu chí bao gồm các khía cạnh xã hội, môi trường, kinh tế, thể chế của phát triển bền vững Ủy ban khuyến khích các quốc gia sử dụng bộ tiêu chí này trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với điểu kiện riêng của từng quốc gia và sẽ không liên quan đến bất
kỳ một điều kiện nào về tài chính, kỹ thuật và thương mại Đây là bộ tiêu chí đươc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững cho đất nước
Bộ tiêu chí phát triển bền vững của Ủy ban phát triển bền vững (CSD) của Liên Hợp Quốc:
Bền vững về mặt xã hội: bao gồm 6 chủ đề về công bằng, y tế, giáo dục, nhà ở, an ninh và dân số với 19 tiêu chí cụ thể:
(1) Phần trăm dân số sống dưới ngưỡng nghèo;
(2) Chỉ số bất bình đẳng GINI;
(3) Tỷ lệ thất nghiệp;
(4) Tỷ lệ lương trung bình của nữ so với nam giới;
(5) Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em;
(6) Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi;
(7) Tuổi thọ;
(8) Phần trăm dân số có thiết bị vệ sinh phù hợp;
(9) Phần trăm dân số được sử dụng nước sạch;
(10) Phần trăm dân số tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản;
(11) Tiêm chủng phòng ngữa các bệnh lây nhiễm cho trẻ em;
(12) Tỷ lệ phổ biến về phòng tránh thai;
(13) Phổ cập tiểu học đối với trẻ em;
(14) Tỷ lệ người trưởng thành học hết cấp hai;
(15) Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành;
(16) Diện tích nhà ở (sàn) bình quân đầu người;
Trang 8(17) Số tội phạm trên 100.000 dân;
(21) Mức độ tiêu thụ các chất gây hại ở tầng ozon;
(22) Nồng độ các chất gây ô nhiễm không khí ở khu vực đô thị;
(23) Đất canh tác và diện tích cây lâu năm;
(30) Mật độ tảo trong biển;
(31) Phần trăm dân số sống ở vùng duyên hải; (32) Sản lượng đánh bắt hàng năm;
(33) Mức khai thác nguồn nước ngầm và nước mặt trên tổng trữ lượng nước;
(34) Hàm lượng BOD trong nước;
(35) Nồng độ coliform trong nước sạch;
(36) Diện tích hệ sinh thái chủ yếu được lựa chọn;
(37) Diện tích khu bảo tồn so với tổng diện tích;
(38) Sự đa dạng của giống loài được lựa chọn
Bền vững kinh tế bao gồm 2 chủ đề về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế,
xu hướng sản xuất và tiêu thụ với 14 tiêu chí cụ thể:
(39) GDP bình quân đầu người;
Trang 9(45) Tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người hàng năm;
(46) Tỷ lệ tiêu dùng nguồn năng lượng có thể tái sinh;
(47) Mức độ sử dụng năng lượng;
(48) Chất thải rắn của công nghiệp và đô thị;
(49) Chất thải độc hại; (50) Chất thải phóng xạ;
(51) Chất thải tái sinh;
(52) Khoảng cách đi lại tính trên đầu người theo phương tiện vận tải
Thể chế phát triển bền vững gồm 2 chủ đề khung thể chế và năng lực thể chế, được cụ thể hóa thành 6 tiêu chí:
(53) Chiến lược phát triển bền vững quốc gia;
(54) Thực thi các công ước quốc tế đã ký;
(55) Số lượng người truy cập internet/1.000 dân;
(56) Đường điện thoại chính/1.000 dân;
(57) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tinh theo % GDP;
(58) Thiệt hại về người và của do các thảm họa thiên nhiên
1.2 Phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lịch bền vững Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách sau:
Machado (2003) đã định nghĩa du lịch bền vững là: “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết
Trang 10cấu xã hội của cộng đồng địa phương” Định nghĩa này tập trung vào tính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du lịch) chứ chưa đề cập một cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành du lịch
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), 1996 thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về phát triển bền vững của UNCED Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ
đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái,
đa dạng sinh học…
Còn theo Hens L (1998) thì cho rằng “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống” Định nghĩa này mới chỉ chú trọng đến công tác quản lý tài nguyên du lịch để cho du lịch được phát triển bền vững
Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa:
“Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người” Định nghĩa này hơi dài nhưng hàm chứa đầy đủ các nội dung, các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững Định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hóa
Trang 11Mục tiêu của Du lịch bền vững theo Inskeep (1995) là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường;
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển;
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa;
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách;
- Duy trì chất lượng môi trường
Như vậy, với những quan điểm trên đây thì có thể coi phát triển du lịch bền vững là một nhánh của phát triển bền vững nói chung đã được Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường xác định năm 1987 Phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, không làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vững chung của toàn xã hội
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững
Một là phát triển du lịch bền vững đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế bền vững của địa phương và quốc gia Ngoài những loại hình kinh tế như canh tác nông nghiệp, thủ công, công nghiệp thì người dân địa phương có thể phát triển thêm loại hình dịch vụ (du lịch, giải trí, ăn uống) góp một phần vào tăng trưởng kinh tế cho quốc gia
Hai là du lịch phát triển bền vững đóng góp tích cực vào thực hiện mục tiêu ổn định chính trị - xã hội và tiến bộ xã hội ngày càng tăng, bảo tồn và tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương
Ba là phát triển du lịch bền vững tạo điều kiện và đóng góp tích cực cho bảo vệ và phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường Việc phát triển du lịch
sẽ cần khai thác tới tài nguyên
Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền
Trang 12vững ở địa phương cũng như mỗi đất nước và trên thế giới Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được ba yếu tố đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặc biệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như Việt Nam, cùng với việc phát triển dân
số, hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thống hành chánh còn nhiều yếu kếm
1.2.3 Một số vấn đề cần giải quyết đối với phát triển du lịch bền vững
Theo quan điểm phát triển bền vững thì các hoạt động du lịch được coi
là có tính bền vững sẽ được phát triển sao cho bản chất, quy mô, và phương thức phù hợp và bền vững theo thời gian; phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; có hỗ trợ cho công tác bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa, cho cuộc sống của cộng đồng Như vậy theo Hội đồng khoa học, Tổng Cục Du lịch, 2005, 12 mục tiêu trong chương trình của du lịch bền vững chính là những vấn đề cần giải quyết bao gồm:
- Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh để
các doanh nghiệp và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh và đạt lợi nhuận lâu dài;
- Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch đối với
sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế địa phương tại các điểm du lịch, khu du lịch; bao gồm phần tiêu dùng của khách du lịch được giữ lại tại địa phương;
- Chất lượng việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại
địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, không có sự phân biệt đối xử về giới và các mặt khác;
- Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội
thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng;
- Sự thỏa mãn của khách du lịch: Cung cấp những dịch vụ an toàn, chất
lượng cao thỏa mãn đầy đủ yêu cầu của du khách, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác;
Trang 13- Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho cộng
đồng địa phương xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý và phát triển du lịch, có sự tham khảo tư vấn của các bên liên quan;
- An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của
người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức;
- Đa dạng văn hóa: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử,
bản sắc văn hoá dân tộc, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương tại các điểm du lịch;
- Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật,
kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, tránh để môi trường xuống cấp;
- Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi
trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này;
- Hiệu quả của các nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn
tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và triển khai các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch;
- Môi trường trong lành: Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất và
rác thải từ du khách và các hãng du lịch
1.2.4 Tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu
Bắt đầu từ năm 2007, Hiệp hội Tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững - một liên minh với 27 tổ chức thành viên, đã nhóm họp các nhà lãnh đạo để cùng nhau phát triển bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững Trong vòng 15 tháng Hiệp hội này đã trao đổi, thảo luận với các chuyên gia về tính bền vững của ngành du lịch và phân tích 4.500 tiêu chí của hơn 60 chứng chỉ hiện hành với sự tham gia của hơn 80.000 người bao gồm những nhà bảo tồn, các nhà lãnh đạo ngành, các cơ quan chức năng của chính phủ và Liên hợp quốc
Trang 14Tháng 10/2008 tại hội nghị Bảo tồn Thế giới của IUCN đã công bố tiêu chí du lịch bền vững toàn cầu lần đầu tiên Bộ tiêu chí mới này được xây dựng dựa trên cơ sở hàng nghìn các tiêu chí đã được áp dụng thực tiễn hiệu quả trên khắp thế giới Các tiêu chuẩn này được phát triển để cung cấp một khung hướng dẫn hoạt động du lịch bền vững, giúp các doanh nhân, người tiêu dùng, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục bảo đảm rằng hoạt động du lịch là nhằm giúp đỡ chứ không làm hại cộng đồng và môi trường địa phương
Một số lợi ích của bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu:
- Định hướng bền vững hóa các hình thức kinh doanh ở mọi cấp độ và hướng các nhà kinh doanh chọn lựa chương trình du lịch bền vững để đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu;
- Hướng dẫn các đại lý du lịch chọn lựa nhà cung cấp dịch vụ du lịch bền vững;
- Giúp đỡ khách hàng nhận biết các hoạt động và chương trình du lịch bền vững;
- Cung cấp phương tiện thông tin nhận định về các nhà cung cấp dịch
- Là cơ sở định hướng cho chương trình giáo dục và đào tạo về du lịch
Theo các chuyên gia, những tiêu chuẩn này chỉ là bước khởi đầu trong tiến trình hướng đến một tiêu chuẩn chung áp dụng trong tất cả các hình thức hoạt động của du lịch Bộ tiêu chuẩn này chỉ đưa ra những việc nên làm, song không chỉ ra cách thức thực hiện hay xác định tính khả thi của mục tiêu Vì vậy, vai trò bổ sung của việc quản lý giám sát cùng với công cụ
Trang 15giáo dục truyền thông và các cách tiếp cận sẽ là những yếu tố không thể thiếu để góp phần hoàn thiện
(1) Quản lý hiệu quả và bền vững
- Các công ty du lịch cần thực thi một hệ thống quản lý bền vững, phù hợp với quy mô và thực lực của mình để bao quát các vấn đề về môi trường, văn hóa xã hội, chất lượng, sức khỏe và an toàn
- Tuân thủ các điều luật và quy định có liên quan trong khu vực và quốc tế
- Tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò của họ trong quản lý môi trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an toàn
- Cấn đánh giá sự hài lòng của khách hàng để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp
- Quảng cáo đúng sự thật và không hứa hẹn những điều không có trong chương trình kinh doanh
- Thiết kế và thi công cơ sở hạ tầng:
+ Chấp hành những quy định về bảo tồn di sản tại địa phương;
+ Tôn trọng những di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương trong công tác thiết kế, đánh giá tác động, quyền sở hữu đất đai và lợi nhuận thu được;
+ Áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững thích hợp tại địa phương;
+ Đáp ứng yêu cầu của các cá nhân có nhu cầu đặc biệt
- Cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường xung quanh, văn hóa địa phương và di sản văn hóa, đồng thời giải thích cho khách hàng về những hành vi thích hợp khi tham quan các khu vực tự nhiên, các nền văn hóa
và các địa điểm di sản văn hóa
(2) Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương
- Công ty du lịch tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng
xã hội và phát triển cộng đồng như xây dựng công trình giáo dục, y tế và hệ thống thoát nước
Trang 16- Sử dụng lao động địa phương, có thể tổ chức đào tạo nếu cần thiết, kể
cả đối với vị trí quản lý
- Các dịch vụ và hàng hóa địa phương nên được doanh nghiệp bày bán rộng rãi ở bất kỳ nơi nào có thể
- Công ty du lịch cung cấp phương tiện cho các doanh nghiệp nhỏ tại địa phương để phát triển và kinh doanh các sản phẩm bền vững đựa trên đặc thù về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ công, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản)
- Thiết lập một hệ thống quy định cho các hoạt động tại cộng đồng bản địa hay địa phương, với sự đồng ý và hợp tác của cộng đồng
- Công ty phải thi hành chính sách chống bóc lột thương mại, đặc biệt đối với trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm cả hành vi bóc lột tình dục
- Đối xử công bằng trong việc tiếp nhận các lao động phụ nữ và người dân tộc thiểu số, kể cả ở vị trí quản lý, đồng thời hạn chế lao động trẻ em
- Tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả lương đầy đủ
- Các hoạt động của công ty không được gây nguy hiểm cho nguồn dự trữ
cơ bản như nước, năng lượng hay hệ thống thoát nước của cộng đồng lân cận
(3) Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực
- Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành vi ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách
- Đồ tạo tác khảo cổ hay lịch sử không được phép mua bán hay trưng bày, trừ khi được pháp luật cho phép
- Có trách nhiệm đóng góp cho công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp xúc của cư dân địa phương
Trang 17- Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng nghệ thuật, kiến trúc hay các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh, thiết kế, trang trí, ẩm thực
(4) Gia tăng lợi ích môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên:
+ Ưu tiên buôn bán những sản phẩm thân thiện môi trường như vật liệu xây dựng, thức ăn và hàng tiêu dùng;
+ Cân nhắc khi buôn bán các sản phẩm tiêu dùng khó phân hủy và cần tìm cách hạn chế sử dụng các sản phẩm này;
+ Tính toán mức tiêu thụ năng lượng cũng như các tài nguyên khác, cần cân nhắc giảm thiểu mức tiêu dùng cũng như khuyến khích sử dụng năng lượng tái sinh;
+ Kiểm soát mức tiêu dùng nước sạch, nguồn nước và có biện pháp hạn chế lượng nước sử dụng
+ Áp dụng các quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước thải, chất gây xói mòn, hợp chất gây suy giảm tầng ozon và chất làm ô nhiễm không khí, đất
- Bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên:
Trang 18+ Các loài sinh vật hoang dã khai thác từ tự nhiên được tiêu dùng, trưng bày hay mua bán phải tuân theo quy định nhằm đảm bảo việc sử dụng là bền vững;
+ Không được bắt giữ các loài sinh vật hoang dã, trừ khi đó là hoạt động điều hòa sinh thái Tất cả những sinh vật sống chỉ được bắt giữ bởi những tổ chức có đủ thẩm quyền và điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc chúng;
+ Việc kinh doanh có sử dụng các loài sinh vật bản địa cho trang trí và tôn tạo cảnh quan cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn;
+ Đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm việc hỗ trợ cho các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao;
+ Các hoạt động tương tác với môi trường không được có bất kỳ tác hại nào đối với khả năng tồn tại của quần xã sinh vật, cần hạn chế, phục hồi mọi tác động tiêu cực lên hệ sinh thái cũng như có một khoản phí đóng góp cho hoạt động bảo tồn
1.3 Bộ tiêu chí và chỉ số môi trường
1.3.1 Khái niệm
- Khái niệm nguyên tắc, tiêu chí, chỉ số:
Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo
Thuật ngữ "nguyên tắc” là một mệnh đề về tự nhiên và xã hội bao gồm
sự tập hợp của các hiểu biết và kiến thức trong một khoảng thời gian lịch sử
Một tiêu chí là “cấp độ thứ 2 của các nguyên tắc nó bổ sung thêm nghĩa
và hoạt động cho một nguyên tắc mà bản thân nó không phải là một biện pháp
đo lường việc thực hiện một cách trực tiếp" Tiêu chí là các nội dụng, yêu cầu
mà đối tượng nghiên cứu phải đáp ứng được để hoàn thành mục tiêu đặt ra
Chỉ số là một tập hợp các đo lường hoặc thông tin của vấn đề nguyên cứu và nó được sử dụng để đưa ra kết luận cho các tiêu chí
Trang 19Mục đích của việc phát triển bộ tiêu chí và chỉ số là “cung cấp một sự lựa chọn của các chỉ số có thể kiểm nghiệm khoa học, kỹ thuật, khả thi và hiệu quả về mặt chi phí”
Tiêu chí và chỉ số (Criteria and Indicators (C & I)) đã được sử dụng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên Mô hình tiêu chí và chỉ số về cơ bản dựa vào đặc điểm cụ thể của các khái niệm của quản lý du lịch bền vững được tích hợp với các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số và các kiểm nghiệm, các yếu tố này được mô tả và đo lường các khía cạnh khác nhau của tính bền vững thể hiện trên phương diện khái niệm và thực hành Đặc biệt các tiêu chí và chỉ số có thể được sử dụng để khuyến khích những tư duy tổng thể khi lập kế hoạch các hoạt động du lịch và mang lại sự cởi mở, minh bạch, trách nhiệm trong quản
lý quy hoạch, giám sát và báo cáo
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định nội dung đánh giá du lịch bền vững giữa các tác giả nhưng các nhà khoa học đều đồng tình với việc phải dựa trên các khía cạnh căn bản của phát triển bền vững, bên cạnh đó cần quan tâm các đặc trưng của mỗi tình huống nghiên cứu cụ thể mà xác lập các tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp
1.3.2 Ý nghĩa, vai trò xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số môi trường trong phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một loại hình dịch vụ (tham quan, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng ) đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân của nhiều quốc gia trên thế giới Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và triển khai các dự án mà không quan tâm đến tới việc nguồn tài nguyên bị suy giảm
và môi trường bị ảnh hưởng tiêu cực là thể hiện của việc đi ngược lại với nguyên tắc phát triển bền vững chúng ta đang hướng tới
Vì vậy, việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong phát triển du lịch là một thách thức Một thực tế ở nhiều nơi trên thế giới đó là môi trường sống tự nhiên đang bị xuống cấp một cách từ từ và một khi đã bị
Trang 20xuống cấp thì nó sẽ khó quay trở lại môi trường ban đầu sau khi môi trường
đã bị suy thoái ở mức nguy cấp Và như vậy, mục tiêu phát triển bền vững của
du lịch không đạt được Do đó, sự ra đời một hệ thống các chỉ số cảnh bảo là rất cần thiết cho công tác quản lý du lịch Bởi vì thiếu hệ thống các chỉ số cảnh bảo, thì những nỗ lực khôi phục lại sau khi môi trường đã bị tác động nghiêm trọng hoặc bị chia cắt hệ sinh thái là không đạt được
Việc sử dụng bộ tiêu chí và chỉ số cho phát triển bền vững đã được biết đến và giới thiệu bởi Uỷ ban liên hiệp quốc về phát triển bền vững như đã đề cập ở phần trên, sẽ là những công cụ quan trọng để đo lường trạng thái quản
lý của phát triển bền vững
Mục tiêu của bộ tiêu chí là đánh giá quá khứ và hướng dẫn các hoạt động hiện tại và lập kế hoạch cho tương lai, chúng ta cần phải kiểm soát những loại số liệu nào cần được thu thập và cái gì cần đo lường Các tiêu chí
và chỉ số này hướng tới những đo lường tiêu chuẩn của tính bền vững và cho việc ứng dụng rộng rãi ở các khu vực khác nhau và ở các nguyên tắc khác nhau trên toàn thế giới Các đặc tính của các chỉ số này đó là mô tả các điểm đến của phát triển du lịch có trệch hướng với phát triển bền vững hay không
Một điều quan trọng cho phát triển các bộ chỉ số đó là tính chặc chẽ, tin cậy, hiệu quả, toàn diện và hữu ích cho người ra quyết định Bộ tiêu chí và chỉ số này cũng nên linh động sao cho nó có thể thích ứng với các điểm đến du lịch sinh thái khác nhau và cho các hoàn cảnh đặc biệt
1.4 Xác định phương pháp đánh giá và loại thang đo sử dụng
Một trong những cơ sở đầu tiên cho việc đánh giá tính bền vững của du lịch là sự ra đời của thước đo sự bền vững - Barometer of Sustainability
Thước đo này được phát triển bởi Prescott-Allen (1997), thang đánh giá của công cụ này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Ko (2003), Tsaur và các cộng sự (2005) và các nghiên cứu đánh giá sự bền vững ở nhiều lĩnh vực khác Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ có các phương
Trang 21pháp khác nhau để đánh giá, trong đó có phương pháp giản đơn như sự áp dụng thang đo 5 điểm của Rio and Nunes (2012) đến các lý thuyết và kỹ thuật khá phức tạp như lý thuyết mờ của tác giả Lin và Lu (2012), lý thuyết hệ thống xám (Wang 15 and Pei, 2014), dấu chân sinh thái… Cho dù có ứng dụng phương pháp nghiên cứu nào thì nhìn chung các nghiên cứu đều phải được thực hiện dựa trên một (hoặc nhiều) thang đo tính bền vững, được xác định rõ ràng các tiêu chí và các biến đo lường (biến thang đo) Điều này lại làm nảy sinh một vấn đề rằng nên chọn loại thang đo nào cho nghiên cứu
Thông thường, các biến đo lường được chia làm hai dạng chính: Biến đo lường khách quan (Objective indicator) và biến đo lường chủ quan (Subjective indicator) Thang đo khách quan sử dụng dữ liệu định lượng và đa
số được mô tả bằng các hàm tính toán Trong khi đó thang đo chủ quan lại dựa trên thái độ và cảm nhận cá nhân, thiên về định tính, thang đo khách quan thường được áp dụng nhiều hơn vì tính chính xác và chặt chẽ của nó Trong trường hợp đánh giá du lịch bền vững, không chỉ cần sự đánh giá khách quan
mà còn phải xem xét trên nhiều phương diện khác nhau từ góc độ của nhà quản lý, chuyên gia khoa học hay người dân địa phương,… Chứng minh cho luận điểm này, số lượng các nghiên cứu sử dụng thang đo lường chủ quan và khách quan là khá tương đương, thậm chí với trường hợp đánh giá sự bền vững điểm du lịch, thang đo chủ quan còn được sử dụng rộng rãi hơn
Cho dù các nghiên cứu có sử dụng các thang đo khác nhau nhưng đều phải gắn với phương pháp đánh giá Phương pháp phổ biến hơn cả đó là ứng dụng thang đo lường chủ quan thường được sử dụng trong các nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierachy Process-AHP) hay phân tích mạng (Analytic Network Process-ANP), thực chất phương pháp phân tích mạng là phương pháp tổng quan của AHP, một công
cụ hỗ trợ ra quyết định đa tiêu chuẩn được giới thiệu bởi Saaty (1980) để phân chia một vấn đề phức tạp thành một mạng lưới có hệ thống Bên cạnh đó các
Trang 22nghiên cứu sử dụng thang đo chủ quan cũng thường được kết hợp một phương pháp tranh luận là Delphi, sự thảo luận có bài bản này diễn ra giữa các chuyên gia nhằm lựa chọn các tiêu chí cho việc đánh giá sự bền vững
Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thang đo khách quan lại sử dụng dữ liệu là các chỉ số khách quan và sử dụng một số công cụ khác khá phức tạp như AMOEBA (Ko, 2001), phương pháp phân tích thành phần chính, dấu chân sinh thái, mô hình tuyến tính tích lũy (Azizi et al., 2011)…
Một trong những nghiên cứu đại diện về các chỉ số quản lý du lịch bền vững đã được phát triển bởi tổ chức Du lịch thế giới năm 1993, Abidin (1999) phát triển bộ tiêu chí và chỉ số để đánh giá phát triển du lịch sinh thái bền vững của Vườn quốc gia Tama Negara ở Malaysia Stein, Clark và Richard (2003) đã sử dụng phương pháp Delphi để xác định các yếu tố định giá cho các khu vực bản địa của Đài Loan, Young Blender (2008) sử dụng
kỹ thuật Delphi để phát triển hệ thống tiêu chí và chỉ số nhằm ước lượng du lịch sinh thái dựa vào rừng ở khu vực Tây Virginia Orsi và các cộng sự (2010) sử dụng phương pháp Delphi để chuẩn bị một hệ thống chung các tiêu chí và chỉ số để xác định ưu tiên phục hồi trong các khu rừng Ko (2005) sử dụng nghiên cứu của ông với các bên liên quan để chấp thuận một
số chỉ số chuẩn để đo lường du lịch bền vững có thể dẫn tới phát triển bền vững Chris và Sirakaya (2005) ứng dụng kỹ thuật Delphi để hình thành các chỉ số cho du lịch cộng đồng Fresque and Plummer (2006) sử dụng phương pháp Delphi để xác định các chỉ số xã hội và sinh thái để đánh giá thay đổi liên quan đến khách du lịch sử dụng các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Canada Hai và các cộng sự (2009) sử dụng kỹ thuật Delphi để kiến tạo nên các chỉ số bền vững cho phát triển bền vững của tỉnh Quảng Trị - Việt nam
Một nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Lê Chí Công (2015) đã ứng dụng phương pháp Delphi để xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững tại thành phố Nha Trang
Trang 23Việc nghiên cứu không sử dụng thang đo rõ ràng sẽ dẫn tới kết quả nghiên cứu chung chung, các đánh giá đưa ra không thuyết phục và không
đủ để kế thừa phát triển các nghiên cứu sau này Do đó, việc xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số phát triển du lịch sinh thái bền vững bằng phương pháp Delphi là việc làm hết sức có ý nghĩa và mang tính định lượng cao có thể mở
ra hướng nghiên cứu rộng cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam về lĩnh vực phát triển du lịch bền vững
Trang 24Chương 2
ỤC T ÊU, Ộ DU , P ƯƠ P ÁP Ê CỨU
2.1 ục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số môi trường hướng tới phát triển du lịch bền vững
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng môi trường của các hoạt động du lịch trên địa bàn
nghiên cứu Khu di tích - thắng cảnh Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
- Xây dựng các tiêu chí và chỉ số đánh giá môi trường du lịch (dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững) của khu vực nghiên cứu bằng phương pháp Delphi
2.2 ối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khía cạnh môi trường của các hoạt động du lịch tại địa bàn nghiên cứu Khu di tích - thắng cảnh Hương Sơn, Mỹ Đức,
Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Đánh giá các hoạt động du lịch, các tác động của du lịch tới môi trường và bước đầu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá các hoạt động du lịch của các khía cạnh môi trường;
+ Phạm vi về không gian: Trong phạm vi ranh giới khu di tích Chùa
Hương - Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Nội;
+ Phạm vị về thời gian: từ tháng 04/2019 đến tháng 10/2019
2.3 ội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về thực trạng các hoạt động du lịch trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng môi trường du lịch tại khu di tích Chùa Hương - Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Nội
Trang 25- Lựa chọn và xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số môi trường của các hoạt động du lịch
- Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường hướng tới phát triển du lịch bền vững
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp tổng hợp số liệu, thu thập số liệu
- Nghiên cứu tại bàn: Thực hiện thu thập các tài liệu có liên quan dưới dạng xuất bản hoặc không xuất và xử lý nó theo mục đích nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm được phương pháp phù hợp, sử dụng đúng kỹ thuật phân tích để đề tài nghiên cứu có kết quả chính xác nhất
Các tài liệu này chủ yếu là các thông tin thứ cấp từ các báo cáo nghiên cứu, tài liệu được xuất bản của tổng cục thống kê, bộ ngành liên quan, tổ chức phi chính phủ… về phát triển du lịch bền vững Các thông tin thu thập sẽ được phân tích và kế thừa, điều chỉnh để phù hợp với đề tài và điều kiện thực tiễn tại khu vực nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng để có cái nhìn tổng thể về vấn đề nghiên cứu, những nội dung cụ thể cần được thảo luận và trình bày trong báo cáo cũng như chính xác những thông tin cần thu thập khi đi thực địa tại địa bàn nghiên cứu tránh thu thập thông tin lệch hướng nghiên cứu, thu thập thừa thông tin không cần thiết dẫn đến tốn thời gian và không hiệu quả trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài từ bước đầu tìm hiểu xác định địa điểm nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cho đến quá trình thực hiện là khảo sát thực tế tại địa bàn Các tài liệu được thu thập trong quá trình khảo sát thực tế và sử dụng để trình bày trong đề tài
là các báo cáo về phát triển kinh tế xã hội của địa phương, báo cáo công tác thực hiện nhiệm vụ 5 năm, các thống kê số liệu về đất đai, hoạt động du lịch… (nguồn từ UBND xã Hương Sơn, BQL khu di tích, phòng Tài nguyên Môi trường huyện Mỹ Đức và một số phòng ban liên quan như xây dựng,
Trang 26giao thông, quy hoạch…) Các số liệu thu thập thời gian ưu tiên là 5 năm trở lại đây (2014 - 2019), số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, xử lý và chọn lọc sử dụng cho phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu định tính:
Tham vấn chuyên gia: Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng suốt quá trình thực hiện đề tài Phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có chuyên môn về các lĩnh vực liên quan đến đề tài nghiên cứu (văn hóa - xã hội, môi trường, kinh tế…) để tìm ra giải pháp tối ưu cho việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xem xét xây dựng bộ tiêu chí, chỉ số hướng tới phát triển du lịch bền vững
2.4.2 Phương pháp Delphi
Phương pháp Delphi là một phương pháp riêng biệt nhằm gợi mở và sàng lọc những ý kiến của một nhóm chuyên gia Phương pháp này sẽ tạo ra những quan điểm hấp dẫn, ý kiến và các đồng thuận từ một nhóm các chuyên gia Kỹ thuật Delphi là phương pháp dự báo dài hạn của tập hợp dự báo của phần lớn các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau Để phát triển các chỉ số mục tiêu, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật Delphi là một trong những phương pháp định tính nổi tiếng và kỹ thuật định hướng cho dự đoán các sự kiện tương lai thông qua sự đồng thuận
Mục đích sử dụng phương pháp Delphi là nhằm thu được lời gợi ý từ các thành viên chuyên gia và bất cứ khi nào có khả năng đạt được sự đồng thuận Việc lựa chọn cẩn thận các chuyên gia trả lời bảng câu hỏi trong hai hoặc nhiều vòng là yếu tố hết sức quan trọng Kết thúc mỗi vòng nhà khoa học sẽ cung cấp một bảng tổng hợp khuyết danh của các thành viên tham gia gợi ý từ các vòng trước Việc làm này cho thấy trong quá trình xử lý một số các tiêu chí hoặc chỉ số sẽ bị loại bỏ và có thể có các nhóm các tiêu chí sẽ được đưa vào Cuối cùng quá trình sẽ dừng lại sau khi trạng thái kết quả ổn định được đạt tới bằng cách khẳng định thông qua số trung bình và trung vị
Trang 27Như chúng ta đã biết khó có thể tổng hợp và tích hợp các kiến thức từ các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt khi họ có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau (Hwang và các cộng sự, 2006) Để khắc phục những vấn đề trên Delphi là một phương pháp phù hợp để thu thập kiến thức từ chuyên gia ở các lĩnh vực và thời điểm khác nhau (Knowledge Acquisition For Multiple Experts with Time scales - KAMET) Phương pháp này cho phép thu thập các đánh giá của các chuyên gia theo chủ đề một cách hệ thống Đây là phương pháp nghiên cứu định tính tin cậy và có khả năng giải quyết vấn đề nhằm góp phần ra quyết định và để đạt được sự nhất trí theo nhóm ở phạm vi khác nhau
Murry và Hammors (1995) đã chỉ ra bốn đặc điểm quan trọng của phương pháp Delphi đó là:
- Dấu tên các thành viên nhóm chuyên gia;
- Quá trình tương tác diễn ra qua các vòng cho phép các chuyên gia có thểthay đổi quan điểm của mình;
- Điều khiển phản hồi: Thông báo cho các thành viên tham gia về quan điểm của các thành viên khác và cung cấp một cơ hội cho nhóm chuyên gia làm rõ hoặc thay đổi quan điểm;
- Kết quả phản hồi nhóm sẽ được xử lý thống kê: Kết quả sẽ cho phép phântích định lượng và diễn giải các số liệu
2.4.2.1 Hình thành nên nhóm chuyên gia
Việc lựa chọn chuyên gia tham để hình thành nên một nhóm các chuyên gia là bước quan trọng nhất trong kỹ thuật Delphi Phương pháp Delphi không cho phép lựa chọn nhóm chuyên gia bằng phương pháp ngẫu nhiên, mà nhóm chuyên gia phải được xây dựng dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố như kinh nghiệm và lĩnh vực nghiên cứu phù hợp
Số lượng các chuyên gia hình thành nên nhóm nghiên cứu cũng rất quan trọng, vì nó sẽ quyết định độ tin cậy của kết quả Nếu quá ít chuyên gia
sẽ dẫn tới kể quả đánh giá bị thu hẹp hoặc quá nhiều dẫn đến khó có sự đồng
Trang 28thuận Linstone (1978) cho rằng số lượng chuyên gia tối thiểu là 7 người để
áp dụng phương pháp Delphi Tuy nhiên tác giả Dalkey và Helmer (1969) cho rằng nhóm chuyên gia của phương pháp Delphi sẽ có được độ chính xác cao nhất nếu đạt con số là ít nhất 10 ngươi Con số 10 - 15 người là gợi ý của Skulmoski và các cộng sự (2007) để đưa ra những kết quả phù hợp khi ứng dụng phương pháp Delphi Tsaur và các cộng sự (2006) đã lấy thành công khi lựa chọn 12 chuyên gia được gợi ý bởi hiệp hội Du lịch Đài Loan để đánh giá tính bền vững của du lich sinh thái trên quan điểm tích hợp tài nguyên, cộng đồng và du lịch Tại Việt Nam nghiên cứu do tác giả Lê Chí Công (2015) thực hiện cũng đã sử dụng nhóm chuyên gia gồm 7 người để xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững vùng biển Nha Trang Mới đây nhất là đề tài cấp cơ
sở của nhóm nghiên cứu do TS Nguyễn Thị Thanh An là trưởng nhóm (2019), đã sử dụng nhóm 13 chuyên gia để xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số trong giám sát du lịch sinh thái bền vững khu vực Đăk Nông Như vậy số lượng chuyên gia có thể giao động từ 8 đến 15 người là hợp lý
Các khía cạnh yêu cầu sẽ được cân nhắc xem xét khi lựa chọn chuyên gia đó là: Kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu; kỹ năng và sự sẵn lòng tham gia; có đủ thời gian tham gia Lựa chọn nhóm chuyên gia theo mục tiêu là đều có bằng cấp và nghiên cứu nhiều năm kinh nghiệm ở các lĩnh vực kinh tế, quản lý cộng đồng, sinh thái, quản lý tài nguyên, du lịch sinh thái… Nhóm chuyên gia được hình thành sau quá trình khảo sát thực tế hoạt động du lịch tại địa phương và tiếp xúc với cấp chính quyền, các đơn vị quản
lý, công ty tổ chức du lịch, cá nhân cung cấp dịch vụ du lịch và người dân tại khu vực Nhóm chuyên gia bao gồm 15 chuyên gia, trong đó có 7 chuyên gia đang công tác trong cơ quan chính quyền tại địa phương và cấp huyện tại các phòng như: môi trường, địa chính, giao thông, tài nguyên…, 4 chuyên gia hoạt động nghiên cứu tự do và 4 chuyên gia làm việc trong các công ty tổ chức du lịch Các chuyên gia đều đang tham gia công tác làm việc tại các
Trang 29phòng, ban, tổ chức có liên quan trực tiếp đến hoạt động du lịch và am hiểu về môi trường tại khu vực, tối thiểu có 5 năm kinh nghiệm
2.4.2.2 Tiến trình nghiên cứu Delphi
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và xây dựng cơ bản lên bộ tiêu chí và chỉ số để đánh giá các hoạt động du lịch bền vững Phương pháp Delphi được
áp dụng thông qua hai giai đoạn của các bản hỏi được tiến hành để thu thập các thông tin
Các bảng khảo sát được gửi tới các chuyên gia, các thông tin cá nhân và kinh nghiệm công tác cũng được thu thập Các chuyên gia sẽ được yêu cầu đánh giá các chỉ số theo thang chia 5 bậc Likert, trong đó:
1: Thể hiện rằng chỉ số hoàn toàn không có khả năng đánh giá;
2: Thể hiện rằng chỉ số không có khả năng đánh giá;
3: Thể hiện rằng chỉ số có khả năng đánh giá chưa cao;
4: Thể hiện rằng chỉ số có khả năng đánh giá cao;
5: Thể hiện rằng chỉ số có khả năng đánh giá rất cao
Thang đo Likert chính là một loại thang đo đơn hướng Thang đo này được nhà tâm lý học người Mỹ Likert phát minh ra Thang chia có thể chia từ
3 - 12, trong đó thang đo 5 chiếm đại bộ phận Thang đo từ 5 trở lên duy trì tính chính xác của các đo lường bởi vì phần lớn các mẫu Delphi không phải là mẫu lớn (Ameyaw et al., 2016) Đề tài này sẽ chọn thang đo 5 để đánh giá các tiêu chí và chỉ số môi trường
Vòng 1: Sử dụng một bản hỏi mở - đóng mà trong đó mỗi chuyên gia
sẽ liệt kê các tiêu chí và chỉ số Các chuyên gia từ các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (kinh tế - cộng đồng, sinh thái - môi trường) sẽ được yêu cầu lựa chọc mức độ mà họ đồng ý với một chỉ số cụ thể bằng giá trị thay đổi từ 1 đến
5 (Chi tiết cấu trúc bảng hỏi vòng 1 được cung cấp ở phần phụ lục) Thời gian
để các chuyên gia xem xét đưa ra ý kiến là 2 tuần (14 ngày) Những ý kiến này tổng hợp, xử lý và sắp xếp thành bảng câu hỏi thứ cấp Bảng câu hỏi thứ cấp đã bao gồm các lựa chọn và ý kiến đóng góp của các chuyên gia
Trang 30Vòng 2: Bảng hỏi thứ cấp sẽ được phát cho tất cả các thành viên nghiên cứu - nhóm nghiên cứu tham gia ở vòng 1 Mục tiêu của vòng 2 đó là sử dụng bảng câu hỏi để đạt được sự thống nhất hoặc sự ổn định của các thành viên nghiên cứu Một khi sự đồng thuận hoặc sự ổn định đã đạt được quá trình nghiên cứu Delphi sẽ hoàn thành Phương pháp Delphi kết thúc nếu một trong những tình huống này xảy ra Nếu tất cả các câu hỏi trong bảng câu hỏi hoặc
là được chấp nhận tất hoặc loại bỏ tất, điểm trung bình là cao hơn 3,5 Thời gian các chuyên gia xem xét và đưa ra ý kiến ở vòng 2 là 2 tuần (14 ngày)
2.4.2.3 Đánh giá sự nhất trí của các tiêu chí
Để đánh giá sự nhất trí của các tiêu chí dựa vào 3 chỉ tiêu đo lường đó là: Các số trung vị từ 4 trở lên (liên cao đến rất cao), độ trải giữa (Interquartile Range - IQR) bằng 1 hoặc nhỏ hơn và giá trị độ lệch chuẩn dưới 1 trong thang
đo Likert 5 điểm
Để kiểm tra mức độ đồng thuận của các chuyên gia sẽ áp dụng tiêu chuẩn phi tham số Friendman dành cho K mẫu liên hệ, nếu giả thuyết bị bác
bỏ đồng nghĩa với việc ý kiến của các chuyên gia về bộ tiêu chí và chỉ số là không thống nhất với nhau
2.4.2.4 Phân tích cho điểm
Sau khi kết thúc mỗi vòng khảo sát các điểm đánh giá của chuyên gia
sẽ được tính toán và tập hợp vào bảng gồm các giá trị như số trung bình, số trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, và độ trải giữa (IQR) Đề tài sẽ dựa vào điểm ngưỡng của các chỉ tiêu còn lại và dựa vào sự kết hợp giữa các chỉ số (trung vị, IQR và độ lệch chuẩn) và mức độ đồng thuận (Friendman) giữa các chuyên gia Chỉ những tiêu chí và chỉ số nào thoả mãn toàn bộ các yếu tố đồng thuận sẽ được lựa chọn
2.4.3 Phương pháp phân tích thống kê
- Công cụ phân tích: Phần mềm hỗ trợ: IBM SPSS Statistics 23 và Excel
- Đại lượng cần tính toán phân tích: Thống kê mô tả, tính toán các giá
Trang 31trị đặc trưng mẫu như số trung bình, số trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, và độ trải giữa (Interquartile Range - IQR) thông qua tứ phân vị
+ Số trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất được tính
bằng SPSS với lệnh Analyze/Descriptive Statistics/ Descriptive
Kết quả sau tính toán được thể hiện như sau:
Mean là điểm trung bình của các chỉ số;
Std.Deviation là giá trị độ lệch chuẩn
+ Số trung vị là lượng biến của đơn vị tổng thể đứng ở vị trí giữa trong
dãy số lượng biến đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dần Số trung vị phân chia dãy số lượng biến làm hai phần (phần trên và phần dưới số trung bình) mỗi phần có số đơn vị tổng thể bằng nhau Trong đề tài trung vị được tính bằng công cụ excel với hàm Median
+ Tứ phân vị (Quartiles):
Tứ phân vị là đại lượng mô tả sự phân bố và sự phân tán của tập dữ liệu Tứ phân vị có 3 giá trị, đó là tứ phân vị thứ nhất (Q1), thứ nhì (Q2), và thứ ba (Q3) Ba giá trị này chia một tập hợp dữ liệu (đã sắp xếp dữ liệu theo trật từ từ bé đến lớn) thành 4 phần có số lượng quan sát đều nhau
Trang 32Để tính toán tứ phân vị đề tài đã sử dụng công cụ excel với hàm tính toán QUARTILE.EXC
+ ộ trải giữa (Interquartile Range - IQR):
Để tính toán độ trải giữa đề tài đã sử dụng công cụ excel Từ kết quả tính toán tứ phân vị ở trên chỉ cần dùng hàm trừ đơn giản để tính được độ trải giữa
IQR = Q3 - Q1
+ Kiểm định giả thuyết bằng tiêu chuẩn Friedman: Là một kiểm
định phi tham số được sử dụng thay thế kiểm định ANOVA lặp một chiều
Kiểm định Friedman được sử dụng khi muốn kiểm tra sự khác nhau về giá trị trung bình giữa các nhóm khi biến phụ thuộc được đo lường là dạng thứ
tự (Linkert hoặc dạng liên tục) mà không cần kiểm tra giả định về phân phối chuẩn
Giả thuyết H0: Sự cho điểm của các chuyên gia về cơ bản là không có
Trang 33Nếu giá trị FM tính toán được mà lớn hơn giá trị tra bảng thì giá trị H 0
sẽ bị bác bỏ đồng nghĩa các chuyên gia cho điểm các tiêu chí là khác nhau
Để tính toán giá trị Friedman test nhóm đề tài sử dụng SPSS với lệnh:
Analyze/Nonparametric Test/Legacy Dialogs/K Related Samples
Kết quả sau khi tính toán thể hiện như sau:
N Chi-Square
df Asymp Sig
Trong đó:
N: Số tiêu chí đánh giá;
Chi-Square: Giá trị tính toán (FM);
Df: Bậc tự do được tính bằng số chuyên gia trừ 1;
Asymp Sig: mức ý nghĩa Nếu < 0,05 chấp nhận giả thuyết H 0
Sau khi thiết kế thang đo cuối cùng, chúng ta cần đánh giá độ tin cậy và giá trị của nó Độ tin cậy thường dùng nhất, nói lên tính nhất quán nội tại, nói lên mối quan hệ của các biến quan sát trong cùng một thang đo
+ Kiểm định Cronbach’s Alpha: Là kiểm định nhằm phân tích, đánh
giá độ tin cậy của thang đo Mục đích của kiểm định này là tìm hiểu xem các biến quan sát có cùng đo lường cho một khái niệm cần đo hay không
Giá trị Cronbach's alpha tính toán được bằng phần mềm SPSS với lệnh
Analyze/ Scale/Reliability Analysis
Kết quả sau khi tính toán thể hiện như sau:
Trang 34N of Items: Tổng số các chuyên gia được kiểm nghiệm
Nếu hệ số Cronbach’s Alpha:
Từ 0,8 đến gần bằng 1: Thang đo lường rất tốt;
Từ 0,7 đến gần bằng 0,8: Thang đo lường sử dụng tốt;
Từ 0,6 trở lên: Thang đo lường đủ điều kiện
+ Hệ số liên quan giữa các nhóm (Intra-class Correlation Coefficient - ICC) để đánh giá độ tin cậy của các chỉ số Về mặt thống kê
ICC là một chỉ số thống kê mô tả có thể sử dụng để đo lường định lượng các đơn vị được tổ chức thành nhóm Ngoài ra chỉ số ICC được sử để đánh giá mức độ nhất quán và tin cậy của nhân tố nghiên cứu Trong trường hợp này
áp dụng để đánh giá mức độ tin cậy, không đánh giá mức độ nhất quán
Để tính toán các trị số ICC sử dụng ứng dụng phần mềm SPSS với lệnh Analysis/Scale/Reliability Analysis
Để kiểm tra mô hình dùng kiểm tra 2 chiều theo xu hướng hỗn hợp (Two -Way Mixed) vì cách cho điểm này không thể dùng ngẫu nhiên mà phải dựa vào điều kiện cụ thể của từng chỉ số Đối với mục loại kiểm định (type) dùng kiểm tra mức độ tuyệt đối (Absolute Agreement) chứ không kiểm tra tính nhất quán vì có thể các nhóm chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau sẽ cho điểm nhất quán rất cao nhưng trị số trung bình không đạt được độ tin cậy tuyệt đối cao
Kết quả sau khi tính toán thể hiện như sau:
Intraclass Correlationb
95% Confidence Interval F Test with True Value 0 Lower
Bound
Upper Bound Value df1 df2 Sig Single
Measures Average Measures
Trang 35so với việc sử dụng chỉ số bình quân của nhiều chuyên gia đánh giá
Cột thứ 3 và cột thứ 4 là giá trị cận trên và giá trị cận dưới của chỉ số đo lường tương đương với độ tin cậy 95%
Giá trị của ICC cũng tương tự như đối với hệ số tương quan, giá trị tuyệt đối nằm trong phạm vị từ 0 - 1
Cicchetti (1994) đã đưa ra thang đo cho chỉ số ICC như sau:
Trang 36Khu du lịch chùa Hương có tọa độ địa lý từ 20°29’ đến 20°24’ vĩ độ Bắc và 105°41’ kinh độ Đông
Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam
Phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình
Phía Đông và Nam thuộc địa phận Hà Nội
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Quần thể Chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến Khu vực chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù Chùa Trong là một động đá thiên nhiên Ở lối xuống hang có cổng
lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn Qua cổng là con dốc dài, lối đi
xây thành 120 bậc lát đá Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên
đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739
- 1782) Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá
Khu di tích chùa Hương thuộc phần cuối của dẫy núi đá vôi kéo dài từ Lan Nhi Thăng, cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc Châu, vùng đá vôi Hoà
Trang 37Bình - Ninh Bình đến tận bờ biển Nga Sơn - Thanh Hóa, với độ cao từ 1.444
m (đỉnh Bu Lan Nha Thăng) giảm xuống 100 - 300 m về phía biển đi xuống
Khu vực này tiếp giáp với châu thổ sông Hồng, đây chính là ranh giới giữa rừng núi, đồng bằng về phía Tây Nam, đồng bằng sông Hồng Do vậy, dãy núi Hương Sơn cũng chỉ là núi thấp, đỉnh cao nhất là 381 m
Hệ thống núi ở đây không chỉ đẹp ở chiều cao mà còn đẹp ở chiều dầy, chiều rộng ở các quần tụ bố cục nhịp nhàng giữa núi với núi và núi với nước
Những dãy núi ở đây đều có hình dáng độc đáo và có ý nghĩa ở chốn cửa phật như núi mâm xôi với hình ảnh mâm xôi con gà hay núi voi phục mang vẻ đẹp
tự nhiên của tạo hoá Do phần lớn núi đá bị nước xâm thực qua quá trình kiến tạo lâu dài nên khu vực này hình thành nên nhiều hang động tự nhiên rất đẹp,
có giá trị du lịch như: Động Hương Tích, Hinh Bồng, Long Vân, Tuyết Sơn
Đánh giá chung về địa hình, địa mạo khu vực Chùa Hương cho thấy đây
là nơi có địa hình núi thấp xâm thực nhưng nằm ngay cạnh đồng bằng, có phong cảnh “sơn thuỷ hữu tình” có lợi thế rất lớn về mức độ hâp dẫn du khách
3.1.3 Khí hậu, thời tiết
Khí hậu thời tiết luôn là yếu tố ảnh hưởng lớn tới khách du lịch Chính khí hậu tạo ra từng loại thời tiết và định ra mùa du lịch Khu di tích chùa Hương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 4 mùa rõ rệt
- Nhiệt độ trung bình năm là 23,30C/năm Thời kỳ nóng nhất nhiệt trung bình là 270C Thời kỳ lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 180C.Thời tiết mùa xuân với nhiệt độ dễ chịu 16 - 200C Mặt trời chuyển dịch lên cao, nắng xuân ấm dịu Mưa chủ yếu là mưa bay, mưa bụi, mưa phùn lên một màn trắng hư ảo, mong manh trước cổng chùa và trên cả núi rừng Hương Sơn
Đó là yếu tố thuận lợi cho khách vì khách sẽ cảm thấy bầu không khí khác
lạ, yên tĩnh, tôn nghiêm, linh thiêng và phần nào bớt mệt khi leo núi Từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm cũng là mùa lễ hội chùa Hương, đây là khoảng thời gian có lượt du khách nhiều nhất
Trang 38- Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa Đông Bắc (tháng 11 đến tháng 3 năm sau), còn lại các tháng khác chủ yếu là gió Nam, gió Tây Nam và gió Đông Nam Chế độ gió nói chung không gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, tạo độ thông thoáng vừa phải tương đối thuận lợi cho các hoạt động tham quan du lịch, nghỉ dưỡng
- Chế độ bức xạ nắng, mây, mưa tương đối thích nghi với sức khỏe con người thuận lợi cho hoạt động tham quan nghỉ dưỡng
- Lượng mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm với ngày mưa 140 - 150 ngày/năm ở ngưỡng thích hợp đến khá thích hợp Thời gian mưa phân bố trong năm không đều, mưa tập trung vào tháng 4 đến tháng 10 ngày mưa nhiều nhất
có thể lên tới 33 mm, mùa khô từ cuối tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 lượng mưa chỉ từ 18 - 23 mm
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 85% giao động từ 80 - 89%
Chênh lệch độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn
Các học giả Ấn Độ đã đưa ra các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người như sau:
Bảng 3.1 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
Hạng Ý nghĩa
Nhiệt độ trung bình năm (độ C)
Nhiệt độ trung bình tháng (độ C)
Biên độ của
t 0 độ trung bình (độ C)
ượng mưa trung bình năm (mm)
Trang 39Qua bảng số liệu trên và tình hình khí hậu khu du lịch Chùa Hương ta thấy khí hậu ở đây thuộc vào loại thích nghi và khá thích nghi, phù hợp với sức khoẻ con người Đây là một trong những yếu tố hấp dẫn thu hút khách du lịch
3.1.4 Thủy văn
Để phục vụ cho khách du lịch thì nguồn nước đóng vai trò quan trọng
Nguồn nước ảnh hưởng tới môi trường sống còn lại trong khu vực và phục vụ cho môi trường sinh hoạt vệ sinh của dân cư và khách du lịch Mạng lới thuỷ văn của huyện Mỹ Đức rất phong phú gồm lưu lượng nước của hai con sông lớn: Sông Đáy, sông Thanh Hà và hệ thống suối: Suối Yến, Suối Long Vân…
đều do nguồn nước ngầm Karst cung cấp tạo ra dòng chảy quanh năm
Đặc biệt với dòng Suối Yến hiền hòa thơ mộng uốn lượn quanh co chạy dài 4 km mất khoảng một giờ đi đò đưa du khách đến chùa Thiên Trù để vào động Hương Tích Không chỉ đóng vai trò là dòng chảy đón đưa du khách mà suối Yến còn tạo cho du khách cảm giác lãng mạn, thả hồn trước cảnh “Sơn thuỷ hữu tình”
Theo điều tra nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch thì
hệ thống thuỷ văn tại Chùa Hương - Mỹ Đức rất phong phú, với tầng nước ngầm dồi dào sẽ là một điểm mạnh để cung cấplượng nước đảm bảo cho việc khai thác, phục vụ các nhu cầu du lịch, sinh hoạt của khách và dân cư
Nhìn chung về mặt tài nguyên nước ở khu vực có thể thấy lượng nước trong khu vực là khá đủ, và sạch phục vụ cho nhu cầu du lịch và sinh hoạt Nhưng
do tính chất đặc biệt của cấu tạo địa chất nên cần có những biện pháp khai thác hợp lý để cho môi trường nước luôn trong sạch, góp phần vào phát triển
Trang 40Bộ Là vùng chuyển tiếp giữa hệ thống đồi núi đá vôi từ Tây Bắc qua Hoà Bình, và bên kia là thềm đồng bằng châu thổ sông Hồng, nên mặc dù có diện tích không lớn (hơn 5.000 ha) nhưng có sự phân hoá mạnh mẽ của địa hình thổ nhưỡng Điều này đã tạo cho khu du lịch nhiều danh lam thắng cảnh, đặc biệt là hệ thống hang động trong các núi đá vôi
* Tài nguyên rừng và sinh vật
Khu di tích chùa Hương có diện tích 5130 hecta là một quần thể núi rừng, núi đá nguyên sinh những thảm thực vật đa dạng phong phú Rừng đặc dụng Hương Sơn có tổng diện tích 3.320,41 ha lưu giữ nhiều nguồn gen động vật, thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và Thế giới Độ tàn che phủ của rừng hiện nay là 48% Rừng đặc dụng Hương Sơn có 1 kiểu thảm thực vật, 3 kiểu phụ thảm thực vật, 6 kiểu trạng thái thảm thực vật trên cạn, 1 kiểu trạng thái thủy sinh, ngập nước
Theo điều tra thống kê sơ bộ thì nơi đây có khoảng 350 loài thảo mộc, thuộc 92 họ Ở đây có 6 ngành thực vật bặc cao đó là ngành lá thông, ngành tháp bút, ngành thông đất, ngành dương xỉ, ngành hạt trần, ngành hạt kín
Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: lát hoa, thông, lim… Có những cây cổ thụ sống lẻ loi như cây sang (hoa phớt vàng, quả giống quả bồ kết) Tuy nhiên cây ở đây phần lớn là cây thứ sinh: dẻ, gai, muồng, cây dây leo, nhiều nhất là cây Quạch Cũng có nhiều cây làm thuốc như: cây ổ rồng vàng chữa bệnh lành xương, củ khúc chữa bệnh tê thấp, củ sâm làm thuốc bổ Ngoài ra có một lớp phủ thực vật dày đặc mọc ở các ngọn núi như: lan, cỏ tranh, cỏ vông tạo nên một bức tranh thiên nhiên tạo cảm giác khá hấp dẫn du khách
du lịch Đặc biệt khi nói đến tài nguyên thực vật không thể không nhắc tới một số loài cây quý, trong đó có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào “Sách Đỏ” của Việt Nam Rừng núi nơi đây còn cung cấp cho con người những đặc sản mà ít ở đâu có được như: mơ Hương Tích, canh rau sắng, củ mài Chùa Hương Như vậy, khách dến đây không chỉ tham quan