Chiều chiều ông Ngữ đi cày Trâu kéo gãy ách khoanh tay ngồi bờ” 4;tr.480 Thất bại không nản lòng, họ vẫn quyết tâm bền gan, cần cù lao động, tin tƣởng một cách lạc quan vào cuộc sống. Họ luôn giữ đƣợc nụ cƣời trên môi: “Chiều chiều ông Lữ đi câu Cá ăn đứt nhợ vinh câu ngồi bờ Chiều chiều ông Lữ đi đăng Cá tôm nhảy hết nhăn răng cười hoài” 4;tr.479 Ông Lữ ở đây là ông cai đôi Nguyễn Văn Lữ, vào thế kỷ XVIII đã chiêu mộ dân chúng khai hoang lập ấp ở Nhị Bình, Châu Thành, Tiền Giang. Để tỏ lòng kính trọng đối với công lao gian khổ của ông, nhân dân đã tôn ông làm bậc tiền hiền, và đƣợc thờ ở đình làng, lấy tên ông đặt cho một giồng cát ở đây: đó là giồng Cai Lữ. Và lƣu truyền những bài ca dao về ông. Hay công lao khai phá của ông Điều Bát ở Trà Ôn, Vĩnh Long cũng đƣợc ghi nhớ, thờ phụng: “Lịch thay địa phận Trà Ôn Miếu ông Điều Bát lưu tồn đến nay” 28;tr.318 Không phải ai cũng nhƣ ông Lữ, ông Điều Bát đƣợc con cháu đời sau thờ phụng nhang khói, bài ca dao sau đã phản ánh sự thật trớ trêu đau lòng: “Ruộng cò bay dặn dài Truông Cóc Cháu con ông Móm lăn lóc cơ hàn Ai xui khiến cảnh bẽ bàng Mồ ông còn đó, họ hàng chẳng thăm” 29;tr.22 Ông Móm không rõ họ tên, chỉ biết từ Quảng Ngãi vào khai khẩn vùng Truông Cóc, Gò Công Đông, Tiền Giang. Ở khoảng cuối thế kỷ XVII, ông là ngƣời đầu tiên đến đây, mở đƣờng cho nhiều ngƣời sau đến lập nghiệp ở vùng đất này. Không đƣợc tôn thờ nhƣ ông Cai Lữ, ông Điều Bát, ông Móm lúc sinh thời đã vất vả cực nhọc, mà đến khi chết con cháu bị xiêu tán, hoặc không có con cháu, nên không có ai chăm sóc, hƣơng khói, nấm mồ của ông trở nên hoang lạnh. Để cải tạo vùng đất ngập nƣớc, với những rừng cây rậm rạp, hoang dã, con ngƣời đã phải đánh đổi bằng mồ hôi nƣớc mắt, bằng tất cả công sức lao động của chính đôi tay mình:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI TRONG CA DAO
ĐỒNG BẰNG SƠNG CỬU LONG
QUÁCH VĨNH TUẤN
Hậu Giang, tháng 05 năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI TRONG CA DAO
ĐỒNG BẰNG SƠNG CỬU LONG
Giảng viên hướng dẫn:
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn hoàn chỉnh như hôm nay, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu, quý thầy cô khoa Khoa học cơ bản, thư viện Đại học Võ Trường Toản, trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, thư viện thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi chân thành cảm ơn thầy Trần Văn Nam đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ dạy tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Sinh viên thực hiện
Quách Vĩnh Tuấn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Sinh viên thực hiện
Quách Vĩnh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long 7
1.1.1 Địa lý và lịch sử khai phá Đồng bằng sông Cửu Long 7
1.1.2 Con người Đồng bằng sông Cửu Long và những nét sinh hoạt văn hóa xã hội ………12
1.2 Ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ……… 14
1.2.1 Ca dao ……… 14
1.2.2 Giới thuyết về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long………15
Chương 2 ĐẤT NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CA DAO 2.1 Nét hoang sơ và cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long ……….17
2.1.1 Nét hoang sơ trong buổi đầu khai phá……… 17
2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long……… 22
2.2 Sự giàu có, phong phú về sản vật, làng nghề……….31
2.2.1 Sản vật……… 31
2.2.2 Làng nghề……… 37
Chương 3 CON NGƯỜI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CA DAO 3.1 Hình ảnh những người đi khai phá và người nghĩa sĩ Đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm……… 40
3.1.1 Những người đi khai phá……… 40
Trang 63.1.2 Người nghĩa sĩ (chiến sĩ) trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm
(trước 1945)……… 44
3.2 Tính cách người Đồng bằng sông Cửu Long……….49
3.2.1 Sự hào phóng và lòng hiếu khách……… 49
3.2.2 Tính bộc trực ngang tàng……… 53
3.2.3 Tinh thần trọng nghĩa khinh tài……… 59
KẾT LUẬN……….……….66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nói đến kho tàng văn học Việt Nam chúng ta không thể không nhắc tới văn học dân gian – một bộ phận không thể thiếu của nền văn học dân tộc Trong đó, phải kể đến ca dao là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân gian Với những câu hát, câu hò, những lời đối đáp êm ái, mượt mà Đó là những lời ca tiếng hát chân thành mộc mạc của người bình dân để thổ lộ tâm tình và nói lên những suy nghĩ của mình về cuộc sống
Ca dao là một thể loại thuộc dòng văn học truyền miệng Có thể nói, ca dao
là tấm gương phản ánh đời sống vật chất và tinh thần dân tộc một cách chân thực nhất Nội dung ca dao vô cùng phong phú, chứa đựng mọi cung bậc tình cảm của người bình dân Tìm hiểu ca dao sẽ đem đến nhiều thú vị, nhiều cái hay cái đẹp, khơi nguồn cảm xúc mới cho mỗi chúng ta Và chính nguồn cảm xúc đó sẽ lưu truyền gìn giữ vốn văn hóa mà ông cha ta đã bao đời gây dựng cho con cháu đời sau
Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong hệ thống ca dao Việt Nam Nó vừa mang những nét chung vừa mang những nét riêng của vùng sông nước Vốn là mảnh đất còn rất trẻ về lịch sử khai phá Nhưng nó đã chứng kiến biết bao thăng trầm của cuộc sống Cùng với ca dao cả nước, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp vào kho tàng ca dao Việt Nam, làm cho nó ngày càng phong phú và đa dạng hơn
Ai sinh ra trên cõi đời này ắt hẳn có một quê hương, nơi để lại biết bao kỷ niệm vui buồn, bao giá trị tinh thần khó quên:
“Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều”
(Quê Hương - Đỗ Trung Quân)
Là một người dân sống trên mảnh đất Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, việc tìm hiểu lịch sử hình thành vùng đất và con người nơi đây không chỉ giúp tôi nâng cao sự hiểu biết, vốn sống mà nó còn làm tươi đẹp thêm cho vườn hoa tâm hồn và tình cảm của mỗi con người
Khi nhận được đề tài: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, tôi cảm thấy thích thú với đề tài này vì nó giúp tôi hiểu rõ hơn về vùng
đất và con người nơi tôi sinh ra và lớn lên Đó chính là lý do khiến tôi chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Vấn đề đất nước và con người trong ca dao thì rất phong phú và đa dạng, xoay quanh vấn đề này từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học, giới nghiên cứu quan tâm Chúng tôi nhận thấy chúng được nghiên cứu ở nhiều
vùng miền với các dân tộc khác nhau, ở đây do sự giới hạn của đề tài: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Chúng tôi xin liệt kê một vài
công trình nghiên cứu tiêu biểu Những công trình này ít nhiều có liên quan đến đề
tài mà chúng tôi nghiên cứu
Công tác sưu tầm ca dao trong cả nước có rất nhiều công trình tập hợp những câu ca dao trong cả ba miền, đồng thời các tác giả còn đưa ra nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề nghiên cứu ca dao
* Quyển: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan, Nxb Khoa học
Xã hội, 1978 Tập hợp cả ba thể loại của văn học dân gian, không chỉ giới thiệu đến độc giả những câu hát dân ca, những câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của ông cha
mà còn có những câu ca dao phong phú nội dung thể hiện đầy đủ cung bậc cảm xúc qua từng đề tài
* Quyển: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, do Liên tổ văn học Việt Nam biên
soạn Trong phần nội dung ca dao, các tác giả có đề cập đến các vấn đề như: lao động sản xuất, đấu tranh giai cấp và đời sống tình cảm của nhân dân lao động
Sưu tầm ca dao Nam Bộ thì không ít công trình có đóng góp trong lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu cố gắng sưu tầm và bổ sung, từ đó làm cho số lượng ca dao trong kho tàng ca dao Việt Nam ngày càng phong phú đa dạng hơn
* Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn
Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1984 Đây được xem là công trình có quy mô lớn, tập hợp nhiều bài viết về vùng đất này Quan trọng hơn hết, quyển sách
là bộ sưu tập nhiều bài ca dao dân ca sưu tầm ở Nam Bộ Quyển sách còn là sản
phẩm khẳng định vị thế của Văn hóa Nam Bộ “qua hàng trăm thử thách Nam Bộ, trong đó có phần ca dao dân ca đã góp phần vào văn hóa chung của dân tộc Việt Nam một bông hoa đậm hương sắc.” [4;tr.18] Đồng thời những nghiên cứu về ca
dao dân ca Nam Bộ trong quyển này cũng cho thấy thiên nhiên nơi đây có vai trò rất
lớn trong biểu hiện tâm tư tình cảm của con người “thiên nhiên Nam Bộ mang nhiều sắc thái độc đáo rất dễ phân biệt với các miền khác của đất nước Đây là xứ sở của đồng lúa, vườn cây, và sông ngòi.” [4;tr.2]
* Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, nhóm tác giả Thạch Phương, Hồ
Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, Nxb Khoa học Xã hội, 1992 Nội dung chủ yếu trình bày về văn hóa người Việt ở Nam Bộ, bao gồm: quá trình hình thành làng
Trang 9của sinh hoạt lễ hội truyền thống, … Phần tổng quan tác giả có đề cập đến khái
niệm dân gian Bên cạnh đó nhóm tác giả còn đưa ra giới hạn của công trình “không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu nhiều loại hình văn nghệ dân gian người Việt ở Nam
Bộ, mà còn đề cập đến nhiều dạng sinh hoạt vật chất, nhiều phong tục tập quán và sinh hoạt tính ngưỡng, hội hè của dân chúng trong vùng.” [22;tr.21]
Còn đây là công trình nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ với gốc nhìn văn hóa học thông qua sự kết hợp với văn học dân gian
* Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo – Nguyễn Phương Thảo, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1997 Quyển sách có ý nghĩa giới thiệu và giải mã văn hóa dân gian của một vùng – vùng sông nước Cửu Long và bổ sung vào vốn văn hóa cả nước Quyển sách còn đề cập đến những vấn đề cụ thể trong lĩnh vực đời sống tâm linh của con người
* Diện mạo văn hóa dân gian Nam Bộ, Nguyễn Văn Hầu (gồm 2 tập), Nxb
Trẻ, 2004 Tập 1 đã khái quát về các thể loại văn học dân gian ở Nam Bộ như truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, ca dao, hò, bước đầu cho người đọc hình dung diện mạo của văn hóa dân gian trong không gian Lục tỉnh
Đối với văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ca dao nói riêng được các tập thể, cá nhân tập hợp và biên soạn ra mắt bạn đọc góp phần làm cho kho tàng ca dao Việt Nam phong phú hơn
* Công trình nghiên cứu tập thể Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ, Nxb Giáo dục 1997 Sưu tầm
những sáng tác dân gian thuộc nhiều thể loại ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,
trong đó có một phần lớn là ca dao Ở phần Cùng bạn đọc, từ những sáng tác dân
gian như truyện, vè, ca dao, tục ngữ tập thể tác giả đã giới thiệu về văn hóa văn
minh sông nước miệt vườn ruộng rẫy Nam Bộ, “Trên vùng đất này, những dòng sông, con kênh, con rạch đan xen vào nhau, uốn quanh những vườn cây sum suê, trĩu quả, những cánh đồng mênh mông, “cò bay thẳng cánh” Đồng bằng sông Cửu Long là châu thổ phì nhiêu, phù sa màu mỡ, với thế mạnh của ruộng lúa, vườn cây,
đã và hiện vẫn là khu vực có sản lượng nông nghiệp lớn nhất nước.” [28;tr.5]
* Thơ văn Đồng Tháp, tập 1, do Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh và Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp biên soạn, Nxb tổng hợp Đồng Tháp, 1986 Trong lời giới thiệu, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn có giải thích tại sao lấy tên công trình là Thơ văn Đồng Tháp Theo giải thích, do công trình bao gồm các thể loại văn học (văn học dân gian và văn học viết) được tập hợp theo thời gian
từ khi có địa danh Đồng Tháp, đến năm 1986 Lê Trí Viễn đã phân tích về lịch sử hình thành theo từng giai đoạn – mốc thời gian, tên gọi, cảnh quan thiên nhiên từ buổi hoang sơ đến khi đô thị phát triển, sinh hoạt ăn ở, các sản vật thiên nhiên tiêu
Trang 10biểu, ngôn ngữ - cách nói năng của con người nơi đây Đặc biệt Lê Trí Viễn đã đi sâu vào phân tích tính cách con người với những điểm nổi bật: cương trực, nghĩa khí phóng khoáng, ngang tàng bộc trực, thật thà và tình cảm sâu đậm Ông kết luận:
“Nảy nở trên đất này, thấm mồ hôi, xương máu của con người, từng qua bao cơn vui mừng, lo lắng, bao nỗi sung sướng, thương đau, thơ văn này là tiếng nói chung thống nhất cho hơn chịu đồng bào tỉnh nhà Thống nhất giữa Đồng Tháp với Nam
Bộ, nơi miền Nam và cả nước, một nắm đất là một phần cơ thể Tổ quốc; thống nhất giữa lịch sử Đồng Tháp với lịch sử nước nhà, ba trăm năm mà vẫn còn là bốn ngàn năm; thống nhất trong văn mạch phía Nam và mạch cả nước.” [27;tr.58]
Như vậy, dù là thơ văn Đồng Tháp (nhất là phần văn học dân gian) nhưng cũng là của Nam Bộ và đồng thời tính cách con người Đồng Tháp cũng là tính cách con người Nam Bộ
* Ca dao Đồng Tháp Mười, Đỗ Văn Tân (chủ biên), Nxb Sở Văn hóa Thông
tin Đồng Tháp, năm 1984 Sưu tập những bài ca dao của quê hương Đồng Tháp Gồm các mối quan hệ gia đình, xã hội, tình yêu – hôn nhân, ca ngợi Đảng Bác Hồ
và những bài ca dao chống thực dân Đế quốc Trong phần lời của nhóm biên soạn
có đoạn: “chúng ta tìm trong ca dao Đồng Tháp Mười có rất nhiều câu lưu lại đậm nét mầm dã thưở sơ khai của vùng đất mới này.”[23;tr.7] Còn có nhiều bài ca dao
ca ngợi khá đầy đủ những đặc trưng cảnh trí và sản vật của địa phương
* Văn học dân gian Tiền Giang, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Tiền Giang,
1985 Đây là công sức của cán bộ giảng dạy và nhiều khóa sinh viên khoa văn Trường Đại học Sư phạm Tp HCM, kế đến là công trình tập thể nhiều năm của cán
bộ, nghệ nhân nghiên cứu văn hóa và hoạt động văn nghệ tỉnh nhà Quyển sách bao gồm nhiều bài ca dao xuất xứ tại quê hương Tiền Giang và các bài ca dao xuất xứ từ các vùng miền khác nhưng được lưu hành phổ biến ở Tiền Giang
* Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa, Sơn Nam, Nxb Trẻ, Tp
HCM, 1987 Tác giả đã khái quát bức tranh sống động về những sinh hoạt văn hóa của vùng ĐBSCL vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Ngoài các công trình trên còn có các tạp chí, các bài tham luận, các bài luận văn, khóa luận tốt nghiệp như:
* Ca dao Nam Bộ - ca dao vùng đất mới, Trần Văn Nam, tập san Khoa học
Xã hội, số 5, 1998 Bài viết giới thiệu về vẻ hoang vu của thiên nhiên Nam Bộ qua những bài ca dao, về hình ảnh của những con người đi khai hoang, ca dao của vùng sông nước Qua bài viết này, chúng ta biết thêm về thiên nhiên Nam Bộ phản ánh cái nhìn của con người buổi đầu mở đất
* Tính cách Nam Bộ qua biểu trưng ca dao, Trần Văn Nam, trang mạng
Trang 11e-trưng với tính cách ngang tàng Bài viết phần nào cho chúng ta thấy được tính cách con người Nam Bộ thể hiện qua một số bài ca dao
* Cần Thơ đất nước con người trong ca dao, Trần Văn Nam, báo Cần Thơ,
20.02.2005 Giải thích nguồn gốc địa danh Cần Thơ qua ca dao, được nhìn nhận qua hai góc độ: những bài ca dao về Cần Thơ, các tên riêng thuộc Cần Thơ, và nhóm bài ca dao đề cập đến nhân vật lịch sử, văn hóa, phong tục và sản vật, của địa phương
* Đất nước và con người trong ca dao Nam Bộ, Nguyễn Thị Hoàng Lâm,
luận văn tốt nghiệp Sư phạm Ngữ văn, Đại học Cần Thơ, 1994 Luận văn đã làm nổi bật hình ảnh đất nước và con người vùng đất Nam Bộ buổi đầu khai phá
* Bài Thử nhìn văn hóa Nam Bộ qua lăng kính ca dao, Trần Văn Nam, đăng
trong Thông báo Văn hóa dân gian 2001
Bài viết chú ý đến “hiệu quả kép” về mặt ý nghĩa của các hình ảnh được tác
giả dân gian sử dụng Theo tác giả bài viết thì khi sử dụng các hình ảnh này vừa
“diễn đạt nội dung bài ca dao”, vừa “thể hiện đặc điểm văn hóa của tập thể tác giả dân gian” Tác giả bài viết đã khảo sát các hình ảnh trong ca dao Nam Bộ qua hai
khía cạnh: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Thông qua lăng kính ca dao, tác
giả bài viết đã khẳng định: “Những hình ảnh này mộc mạc được hình thành từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ, mặt khác chúng góp phần biểu hiện những đặc điểm văn hóa đó” Bài viết này đã giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về văn hóa của vùng đất
Nam Bộ với những nét sinh hoạt và những tập quán, tín ngưỡng, … Từ đó, giúp chúng tôi dễ dàng đi vào nghiên cứu đề tài của mình
Qua những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tìm thấy được thì chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Những công trình nghiên cứu trên sẽ là tiền đề để chúng tôi nghiên
cứu đề tài Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Thực
hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ có đóng góp dù là rất nhỏ trên con đường tìm hiểu văn học dân gian vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long
3 Mục đích nghiên cứu
Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú đa dạng, thực hiện đề tài trên, trước hết người viết nhằm tìm hiểu, bổ sung thêm về một mảng trong sáng tác văn học dân gian của vùng đó là ca dao đặc biệt là ca dao về đất nước
và con người Qua đó chúng tôi mong muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa con người đối với thiên nhiên vùng đất mới Đồng thời phân tích để tìm ra cái hay, cái đẹp trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
Yêu cầu ở đây là phải nắm được những đặc trưng cơ bản về lịch sử, địa lí, con người, vùng đất và văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long nhằm cung cấp cho
Trang 12người viết kiến thức cần thiết để hiểu và cảm nhận ca dao Đồng bằng sông Cửu Long một cách sâu sắc Thực hiện đề tài này người viết tiếp cận ca dao Đồng bằng sông Cửu Long theo bốn chủ đề chính: tình yêu quê hương đất nước, tình cảm nam
nữ, tình cảm gia đình và các mối quan hệ khác
4 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, người viết giới hạn phạm vi nghiên cứu là ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Cụ thể hơn là nghiên cứu đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Do dung lượng luận văn có hạn, vấn đề nghệ thuật của mảng
ca dao Đồng bằng sông Cửu Long về đất nước, con người sẽ được nghiên cứu, trình bày riêng
Phạm vi tài liệu là những công trình có các vấn đề liên quan tới nội dung
nghiên cứu trên Trong đó, tài liệu tham khảo chính là cuốn Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, tập thể cán bộ Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ biên soạn, Nxb Giáo dục, 1997 Cuốn Ca dao Đồng Tháp Mười, nhóm tác giả biên soạn: Đỗ
Văn Tân, Vũ Hoàng Đoàn, Đinh Thiên Hương, Cái Văn Thái và Lê Hương Giang,
Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, 1984
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu người viết còn tham khảo một số tài liệu
có liên quan như: Ca dao dân ca Nam Bộ, Thơ văn Đồng Tháp, Văn học dân gian Tiền Giang, … để làm sáng tỏ vấn đề
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này người viết đã sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đây có thể được xem là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu của mọi vấn đề Ở đây, người viết
đã thu thập các tài liệu có liên quan đến luận văn, chọn lọc và ghi nhận những nội dung cần thiết để làm cơ sở dữ liệu cho luận văn
* Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này giúp người viết biết được tình hình nghiên cứu và tài liệu liên quan đề tài có định hướng phù hợp với yêu cầu đề tài
* Phương pháp tổng hợp, so sánh: Để so sánh thiên nhiên và con người trong
ca dao Đồng bằng sông Cửu Long với ca dao vùng miền khác So sánh, đối chiếu với ca dao cổ truyền để thấy nét riêng trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long về quê hương đất nước
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài người viết còn sử dụng các phương pháp liên ngành đặt trong mối liên hệ giữa văn học dân gian với văn hóa học, dân tộc học, … nhằm tổng hợp và hệ thống lại vấn đề đã nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề, những nhận định mới được đưa ra
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1 Địa lí và lịch sử khai phá Đồng bằng sông Cửu Long
* Về địa lí:
Vùng đất Nam Bộ có diện tích hơn 63.277,2 Km², nằm ở phía nam của Việt Nam thuộc hạ lưu sông Mê kong Do đặc điểm cấu tạo nên Nam Bộ được chia làm
hai miền: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long còn gọi là vùng Đồng bằng Nam Bộ hoặc miền tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân miền Nam ngắn gọn là Miền Tây Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40.548,2 Km², dân số trong vùng là 17.330.900 người, có 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung Ương: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long
Tây Nam Bộ có địa hình đồng bằng tương đối thấp, bằng phẳng, vùng đất được bồi tụ phù sa của sông Cửu Long nên đất đai màu mỡ phì nhiêu, Đồng bằng sông Cửu Long còn là trung tâm nông nghiệp, vựa lúa lớn nhất cả nước, khí hậu tương đối mát mẻ, điều hòa Một năm chỉ có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng
Nhắc đến Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nói về một vùng sông nước Toàn vùng có 2.500 Km sông tự nhiên, 3.000 km kinh đào, khoảng 150 cù lao trên sông Đồng bằng sông Cửu Long có vùng đất ngập nước đa dạng sinh học nhất Châu Á trải từ U Minh Thượng đến Mũi Cà Mau Đồng bằng sông Cửu Long còn
có hệ thống núi đá vôi Kiêng Lương (Kiên Giang) như thành lũy thiên nhiên phía Tây Nam Tổ quốc, đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đẹp và lớn nhất Việt Nam, hệ thống rừng ngập mặn ven biển, rừng gỗ lớn thường xanh ở Phú Quốc, rừng rụng lá theo mùa ở An Giang, rừng chồi bụi trên núi đá vôi ở Kiên Lương Đặc biệt sông còn là đường giao thông quan trọng trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân nơi đây
Đặc điểm nổi bật của Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt Ngoài hệ thống sông Cửu Long, nơi đây còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra
Vịnh Thái Lan: “Trên vùng đất này, những con sông, con kênh, con rạch đan xen vào nhau, uốn quanh những vườn cây sum suê, trĩu quả, những cách đồng mênh mông cò bay thẳng cánh.”[28;tr.5] Bên cạnh những dòng chảy tự nhiên, con người còn “khai mương” làm vườn, đào kênh xả phèn cho ruộng, môi trường sông nước
đã sản sinh ra nền “văn minh kênh gạch” Do có nhiều dòng chảy nên giao thông đường thủy là hệ thống quan trọng của nhân dân từ buổi đầu khai hoang cũng như
Trang 14trong suốt mấy thế kỷ qua Sinh hoạt trên sông nước của họ chủ yếu gắn liền với ghe, xuồng Từ chiếc xuồng ba lá buổi đầu đến chiếc vỏ lãi máy đuôi tôm là cả một quá trình lao động, sáng tạo Hầu hết cuộc sống cư dân nơi đây gắn liền với chiếc ghe (ghe làm nhà ở, ghe bán hàng, ghe đi làm thuê, ghe làm phương tiện chăn nuôi,…)
“Chèo ghe đi bán cá vồ, Nước chảy ồ ồ chẳng có ai mua”
[28;tr.321]
Ở Đồng bằng sông Cửu Long người ta còn nhắc đến văn minh gắn liền với cây trái, ruộng đồng sông nước, đó là văn minh miệt vườn Vườn ở đây xuất hiện tương đối sớm và phát triển khá mạnh Vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn
và trồng cây chuyên canh quanh năm như Xoài Cao Lãnh – Đồng Tháp, cam Long Tuyền – Cần Thơ…
“Hòa An phong cảnh mơ màng,
Có vườn mận đẹp, có làn nước xanh”
[28;tr.318]
Công việc làm vườn đòi hỏi con người sáng tạo mà kinh nghiệm của dân ruộng không thể làm được Người ta phải đắp bờ quanh cù lao ngăn nước, khai mương lên liếp rồi đến kỹ thuật ươm cây, chiết cành Công việc này diễn ra quanh năm nhưng lại không chịu sự thúc bách của thời vụ như làm ruộng khiến cuộc sống trở nên khoan thai, con người trở nên điềm đạm, thanh thản hơn
Về mặt đơn vị cơ sở của tổ chức xã hội, làng người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đặc điểm khác với làng ở Bắc và Trung Bộ Nếu làng ở Bắc Bộ
có tính khép kín thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại có tính chất mở, hầu hết
cư dân sinh sống trên các trục kênh mương hay trục giao thông tiện bề đi lại cũng như mua bán trao đổi hàng hóa Nếu làng Bắc Bộ có sự phân biệt giữa dân chính cư
và dân ngụ cư nhằm duy trì sự ổn định của cộng đồng thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại không có sự phân biệt này, cư dân ở Nam Bộ sẵn sàng đến bất kỳ nơi nào có thể đáp ứng được đời sống vật chất và tinh thần cho họ Con người ở đây
thường hướng tới cái “nghĩa”, vì thế tính cách của con người Nam Bộ hào phóng và
lòng hiếu khách, thái độ bộc trực và tinh thần trọng nghĩa khinh tài
Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các khu công nghiệp, các trường Đại học, có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như: Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng, … thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan Đây là trung tâm buôn bán trao đổi hàng hóa và là “thủ phủ” của Miền Tây
Trang 15“Cần Thơ gạo trắng nước trong Đậm tình non nước gợi lòng khách du”
[4;tr.134]
* Lịch sử khai phá:
Trước thế kỷ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long còn là một nơi hoang dã Vùng đất này còn ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch với số dân bản địa ít ỏi và thưa thớt Quang cảnh thiên nhiên hoang sơ chỉ có những bụi mây dài, cây to, cát vàng, lau sậy trắng, cây cối um tùm, rễ phụ thòng xuống bám đất, tàng cây che tối om làm thành hang cho cọp sinh sống Tre gai mọc rất nhiều gần như thành rừng; lúa ma, lau trắng sậy đế mọc khắp nơi, … cảnh vật hoang sơ, độc địa:
“Muỗi kêu như sáo thổi Đỉa lội tợ bánh canh
Cỏ mọc thành tinh Rắn đồng biết gáy”
trở nên nhỏ bé làm cho họ có tâm trạng lo sợ trước cảnh vật lạ lùng Chính điều này làm cho con người phải có cách ứng xử để thích ứng với môi trường sống mới, để
có thể tồn tại và phát triển
“Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê”
Trang 16Thành phần những người vào Nam khai phá khá phức tạp Những người có tiền của vào Nam theo chế độ của nhà Nguyễn, họ thuê mướn nhân công lao động, khai phá theo kiểu điền chủ lớn, kiểu nông trại theo lối quảng canh, việc khai hoang
có nhiều thuận lợi Những người nghèo đi riêng lẻ, họ là những người trốn khỏi vòng thiết chế phong kiến khắc nghiệt ở vùng ngoài, đi tìm vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp Những người lính thú, tội đồ bị đưa vào Nam lập các đồn điền trấn giữ biên ải
Lúc đầu làm ăn theo lối quảng canh vì đất rộng người thưa, mà không có cơ giới, họ phải dùng sức người là chính, nên một năm làm ruộng một mùa, không bón phân, cũng không tận dụng đất, nơi nào thuận thì làm, không thuận thì bỏ hoang Thay đổi nghề nhanh chóng, nguồn lợi tự nhiên dồi dào như bắt cá đồng, cá biển, đốn củi, nghề câu cá sấu,… thu lợi nhanh hơn làm ruộng Với việc thay đổi thành phần xã hội khá nhanh, người giàu có đứng ra làm chủ, mướn nhân công, phá sản lại trở về làm công
dân sớm thích nghi với điều kiện thời tiết: khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng
rõ rệt là môi trường cho sinh vật phát triển Về thổ nhưỡng, tùy theo đất mà cày hoặc không cày Ở những nơi đất nhiều phù sa dọc hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu làm theo lối phát cỏ đến đâu cấy đến đấy, thu hoạch được nhiều Có nơi phải cày trâu như ở Vàm Cỏ, Xoài Rạp, … Có nơi đất xấu khó làm ruộng được như ở Hà Tiên, Cà Mau
Về kinh tế làm theo kiểu kinh tế hàng hóa Những kho hàng Cù Lao Phố, rồi Chợ Lớn, kho hàng Hà Tiên, Mỹ Tho, Bài Xãi (Sóc Trăng) hoạt động thường xuyên nhờ hệ thống chân rết Nguyên tắc của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn là bế quan tỏa cảng Vua quan nắm quyền ngoại thương rồi ủy thác cho thương gia người Hoa Nhờ yêu cầu của thị trường rộng lớn, người khẩn hoang bước đầu được khích lệ, tạo
ra nguồn hàng dồi dào, bảo đảm cạnh tranh về chất lượng Như năm 1825, đời Minh Mạng có nhiều thuyền chở gạo vào chợ Hà Tiên Đây là nơi ít ruộng, nhà vua đưa ra chủ trương đánh thuế nhẹ để khuyến khích sự trao đổi buôn bán Cụ thể thuyền
Trang 17Ở đất mới, muốn phát triển sản xuất, phải nới rộng luật lệ, khuyến khích tự phát Đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, chính sách rất tùy tiện, người dân ở Gia Định (Nam Bộ) có thể khẩn đất, canh tác tại đơn vị hành chính này nhưng nộp thuế
ở đơn vị khác Năm 1779, đang lúc tranh chấp với Tây Sơn, Nguyễn Ánh chỉnh đốn thuế vụ nhằm cung cấp chi phí chiến tranh, đặt ra dinh Trương Đồn (Long An), xem đây là trung tâm của đồng bằng lúc bấy giờ, giữa Vàm Cỏ Tây và sông Tiền
Đất mới khai phá miễn thuế ba năm theo lệ đời Gia Long, năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17), việc đo đạc ruộng đất tương đối chính xác bằng sào, mẫu gần như không có Trong địa bộ ghi khái quát một khoảnh đất hoặc hai dây đất với tên
họ những người chủ đất ở bốn phía ranh, khai gian diện tích để đóng thuế nhẹ
Ranh giới giữa đồng bằng và đất Campuchia từ lâu chỉ là vạch ra trên nguyên
tắc, trong thực tế cư dân hai bên vẫn qua lại dễ dàng Chính quyền khuyến khích lập
làng xã đễ dễ dàng kiểm soát dân số và thu thuế, mỗi làng quy tụ số dân đinh tối thiểu chừng mươi người, vì vậy cư dân sinh sống trải dài theo ven sông gạch, đất ruộng canh tác xen kẻ với những khoảng đất trống, đem lại nguồn lời dồi dào
Triều đình nhà Nguyễn ưu tiên cho việc khẩn hoang, mở mang bờ cỏi Chính sách của nhà Nguyễn khuyến khích người dân đi khẩn hoang như đối với vùng đất xấu, người dân không phải đóng thuế Thậm chí, nhà Nguyễn không chỉ dùng chính sách khuyến khích động viên mà còn bắt buộc, cưỡng bức dân lập đồn điền khẩn hoang Năm 1790 Nguyễn Ánh lệnh cho các nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền Năm 1791 Nguyễn Ánh lại ra lệnh cho các hạng dân và người đường cũ, mới, ở đạo Long Xuyên, ai muốn làm đồn điền mà không đủ đồ làm ruộng thì nhà nước cho vay… Kẻ nào không muốn làm đồn điền thì bắt phải thu dịch tòng chinh
để răn những kẻ chơi bời lười biếng Những người Phiên và người Đường ở hai phủ
Ba Xắc và Trà Vinh cũng cho khẩn đất làm đồn điền Việc áp dụng chính sách đồn điền vừa nhằm mục đích kinh tế vừa nhằm mục tiêu bảo vệ an ninh
Nguyễn cho tổ chức những nhóm nhỏ gọi là phường, trại, nậu, … nhiều thôn xã họp lại thành tổng; đào kinh để mở mang ruộng; khuyến khích dân khẩn hoang; mở đường giao thông để chuyên chở hàng hóa Năm 1817, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại dốc sức đào kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế đưa nước sông Hậu mùa lũ lụt
ra Vịnh Thái Lan, ở phía bắc sát biên giới Trong việc đào kinh, sức khỏe và an ninh của những người dân phu không được bảo đảm Giữa chốn đồng không hiu quạnh,
ăn uống thiếu thốn, số người chết quá cao Chiến tranh xảy ra liên miên đã ảnh hưởng đến công cuộc khai hoang Đời sống sinh hoạt của người dân bị xáo trộn, thời gian tạm ổn là vài tháng, đôi năm, chưa hẳn là yên tĩnh Những khoảng thời gian yên ổn giúp người dân ổn định cuộc sống, mở mang thêm đất mới
Trang 18Trong 50 năm đầu thế kỷ XIX, sau khi đo đạc lại đất đai ở các tỉnh Nam Bộ, nhà Nguyễn tích cực phát triển chế độ công điền, công thổ Thực tế, đây là một sự tước đoạt ruộng đất của điền chủ và người khẩn hoang Chế độ tư hữu về ruộng đất trước kia trong bước đầu khai hoang tạo ra sự hứng thú cho người khai khẩn Ngược lại, chế độ công điền không làm tăng được năng suất vì cày cấy tạm bợ trên thửa ruộng công mà sau ba năm làng xã lấy lại Người canh tác thiếu hứng thú đầu tư công sức làm thủy lợi, đắp bờ, cải tạo đất Chế độ đồn điền bị hủy bỏ ngay khi thực dân Pháp đến
1.1.2 Con người Đồng bằng sông Cửu Long và những nét sinh hoạt văn hóa
xã hội
* Con người Đồng bằng sông Cửu Long:
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi cộng cư của nhiều tộc người như: Việt, Hoa, Khmer, Chăm, trong những năm gần đây, một số ít dân tộc phía bắc cũng có mặt trên vùng đất này Họ sống hòa hợp với nhau, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống
con người Đồng bằng sông Cửu Long Những người đi khẩn hoang phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, họ bỏ quê hương đến vùng đất mới Họ đi tìm sự sống trong muôn vàn cái chết, trong gian khổ, hiểm nguy, họ cần có sự tương trợ đùm bọc lẫn nhau Sống xa quê hương cố quán, con người cần tình bạn nên rất hiếu khách, kết nghĩa bạn bè rộng rãi:
“Liều mình vào chốn chông gai
Kề lưng cỗng bạn ra ngoài thoát thân”
[28;tr.8]
Những người vào đây khẩn hoang đa số là người nghèo, họ không thông thạo kinh sử Nhưng họ không dấu dốt, ham học hỏi, trọng người biết chữ, ưu kẻ sĩ
sáo, chân thật, cởi mở Nhưng họ hào hiệp, ít chịu ràng buộc trước những luật lệ kỷ cương phong kiến, trọng nghĩa khinh tài, bộc trực, ngang tàng, có lòng yêu nước nồng nàn, thiết thực, chuộng tiến bộ
vẫn còn một vài tính xấu Thẳng thắn, bộc trực đôi khi dẫn đến nóng nảy, thiếu kiên nhẫn trong công việc Chính vì nóng nảy nên khi việc lớn không thành thì mau nguội lạnh, không có một kế hoạch lâu dài mang tính chiến lược Và sự thoải mái, hào phóng trong cuộc sống tạo cho người Đồng bằng sông Cửu Long tính ỉ lại thiên nhiên, không có sự chuẩn bị chu đáo, đụng đâu làm đó
Trang 19* Những nét sinh hoạt văn hóa xã hội:
Do những điều kiện địa lí và lịch sử hình thành nên Đồng bằng sông Cửu Long có những nét đáng lưu ý về mặt văn hóa Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long
là dòng chảy hợp lưu hội tụ, kết tinh của nhiều nguồn văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Bên cạnh hai nền văn hóa chính là nền văn hóa Ấn Độ (của người Khmer)
và nền văn hóa Trung Hoa (của người Hoa) còn có nền văn hóa Islan (của người
Chăm) “Đây là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người Đặc biệt nơi đây diễn ra quá trình giao lưu văn hóa với các nước Đông Nam Á và với phương Tây rất sớm.”[28;tr.5] Người Việt đi khẩn hoang sớm thích ứng với hoàn
cảnh sống, biết tận dụng địa lợi tạo ra nhân hòa, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn, chan hòa giao lưu văn hóa với nhau, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với con người và
văn hoá của các dân tộc khác mà vẫn giữ được phong cách riêng của mình
một dấu ấn của việc giao hòa với lời ăn tiếng nói của các dân tộc anh em “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính nhưng dân chúng vẫn đang sử dụng tiếng Khmer, tiếng Hoa trong giao tiếp.”[28;tr.6] Từ miền Bắc, miền Trung vào lập nghiệp, người Đồng
bằng sông Cửu Long còn giữ được nhiều phong tục, tập quán của quê hương mình, nhiều khi có pha tạp đi đôi chút trên đường đi khẩn hoang do giao tiếp với các nền văn hóa Chăm, Hoa, Khơme
đề gia phả không được chú ý như ở Bắc Bộ, Trung Bộ Không phân biệt được huyết thống sang trọng quý tộc, nên giới điền chủ giàu có biểu dương nếp sống của mình bằng cách xài tiền, càng xài rộng rãi thì càng sang trọng, xem đồng tiền là phù du
áo bà ba mang màu sắc đất đai, vừa kính đáo vừa duyên dáng, dễ thương mang sắc thái riêng Chiếc áo bà ba mang những nét đặc trưng của con người Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Nó không đơn thuần là chiếc áo quê mà nó còn mang hồn quê một thuở, mang tâm tình một thuở Chiếc áo bà ba còn là cái cớ để trai gái thổ lộ tâm tình:
“Áo bà ba trắng không ngắn, không dài, Sao anh không bận, bận hoài áo thun?
Hai đứa mình chẳng đặng nằm chung, Tháng này gió bấc, bận áo thun cho ấm mình”
[28;tr.388]
Nghe chuyện cái áo bà ba, cái áo thun “hiện đại” xen vào như nghe được một lời trách móc thầm kín của cô gái Sao anh lại quên nét đẹp bình dị, nét làng quê mà vội đi theo những cái gì xa lạ?
Trang 20Các món ăn đậm đà hương vị địa phương, cách xây dựng nhà của xóm làng, các phương tiện giao thông tất cả điều mang tính chất của vùng đồng bằng
Các lề lối sinh hoạt, các phong tục tập quán, cách ứng xử chân tình phóng khoáng nếp sinh hoạt và thẩm mỹ hướng về sự giản dị, hồn nhiên nhưng không kém phần lễ độ
1.2 Ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1 Ca dao
Hiện nay các nhà nghiên cứu, giới học giả vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm ca dao Rất nhiều học giả trong quá trình nghiên cứu đưa ra khái niệm ca dao nhưng vẫn chưa mang tính thuyết phục cao Sau đây là một số khái niệm ca dao của một số học giả:
Theo Dương Quảng Hàm thì: “Ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn được lưu truyền trong nhân gian, thường tả
tính tình phong tục tập quán của người bình dân.”[5;tr.15]
Thuần Phong cho rằng: “Ca dao tức là dân ca truyền miệng trong dân gian, hát thành nhiều giọng, đặt theo nhiều thể, diễn tả sự vật, thế tình, thói tục và tư tưởng của nhân dân.”[21;tr.24]
Mã Giang Lân – Lê Trí Quế cho rằng: “Ca dao là những bài có hoặc không
có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả,
tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.”[11;tr.216]
Còn theo Vũ Ngọc Phan thì: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các thể thơ khác và có thể xây dựng được thành các điệu dân ca”[20;tr.42]
Theo Đinh Gia Khánh thì: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, Hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca.”[8;tr.436]
Tiếp theo đây là ý kiến của Nguyễn Văn Hầu: “Ca dao là câu, là bài hát ngắn, được truyền miệng từ người này sang người kia và từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng những lời văn giản dị bình dân.”[7;tr.52]
Hiện nay các khái niệm ca dao tương đối phong phú, nhưng tựu trung lại các
tác giả đều có chung quan điểm ca dao là: những câu hát có vần điệu, thường được sáng tác bằng thể thơ lục bát, được lưu truyền rộng rãi trong khắp dân gian từ thế
hệ này sang thế hệ khác
Trang 211.2.2 Giới thuyết về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là ca dao được sưu tầm ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng được lưu truyền ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Mảng ca dao này gồm ba nguồn chính:
* Ca dao được lưu truyền ngoài khu vực Đồng bằng sông Cửu Long:
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới được khai phá Đại bộ phận dân
cư ở Đồng bằng sông Cửu Long là những lưu dân từ miền khác đến, cho nên ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có một phần quan trọng là ca dao được mang đến từ các miền đất khác Nó là sản phẩm của quá trình chuyển cư và giao lưu văn hóa Chẳng hạn như bài ca dao sau từng được lưu truyền ở Trung Bộ:
“Chiều chiều ông Lữ đi câu
Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang”
Hay:
Chiều chiều ông Lữ đi cày Trâu tha gãy ách khoanh tay ngồi bờ”
(Ca dao Trung Bộ)
* Ca dao được người dân Đồng bằng sông Cửu Long cải biên:
Những bài ca dao có nguồn gốc từ những vùng miền khác được người Đồng
bằng sông Cửu Long cải biên:
“Có thương thì thương cho chắc Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn trăng”
Từ bài ca dao trên người Đồng bằng sông Cửu Long cải biên lại cho phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh của vùng quê sông nước:
“Có thương thì thương cho chắc Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng theo cái thói ghe buôn Khi vui thì ở, khi buồn thì đi”
“An Bình đất mẹ cù lao, Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long,
Trang 23Chương 2 ĐẤT NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CA DAO 2.1 Nét hoang sơ và cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
2.1.1 Nét hoang sơ trong buổi đầu khai phá
Hình ảnh hoang vu buổi đầu khai phá của vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long được ghi lại đậm nét trong ca dao và tạo cho ca dao vùng đất mới một mảng
đề tài độc đáo so với ca dao truyền thống
Trước thế kỷ XVII, vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long vẫn ngủ yên trong
vẻ hoang sơ u tịch với dân số bản địa thưa thớt, lạc hậu về kỹ thuật nông nghiệp
Sang thế kỷ XVII, những người Việt đầu tiên “đi mở cõi” đến vùng đất mới, nhận
ra vẽ hoang sơ của nó Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm thấp, cây cối mọc um tùm, sinh vật phong phú đa dạng
Khí hậu ẩm thấp là điều kiện thuận lợi, là thiên đường cho các loài côn trùng sinh sôi phát triển:
“Muỗi kêu như sáo thổi Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh Rắn đồng biết gáy”
Hay:
“Rừng thiên nước độc thú bầy Muỗi kêu như sáo thổi, Đỉa lội ngừ như bánh canh”
[23;tr.30]
Lối so sánh cường điệu hóa làm cho bài ca dao có một ấn tượng mạnh mẽ
Nó vừa có âm thanh vừa có hình ảnh Âm thanh tiếng muỗi bay vang lên như sáo
thổi nghe như tiếng “muỗi kêu” Sự cộng hưởng về âm thanh này phải đạt đến đỉnh
cao mới có thể nghe vi vu như tiếng sáo thổi Để có được những âm thanh như vậy phải là sự kết hợp của hàng triệu chú muỗi bay dày đặc trên không trung tạo nên Nếu như âm thanh của tiếng sáo vi vu lắng đọng làm cho tâm hồn con người thanh thiết hơn, thì âm thanh của đàng muỗi khiến người ta hoảng sợ, choáng ngợp, ghê rợn, ăn không ngon, ngủ không yên Âm thanh của đàng muỗi không đơn điệu, nó
còn được hòa âm trong tiếng “gáy” của loài “rắn đồng” Đây là một loại rắn rất
độc ở vùng rừng nhiệt đới Chúng sống dưới những tàn cây thấp, rậm rạp Đuôi của loài rắn này phát ra những âm thanh như tiếng gáy để uy hiếp kẻ thù Sự hòa âm
giữa tiếng “gáy” của “rắn đồng” và tiếng “muỗi kêu như sáo thổi” phản ánh một
phần cuộc sống của thiên nhiên hoang dã Sức sống mãnh liệt ấy được chứng minh
rõ hơn qua lối so sánh gợi hình ảnh:
Trang 24“Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh”
Đỉa là một loại côn trùng có sức sống mãnh liệt Ông cha ta từng ví “dai như đỉa đói” để chỉ những sự vật, hiện tượng kéo dài khó dứt, gây một cảm giác khó
chịu, bực bội Lối ví von này được rút ra từ bản chất của loài đỉa Đó là khi chúng
đã bám vào đâu thì chúng bám rất chặt, rất dai và muốn tiêu diệt chúng không phải
là dễ Ở đây, trên vùng đất hoang vu của Đồng bằng sông Cửu Long, đỉa no tròn và dày đặc, lúc nhúc như bánh canh Câu ca dao tạo nên một ấn tượng rợn mình kinh
sợ
Nhưng không phải chỉ có những loài côn trùng, những loài động vật gây nên cảm giác rợn mình ấy mà ngay cả thực vật, những loài thảo mộc nhiệt đới cũng làm
cho con người phải “dựng tóc gáy” Những loài cây to um tùm, sống lâu năm như:
cây gừa, cây sộp, rễ phụ của cây bám xuống đất lâu ngày lớn lên như cột nhà dáng
vẻ uy nghi hùng vĩ, tạo nên những hang hốc làm nơi cho cọp sinh sản Những chóm cây rậm rạp tán cây to, rộng, tạo bóng mát và chỗ trú ẩn cho chim chóc, muông thú, tiếng kêu hót vang dội Dọc hai bên bờ sông là rừng tre gai dày đặc, san sát Tre gai thích hợp với mọi loại đất cao thấp, rễ tre giữ được đất bồi như rễ sậy, rễ đước, rễ mắm Loại thân đốt này sống được ở mọi vùng nước, nước lợ cũng như nước ngọt,
và khi nước dâng cao chúng không bị ngập úng Lúa ma, lau trắng, sậy đế mọc dễ dàng trên đất mới bồi Lúa ma mọc hoang, lúa chín rụng từng hột khi bị ngập, chót đuôi hột lúa dài và nhọn, càng cắm nhanh xuống bùn Mưa nắng, hột lúa rụng được bảo quản trong đất khô để rồi nảy mầm lên mạ non khi nước lụt dâng cao Tất cả các loại cây đều biểu dương sức mạnh của mình Ngay cả loài cây yếu ớt nhất, thấp nhất trong các loài cây của tầng rừng nhiệt đới như loài cỏ cũng có một sức sống mãnh liệt:
“Cỏ mọc thành tinh”
Mùa nắng cỏ cháy khô, thân cỏ chết đi thành mùn Nhưng lớp mùn này lại bảo quản những hạt bông cỏ để đến những trận mưa đầu mùa, khi đất vừa thấm ướt, chúng sẽ lại sinh sôi, mạnh mẽ hơn mùa trước
Muôn thú và cây cối đều thích ứng với khí hậu của vùng rừng nhiệt đới, với hai mùa mưa nắng, với đất khô và sông, rạch, ao, vũng để sống còn và lớn lên
Tháp Mười là một trong những vùng đất khắc nghiệt nhất Vì đây là vùng trũng lớn của Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, đất thấp có nơi nước ngập quanh năm, sình lầy, đất đai nhiều phèn, khí hậu khắc nghiệt:
“ Tháp Mười nước mặn đồng chua Nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng”
Trang 25Trong vùng đất quá thấp này, chỉ có cây tràm bám trụ và phát triển được Chúng mọc thành từng mảng lớn như một khu rừng trầm thủy, là thiên đường cho các loài động vật sinh sôi phát triển nhanh chóng Đất trũng, sình lầy, đường đi lại khó khăn Nhưng chúng lại có nhiều tôm, cá, củi, mật ong, sáp, và cũng không thiếu những loài động vật đáng sợ như rắn hổ mây, cá sấu:
Sấu lửa là loại cá sấu ăn thịt người Chúng to lớn như chiếc ghe, da màu vàng sậm đen rất dữ tợn Loại sấu này thường ẩn nấp ở những gốc cây to và thấp ven bờ sông, có khi nó ngang nhiên chặn đón ghe xuồng qua lại Có loại sấu hoa cà rất dữ, da có nhiều đóm trắng đen lẫn lộn, thấm chất lân tinh trong nước biển nên
Trang 26đêm đêm thường phát ra từng đóm sáng Người xưa cho rằng những đóm sáng đó là oan hồn người chết chưa siêu thoát còn lẩn quẩn dẫn đường cho sấu đi
Nếu như ở sông ngòi, đầm lầy cá sấu làm bá chủ, thì trên bờ, nơi chốn rừng rậm đã có cọp làm chúa sơn lâm Câu ca dao được chia làm hai vế cân đối:
“Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”
Sự đối ứng của hai loài thú dữ này làm cho cảnh vật càng trở nên khủng khiếp đối với con người
Cọp sống ở khắp nơi từ miền Đông Nam Bộ (đất giồng) xuống tận miền Tây sình lầy, nước mặn của rừng U Minh, Rạch Giá Khác với cọp ở vùng rừng núi phía Bắc cọp ở miền Nam không được ung dung thoải mái, uống nước suối, ăn thịt hươu nai và các loài thú thơm ngon khác mà nó phải lội bì bõm ở vùng sình lầy lội, ăn cá thồi loài, ăn cua Chúng sống nơi rặng dừa nước dày bịt, hoặc ở gò đất với vài cây gừa, cây sộp, giữa cỏ thấp, hay bên đám tràm lưa thưa
Nét hoang dã của đất nước Đồng bừng sông Cửu Long còn được thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến người
ta sợ mọi thứ:
“Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê”
Hay:
“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”
Lúc mới khẩn hoang cọp và cá sấu là hai mối nguy hiểm lớn đối với những
người đi khai phá Có nhiều giai thoại về “thầy võ cọp”, thợ câu sấu đã giúp dân
tiêu diệt loài thú dữ ổn định cuộc sống Như ông Tăng Ân và đệ tử là Trí Năng giết cọp vào dịp tết ở chợ Tân Kiểng, ở Cần Giuộc Thợ câu sấu dùng vịt nhử cho cá sấu há miệng, ném con vịt vào, sấu táp nhanh nên mắc câu Có thợ câu dạn dị hơn,
họ lấy thân mình làm mồi để bắt sấu, Cọp, sấu thưa dần khi làng sớm đông đúc, ghe xuồng tấp nập Nhưng những năm đầu thế kỷ XX, sấu và cọp vẫn thường xuyên
đe dọa cuộc sống của người dân
Bên cạnh sự đe dọa của cá sấu và cọp, những người đi khai hoang còn phải đối phó với loài voi, một loài động vật to lớn, có bản năng nhưng phá phách rất dữ dội:
“Chiều chiều vịt lội, cò bay, Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng”
[4;tr.480]
Nếu như cọp được người dân quen gọi là “Ông Cả”, còn cá sấu là “Ông
Trang 27Nghĩa là nó cũng có một sức mạnh uy hiếp con người không thua gì so với cọp và
cá sấu Voi đã một thời sống khắp nơi ở Đồng bằng sông Cửu Long Chúng đi thành từng bầy, dậm đất sình, lâu ngày trở thành đường nước Voi chuộng nơi lung, bàu vì phải uống nhiều nước hàng ngày Những đàn voi hung dữ không sợ tiếng trống, tiếng pháo, vẫn ngang nhiên trở lại dậm phá nhiều ngày liên tiếp như để chứng minh cho bản lĩnh kiêu hùng ngang tàng của chúng Công cuộc khẩn hoang vùng đất mới càng phát triển thì đàn voi càng bị thu hẹp dần môi trường sống và càng bị săn đuổi ráo riết
Từ láy chỉ thời gian “chiều chiều” được sử dụng như một mô-típ nghệ thuật
trong ca dao dân ca, có tác dụng miêu tả diễn biến được lặp đi lập lại nhiều lần từ quá khứ đến hiện tại của một sự vật hiện tượng nào đó Ở đây khi thể hiện nét
hoang sơ của Đồng bằng sông Cửu Long trong buổi đầu khai phá, mô-típ “chiều chiều” gắn với hình ảnh những chú chim bay liệng trên không gian của buổi chiều
“Chiều chiều ra ngó ngoài trời Thấy chim về tổ, bời bời ruột đau”
[28;tr.365]
chiều yên tĩnh trầm lắng của đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, nên nó gây được một ấn tượng mạnh mẽ đối với những người đi khai phá Cả không gian vời vợi của vòm trời được bao phủ bởi những cánh chim tìm đường về tổ Âm thanh của loài chim trong tiếng vỗ cánh, tiếng hót, tiếng gọi nhau về tổ được hòa với tiếng kêu, tiếng hú của loài khỉ tạo nên một âm thanh náo động, tràn đầy sức sống Khỉ sống ở rừng tràm, rừng đước ven sông Chúng sống thành từng bầy rất dạn Lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn, bầy khỉ thường kêu hú vang vội Chiều xuống, tiếng kêu hú của chúng tạo nên một nỗi buồn sâu đậm cho những người xa quê hương đi khẩn hoang
Trang 28Nếu như trên cây từng bầy khỉ đông đúc, nhộn nhịp bao nhiêu, thì dưới đất rùa cũng đông đúc, nhộn nhịp bấy nhiêu Rùa, ba ba sống phù hợp với môi trường của vùng rừng nhiệt đới nên chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh Có những con rùa, ba
ba sống lâu năm, khi nắng chúng nằm im mặc cho đất bùn bao phủ, khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, chúng sống dậy hăng hái với thời tiết mới Sự cựa quậy của chúng làm cho từng mảng đất trên mai chuyển động khiến cho người ta có cảm tưởng như con cù tu lâu năm đang trở mình
Đồng bằng sông Cửu Long, khi chưa có bàn tay khai phá của con người, nó vẫn còn là nơi rừng rậm hoang vu, nơi khỉ ho cò gáy:
“Rừng thiên nước độc thú bầy Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”
Bằng biện pháp liệt kê và so sánh Bài ca dao đã phản ánh được sự hoang sơ
của vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long Thành ngữ “rừng thiên nước độc” phản
ánh thực tế thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long trong buổi đầu khai phá Đây là nơi mà cuộc sống con người sẽ phải trải qua nhiều thử thách, phải đối đầu với thiên nhiên đầy khắc nghiệt với muôn loài thú dữ, với bệnh tật hiểm nguy
Tất cả những bài ca dao nói về sự hoang sơ của Đồng bằng sông Cửu Long trong buổi đầu khai phá đều khẳng định sức mạnh và công lao to lớn của người dân
Việt đi khẩn hoang với cảnh: “rừng thiên nước độc thú bầy” làm kinh hồn, khiếp
vía cho bao người nước ngoài đi qua vùng đất này từ thế kỷ XVI trở về trước như người Nhật, Mã Lai, người Ấn Độ, họ không dám dừng chân sinh cơ, lập nghiệp ở đây Nhưng trước cảnh hoang sơ độc địa đó, những người Việt đi khai phá vẫn không nản lòng, vẫn quyết chí bám trụ Họ đã vượt qua được tất cả bằng một nghị lực phi thường, chinh phục thiên nhiên biến nơi hoang dã thành vùng đất phì nhiêu, màu mỡ Những người đi khai hoang là những người nông dân bình dị mà kêu hùng Họ mở mang bờ cõi cho dân tộc không phải bằng nợ máu trong các cuộc giao tranh mà chính bằng đôi bàn tay lao động, bằng mồ hôi nước mắt và bằng cả máu của chính họ đã đổ xuống mảnh đất phương Nam này
2.1.2 Cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long
vùng đất hoang sơ, dưới bàn tay, sức lao động bền bỉ của con người, nó đã vươn dậy thể hiện sức sống mãnh liệt của một vùng đất mới
Khi những lưu dân Việt tiến vào Nam, mảnh đất đầu tiên họ đặt chân đến khai phá là vùng Đông Nam Bộ, nơi mà người dân nhắc đến như một thử thách đối với sức trai trẻ:
Trang 29“Làm trai cho đáng thân trai Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”
[4;tr.141]
Đồng Nai với những đàn voi dữ, với những con cọp rừng, cá sấu, cảnh rừng thiên nước độc xưa kia đã đi vào dĩ vãng Giờ đây khi giới thiệu về vùng đất này người dân cảm thấy tự hào, kiêu hãnh:
“Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thì không muốn về”
[4;tr.138]
Không chỉ ca ngợi về sản vật của địa phương, người dân nơi đây còn hãnh diện với những công trình kiến trúc của vùng:
“Tây Ninh có núi Điện Bà
Có sông Vàm Cỏ, có tòa Thất Sơn”
[4;tr.149]
Sự lặp đi lặp lại của từ “có” như mở một cánh cửa nhìn ra toàn cảnh Tây
Ninh, chỉ vào từng nơi cụ thể để khẳng định sự tồn tại của nó Lối kết cấu của câu
ca dao này ta vẫn thường gặp trong ca dao truyền thống Như khi nói về cảnh đẹp của thiên nhiên Bắc Bộ, cụ thể hơn là ca dao về thiên nhiên Bắc Cạn có câu:
“Mình về đường ấy thì xa
Có về Tổng Mễ với ta thì về Tổng Mễ có ao rửa chân
Có sông tắm mát có đình nghỉ ngơi Tháng tám thì đi xem bơi Tháng hai xem rước mình ơi hỡi mình”
[20;tr.197]
Việc dùng điệp từ “có” để miêu tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp đầy sức quyến
rũ là mô-típ thường thấy trong ca dao truyền thống Ca dao Nam Bộ kế thừa cách kết cấu này của ca dao truyền thống Với thể thơ, lối kết cấu không mới, nhưng ca dao Nam Bộ lại thể hiện được nét riêng của địa phương mình, đó là sự kết hợp với
các danh từ riêng: “Tây Ninh”, “Núi Điện Bà”, “tòa Cao Sơn” Đặc điểm riêng của
Trang 30vùng Đông Nam Bộ là đất đỏ ba-zan, nơi có những rừng cao su bạt ngàn, cây trái sum suê trên những triền đồi đất đỏ nối tiếp nhau
Đất đai ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long không thuộc loại đất đỏ ba-zan nhưng nó cũng mang một màu đỏ, màu đỏ do phù sa của các dòng sông tạo nên Ở vùng đất Ba Lai – Bến Tre có câu ca dao:
“Sông Ba Lai bên bồi bên hẩm Đất Ba Lai đỏ thắm phù sa”
[4,tr.148]
Câu ca dao phản ánh chính xác đặc điểm sông ngòi và đất đai vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ở đây sông ngòi, kinh rạch chằng chịt giăng khắp đồng bằng Chính những dòng sông này đem lại phù sa, sự màu mỡ cho đất đai nơi đây
Sông không chỉ mang lại phù sa màu mỡ cho đất đai, mà nó còn đem lại một nguồn lợi kinh tế dồi dào Cung cấp cho cuộc sống người dân không chỉ là nước sinh hoạt, nước tưới tiêu, mà sông ngòi còn có vô số những loài cá tôm và một số nguồn lợi thủy sản có giá trị kinh tế khác Do đó, cuộc sống của người dân ở đây gắn liền với những dòng kinh, những con sông chảy dài vô tận Đây chính là lí do
để ta có thể hiểu cặn kẽ hơn vì sao hình ảnh sông ngòi kinh rạch xuất hiện trong ca dao vùng đất này với tần số cao hơn rất nhiều so với ca dao các vùng miền khác
Chỉ qua hai mảng đề tài về tình yêu quê hương đất nước và tình yêu đôi lứa,
trong quyển Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn
Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, hình ảnh sông ngòi xuất hiện ở 162 bài ca dao Còn trong
quyển Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long do tập thể cán bộ khoa Ngữ văn
Trường Đại học Cần Thơ biên soạn thì hình ảnh sông xuất hiện ở 40 bài ca dao Điều này cho thấy sông ngòi kinh rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long đi sâu vào đời sống tâm hồn của người dân và gắn bó máu thịt với họ
Sông rạch đã trở thành biểu tượng của quê hương xứ sở:
“Sông Vĩnh Thạnh vừa trong vừa mát Đường Vĩnh Thạnh lắm cát dễ đi’
“Sông Tiền, sông Hậu cùng nguồn Thuyền bè tấp nập bán buôn dập dìu”
[23;tr.31]
“… Ở đây trái ngọt dân lành Kinh Điền nước ngọt chảy quanh bốn mùa”
“Rạch Gầm, Xoài Mút lăm lăm
Xê xuống chút nữa tới Vàm Mỹ Tho”
[4;tr.147]
Trang 31Con sông trong ý nghĩa là một đặc trưng cho miền quê nên nó thường gắn với một địa danh, một tên riêng cụ thể nào đó: sông Vĩnh Thạnh, sông Bến Tre, sông Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu, sông Rạch Rầm, sông Xoài Mút, … Mô-típ
“sông” thường gắn với những cái “có” khác của một vùng quê: có “sông vừa trong vừa mát”, có “xuồng ghe tấp nập”, có “trái ngọt”, có “dân lành”, … Tất cả những
điều này khiến cho con sông để lại những dấu ấn cụ thể, dễ được hình dung hơn trong tâm tưởng của người dân Đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời những tên đất, tên sông âm vang tạo nên cảm xúc tự hào, yêu thương sâu lắng
Sông không đơn thuần chỉ là đặc trưng của một miền quê mà có khi nó còn tham gia vào cuộc sống của con người Sông có thể là ý niệm về một cái gì đó lớn lao, trường tồn, ý niệm về cái ngăn cách, về sự thử thách đối với con người Sông
có thể là chính cuộc đời trong tất cả những biểu hiện phức tạp liên quan đến các ý niệm đó Sông cũng có thể là bản thân con người trong các mối quan hệ tự nhiên và
xã hội Và nói đến sông là nói đến một không gian đặc biệt của con người vận động, con người ra đi, con người yêu thương, chờ đợi,… Sông với ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật bao giờ cũng liên hệ chặt chẽ với những thuộc tính tự nhiên của sông trong thực tế Hay nói cách khác, mỗi nét nghĩa thẩm mỹ của sông đều có liên quan đến một hay nhiều khía cạnh nào đó trong những đặc tính tự nhiên của nó
Từ những đặc điểm mang tính chất riêng của sông như: sông dài, rộng, lớn,… Sông thường được miêu tả trong thế so sánh với lòng người, tình người, và với những éo le trong cuộc sống:
“Sông sâu cá lội biệt tâm, Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây”
“Sông sâu cá lội lờ đờ Biết em có đợi mà chờ uổng công”
[23;tr.117,118]
Sông ở đây được hình dung như một thực thể sống động, phong phú và phức tạp, có khả năng biểu hiện nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống tự nhiên và xã hội Chính sự tham gia của dòng sông vào cuộc đời của con người và xã hội càng
Trang 32làm cho sự gần gũi, thân thuyết, gắn bó, hòa quyện giữa con người với dòng sông trở nên mãnh liệt hơn
Con người Đồng bằng sông Cửu Long mượn hình ảnh sông nước để khẳng định sự thủy chung son sắt của mình trong tình cảm:
“Sông sâu nước chảy đá mòn Còn sông còn biển hai ta còn thương nhau”
[23;tr.117]
Ở câu ca dao “Còn sông còn biển hai ta còn thương nhau” ý nghĩa thật của sông nằm trong thế “tiền giả định” là “còn sông”, “còn biển” mà sông và biển là những “cái” thuộc về tự nhiên Và tự nhiên thì làm sao có thể mất đi “sông” và
“biển” tượng trưng cho thiên nhiên trường cửu, vững bền được đem ra so sánh với
tình, với nghĩa Từ đó khẳng định được sự thủy chung son sắt của con người Đồng bằng sông Cửu Long
Sông mang ý nghĩa là bản thân con người trong mối quan hệ tự nhiên và xã hội Sông phản ánh tất cả những biểu hiện của tâm tư tình cảm và thân phận cuộc đời:
“Sông sâu biết bắc mấy cầu Khi thương anh thương vội Khi sầu anh để lại cho em”
“Sông dài được mấy đò ngang
Ai nhiều nhơn nghĩa chỉ mang oán thù”
sống tình cảm của con người Sông ở đây cũng có ý nghĩa như một kẻ đa tình
Sông với ý nghĩa là thử thách lớn đối với con người, thử thách của đôi bờ ngăn cách, thử thách của sóng gió cuộc đời, thử thách của sâu cạn đầy vơi, thử thách của nhớ thương ly biệt,… Với sông, con người chứng minh được sức mạnh chinh phục của mình, thể hiện được tính cách của mình Biết dấn thân, can đảm, mạnh mẽ, biết chấp nhận mọi bất trắc, lênh đênh trôi dạt của cuộc đời Sông với ý nghĩa ngăn cách chia ly càng nhấn mạnh khát vọng vượt qua ngăn cách của thiên nhiên, xóa bỏ ranh giới của biệt ly Nhưng sông có lúc cũng là sự chia lìa, là bước
sang một chặng đường mới, một cuộc đời mới Với người con gái “sang sông” đó là
Trang 33“Tay mang khăn gói sang sông
Mồ hôi ướt đẫm, theo chồng phải theo”
[23;tr.118]
Với “sang sông” trong ý niệm về sự ngăn cách, con sông đã trở thành con
đường, hay là một điểm mốc trên con đường đời mà con người phải đi qua Và trên con đường đó, con người được bộc lộ là con người vận động, con người của sự ra
đi, của sự từng trải, bôn ba, con người trước những biến động và thử thách của cuộc sống
Sông trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long trở thành yếu tố của không gian nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ cao Sông ở đây là một không gian đặc biệt, liên quan đến các sự vật khác Nên bao giờ nó cũng có mô-típ sóng hợp: sông – cá, sông
- nước, sông – sáo, sông – lưới, sông – đò, sông – bờ, … Chẳng hạn như các câu ca dao sau:
“Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng sáo bay”
“Sông sâu cá lội biệt tâm, Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây”
Chính mô-típ sóng hợp này tạo nên sự gắn bó, gần gũi, hữu cơ giữa các sự vật với môi trường sông nước, gợi cảm giác về sự gắn bó hài hòa giữa con người và dòng sông
Hình ảnh “sông” trong ca dao truyền thống là một mô-típ nghệ thuật giàu
tính khái quát Nó đã được kế thừa và phát triển trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Vì ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong thực tế, sông ngòi gắn chặt với đời sống của người dân không chỉ về mặt vật chất mà cả về mặt tinh thần
Do đó, trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, ở tất cả các mảng đề tài đều
có sự xuất hiện của “con sông” Là một yếu tố mang ý nghĩa thẩm mỹ, giàu tính
khái quát, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị như một tín hiệu thẩm mỹ
Sông không chỉ là một tín hiệu thẩm mỹ độc đáo trong ca dao vùng đất mới
mà sông trong thực tế còn là môi trường diễn xướng của những điệu hò, điệu hát ân tình Do đó, sông nước Đồng bằng sông Cửu Long còn mang một chức năng khác khá đặc biệt: chuyên chở vốn văn hóa dân gian đi khắp mọi vùng, từ vùng bưng sâu Đồng Tháp Mười đến vùng đất Mũi Cà Mau, từ Vàm Cỏ Đông nước xanh biên biết tới tận bờ biển phía tây Rạch Giá, Hà Tiên,… Có ý kiến cho rằng ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, nếu bị tách khỏi môi trường sông nước, sẽ mất đi cái vẽ hồn nhiên, tươi tắn, sẽ nghèo đi một phần đáng kể, điều ấy trên thực tế không phải là không có
cơ sở
Trang 34Sông ngòi, kênh rạch đã trở thành niềm tự hào của người dân Đồng bằng sông Cửu Long:
“Có ai về miệt Tháp Mười Xin mời ghé chút quê tôi xứ này Quê tôi vừa đẹp vừa hay Dưới sông cá lội chim bay trên trời”
[23;tr.24]
Sen sống thích hợp với vùng đất trũng Ở đây có những cánh đồng sen trắng chạy dài đến tận chân trời, hương sen theo gió dìu dịu lan tỏa trong không gian bát ngát Bông sen trong ca dao truyền thống được ví như phẩm chất, nghĩa khí của người dân lao động: sống giữa chốn “bùn nhơ” mà vẫn giữ được tâm hồn thanh cao, trong sáng…
“Bông sen mùa hạ nở hồng Dầu bùn, dầu cặn mà lòng vẫn thơm”
[23;tr.25]
Mở đầu bài ca dao là một lời giới thiệu về đặc tính của sen “bông sen mùa
hạ nở hồng”, vẻ đẹp của sen được thể hiện qua hình ảnh “nở hồng” làm cho màu
sắc của nó càng trở nên rực rỡ Và hình tượng bông sen được nâng lên cao hơn
trong ca dao hiện đại:
“Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
[23;tr.136]
Trang 35“Tháp Mười” gắn liền với “bông sen” cũng như “Việt Nam” đi liền với tên
“Bác Hồ” Hay nói cách khác bông sen đã trở thành loài hoa tượng trưng cho vùng
đất trũng này
“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười”
[23;tr.31]
Nếu như sen làm cho ta nhớ “đồng quê Tháp Mười” thì dừa là loại cây mà
thiên nhiên đã ban tặng cho xứ Bến Tre Tán dừa xanh thẳm phủ kín cả một vùng
trông như một khu rừng với cảnh trí hữu tình:
“Bến Tre phong cảnh hữu tình Nước trong, gạo trắng, gái xinh, trai tài”
[4;tr.132]
Bến Tre không chỉ có trai tài gái sắc, có đời sống vật chất phong phú dồi dào
“nước trong, gạo trắng” mà cảnh sắc thiên nhiên ở đây còn có sức mạnh cuốn hút
lòng người:
“Bến Tre đẹp lắm ai ơi Bậu về bên đó cho tôi về cùng”
[4;tr.131]
Cần Thơ là xứ miệt vườn, là nơi có những cánh đồng lúa phì nhiêu, “đất năm
canh cò bay thẳng cánh” Câu ca dao quen thuộc “Cần Thơ gạo trắng nước trong”
mở đầu cho nhiều bài ca dao ca ngợi về vùng đất này:
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời”
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thời không muốn về”
“Cần thơ gạo trắng nước trong Đậm tình non nước gợi lòng khách du”
[4;tr.130,134]
Những lời ca ngợi dành cho xứ miệt vườn quả không sai Nơi đây có những
vườn cam, vườn quýt, vườn mận, vườn táo, vườn chôm chôm, cây trái sum suê
trĩu quả Nghề làm vườn đỡ cực khổ hơn làm ruộng, công lao đổ vào một nhưng thu
lại gấp ba bốn lần “một vốn, bốn lời” Cuộc sống ở đây thanh nhàn hơn Chính vì
thế có câu ca dao: “Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời”
Xứ miệt vườn như ở Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, đều có những vườn
cây trái trĩu quả xanh tươi Hình ảnh của những vườn cây in bóng trong ca dao làm
nên vẻ đẹp thanh thoát cho xứ miệt vườn:
Trang 36“Hòa An có cảnh mơ màng
Có vườn mận đẹp, có làn nước xanh”
“An Giang cảnh trí mỹ miều
Ta thương ta nhớ ta liều ta đi”
[28;tr.316]
Cuộc sống xứ miệt vườn thong dong, thanh nhàn hơn các xứ khác Ở đây, trên bờ thì cây trái sum suê, tươi mát, còn dưới sông ngòi kênh rạch luôn sẵn cá tôm Sông ngòi kênh rạch ở xứ miệt vườn có giá trị kinh tế rất lớn Nó không chỉ cung cấp lượng cá tôm lớn mà quan trọng là nó cung cấp lượng nước tưới tiêu và lượng phù sa màu mỡ cho các vườn cây Khi nước lớn, phù sa theo nước tràn vào ruộng Khi nước rút ra sông, phù sa lắng đọng dưới đáy kinh rạch Hàng năm người dân dọn kinh rạch đắp lớp phù sa lắng đọng này lên bờ cho cây trái Nhờ lớp phù sa này mà đất đai càng màu mỡ Cuộc sống miệt vườn vừa thoải mái, vừa dễ chịu, không khí mát mẻ trong lành Nên người dân xứ đất giồng, đất bưng được mơ ước
về xứ miệt vườn:
“Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”
[28;tr.319]
Thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có sông ngòi, vườn cây đi vào trong ca dao mà cả những loài cây hoang dã, tự nhiên cũng tạo nên vẻ đẹp riêng cho ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Những loại cây chỉ có ở vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long đi vào ca dao, dù nó chỉ mang tính chất đưa đẩy dẫn dắt, nhưng nó cũng góp phần khẳng định tính địa phương của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Các loại cây như: bần, mù u, trăm bầu, sầu đâu,
Bần và mù u là hai loài thực vật riêng của vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long Chúng là loại cây chỉ có ở vùng đất mới khai phá, từ đặc điểm sinh tồn cho tới tên gọi Từ buổi đầu khai hoang cho tới ngày nay, bần và mù u vẫn luôn gắn
bó với người dân nơi đây Và rồi trong tâm thức dân gian chúng xuất hiện trong ca dao:
“Thân em như trái bần trôi, Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu?”
“Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm”
“Bần gie đóm đậu sáng ngời,
Lỡ duyên tại bậu, trách trời sao nên”
[28;tr.342,456]
Trang 37Trái bần trôi tượng trưng cho những số phận hẩm hiu của con người, trong tình yêu đôi lứa cây bần như biểu tượng của sự chia ly ngăn cách, của sự gian dối, của những lời trách móc oán than
Cũng bình dị như bần nhưng mù u thường không biểu trưng cho những người phải chịu số phận hẩm hiu Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, cây mù
u là hình ảnh mở đầu, đưa đẩy dẫn dắt cho những lời tâm sự của đôi trai gái yêu nhau:
“Mù u lá quắn, bông trắng, nhị vàng Thấy em cực khổ một mình anh thương”
“Mù u bông trắng, lá quắn,nhị vàng Khá khen phụ mẫu sinh nàng có duyên”
[23;tr.104,105]
“Mù u bông trắng, lá quắn, nhị huỳnh,
Có con gái đẹp không gả cho mình, Chờ khi đi cấy mình rình, mình ôm”
[28;tr.434]
Có lúc mù u lại mang hình ảnh, thân phận, cuộc đời con người Lời ru thật da diết chen lẫn nỗi xót xa tủi hờn của đôi lứa khi phải xa nhau:
“Bướm vàng đậu đọt mù u Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn”
2.2 Sự giàu có, phong phú về sản vật, làng nghề
2.2.1 Sản vật
Thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long mang vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của những cách đồng lúa vàng bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa, những vườn cây trái xanh tươi trĩu quả Vẻ đẹp ấy còn là cơ sở cho đời sống kinh tế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long