1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án (tiếng việt): Nhận thức luận trong thiền phật giáo.

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức luận trong thiền phật giáo
Tác giả Hoàng Quốc Dũng
Người hướng dẫn GS.TS. Lê Văn Lợi
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 609,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.Nhận thức luận trong thiền phật giáo.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG QUỐC DŨNG

NHẬN THỨC LUẬN TRONG THIỀN PHẬT GIÁO

Ngành: Triết học Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 9229001

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Văn Lợi

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: GS,TS LÊ VĂN LỢI

Phản biện 1: PGS, TS Chu Văn Tuấn

Phản biện 2: PGS, TS Trần Thị Hạnh

Phản biện 3: PGS, TS Đỗ Lan Hiền

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

hồi… giờ… ngày… tháng… năm 2023

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh thế giới có cái nhìn mềm mại hơn với siêu hình học khi thấy nó có ích cho phát triển, nghiên cứu triết học Phật Giáo - lý luận về bản thể và các phương pháp nhận thức nhuốm màu thần bí hầu như khó kiểm chứng – có thêm cơ hội được quan tâm dưới góc nhìn mới

Kế thừa các lưu phái Ấn Độ, Phật Giáo xây dựng nền triết học nội tại khác biệt, đáp ứng nhu cầu truyền giáo gắn với thiền thần bí Việt Nam có trên 14 triệu tín đồ Phật Giáo, nhiều nhất trong 36 tôn giáo được nhà nước ta công nhận, theo Ban Tôn Giáo Chính phủ Dẫu tỷ lệ tín đồ hiện chiếm 14% dân số cả nước, Phật Giáo ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy Việt sau gần 2.000 tồn tại Điều ấy có nghĩa, nghiên cứu triết học Phật Giáo không chỉ giúp mở rộng hiểu biết về tư duy Phật Giáo mà, phần nào, góp phần làm sáng

tỏ tư tưởng triết hoc Việt Nam Nghiên cứu ở nước ta tìm hiểu triết học Phật Giáo phong phú nhưng chưa sâu Tài liệu logic học Phật Giáo khá dồi dào giữa lúc đào sâu nhận thức luận Phật Giáo chưa nhiều Đặc biệt, tiếp cận nhận thức gắn với thiền qua lăng kính triết học duy vật biện chứng hầu như còn để ngỏ Bởi thế, làm sáng tỏ nội dung và giá trị nhận thức luận Phật Giáo nhúng trong thiền ở bối cảnh như vậy là nhu cầu mang tính thời sự

Giống mọi trào lưu triết học, nhận thức luận Phật Giáo là học thuyết

về tri thức, dẫu nhuốm màu thần bí Các công trình có sẵn đã khảo sát các vấn đề tri thức, từ đấy, chỉ ra đặc trưng căn bản trong quan niệm về tri thức của Phật Giáo Tri thức Phật Giáo, tiếp thu từ các nền triết học Ấn Độ, được gọi là pramāṇa, "công cụ của tri thức" Phật Giáo chỉ thừa nhận hai phương tiện hoặc nguồn tri thức được cho là tin cậy: tri giác và suy luận

Các tài liệu có sẵn chưa nêu nhiều vấn đề quan trọng khác của nhận thức luận Phật Giáo, và dường như xem nhẹ một trong những đặc trưng cơ bản

Trang 4

vốn luôn gắn với mọi vấn đề của triết học Phật Giáo: thiền (jhāna/dhyāna)

Xuyên suốt khoảng trống của các nghiên cứu có lẽ do chưa làm rõ tính thần

bí khi khảo sát nhiều vấn đề liên quan đến tri thức Các tài liệu bàn về “nhận thức luận trong Phật Giáo” ở nhiều góc độ mà dường như chưa bàn nhiều về

“nhận thức luận trong thiền Phật giáo” Nói cách khác, các tài liệu chưa tiếp cận nhận thức luận từ góc độ thiền, chưa tiếp cận thiền về bản thể luận và phương pháp luận, mà tiếp cận thường chỉ từ thực hành Thiền không chỉ tu luyện mà còn lập ngôn, không chỉ thực hành mà còn cấu thành lý luận Tiếp cận theo hướng này có thể làm hiển lộ khoảng trống trong các nghiên cứu hiện hành về thần bí, yếu tố chi phối các đặc tính trọng yếu của lịch sử tri thức Phật Giáo từ đầu chí cuối

Chẳng hạn, có thể kể đến tính thần bí (i) chi phối logic về tri thức đúng phải là tri thức phủ nhận tồn tại của thực thể sản sinh tri thức theo cách hiểu

thông thường, phải thừa nhận tâm trí là chủ thể sáng tạo tri thức, sản phẩm của tự tướng và cộng tướng nhưng phải loại trừ tồn tại của nguyên liệu cấu

thành tri thức, và chi phối quan niệm hai thế giới như chân lý thẩm định tri thức đúng; (ii) coi thiền như phương thức duy nhất triển khai lý luận và thực hành lĩnh hội tri thức đúng; (iii) chi phối hệ thống logic học để luận giải quan niệm tri thức đúng vốn dĩ cũng nảy sinh từ quan niệm thần bí của thiền

Luận án Nhận thức luận trong thiền Phật giáo (sau đây gọi tắt là thiền luận) dự kiến sẽ làm sáng tỏ phần nào các khoảng trống nêu trên, trên cơ sở

phân tích các (ii) vấn đề liên quan đến chủ thể, đối tượng nhận thức, vấn đề tri thức đúng, vấn đề nhị đế như tiêu chuẩn để xác định chánh tri; (iii) vấn đề thiền với tư cách suối nguồn và cũng là đỉnh cao trong nhận thức luận Phật Giáo mang tính thần bí; (iv) và quan hệ giữa nhận thức luận với logic, vai trò mang tính quyết định của logic và phép biện chứng ở giai đoạn hoàn thiện

của nhận thức luận, chủ yếu bị quy định bởi quan niệm vô ngã tuyệt đối, tư

tưởng thần học phủ nhận toàn triệt người hiện thực

Trang 5

Dựa trên các phân tích ấy, luận án sẽ đi đến nhận định thiền luận, dẫu thần bí, vẫn hữu dụng theo cách độc đáo giúp trau dồi đạo đức và rèn luyện tri thức cho xã hội ngày nay coi tri thức như lực lượng sản xuất trực tiếp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ bản chất, đặc trưng mang tính thần bí của thiền luận, trong quan niệm về chủ thể, đối tượng nhận thức, quan niệm về tri thức, từ đấy, chỉ ra giá trị và hạn chể của thiền luận trên quan điểm triết học duy vật biện chứng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(i) cơ sở hình thành và quá trình phát triển thiền luận; (ii) nội dung của

thiền luận: quan hệ của học thuyết vô ngã với đối tượng nhận thức - tự tướng

và tổng tướng; (iii) thiền luận - đỉnh cao logic thần bí coi tâm trí là chủ thể và

đối tượng nhận thức; và (iv) ý nghĩa của thiền luận trong đời sống ngày nay

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

(i) thiền Phật Giáo; (ii) nhận thức luận trong Phật Giáo; (iii) nhận thức luận trong thiền Phật Giáo Theo đó, sẽ nghiên cứu một số kinh điển ở Ấn Độ liên quan đến lý vô ngã, và một số tác phẩm quan trọng về thiền ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian, chỉ khảo sát: sát giai đoạn đầu, tiến tới hình thành luận điểm

chủ thể tâm trí, chuyển hóa luận điểm vô ngã trong trải nghiệm có điều kiện thành vô ngã tuyệt đối ở người hiện thực; giai đoạn đỉnh cao từ Thế Thân đến

Trần Na và Pháp Xứng ở Ấn Độ cổ đại; ở Việt Nam, chủ yếu thời Lý-Trần và thời nay Về không gian, chủ yếu nghiên cứu vận động của thiền luận ở Ấn

Độ, từ đó, tham chiếu đến Tây Tạng, Trung Quốc và, nhất là Việt Nam

Về nội dung, sẽ giới hạn ở vấn đề về chủ thể, đối tượng nhận thức, và tri thức; quan niệm thiền về tồn tại và tri thức, tính thần bí của tư duy nội quán tác động tới tương quan logic học với nhận thức luận Nói cách khác, bên

Trang 6

cạnh vô ngã, sẽ nhắm chủ yếu đến Trần Na, Pháp Xứng và hậu duệ Luận án

sẽ không khảo sát Duy Thức của Thế Thân cũng như Thiền Tông của Trung Hoa Dẫu vậy, giới hạn giai đoạn nghiên cứu vẫn đảm bảo chỉ ra gắn kết bộ

ba logic học, phép biện chứng, và tri thức luận trong tính thần bí của thiền, nói cách khác, trong “thiền luận”

4 Đóng góp mới của luận án

Luận án kỳ vọng làm sáng tỏ một số vấn đề như (i) quan niệm khác lạ của

Phật Giáo về cặp phạm trù tự tướng và cộng tướng thông qua so sánh với

khái niệm cái riêng và cái chung; (ii) logic học mang đậm màu sắc thần bí; (iii) siêu hình học vô ngã thẩm thấu không nhiều vào Việt Nam, nơi có nền văn hóa ít tương dung với triết học suy đoán

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

5.1 Về lý luận

Làm rõ bản chất, đặc trưng, và nội dung của nhận thức luận trong Phật Giáo, nhất là bản chất về tri thức, từ đó, góp phần nâng cao nhận thức về lý luận của Phật Giáo nói chung và của Phật Giáo ở Việt Nam nói riêng

5.2 Về thực tiễn

(i) Góp phần làm rõ các chính sách về Phật Giáo, tạo nhìn nhận đúng đắn, phát huy giá trị nhân văn của Phật Giáo; (ii) cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu Phật Giáo, tài liệu tham khảo cho các trao đổi và giảng dạy

6 Phương pháp nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giả thiết nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Bằng phương pháp lịch sử, sẽ nghiên cứu tiến trình của các thành tố được nghiên cứu Bằng phương pháp logic, sẽ tìm hiểu tương tác giữa các thành tố nhằm chỉ ra tính quy luật Bằng so sánh, sẽ đối chiếu (i) yếu tố thần bí qua

các giai đoạn chuyển đổi quan niệm vô ngã; (ii) thiền luận với nhận thức luận

duy vật biện chứng qua so sánh cái riêng-cái chung và vấn đề chân lý; (iii) tiến trình thiền luận nói chung với tiến trình ở Việt Nam; v.v ; nhằm làm rõ

Trang 7

bản chất Bằng phân tích, sẽ mô tả vận động nội tại trong từng thành tố Từ đấy, tổng hợp nội dung tri thức luận trên quan điểm lịch sử-logic Cuối cùng, bằng trừu tượng hóa-cụ thể hóa, sẽ giới hạn kết quả nghiên cứu ở hai giai đoạn được cho thể hiện điển hình tính quy luật của nhận thức

6.2 Cơ sở lý thuyết

Gồm các nguyên lý cơ bản trong lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý thuyết phản ánh marxist, và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài

ra, còn sử dụng lý thuyết hệ thống và lý thuyết tiếp biến văn hóa

6.3 Giả thiết nghiên cứu

(i) Chủ thể nhận thức không phải người hiện thực (human being per se)

mà là tâm trí (citta), xuất phát từ lập trường vô ngã tuyệt đối (no self per se),

vốn dĩ không phải là tư tưởng gốc của Phật Đà, mà có thể là hệ quả đấu tranh

giữa hai trường phái thiền; từ tư tưởng vô ngã tuyệt đối, tự tướng-cộng tướng

trở thành đối tượng khám phá duy nhất về thế giới - thế giới quy ước, thế giới thường nghiệm của chân lý tương đối, đối lập với thế giới tịch tịnh của chân

lý tuyệt đối; (ii) nhận thức luận định hình bởi chủ nghĩa quy giản, đạt đỉnh cao trong thiền; (iii) nhận thức luận nhúng trong mọi triển khai logic và biện

chứng, chịu chi phối bởi thần bí của thiền; viết tắt “thiền luận” nhằm nhấn

mạnh đặc trưng này; (iv) dẫu mang màu sắc thần bí, thiền luận luôn hữu dụng cho cả trau dồi đạo đức và rèn luyện tri thức, nhất là trực giác lý tính, không chỉ trong quá khứ mà cả xã hội ngày nay, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI)

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, chương tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án có kết cấu gồm ba chương 8 tiết

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Nhận xét kết quả các nghiên cứu đã đạt đƣợc

Trang 8

Nhiều tài liệu nước ngoài thừa nhận logic gắn hữu cơ với nhận thức luận

Về nguồn gốc, một số tài liệu coi nhận thức luận này sinh từ Vệ Đà, phi Vệ

Đà, và Kỳ Na Giáo Về thời điểm hình thành, có tài liệu gắn nó với sự ra đời của Phật Giáo Một số xem nó chưa thể có cho tới khi đạt công cụ cơ bản Về quá trình phát triển, vì thế, nó chỉ có thể có từ thời đại Thế Thân-Pháp Xứng

Tri thức đến từ tri giác và suy luận; thực tại quy giản vể pháp; tâm trí

không nhìn pháp như thực thể tách biệt Về thiền, thế giới là thực tại phi quá khứ và vị lai; chỉ gồm thiền và thiền sinh; chủ thể “dùng con mắt của tâm quan sát sự vật như chúng đang là”

2 Nhận xét khoảng trống để lại từ các nghiên cứu

Nhiều vấn đề chưa được làm rõ, nhất là chưa chỉ ra nhận thức luận nhuốm màu thiền dường như nhất quán từ đầu tới cuối Cụ thể:

(i) Thiền chi phối ngay từ khởi nguyên của tri thức luận – quan niệm

về chủ thể Học thuyết vô ngã tuyệt đối là hệ quả của đấu tranh giữa hai trường phái thiền – thiền siêu việt và thiền suy tưởng Từ chỗ từ chối cái ngã trong các trải nghiệm tâm sinh lý có điều kiện, học thuyết tiến tới phủ nhận tồn tại của mọi thể nền bền vững trong người hiện thực Nó là nguồn cơn của chủ nghĩa quy giản, xem tâm trí như chủ thể và đối tượng nhận thức; quan

niệm kỳ lạ về tự tướng và cộng tướng (ii) Với vai trò chi phối từ đầu tới

cuối, thiền trở thành kho chứa tri thức tinh túy, đỉnh cao của nhận thức luận thần bí (iii) Logic chiếm vị trí đậm đặc trong nhận thức luận, cũng như mọi lĩnh vực khác, chủ yếu do mục đích thần học phủ nhận người hiện thực, thế giới hiện thực, và hướng tới niết bàn (iv) Chi phối của thần bí không cản vai trò tích cực của thiền giúp trau dồi đạo đức, cải thiện năng lực tư duy

3 Khoảng trống cần tiếp tục phát triển

Các vấn đề nêu trên – chủ thể, đối tượng, hình thức nhận thức, quan hệ giữa thiền với nhận thức luận, giữa logic với nhận thức luận - được xem như khoảng trống mà luận án hy vọng góp phần làm sáng tỏ Cụ thể:

Trang 9

Thứ nhất, về các vấn đề chủ thể, đối tượng nhận thức:

Một là, về chủ thể, sẽ trình bày hai nhóm vấn đề: (i) tiến trình

chuyển đổi quan niệm chủ thể từ Phật Đà đến các thế hệ luận sư hậu bối, từ

quan niệm vô ngã kinh nghiệm sang vô ngã siêu hình, dẫn đến hình thành mô hình chủ thể mới là tâm trí; (ii) các phương pháp nhận thức thần bí tác động trở lại thiền, nguồn năng lượng Phật Giáo cố hữu và bất biến Hai là, về đối tượng, sẽ phân tích tự tướng-cộng tướng và quan hệ giữa chúng trong môi trường thần bí Ba là, về bản chất nhận thức, sẽ phân tích các dạng tri thức đúng bị chế ước bởi tự tướng-cộng tướng, chúng quy định ra sao giới hạn hai

dạng nhận thức duy nhất (tri giác-suy luận), cũng như quy định hai chân lý

Thứ hai, về quan hệ giữa thiền với nhận thức luận, sẽ phân tích: Một là, nhóm vấn đề về tác động của tính thần bí đến nhận thức

luận Chẳng hạn, phân tích: (i) các vấn đề nảy sinh như hệ quả của thần bí như ảo tưởng trong tri giác; (ii) Thuyết Loại trừ, xương sống để triết học hoàn thành nhiệm vụ phủ nhận ngã mà vẫn đảm bảo nhận thức cái chung, để

lại lỗ hổng khó khắc phục trong suy luận; (iii) bất cập trong quan niệm tự tướng-tổng tướng, để lại dấu vết duy tâm trong quan niệm về hai chân lý Hai

là, chỉ ra cách thức tri thức luận tác động trở lại thiền, dẫn tới hình thành

thiền suy tưởng, đối lập với thiền truyền thống của các lưu phái Ấn Độ

Thứ ba, để chứng minh quan hệ khăng khít giữa logic với nhận

thức luận, ngoài liên hệ khách quan giữa chúng mà không tiến trình tư tưởng nào thoát khỏi, sẽ chứng minh còn do nguyên nhân nội tại, thần bí, và có thể

là nguyên nhân trực tiếp

Áp dụng vào Việt Nam, chúng tôi thử cắt nghĩa một số vấn đề lâu nay được xem như đã thành chuẩn mực Chẳng hạn, Phật Giáo Việt Nam chủ trương nhập thế, phủ nhận ngã nhưng vẫn thừa nhận ngã hiện thực, và dường như nhờ thiền, giáo lý về đạo đức Tiếp cận thiền Việt Nam có lẽ giúp Phật

Giáo nước ta bớt duy tâm hơn trong quan niệm vô ngã, khiến nó được xã hội

Trang 10

chấp nhận nhiều hơn dù, về lý luận, đóng góp của các thiền sư còn khiêm tốn

Do nghiêng mạnh về cổ súy đạo làm người, thiền luận Việt Nam có thể được huy động tham gia cải thiện đạo đức và tâm trí xã hội Không chỉ thế, từ đấy, chúng tôi cũng mạnh dạn thử lý giải kiểu hình tư duy Việt

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC LUẬN TRONG THIỀN PHẬT GIÁO

1.1 Cơ sở hình thành nhận thức luận Phật Giáo

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, và chính trị

Chu trình thiên nhiên tạo phồn vinh từ rất sớm cho nền văn minh Nhưng biến cố thiên tai làm thay đổi triệt để xã hội Tiếp biến từ kỷ nguyên này sang

kỷ nguyên khác đều là các chuyển động có tính đứt gãy dẫn tới hình thành tâm thế hướng nội, thúc thủ Kết thúc kỷ nguyên đầu tiên, hủy diệt bởi thiên tai dữ dội, khiến kỷ nguyên thứ hai trở thành thời đại nảy sinh các tư tưởng thần bí lý giải bất lực trước sức mạnh thiên nhiên theo xu hướng quy lỗi cho bản thân, thiết lập trật tự hà khắc mong sửa lỗi để về với quá khứ huy hoàng

Kỷ nguyên thứ ba chứng kiến các tư tưởng thần học đạt giai đoạn chín mùi khi xã hội quay lưng với tự nhiên, cộng đồng, gia đình, và với chính mình bằng tự hành xác Trong xu thế kìm hãm sản xuất, cả xã hội sôi sục trào lưu suy đoán triết học thoát ly thực tế, khát vọng tìm đường giải thoát tình trạng hiện tồn bằng cách từ bỏ xã hội, gia đình Kỷ nguyên Phật Giáo tiếp biến triết

lý và thực hành nội quán bí ẩn Theo một số tài liệu mới nhất, vương quốc cha của Phật Đà trị vì theo chế độ cộng hòa, không có nối dõi tông đường, do một người cầm đầu Tịnh Phạn làm vua do dân bầu Thậm chí, Tất Đạt Đa Cồ Đàm, tên riêng của Phật Đà, có thể không phải hoàng tử, theo Alexander Wynne, học giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phật Giáo Oxford và là nhà sáng lập Buddhacloud app, ứng dụng có thể tải vè từ Google Play bằng các smart phone dùng hệ điều hành iOS và Android

Trang 11

1.1.2 Tiền đề tư tưởng

Bối cảnh trên là mảnh đất màu mỡ cho các tư tưởng thần bí Thời đại Phật Đà bùng nổ triết lý tự ngã thay tư tưởng đại ngã nhưng vẫn không thoát khỏi xu thế suy đoán nội tâm và truy tìm giải thoát tối hậu Phật Giáo hình thành trên hai nền tảng cơ bản gồm truyền thống của thời đại và tư tưởng của nhà sáng lập Ngay cả Phật Đà cũng không thoát khỏi ảnh hưởng bởi thời đại thay vì cho rằng những gì ngài đạt là “trí vô sư tự ngộ” Tiền đề mang tính quyết định là động lực của nội bộ Hầu như không ai phủ nhận vai trò trực tiếp của Phật Đà về trung đạo, kim chỉ nam tư tưởng của Phật Giáo Mặt khác, tư tưởng của ngài bị đẩy chệch sang cực đoan theo hướng tinh vi dù các tông phái luôn công khai tuyên bố trung thành với “trung đạo” của ngài

1.1.3 Cơ sở hình thành nhận thức luận trong thiền Phật Giáo ở VN

1.1.3.1 Điều kiện lịch sử, chính trị, và kinh tế-xã hội

Việt Nam nằm ở ngã ba và cửa ngõ giao thương khiến xã hội có điều kiện tiếp xúc sớm và phát triển dù bị đô hộ và đồng hóa lâu dài Phật Giáo xâm nhập Việt Nam khi nước ta mang tên Giao Châu ứng với thời Đông Hán (25-220) đến Lục Triều (268-581) của Trung Quốc Giao Châu hồi ấy đã có sông đào xuyên các dải núi ở vùng Cửu Chân, sản xuất hiệu quả tới mức “số thóc thuế nhà Hán thu được ở Giao Chỉ đã đủ nuôi quan lại và binh lính”

1.1.3.2 Tiền đề tư tưởng

Kinh tế Việt Nam thời kỳ Phật Giáo du nhập khá phát triển nhưng có lẽ không phải do nhu cầu nội tại của lực lượng sản xuất mà chủ yếu thỏa mãn đòi hỏi của nhà cai trị Xã hội ta lúc bấy giờ, vì thế, chịu quy định của tinh thần (chính trị) nhiều hơn so với vật chất, chịu quy định của nền văn hóa trọng đạo đức, khiêm nhường, khoan dung Các yếu tố tinh thần này gần gũi với thiền - tư tưởng thần bí bất biến thiên về che giấu, khai tâm, khép mắt khép miệng, trải nghiệm cái huyền diệu Phật Giáo du nhập trong bối cảnh nêu trên, khi xã hội thấm nhuần các giáo huấn đạo đức Khổng-Lão

Trang 12

1.2 Quá trính phát triển nhận thức luận Phật Giáo

Bốn trường phái Phật Giáo chính ở Ấn Độ đều hội tụ về vô ngã tuyệt đối

dù, về hình thức, vẫn trung thành với luận điểm cốt lõi của Phật Đà như vô thường, biến đổi tức thời, luân hồi, và niết bàn Khác nhau giữa chúng “chỉ là các thuật ngữ xây dựng các cấu trúc logic dựa trên các học thuyết và ý tưởng” Tỳ Bà Sa ảnh hưởng mạnh đến hầu hết các tông phái ở thời kỳ phân phái Đại Thừa và Tiểu Thửa, với các luận điểm chính như tất cả các pháp cùng tồn tại ở cả tam thời, và tự tính của các pháp đều thật hữu Đối lập với chúng là không tồn tại và phi thật hữu Phân biệt này là tiền đề cho học thuyết hai chân lý, nhị đế, gồm tục đế và chân đế

1.2.1 Quá trình phát triển ở Ấn Độ

1.2.1.1 Giai đoạn cho đến Long Thụ

Dấu móc đang chú ý là Luận Sự, “văn bản duy nhất của Luận Tạng được gán cho ai đó chứ không phải Phật Đà” Dấu ấn nổi bật là ảnh hưởng của các nguyên tắc lý lẽ, logic, nhận thức luận, và siêu hình học chứa trong Chánh Lý Kình Luân Sự trình diễn các vấn đề thần bí như linh hồn, nhân cách; hiện thực; và bản tính siêu việt gán cho Phật Đà Về nhân cách hay tồn tại người,

họ bảo vệ quan điểm thừa nhận người tồn tại như thực tại thật có, tối hậu và

có thể chuyển từ kiếp này sang kiếp khác Nghệ thuật tranh luận được cho đậm chất thần bí và cổ xưa nhất đối với Phật Giáo là hai tiểu luận của Long Thụ Chúng giải thích và chứng minh phương pháp tranh luận gồm luận điểm không có gì chắc thật, chỉ ra tính tương đối trong mọi luận điểm về xác quyết của đối phương, từ đó, phá hủy nó một cách biện chứng Vấn đề ở chỗ “mấy thế kỷ sau, Phật Giáo không tiến triển gì về logic”

1.2.1.2 Giai đoạn Thế Thân, Trần Na, và Pháp Xứng

Tình hình cứ mãi thế cho đến khi anh em Vô Trước và Thế Thân tìm cách vượt chủ nghĩa tương đối cực đoan của Long Thụ, nâng cấp logic của Chánh Lý để nó thích nghi với nền tảng duy tâm của họ “Thế Thân mới là

Trang 13

bậc thầy nổi tiếng về logic” Ông định nghĩa tri thức của tri giác đến từ khách thể và vẫn vận dụng ngũ đoạn luận của Chánh Lý Lê Mạnh Thát không coi Thế Thân là triết gia duy tâm Tiếp nối Thế Thân không ai khác ngoài Trần

Na và Pháp Xứng Trần Na cùng nhiều thế hệ luận sư kiên quyết bác bỏ thuyết về tồn tại của ngã phổ biến tối cao, và cùng với nó là thuyết về chủ thể nhận thức của Chánh Lượng Bộ Từ lập trường ấy, ông xây dựng logic học (pramāṇa) hay nhận thức luận của mình Trần Na, như vậy, tận hiến cho thần

bí Tự Tại Quân, học trò trực tiếp của Trần Na về đại logic, thừa nhận Pháp Xứng “hiểu Trần Na còn hơn bản thân ông” Pháp Xứng giải quyết lần lượt bốn vấn đề gồm suy luận, giá trị của tri thức hay lượng học, tri giác, rồi đến luận thức hay tam chi luận thức Ông nhấn mạnh tồn tại tuyệt đối của Phật Đà như thực thể siêu hình, dạng tồn tại vượt thời gian, không gian, và kinh nghiệm Thần bí, như vậy, được nâng cấp tiếp

1.2.2 Quá trình phát triển ngoài Ấn Độ

Các trung tâm Phật Giáo ngoài Ấn Độ đóng vai trò to lớn trong bảo tồn và phát triển luận lý học Phật Giáo sau khi nền triết học này cùng tôn giáo của nó suy vong ở Ấn Độ Trước hết phải kể đến Tây Tạng, nơi đóng vai trò quan trọng nhất vì đã “bảo tồn trung thành các thành tựu ưu tú nhất của triết học Ấn Độ trong kỷ nguyên vàng son của văn minh Ấn Độ” Đáng chú

ý, mô hình Tây Tạng được di thực khá hiệu quả sang Mông Cổ Tiếp đến là Trung Quốc và Nhật Bản Không may, khu vực này chỉ lưu giữ cuốn Nhập Chánh Lý Môn Luận của Thương Yết La Chủ nên luận lý của họ triển khai chủ yếu dựa trên công trình này Bên cạnh hai trung tâm kia, còn có trung tâm thứ ba cũng phát triển mạnh về luận lý học nhưng không phải về Phật Giáo mà cổ vũ cho trường phái đối thủ của Phật Giáo: xứ Nudeal ở Begal với học phái Chánh Lý-Thắng Luận

1.2.3 Quá trình phát triển ở Việt Nam

Ngày đăng: 21/06/2023, 06:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w