1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương

90 209 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Chương Dương
Tác giả Lê Văn Hưởng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyệt Thị T
Trường học Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương (Vietcombank) - [Website trường](https://www.vietcombank.com.vn)
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Chuyên đề thực tập cuối khoá
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 775,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt nam là nước có dân số trẻ, năng động, mức thu nhập của người laođộng ngày càng được nâng cao, đời sống nhân dân đựơc cải thiện đáng kể, từ đó phát sinh những nhu cầu chi tiêu mới nh

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua nền kinh tế VN liên tục tăng trưởng và tăngtrưởng ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm Đặc biệt năm 2007tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 8,5% Với thành tựu đạt được VN trở thành 1trong 2 nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trên Thế giới chỉ đứng sau TrungQuốc Đạt được thành tựu như vậy là do sự tăng trưởng mạnh mẽ của cácdoanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước Đặc biệt phải kể tới

sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực Ngân hàng - Tài chínhnói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng Nếu ở các nước có nền kinh

tế phát triển như Mỹ, Anh… lĩnh vực cho vay tiêu dùng không có gì là xa lạ

và nó chiếm khoảng 60% trên tổng dư nợ tín dụng thì ở Việt nam tỷ lệ này chỉ

là xấp xỉ 20% và nó vẫn còn khá mới mẻ không chỉ với người dân mà ngay cảvới các TCTD

Việt nam là nước có dân số trẻ, năng động, mức thu nhập của người laođộng ngày càng được nâng cao, đời sống nhân dân đựơc cải thiện đáng kể, từ

đó phát sinh những nhu cầu chi tiêu mới như: mua nhà, ôtô, trang thiết bị đồgia dụng đắt tiền, đi du lịch hay du học… Bên cạnh đó sau hơn 1 năm VN làthành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra cơ hộicho người tiêu dùng được tiếp cận và sử dụng những mặt hàng nhập ngoạiphong phú về chủng loại, có chất lượng cao với mức giá mà một bộ phậnkhông nhỏ người dân VN có thể đáp ứng được và sẵn sàng móc hầu bao củamình để được sở hữu món đồ mà họ yêu thích và cần thiết cho gia đình họ.Vấn đề đặt ra là để mua được một ngôi nhà hay một chiếc ôtô sang trọng vớigiá hàng trăm triệu – nhiều tỷ đồng, với một số người không thể tích luỹ đủngay số tiền lớn như vậy trong khi họ thực sự cần có nhà để lập gia đình, sống

tự lập hay cần có phương tiện đi lại…Để gom đủ số tiền lớn như vậy họ có

Trang 2

thể đi vay bạn bè, vay người thân, nhưng có lẽ đi vay ngân hàng là phương ánnhiều người ưa thích lựa chọn bởi nguồn vốn ngân hàng cho vay hoàn toànphù hợp với nhu cầu vay người của người tiêu dùng về khối lượng và thờigian sử dụng vốn

Hiện nay, khi thị trường ngân hàng Việt nam đã cho phép các ngânhàng nước ngoài vào đầu tư theo cam kết của Việt nam trong tiến trình hộinhập do đó lĩnh vực cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển sôi động và sựcạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt Với những lợi thế riêng có của mìnhmỗi ngân hàng đã đang và sẽ có những chiến lược để phát huy tối đa thếmạnh đó Bên cạnh những sản phẩm dịch vụ hiện có các ngân hàng cần phảikhông ngừng nghiên cứu triển khai những sản phẩm và dịch vụ mới sao chophù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

Chi nhánh NHNT Chương dương hoạt động trên địa bàn Quận LongBiên, Huyện Gia Lâm và một số huyện ngoại thành Hà nội, đây là một địabàn đang đô thị hoá và có dân số trẻ, mức sống ngày một nâng cao, vì vậy nhucầu tiêu dùng của người dân nơi đây trong thời gian tới sẽ rất lớn, có thể nóiđây sẽ là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển các dịch vụ ngân hàng

hướng vào đối tượng là cá nhân, hộ gia đình và có thể xem đây là cơ hội để

mở rộng Tín dụng tiêu dùng tại Chi nhánh NHNT Chương dương

Trong quá trình thực tập tại đây được sự góp ý hướng dẫn của cán bộnhân viên Chi nhánh NHNT Chương dương cùng với sự tìm hiểu, lựa chọn

của bản thân em xin nghiên cứu đề tài: “Giải pháp mở rộng tín dụng tiêu

dùng tại Chi nhánh NHNT Chương dương” cho chuyên đề thực tập cuối

khoá của mình

Chuyên đề gồm:

Chương 1: Tổng quan về Tín dụng tiêu dùng

Trang 3

Chương 2: Thực trạng Tín dụng tiêu dùng tại Chi nhánh NHNT Chương Dương

Chương 3: Giải pháp mở rộng TD tiêu dùng tại Chi nhánh NHNT Chương Dương

Xin cảm ơn tập thể Ban Giám đốc, cán bộ nhân viên Chi nhánh NHNT

CD đã chỉ bảo tận tình cung cấp những thông tin, tài liệu phong phú giúp emhoàn thành chuyên đề của mình

Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyuễn Thị Thu Thảo

cùng các các Thầy Cô trong khoa Ngân hàng - Tài chính đã dành nhiều tâmhuyết tận tình chỉ bảo truyền đạt những kinh nghiệm quý báu giúp đỡ em

trong thời gian em thực tập và viết chuyên đề.

Em xin trân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG

1.1 Giới thiệu chung về Tín dụng tiêu dùng

Nếu như ở Việt nam hoạt động cho vay tiêu dùng còn khá mới mẻ vàmới chỉ thực sự phát triển trong vài năm trở lại đây thì ở các nước có nền kinh

tế phát triển khái niệm về cho vay tiêu dùng đã qúa quên thuộc và phát triểnsôi động từ rất lâu rồi Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 hoạt động cho vaytiêu dùng thực sự phát triển bùng nổ, nó không chỉ xuất hiện trong danh sáchsản phẩm, dich vụ của các Ngân hàng mà nó còn xuất hiện ở các TCTD khácnhư: công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng tiết kiệm bưu điện…

Vì vậy sự cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn baogiờ hết Tuy nhiên trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng các ngân hàng luôn chiếmđược vị trí hàng đầu Theo con số thống kê trong thời gian gần đây tín dụngtiêu dùng là khoản mục tài sản mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng

do đó các ngân hàng đang ngày càng tập chung nguồn vốn vào lĩnh vực nàychủ yếu thông qua các hình thức thẻ tín dụng các khoản vay bất động sản…nhưng tín dụng tiêu dùng lại là hoạt động có chi phí và rủi ro cao nhất đối vớicác ngân hàng vì tín dụng tiêu dùng chủ yếu tập chung vào các đối tượngkhách hàng là cá nhân, hộ gia đình, đây là những đối tượng có tình hình tàichính bị thay đổi rất nhanh do những thay đổi về công việc, sức khoẻ dẫn tới

sự sụt giảm thu nhập Vì vậy các ngân hàng luôn phải đặt ra những biện phápquản lý đặc biệt và linh hoạt trong lĩnh vực này

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80 thế kỷ 20 hoạt động tín

dụng nói chung của hệ thống NHTM đã có sự thay đổi to lớn Nếu như trướcđây các ngân hàng chỉ chủ yếu phát triển lĩnh vực cho vay thương mại thì đếngiai đoạn này họ đã mở rộng lĩnh vực bằng việc triển khai hoạt động cho vay

Trang 5

tiêu dùng Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiềuphương tiện máy móc hiện đại như: máy rút tiền tự động, máy tính nốimạng… đã góp phần thúc đẩy các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay tiêudùng của mình đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ với cácTCTD trong nước mà còn với các tổ chức tài chính khác trong khu vực vàtrên thế giới.

Hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển mạnh là do xuất phát từ chínhmối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Nếu như các khoản tín dụngthương mại nhằm mục đích thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoácho các doanh nghiệp thì tín dụng tiêu dùng lại nhằm mục đích tài trợ cho nhucầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình Lĩnh vực cho vay tiêu dùng đang và sẽphát triển hết sức mạnh mẽ không chỉ có các ngân hàng thương mại mà còn

có rất nhiều các TCTD khác như các công ty tài chính, ngân hàng tiết kiệmbưu điện, công ty bảo hiểm các tập đoàn tài chính quốc tế có chi nhánh, vănphòng đại diện tại Việt nam… cùng tham gia

1.2 Hoạt động Tín dụng tiêu dùng của NHTM

1.2.1 Khái niệm tín dụng tiêu dùng

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng tiêu dùng ( hay cho vay

tiêu dùng ), theo cách hiểu đơn giản thì cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ

cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân hay hộ gia đình Tuy nhiên một khái niệm

chung và đầy đủ nhất về cho vay tiêu dùng được các NHTM đưa ra là: “cho

vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng ( cá nhân hay hộ gia đình ) quyền sử dụng một lượng giá trị ( tiền ) trong một khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà 2 bên đã ký kết ( về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả…) nhằm giúp cho khách hàng có thể

sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn.”

Trang 6

1.2.2 Phân loại TDTD

Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà các NHTM có thể chia TDTDthành các hình thức khác nhau Ở đây xin đưa ra 3 tiêu chí các NHTM thường

sử dụng để phân loại TDTD

1.2.2.1 Căn cứ vào mục đích vay

Theo căn cứ trên TDTD được chia thành 2 loại:

+ Cho vay tiêu dùng cư trú ( Residential morage loan ): là các khoản

cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu cầu mua nhà, sửa sang nhà cửa của cánhân hay hộ gia đình Các khoản vay này thường có khối lượng lớn, thời giandài do đó các ngân hàng thường gặp phải những rủi ro về lãi suất khi mà lãisuất huy động tăng trong ngắn hạn

+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú ( Noresidentiual monage loan ): là các

khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu cầu cải thiện đời sống như muasắm phương tiện, đồ gia dụng, đi du lịch, du học, giải trí… các khoản vay nàythường có quy mô nhỏ thời gian tài trợ ngắn vì vậy mức độ rủi ro mà cácngân hàng gặp phải không cao bằng khoản cho vay tiêu dùng cư trú

1.2.2.2 Căn cứ vào hình thức cho vay

+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan ):

Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua lại các khoản nợ phát sinh do công ty bán lẻ bán chịu hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng.

Hợp đồng mua lại các khoản nợ ký kết giữa ngân hàng và công ty bán

lẻ quy định rõ các điều kiện về loại hàng, số tiền và đối tượng được bán chịu.Thông qua các điều kiện đó nhà cung cấp sẽ thoả thuận với khách hàng củamình về việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ Quá trình trên được khái quát qua

sơ đồ sau:

Trang 7

(1) (4) (5)

(2) (3) (6)

(1) Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ

(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(4) Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ mua bán chịu hàng hoá cho ngânhàng

(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ

(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng

Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện thông qua các hình thứcsau:

- Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo hình thức này nếu người tiêu dùng

không thanh toán được các khoản nợ như đã cam kết khi đến hạn thì ngânhàng có quyền truy đòi toàn bộ khoản nợ đó từ công ty bán lẻ

- Tài trợ truy đòi hạn chế: theo hình thức này nếu người tiêu dùng

không thanh toán được các khoản nợ cho ngân hàng như đã cam kết khi đếnhạn thì công ty bán lẻ phải thanh toán một phần khoản nợ đó cho ngân hàngtuỳ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng và công tybán lẻ

Người tiêu dùng

Trang 8

- Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này sau khi bán các khoản

nợ cho ngân hàng công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm trong việc khoản

nợ đó có được người tiêu dùng thanh toán cho ngân hàng hay không Phươngthức này chứa đựng nhiều rủi ro đối với ngân hàng vì vậy chỉ có các công tybán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này

- Tài trợ có mua lại: theo phương thức này, khi thực hiện cho vay tiêu

dùng theo phương thức truy đòi hạn chế và miễn truy đòi nếu người tiêu tiêudùng không thể thanh toán cho ngân hàng các khoản nợ khi đến hạn thì ngânhàng sẽ tiến hành thanh lý tài sản để thu hồi nợ và lúc này công ty bán lẻ sẽ có

trách nhiệm mua lại tài sản thanh lý từ ngân hàng

+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan):

Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay.

Quá trình cho vay có thể được khái quát qua sơ đồ sau:

(3)

(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay

(2) Người tiêu dùng thanh toán trước cho công ty bán lẻ một phần số tiền muatài sản

(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ

(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(5) Người tiêu dùng trả góp tiền vay cho ngân hàng

Người tiêu dùng

Trang 9

Ưu điểm: cho vay tiêu dùng theo hình thức trực tiếp là rất linh hoạt và

được các ngân hàng ưa thích sử dụng vì nó có sự đàm phán trực tiếp giữa ngânhàng và khách hàng qua đó ngân hàng tự quyết định có cấp tín dụng cho kháchhàng hay không Ngoài ra các cán bộ tín dụng của ngân hàng còn có cơ hội pháthuy tối đa năng lực của mình thông qua quy trình thẩm định khách hàng Hơnnữa khi khách hàng tiếp xúc trực tiếp với ngân hàng sẽ giúp cho khách hàngđược tiếp cận và sử dụng các dịch vụ khác mà ngân hàng đang cung cấp, qua đóngày càng củng cố mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng

Nếu các ngân hàng có mối quan hệ tốt với các công ty bán lẻ thì cho vaytiêu dùng theo hình thức gián tiếp sẽ mang lại độ an toàn cao hơn cho ngân hàng

do rủi ro đã được san sẻ bớt cho các công ty bán lẻ Còn cho vay tiêu dùng theohình thức trực tiếp mọi rủi ro thuộc về ngân hàng Tuy nhiên cho vay tiêu dùngtheo hình thức trực tiếp ngân hàng sẽ là người quyết định có cấp tín dụng chokhách hàng hay không và các quyết định này có độ chính xác là rất cao, cao hơnrất nhiều so với các quyết định của các công ty bán lẻ bởi ngân hàng có các nhânviên tín dụng đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ vững vàng cùng vớinhững quy trình thẩm định khách hàng bài bản

1.2.2.3 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

+ Cho vay tiêu dùng trả góp

Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm

số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất địnhtrong thời hạn cho vay Phương thức này thường được áp dụng cho các khoảnvay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khảnăng thanh toán hết một lần số nợ vay Đối với hình thức cho vay này ngânhàng cần chú ý những điểm sau:

+ Loại tài sản được tài trợ: nếu những tài sản được hình thành từ khoản

vay thoả mãn nhu cầu lâu bền của người tiêu dùng trong tương lai thì ý thức

Trang 10

về việc trả nợ của người tiêu dùng sẽ rất cao Vì vậy các ngân hàng nên quantâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ, các tài sản có thời gian sử dụng dài,

có giá trị lớn giúp người tiêu dùng hưởng thụ được tiện ích của nó trong thờigian dài sẽ được các ngân hàng ưa thích lực chọn để tài trợ

+ Số tiền phải trả trước: với hình thức này các ngân hàng khi quyết

định cho vay họ sẽ yêu cầu người tiêu dùng phải có 1 lượng vốn tự có nhấtđịnh và các ngân hàng sẽ chỉ cho vay tối đa 70% tổng giá trị tài sản Quyđịnh này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp khách hàng dùng tài sản hìnhthánh từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mại tài sản không gâynhiều rủi ro cho ngân hàng

Điều khoản thanh toán:

- Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với thu nhập của người vaysau khi đã trừ các khoản chi tiêu cần thiết khác

- Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi

- Thời hạn vay không được quá dài tránh trường hợp tài sản được tàitrợ giảm giá trị dẫn tới rủi ro đối với ngân hàng

- Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ được tínhtheo một trong các cách sau:

Phương pháp lãi đơn: theo đó số tiền gốc khách hàng phải trả mỗi kỳ là

đều nhau và nó được tính bằng cách lấy số nợ gốc chia cho kỳ hạn trả nợ, kỳhạn trả nợ có thể là tháng, quý, năm hoặc năm tài chính Số tiền lãi trả mỗi kỳbằng lãi suất nhân với số dư nợ gốc kỳ đó

Phương pháp lãi gộp: đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất

trong hình thức cho vay tiêu dùng trả góp Theo phương pháp này, số tiềnphải thanh toán ở mỗi kỳ hạn nợ (a) được tính như sau:

n

A n A i

a= % * * +

Trang 11

Trong đó: - i là lãi suất

- A là số nợ gốc

- n là kỳ hạn trả nợ Việc phân bổ lãi vay theo thời gian: khi sử dụng phương pháp lãi gộp

để tính lãi các ngân hàng thường tiến hánh phân bổ phần lãi cho vay đã đượctính Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ hạnthanh toán

Việc trả nợ trước hạn: trường hợp người đi vay trả nợ trước hạn nếu

tiền trả góp tính theo phương pháp lãi đơn thì người đi vay chỉ phải thanhtoán số nợ gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện tại cho ngân hàng Cònnếu tiền lãi tính theo phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp hơn trongtrường hợp này lãi được giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụngcho đến lúc kết thúc hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng trả nợ trước hạn thìthời hạn nợ thực tế sẽ khác thời hạn nợ ban đầu do đó số tiền lãi phải trả cũng

có sự thay đổi Khi đó ngân hàng sử dụng phương pháp phân bổ lãi cho vaytheo thời gian để tính số lãi thực tế phải thu dựa trên thời hạn nợ thực tế

+ Cho vay tiêu dùng trả một lần

Trong thực tế đây là hình thức rất ít sử dụng trong lĩnh vực cho vay tiêudùng vì nó thường là những khoản vay có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn

số tiền vay sẽ được thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn Tuynhiên khi áp dụng hình thức này ngân hàng sẽ không mất nhiều thời gian nhưcho vay tiêu dùng trả góp do không phải tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ

1.2.3 Đặc điểm Tín DụngTiêu Dùng

Thực chất tín dụng tiêu dùng là một loại hình trong tín dụng ngân hàng

vì vậy nó mang những đặc điểm của tín dụng nói chung Tuy nhiên tín dụngtiêu dùng nhằm vào đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình do vậyngoài những đặc điểm chung tín dụng tiêu dùng còn có một số đặc điểm sau:

Trang 12

1.2.3.1 Đặc điểm về khách hàng và mục đích vay

Khách hàng chủ yếu trong lĩnh vực này là cá nhân và hộ gia đình, mụcđích của các khoản vay hướng tới là nhu cầu chi tiêu của cá nhân hay hộ giađình chứ không xuất phát từ mục đích kinh doanh như các khoản tín dụngkhác Nhu cầu vay tiêu tiêu dùng bị chi phối bởi mức thu nhập và trình độ dântrí của khách hàng Những người có thu nhập cao thường có xu hướng chitiêu nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình, với họ việc vay mượn làmột công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉđược dùng trong tình trạng khẩn cấp

1.2.3.2 Nhu cầu vay và nguồn trả nợ

Khách hàng trong lĩnh vực vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình vìvậy nhu cầu vay của họ rất nhạy cảm và có tính chu kỳ Khi nền kinh tế đangtăng trưởng mạnh mọi người sẽ kỳ vọng thu nhập của mình sẽ tăng trongtương lai, khi đó người dân sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn trong hiện tại

và do đó vay tiêu dùng tăng lên Trong trường hợp nền kinh tế tăng trưởngchậm hoặc suy thoái thì tình hình sẽ ngược lại cho vay tiêu dùng sẽ giảm.Cũng có thể thấy được nguồn trả nợ từ các khoản tín dụng thượng mại làkhoản thu nhập tăng lên từ quá trình sản xuất kinh doanh, bán hàng của doanhnghiệp nhưng đối với các khoản TDTD nguồn trả nợ được lấy từ thu nhập củangười vay trong tương lai Vì vậy những cá nhân có mức thu nhập cao, việclàm ổn định, có trình độ học vấn cao thì sẽ được các ngân hàng lựa chọn cấptín dụng

1.2.3.3 Quy mô và số lượng

Nếu như ở các khoản tín dụng khác tại ngân hàng đa phần là có quy môlớn và số lượng khách hàng vay là nhỏ thì trong TDTD hoàn toàn ngược lạiquy mô các khoản vay nhỏ và khối lượng lớn Bởi lẽ khách hàng vay tiêudùng nhằm mục đích chi tiêu, đa số khách hàng vay tiêu dùng đều đã có sự

Trang 13

tích luỹ trước, ngân hàng đóng vai trò chỉ là người hỗ trợ để cho việc muasắm sản phẩm được dẽ ràng hơn khi việc tích luỹ vẫn chưa đủ Mặt khác sốlượng khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng lớn do vậy tổng quy mô món vaylại rất lớn.

1.2.3.4 Chi phí và rủi ro

Cho vay tiêu dùng thường có chi phí và độ rủi ro cao nhất trong danhmục cho vay của hệ thống ngân hàng, nguyên nhân là do các khoản vay tiêudùng hết sức nhạy cảm với những biến động về tình hình kinh tế, thiên tai,tình trạng thất nghiệp ra tăng, bên cạnh đó là tình trạng sức khoẻ của ngườivay tất cả những yếu tố trên đều có thể làm thay đổi đến thu nhập của ngườivay trong tương lai qua đó ảnh hưởng tới việc trả nợ của họ sau này Ngoài ravấn đề đạo đức của người vay cũng có tác động tới khả năng thu nợ từ cáckhoản tín dụng tiêu dùng của ngân hàng Tín dụng tiêu dùng tập chung chủyếu vào đối tượng là cá nhân và hộ gia đình do đó vấn đề quản lý sau vaycũng là một khó khăn mà ngân hàng đang gặp phải Do quy mô món vay nhỏnhưng số lượng món vay lớn nên ngân hàng khó có thể kiểm soát tốt tình hìnhthu nhập và khả năng tài chính của từng khách hàng Các thông tin ngân hàngnhận được hoàn toàn là từ phía khách hàng cung cấp do vậy tính xác thực của

nó phụ thuộc vào tính trung thực của khách hàng vì vậy chi phí và rủi ro tronghoạt động cho vay tiêu dùng tăng cao

1.2.3.5 Lãi suất và lợi nhuận

Có nhiều phương pháp khác nhau để ngân hàng xác định mức lãi suấtđối với khoản TDTD Song phần lớn lãi suất được xác định như sau:

+

Chi phí hoạt động khác

+

Rủi ro tổn thất

dự kiến

+

Phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn

+

Lợi nhuận cận biên

Trang 14

Do chi phí và rủi ro của các khoản vay tiêu dùng cao nên lãi suất chovay tiêu dùng thường được định giá cao hơn hẳn so với lãi suất của các khoảntín dụng thương mại Các khoản TDTD thương có lãi suất không đổi trongxuất thời hạn vay vì vậy các ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất khi mà lãisuất huy động trong ngắn hạn tăng Nếu như lãi suất ở các khoản tín dụngthương mại được điều chỉnh bởi lãi suất thị trường thì lãi suất cho vay tiêudùng lại cố định, do người vay quan tâm đến số tiền mình phải trả nhiều hơn

là quan tâm đến lãi suất vay Khi lãi suất của các khoản TDTD cao cùng với

đó là số lượng của các khoản cho vay tiêu dùng nhiều dẫn tới tổng khối lượngcho vay tiêu dùng lớn điều này đồng nghĩa với lợi nhuận từ các khoản TDTD

là rất đáng kể

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay tiêu dùng của NHTM

Có rất nhiều những nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM, ở đây xin trình bày 3 nhóm nhân tốchính đó là nhóm nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, nhóm nhân tố xuấtphát từ phía khách hàng và nhóm nhân tố xuất phát từ môi trường hoạt độngcủa ngân hàng

1.3.1 Nhóm nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng

1.3.1.1 Định hướng phát triển của ngân hàng

Định hướng phát triển của ngân hàng là điều kiện tiên quyết để hoạtđộng cho vay tiêu dùng được phát triển tại ngân hàng đó Nếu trong chiếnlược phát triển của ngân hàng không quan tâm tới lĩnh vực cho vay tiêu dùngthì dù nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có lớn tới đâu cũng sẽ khôngđược quan tâm và do đó cũng không thể triển khai được Ngược lại nếu ngânhàng muốn phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng thì dù người tiêu dùng cónhu cầu vay hay không các ngân hàng sẽ vẫn có kế hoạch cụ thể để kích thích

Trang 15

nhu cầu và thu hút những khách hàng đó đến với mình Khi đó cung và cầu vềcho vay tiêu dùng sẽ có sự tương thích và hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ có

cơ hội mở rộng và phát triển

1.3.1.2 Chính sách tín dụng của ngân hàng

Chính sách tín dụng của NH là hệ thống các chủ trương, định hướngquy định chi phối toàn bộ hoạt động tín dụng do Hội đồng quản trị đưa ranhằm sử dụng nguồn vốn tài trợ cho sự phát triển của nền kinh tế một cáchhiệu quả Chính sách tín dụng có các khoản mục sau:

- Hạn mức tín dụng

- Các loại hình cho vay mà ngân hàng thực hiện

- Các quy định về tài sản đảm bảo

- Kỳ hạn của các khoản tín dụng

- Hướng giải quyết phần tín dụng vượt quá hạn mức cho vay

- ………

Các cán bộ tín dụng thông qua chính sách tín dụng lựa chọn hướng đi

và là khung tham chiếu rõ ràng về những căn cứ để xem xét nhu cầu vay vốncủa khách hàng từ đó đưa ra các quyết định về việc cấp tín dụng Vì vậy chínhsách tín dụng là một công cụ không thể thiếu đối với mỗi cán bộ tín dụng.Một khách hàng không thể vay vốn được từ ngân hàng phục vụ cho nhu cầutiêu dùng của mình nếu hình thức cho vay tiêu dùng không nằm trong chínhsách tín dụng của ngân hàng do đó TDTD tại ngân hàng đó không thể pháttriển Ví dụ một ngân hàng không có hình thức cho vay để mua ôtô thì dùkhách hàng có nhu cầu và mọi điều kiện đáp ứng là hoàn hảo thì khách hàng

đó cũng không thể được cấp tín dụng Ngược lại nếu một ngân hàng đã sẵn cónhững hình thức cho vay tiêu dùng với chất lượng tốt thì lĩnh vực cho vay tiêudùng là hoàn toàn có cơ hội để mở rộng và phát triển Do tính chất đặc thùcủa ngành ngân hàng, các ngân hàng không thể cạnh tranh với nhau bởi danh

Trang 16

mục sản phẩm dịch vụ vì vậy một chính sách tín dụng đúng đắn và hợp lý sẽgiúp mỗi ngân hàng có được sự khác biệt và tạo ra ưu thế cạnh tranh từ đóđáp ứng đầy đủ nhu cầu và làm hài lòng ngay cả những khách hàng khó tínhnhất Vì thế TDTD sẽ thực sự phát triển và phát triển toàn diện tại ngân hàng

đó

1.3.1.3 Chất lượng trình độ cán bộ ttín dụng

Yếu tố về chất lượng trình độ cán bộ tín dụng có ảnh hưởng không nhỏtới hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng tạicác NHTM Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào nhân tố con người cũng luônđóng vai trò then chốt Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng thì nhân tố conngười luôn được đặt lên hàng đầu Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng khôngphải ở lãi suất, ở các trương trình khuyến mại hay danh mục sản phẩm dịch vụ

mà là ở phong cách phục vụ khách hàng của các cán bộ nhân viên của ngânhàng và các cán bộ tín dụng là một bộ phận quan trọng trong số đó Hoạtđộng cho vay tiêu thực hiện được hay không là do người điều hành nó màngười điều hành không ai khác chính là các cán bộ tín dụng Đạo đức củanhững cán bộ tín dụng được xếp vào vị trí hàng đầu trong những nhân tố chủquan tác động tới hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu một cán bộ tín dụng cótrình độ chuyên môn giỏi nhưng không có đạo đức nghề nghiệp thì cũng trởnên vô gía trị, chỉ vì một chút lợi trước mắt của bản thân mà làm ảnh hưởngđến lợi ích lâu dài của cả tập thể ngân hàng Tuy nhiên để đánh giá một cáchtoàn diện cán bộ tín dụng thì chỉ riêng đạo đức nghề nghiệp thôi là chưa đủ

mà chúng ta còn phải xem xét về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc

và khả năng đưa ra những biện pháp xử lý những tình huống xảy ra bất ngờcũng là hết sức cần thiết Một cán bộ tín dụng năng động luôn tran hoà vớimọi người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, khả năng giao tiếp tốt nhiệttình và luôn có trách nhiệm trong công việc cộng thêm đạo đức nghề nghiệp

Trang 17

chắc chắn sẽ tạo cho khách hàng sự tin tưởng trong giao dịch và lưu lại tronglòng họ một ấn tượng tốt đẹp qua đó quảng bá được hình ảnh của ngân hàng.Ngoài ra một cán bộ tín dụng có hiểu biết sâu vế các lĩnh vực khác trong cuộcsống và một mối quan hệ xã hội rộng cũng là điều kiện cần để giúp ngân hàngthu hút được ngày càng nhiều khách hàng về mình Một ngân hàng có nhữngcán bộ tín dụng chất lượng và có sự phân công xắp xếp công việc hợp lý saocho phát huy được điểm mạnh của từng cán bộ chắc chắn hoạt động tín dụngnói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng tại ngân hàng đó sẽ thực

sự phát triển và đủ sức cạnh tranh với các TCTD khác

1.3.1.4 Năng lực tài chính và trình độ quản lý của ngân hàng

Ngân hàng là lĩnh vực hoạt động mang lại rất nhiều lợi nhuận nhưngcũng là lĩnh vực luôn phải đối mặt với những rủi ro lớn Do vậy năng lực tàichính của mỗi ngân hàng là một yếu tố mà các nhà lãnh đạo cần cân nhắc khiđưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt động cho vay tiêudùng Năng lực tài chính của ngân hàng được xác định dựa trên một số yếu tốnhư: lượng vốn chủ sở hữu, tỷ trọng nợ qúa hạn trên tổng dư nợ, số lượng tàikhoản thanh khoản, tỷ lệ % lợi nhuận năm sau so với năm trước… Nếu mộtngân hàng có các chỉ tiêu trên là tốt số lượng tài sản thanh khoản nhiều, tỷ lệ

% lợi nhuận cao… thì có thể coi ngân hàng đó có năng lực tài chính tốt Vớiđiều kiện về tài chính như vậy ngân hàng có thể đảm bảo phát triển tốt cáchoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng tiêu dùng nói riêng từ đócho vay tiêu dùng có cơ hộ được mở rộng

Trong năm qua toàn thế giới chứng kiến sự thay đổi và phát triển mạnh

mẽ của khoa học công nghệ Việc áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệvào trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống là một điều tất yếu, lĩnh vựcngân hàng là lĩnh vực hoạt động áp dụng mạnh mẽ nhất những tiến bộ khoahọc công nghệ, các ngân hàng được trang bị nhiều phương tiện hiện đại như

Trang 18

máy tính nối mạng, máy rút tiền tự động ATM… Do vậy trình độ khoa họccông nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng cũng là một trong những nhân

tố quan trọng ảnh hưởng tới tới sự phát triển của hoạt động tín dụng tiêu dùngtại ngân hàng đó Một ngân hàng được trang bị những trang thiết bị hiện đại,thì họ có thể tăng tiện ích cho khách hàng, từ đó khách hàng sẽ biết đến cácdịch vụ của ngân hàng nhiều hơn Đặc biệt trong hoạt động cho vay tiêu dùngkhi mà số lượng khách hàng rất lớn, việc quản lý gặp rất nhiều khó khăn thìtrình độ công nghệ và quản lý của ngân hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọnggiúp các ngân hàng tránh được các rủi ro trong hoạt động tín dụng đặc biệt làhoạt động cha vay tiêu dùng Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa họccông nghệ hiện đại các ngân hàng có thể quản lý danh sách khách hàng mộtcách dễ dàng hơn, họ có thể tiết kiệm được nhân công, chi phí quản lý gópphần làm giảm giá thành dịch vụ Thêm vào đó khi có các công nghệ hiện đại

hỗ trợ thì việc giải quyết các thủ tục hành chính nhanh chóng và chính xác

Và đó là cơ sở để các ngân hàng thu hút được nhiều hơn khách hàng về phíamình, tạo điều kiện cho hoạt động cho vay tiêu dùng được phát triển và mởrộng

1.3.2 Nhóm nhân tố xuất phát từ phía khách hàng

Một ngân hàng không thể phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng nếukhông có khách hàng có nhu cầu và đáp ứng tốt những điều kiện mà ngânhàng đưa ra Dưới đây xin trình bày 2 nhân tố thuộc về bản thân khách hàngảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng

1.3.2.1.Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay vốn cuả khách hàng

Trước khi ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng thì ngânhàng phải thẩm định khách hàng dựa trên các điều kiện quy định khi cho vaycủa ngân hàng, do vậy hoạt động cho vay tiêu dùng chỉ được thực hiện khikhách hàng đáp ứng được các điều kiện mà ngân hàng đưa ra Các điều kiện

Trang 19

thường thấy đó là điều kiện về tài sản đảm bảo, các giấy tờ chứng minh quyền

sở hữu và sử dụng hợp pháp tài sản đó hay chứng nhận về mức thu nhập hàngtháng của khách hàng… Sau khi khách hàng hứng minh mình đáp ứng đượccác điều kiện quy định của ngân hàng, khi đó khách hàng sẽ được cấp tíndụng

1.3.2.2 Năng lực sử dụng vốn của khách hàng

Trong một khoản cho vay tiêu dùng nguốn trả nợ gốc chính là khoảnthu nhập trong tương lai của khách hàng Thu nhập của khách hàng quyếtđịnh đến nhu cầu vay nhưng cũng là cơ sở để ngân hàng quyết định có chokhách hàng vay tiêu dùng hay không Ngân hàng phải xem xét liệu co chokhách hàng đó vay hay không, liệu thu nhập trong tương lai của người vay cóthể đủ trả cho khoản vay ở hiện tại hya không Do vậy có thể khẳng định thunhập thu nhập trong tương lai của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khôngchỉ nhu cầu vay tiêu dùng mà còn nảnh hưởng tới quy mô khoản vay cũngnhư việc phát triển cho vay tiêu dùng tại mỗi ngân hàng Bên cạnh vấn đề thunhập, cho vay tiêu dùng còn bị chi phối bởi một số nhân tố thứ yếu khác nhưvấn đề đạo đức và thiện trí trả nợ của người vay Một khách hàng có thu nhập

ổn định đạo có đức tốt có ý thức trả nợ đụng hạn chắc chắn sẽ được các ngânhàng lựa chọn làm đối tác lâu dài của mình Khi đó rủi ro trong lĩnh vực chovay tiêu dùng sẽ thấp từ đó tạo điều kiện kích thích ngân hàng mở rộng hoạtđộng cho vay tiêu dùng cùng với đó là các điều kiện, thủ tục cho vay sẽ khôngquá khắt khe

1.3.3 Nhóm nhân tố xuất phát từ môi trường hoạt động của ngân hàng

1.3.3.1.Yêu cầu phát triển của nền kinh tế

Một đất nước có nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo cơ hội mở rộnghoạt động cho vay tiêu dùng Kinh tế vĩ mô ổn định với sự ổn định của các chỉ

Trang 20

số về lạm phát, việc làm, lãi suất, tỷ giá… sẽ làm cho các định chế tài chính

về lĩnh vực cho vay không có những biến động Nền kinh tế phát triển và ổnđịnh việc làm tăng, thất nghiệp giảm mức thu nhập của người lao động tăng

và ổn định làm cho khả năng thanh toán các khoản vay được đảm bảo, bêncạnh đó chi phí của việc đi vay tiêu dùng, chi phí mua sắm trang thiết bị đắttiền, di du lịch cũng vì thế mà không thay đổi từ đó nhu cầu vay tiêu dùng củangười dân tăng lên do họ sẽ quyết định đi vay đẻ thoả mãn nhu cầu hiện tạisau đó sẽ hoàn trả khoản vay từ thu nhập trong tương lai Chính vì vậy nềnkinh tế phát triển ổn định không chỉ nâng nâng cao đời sống của người dân

mà còn tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng và phát triển hoạt động tín dụngtiêu dùng Ngược lại khi nền kinh tế có sự biến động thường xuyên như hiệnnay với tỷ lệ lạm phát cao, lãi suất liên tục thay đổi, tỷ giá biến động từngngày… tâm lý chung của người tiêu dùng là sẽ ít đi vay đẻ tránh được nhữngrủi ro về những chi phí của khoản vay có thể tăng lên, và họ cũng không giámchắc mình có thể trả được các khoản vay đó trong tương lai Các trung giantài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng cũng sẽ hạn chế cho vay vì họ

lo ngại sẽ khó thu hồi các khoản tín dụng đã cấp do thu nhập trong tương laicủa khách hàng có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào với tình trạng nền kinh tế bất

ổn

Như vậy có thể khẳng định sự phát triển của nền kinh tế có một tácđộng hết sức to lớn đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng, nềnkinh tế phát triển quá nhanh, quá chậm hay có bất ổn đều không tốt Do đó để

ổn định được hoạt động cho vay tiêu dùng các ngân hàng cần phải luôn trú ýtới sức khoẻ của nền kinh tế để có thể ứng phó kịp thời với những biến đổi bấtngờ nhằm hạn chế tối đa những rủi ro gặp phải đối với ngân hàng

1.3.3.2 Môi trường pháp luật và chính sách của Nhà nước về lĩnh vực tiêu dùng trong nước

Trang 21

Môi trường pháp luật đó là sân chơi chung của mọi tổ chức, cá nhântham gia vào thị trường Chúng ta dễ nhận ra các công cụ điều tiết thị trường,các chính sách đều được cụ thể hoá bằng hệ thống pháp luật Một hệ thốngphấp luật hoàn thiện là cơ sở đảm bảo cho hoạt động tài chính an toàn ổn địnhkích thích các định chế tài chính nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ có chấtlượng ngày một nâng cao, củng cố mối quan hệ hợp tác bình đẳng đôi bêncùng có lợi giữa ngân hàng với khách hàng Đặc biệt trong hoạt động cho vaytiêu dùng khi cả ngân hàng và khách hàng là những cá nhân đều được đảmbảo về lợi ích thì hoạt động vay tiêu dùng sẽ diễn ra thuận lợi hơn Thông qua

hệ thống pháp luật ngân hàng và người đi vay thực hiện được các thủ tục giấy

tờ cũng như có phương hướng giải quyết hợp lý khi phát sinh các tranh chấptrong quá trình thực hiện

Bên cạnh một môi trường pháp luật hoàn thiện thì nhân tố chínhsách của Nhà nước về lĩnh vực tiêu dùng trong nước cũng không kémphần quan trọng Các chính sách có thể kìm hãm hay thúc đẩy hoạt độngcho vay tiêu dùng phát triển Tuỳ từng thời kỳ phát triển kinh tế của mỗinước mà các chính sách này là khác nhau Ví dụ khi Nhà nước thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế theo hướng coi trọng xuất khẩu khi đó tiêudùng trong nước sẽ ít được quan tâm, mọi hoạt động đều hướng tới mụctiêu đáp ứng quá trình xuất khẩu tuy nhiên với chính sách này không phảinước nào cũng có thể thành công do đó chiến lược phát triển phổ biến ởhầu hết các nước là chiến lược phát triển kinh tế ổn định và bền vững Vớitinh thần đó Nhà nước sẽ tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh tiêu dùngtrong nước thông qua các chính sách thuế, thương mại, du lịch, giáo, dục

y tế… và đó là bước đẹm để hoạt cho vay tiêu dùng có thể phát triển rộngkhắp trong cả nước

Trang 22

1.3.3.3 Môi trường văn hoá – xã hội

Trước khi các ngân hàng muốn phát triển một sản phẩm dịch vụ mớingoài các yếu tố về môi trường pháp luật, điều kiện kinh tế… thì các ngânhàng còn phải quan tâm tới môi trường Văn hoá xã hội Môi trường vănhoá xã hội ở đây có thể được hiểu là những phong tục tập quán, thói quên

sử dụng dich vụ ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập, trình độ dântrí, thị hiếu… của người dân Đặc biệt trong hoạt động cho vay tiêu dùngđối tượng khách hàng nhắm tới chủ yếu là cá nhân có nhu cầu chi tiêu lớn,đây là bộ phận người bị ảnh hưởng bởi môi trường Văn hoá xã hội nhiềuhơn cả các yếu tố khác Ở một số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ,Anh tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập chỉ chiếm khoảng 10% người dân nơiđây có thói quên mua sắm chi tiêu nhiều hơn, vì vậy có thể dễ hiểu tại saocho vay tiêu dùng ở các nước này lại phát triển mạnh đến như vậy Bêncạnh đó các quan niệm về ngân hàng xa lạ hay gần gũ, có an toàn haykhông, thói quên dùng tiền mặt hay dùng thẻ tín dụng cũng là những yếu tố

có tác động đến cho vay tiêu dùng Vì những lý do trên khi phát triển hoạtđộng TDTD các ngân hầng phải luôn quan tâm đến phong tục, lối sống củađại bộ phận dân cư nơi ngân hàng mình đóng chân từ đó đưa ra những biệnpháp nhằm kích thích nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng một cách hợp lýsao cho dịch vụ ngân hàng mình đang cung cấp có thể tồn tại được trên thịtrường qua đó củng cố nâng cao vị thế cạnh tranh với các Ngân hàng và Tổchức tín dụng khác

1.4 Kinh nghiệm cho vay tiêu dùng của các NHTM tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.4.1 Quá trình phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM Việt Nam

Trang 23

Ở Việt nam hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM đã phát triểnvào những năm đầu của thập kỷ 90, trong giai đoạn đầu cho vay tiêu dùng tậptrung chủ yếu vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn sơ khai, đơnđiệu Các NHTM tỏ ra lúng túng trong việc cấp tín dụng theo hình thức này

do chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể quy trình thực hiệnnghiệp vụ Trong thời gian qua đã ra đời một loạt các văn bản pháp luậthướng dẫn cụ thể quy trình nghiệp vụ hoạt động trong lĩnh vực cho vay tiêudùng và đây là lúc các NHTM tại Việt nam liên tục phát triển và mở rộng cácloại hình cho vay tiêu dùng nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh cho ngân hàngmình Việt nam được coi là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển cácloại hình dịch vụ cho vay tiêu dùng

Nếu như trứơc đây người tiêu dùng rất ngại tiếp xúc với nguồn vốn từngân hàng vì họ cảm thấy phức tạp, về phía ngân hàng thì họ cũng không mặn

mà cho vay tiêu dùng vì lo ngại gặp phải rủi ro Nhưng đến thời điểm này tìnhhình đã đổi khác Khách hàng thuộc tất cả mọi tầng lớp đều thích có mối quan

hệ với ngân hàng họ đến ngân hàng không chỉ để gửi tiền tiết kiệm mà còn đểvay vốn, đặc biệt là vay để: mua và sửa nhà, mua ôtô, đi du học… Do đótrong thời gian tới tuy sẽ có hàng loạt ngân hàng trong và ngoài nước thamgia vào hoạt động cho vay tiêu dùng song với một thị trường rộng lớn và đầytiềm năng như Việt nam sẽ hứa hẹn mang lại sự thành công cho các ngânhàng biết tận dụng nó

1.4.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại một số nước

1.4.2.1 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc

Hiện nay cho vay tiêu dùng được coi là một xu thế phát triển tất yếu tạicác NHTM, đặc biệt với một quốc gia như trung quốc với dân số đông nhấtnhì Thế giới thật là đáng tiếc cho những ngân hàng đang hoạt động tại Trungquốc không triển khai rộng rãi hoạt động cho vay tiêu dùng Các NHTM ở

Trang 24

Trung Quốc đã trú trọng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng và đã đạtđược một số kết quả đáng khen ngợi Vào những năm 90 của thế kỷ trước donền kinh tế còn chưa phát triển đời sống của người dân chưa cao do đó nhucầu vay tiêu dùng là không nhiều vì vậy hoạt động cho vay tiêu dùng tạiTrung Quốc còn khá hạn chế Bước sang những năm đầu của thể kỷ 20 TrungQuốc nổi lên là một cường quốc kinh tế mới tại Châu á và trên Thế giới vớitốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất Thế giới trong nhiều năm qua Nền kinh tếphát triển mức thu nhập của người lao động nâng cao đời sống của người dân

vì thế mà được cải thiện nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng phongphú và đây là nền tảng cho sự phát triển hoạt động TDTD Theo đánh giá của

các nhà quản lý Ngân hàng Trung Quốc cho vay tiêu dùng chính là tương lai

của các NHTM và họ cần phải tập trung thật nhiều nguồn lực của mình vào

lĩnh vực này nếu muốn cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài tại TrungQuốc Ngay từ cuối năm 1990 Ngân hàng Kiến Thiết Trung quốc (CCB) đãdẫn đầu về phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng Vào năm 1999 CCB đãkéo dài thời hạn cho vay có thế chấp lên từ 20 lên 30 năm, giá trị khoản vaycũng được nâng từ mức 70 lên 80% giá trị tài sản thế chấp, đồng thời cuốinăm 1999 CCB bắt đầu chấp thuận các khoản cho vay do các cá nhân đứng rabảo lãnh, bãi bỏ quy định về việc yêu cầu người đi vay cần phải được ngườichủ lao động của mình đứng ra bảo đảm cho khoản vay CCB còn có một kếhoạch đầy tham vọng là sử dụng các phương tiện kỹ thuật công nghệ sẵn cócủa mình để phát triển hình thức dịch ngân hàng Internet và đưa ra một số sảnphẩm dịch vụ ngân hàng điển tử bán lẻ

Ngân hàng phát triển Thượng Hải - Phú Đông cũng là một trong số cácNHTM ở Trung Quốc sớm triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng và đến thờiđiểm này Ngân hàng phát triển Thượng Hải - Phú Đông là một trong nhữngngân hàng hàng đầu tại Trung Quốc trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng Ngân

Trang 25

hàng này đã làm đơn giản hoá các thủ tục về tài sản thế chấp cho các kháchhàng khi vay vốn tại ngân hàng bằng cách là ngân hàng hợp tác với các công

ty chuyên kinh doanh bất động sản đồng thời giảm số lần mà người vay phảiđến giao dịch với một chi nhánh ngân hàng từ 20 lần xuống còn 3 lần Có thểnói đây là một điểm rất mới trong hoạt động cho vay tiêu dùng mà ngân hàngphát triển Thượng Hải – Phú Đông thực hiện tại thời điểm đó Từ tháng8/1999 ngân hàng phát triển Thượng Hải – Phú Đông đã phối hợp với cáccông ty du lịch lữ hành để đưa ra các khoản cho vay du lịch, kể từ đó đã có rấtnhiều những cặp vợ chồng trẻ mới cưới có cơ hội được tận hưởng tuần trăngmật thông qua những chuyến du lịch bằng các khoản vay ngân hàng Ngoài rangân hàng này còn kéo dài các khoản vay dành cho đào tạo Đại học từ 2 nămlên 4 năm và thành lập một quỹ đặc biệt dành cho các bậc cha mẹ vay vốn domuốn gửi con cái vào các trường học tư nhân đắt tiền Ngân hàng Thượng Hải

- Phú Đông đã cố gắng đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vay tiêu dùng củanhiều đối tượng dân cư nhằm tăng thêm uy tín của ngân hàng và cạnh tranhvới các ngân hàng khác Để thực hiện được kế hoạch này ngân hàng phát triểnThượng Hải – Phú Đông đã tăng gấp đôi số nhân viên Marketing cho lĩnh vựctín dụng tiêu dùng và chiếm khoảng 22% tổng quỹ lương Cho vay tiêu dùng

đã mang lại sức sống mới cho các NHTM tại Trung Quốc, tuy nhiên cáckhoản cho vay tiêu dùng vẫn còn khá mới mẻ với không chỉ người tiêu dùng

mà còn mới mẻ với các Tổ chức tín dụng tại Trung Quốc do vậy những rủi rotrong lĩnh vực này gặp phải vẫn chưa bộc lộ rõ nét và đầy đủ Khả năng trả nợcủa các khoản vay tiêu dùng phụ thuộc phần nhiều vào tình trạng của ngườivay như tình trạng sức khoẻ và công việc vì vậy những rủi ro mà các ngânhàng gặp phải là không thể lường trước nên vẫn xẩy ra một số trường hợp cáckhoản vay đến hạn trả mà người vay không có khả năng trả nợ Mặt khác kể

từ năm 2003 cùng với sự phát triển của hoạt động cho vay của khu vực ngân

Trang 26

hàng thì lạm phát cũng gia tăng và nạn đầu tư qúa mức trong tất cả các khuvực khác nhau đã trở thành mối lo ngại hàng đầu của Chính phủ giữa lúc baotrùm tâm lý lo ngại nền kinh tế phát triển nhanh kiểu bong bóng Do vậyNgân hàng Trung ương Trung Quốc vừa tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc vừa kiểmsoát các ngân hàng và hoạt động cho vay quá mức đối với khu vực bất độngsản theo quy định của uỷ ban Giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC) yêucầu tất cả các ngân hàng thương mại nước này đều phải đáp ứng tỷ lệ an toànvốn tối thiểu là 8% kể từ ngày 1/1/2007, trong đó khoản tiền cho khu vực bấtđộng sản vay chưa trả sẽ không được phép chiếm hơn 30% tổng dư nợ vaychưa trả của một ngân hàng Thách thức lớn nhất hiện nay đối với các NHTMTrung Quốc là khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trên lĩnhvực cho vay tiêu dùng: HSBC, Citibank, Standard Chartered… đang nổi lên lànhững đối thủ cạnh tranh rất mạnh, các NHTM trong nước của Trung Quốcnếu không củng cố ngay lập tức lĩnh vực cho vay tiêu dùng thì rất có thể lĩnhvực cho vay tiêu dùng sẽ rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh vốn đã rất mạnh

về TDTD

Trong những năm qua nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh từ đókích thích nhu cầu vay tiêu dùng nhưng các dịch vụ liên quan khác của ngânhàng trong nước lại không được trú trọng Các dich vụ cho vay tiêu dùng vẫncòn sơ khai ít đa rạng và không có những thay đổi kịp thời với sự biến độngkhông ngừng của môi trường xung quanh, do vậy có thể dễ hiểu tại sao cácNHTM Trung Quốc lại không thể cạnh tranh nổi với các ngân hàng nướcngoài Trái ngược hoàn toàn với các NHTM Trung Quốc các ngân hàng nướcngoài vừa có kinh nghiệm vừa hiện đại và năng lực tài chính hơn hẳn, chẳnghạn như Citibank đã phát hành trên 100 triệu thể tín dụng trên toàn thế giới và

có những hệ thống đánh giá độ tín nhiệm của khách hàng đã đựơc kiểmnghiệm Với kinh nghiệm dày dạn và hệ thống giao dịch hiện đại các ngân

Trang 27

hàng nước ngoài có ưu thế vượt trội so với các đối tác Trung Quổc trong lĩnhvực kinh doanh thể tín dụng mặc dù số lượng chi nhánh của họ tại TrungQuốc là không nhiều Các loại thẻ của các ngân hàng này chủ yêú nhằm vàođối tượng khách hàng là những người giàu có bên cạnh đó các hạn mức tíndụng cho sinh viên cũng được nâng cao vì thế các ngân hàng nước ngoài vượt

xa các ngân hàng Trung Quốc về dư nợ tín dụng Không chỉ mạnh về thẻ tíndụng các ngân hàng nước ngoài còn triển khai các khoản cho vay mua nhà trảchậm, rõ ràng đây là một dịch vụ có rất nhiều triển vọng do dấn số TrungQuốc khá đông nhu cầu về vay mua nhà là rất lớn Theo đánh giá của các nhàphân tích các ngân hàng lớn của nước ngoài sẽ không mở chi nhanh trên toànquốc và cũng không nhằm vào thị trường cho vay mua nhà trả chậm đối vớicác khách hàng trung lưu, mà chủ yếu các ngân hàng nước ngoài sẽ lôi kéocác khách hàng giàu có với các dịch vụ có mức chi phí cao nhưng lại hoàntoàn làm hài lòng những khách hàng khó tính nhất do mức độ đáp ứng nhucầu của khách hàng luôn ở mức cao Theo các chuyên gia tư vấn cách tốt nhất

để cho vay tiêu dùng phát triển và phát triển phổ biến là chúng cần phải đượctách riêng thánh bộ phận có thể tự kinh doanh hạch toán lỗ lãi hoàn toàn độclập với các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng

1.4.2.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM Châu Âu

Ở Châu Âu so với các loại tín dụng khác thì TDTD ra đời muộn hơnnhưng nó lại đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân tại các nước pháttriển Đến nay tín dụng tiêu dùng đã trở thánh qúa phổ biến tại Châu Âu.Cùng với các loại tín dụng khác tín dụng tiêu dùng làm hoàn thiện phong phúmôi trường tín dụng hướng tới bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

- Đối tượng, hình thức, giá trị và thời hạn của khoản vay tiêu dùng

Nghị định 87/102CEF ra đời ngay 22/11/1986 của Cộng đồng chungChâu Âu khởi thảo bước đầu tiên có tính thống nhất về các điều khoản luật,

Trang 28

các quy tắc và quản lý hành chính tín dụng tiêu dùng trong phạm vi toàn cộngđồng Nghị định này đã liên tục được sửa đổi trong các giai đoạn tiếp theo:NĐ90/08/CEE ngày 22 tháng 2 năm 1990, NĐ98/7/CEE ngày 16 tháng 2 năm1998.

Nghị định 87/102/CEF quy định: tất cả các cá nhân có đủ năng lựchành vi đều có khả năng được cấp TDTD với điều kiện: khoản tín dụng đókhông sử dụng để phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, nó chỉ mang tính chất

thuần tuý là tiêu dùng cho cá nhân Tuy vậy để phòng ngừa rủi ro các NHTM

vẫn có những giới hạn về đối tượng nhận tín dụng ví dụ như giới hạn về độtuổi

Trên cơ sở Nghị định chung các nước cũng có đề ra những luật, quy tắccủa riêng mình tạo ra sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia về phạm vi, đốitượng, giá trị của khoản vay về thời hạn vay và lãi suất

Ví dụ: Ỏ nước Bỉ thông thường các khoản tín dụng tiêu dùng thường

được cấp cho những người có nhu cầu vay với khoản tín dụng tối thiểu là1.250 EUR và tối đa là 20.000 EUR thời hạn tối thiểu là 3 tháng Thực tế cácNHTM Bỉ cũng áp dụng quy định này một cách linh hoạt Ví dụ tại ngân hàngAGF:

- Đối với cho vay mua Ôtô AGF áp dụng mức tín dụng từ 1.500 EURđến 100% giá trị tài sản mua trong khoảng thời gian từ 12 – 60 tháng, với lãisuất 0,805%/tháng

- Với việc sửa chữa bếp, nhà tắm, bể bơi, trang trí nhà cửa cho vay từ2.250 EUR đến 45.000 EUR thời hạn từ 12 – 120 tháng với mức lãi suất0,814%/tháng

- Các thông tin trong cho vay tiêu dùng

Khi đề nghị cấp một khoản tín dụng cho vay tiêu dùng người vay phải

có trách nhiệm khai báo chính xác và đầy đủ cho ngân hàng những thông tin

Trang 29

mà ngân hàng thấy cần thiết nhằm mục đích thẩm định khách hàng trước khicấp tín dụng Ngược lại ngân hàng cần cung cấp chính xác và đầy đủ chokhách hàng những thông tin cần thiết về lãi suất, thời hạn vay, phương thứctrả nợ cũng như tư vấn cho khách hàng loại hình và số lượng tín dụng phùhợp nhất căn cứ vào thẩm định của các cán bộ tín dụng Khi người vay có thểchứng minh được mình đáp ứng được các điều kiện mà ngân hàng đặt ra làphù hợp với quy định và năng lực chi trả của mình thì hợp đông tín dụng sẽđược ký kết.

- Ký hợp đồng tín dụng

Trước khi ký hợp đồng ngân hàng gửi cho khách hàng bản hợp đồngmẫu trong đó nêu rõ các điều khoản cần thiết về số tiền vay, thời hạn vay, lãisuất, lãi suất qúa hạn cũng như các phương thức trả nợ… mà 2 bên có thểthoả thuận Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày khách hàng nhận được bảnhợp đồng ngân hàng có trách niệm chờ thông tin phản hồi từ người tiêu dùng.Trong thời gian đó khách hàng vẫn có quyền từ chối ký hợp đồng và trongvòng 7 ngày kể từ ngày hợp đồng được ký khách hàng vẫn có quyền huỷ bỏ

- Thanh toán lãi và gốc

Số tiền người vay phải trả hàng tháng (A) là:

n

n i M M

Trong đó: - i là lãi suất tháng

- M là giá trị khoản vay

- n là thời gian vay

Lãi suất tối đa cho các khoản vay tín dụng được điều chỉnh định kỳ Lãisuất các khoản vay tiêu dùng thường được xác định dựa trên giá trị và thờihạn vay của khoản tín dụng

Trong thực tế có một số tình huống phát sinh như sau:

Trang 30

_ Thanh toán trước: vào bất kỳ thời điểm nào người vay đều có quyền

thanh toán trước hợp đồng với điều kiện họ phải thông báo trước cho ngânhàng một khoảng thời gian nhất định (ở Bỉ là 1 tháng )

_ Thanh toán chậm: trong trường hợp này người vay phải chịu mức lãi

suất phạt tối đa là mức lãi suất đang áp dụng + 10%

_ Khi không còn khả năng thanh toán: người tiêu dùng có thể yêu cầu

Thẩm phán Toà án kinh tế xem xét cho họ được hưởng sự “đơn giản hơntrong thanh toán” khi tình trạng tài chính của người tiêu dùng trở nên trầmtrọng, Thẩm phán Toà án kinh tế có quyền xác định số tiền còn lại mà người

đi vay tiếp tục phải chịu

_ Rủi ro và bảo đảm tín dụng: TDTD được đánh giá là mang nhiều rủi

ro vì vậy để đảm bảo cho khoản tín dụng, ngân hàng đòi hỏi khách hàng một

số yêu cầu sau:

Ký kết một hợp đồng bảo hiểm trọn đời liên quan trực tiếp đến khoảnvay cá nhân này nhằm bảo đảm được sự chi trả khi khách hàng qua đời trongthời hạn hợp đồng còn giá trị Với hợp đồng này công ty bảo hiểm đảm nhậntrách nhiệm hoàn trả cả vốn và lãi còn phải trả của người đi vay cho ngânhàng

Ký kết một hợp đồng chuyển nhượng lương, hợp đồng này là một giấy

uỷ quyền của khách hàng, bảo đảm chuyển toàn bộ thu nhập của người vayvào hợp đồng bảo hiểm suốt đời Khi hợp đồng tín dụng tiêu dùng hết hạn nếukhách còn nợ ngân hàng khoản bảo hiểm được chuyển lại cho khách hàng

_ Quản lý hành chính: Mỗi quốc gia có một hệ thống quản lý hành

chính công tác cho vay tiêu dùng tại Bỉ là một hội đồng kiểm soát bao gồm 5thành viên một chủ tịch, 2 chuyên gia luật về tín dụng tiêu dùng và 2 chuyêngia về thông tin hoạt động theo nhiệm kỳ 6 năm Hội đồng liên kết với các cơquan liên quan tiến hành giám sát, hướng dẫn:

Trang 31

+ Sự tuân thủ các điều khoản trong luật

+ Soạn thảo các tài liệu, giấy tờ cần thiết cho việc áp dụng luật

+ Giúp đỡ giải quyết tranh chấp có liên quan

+ Làm báo cáo hàng năm vào đầu kỳ để gửi tới phòng làm luật

Các ngành, cơ quan khác có liên quan như NHTW Bỉ, các TCTD các

cơ quan quản lý hành chính khác đều có trách nhiệm gửi các thông tin cầnthiết cho hội đồng và các thành viên của hội đồng khi có yếu cầu

1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với các NHTM Việt nam

Theo xu hướng phát triển tất yếu các ngân hàng ngày càng phát triểnmạnh loại hình cho vay tiêu dùng trong hoạt động tín dụng chung của họ.Hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ dần chiểm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ chovay và phát triển phổ biến ở tất cả các nước trên Thế giới Theo con số thống

kê kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tài nhiều nước cho thấy cho vay tiêudùng không rủi ro cao như người ta lo ngại nhưng nó đêm lại thu nhập đáng

kể cho ngân hàng, nhất là tại các nước có nền kinh tế phát triển Việc pháttriển hoạt động tín dụng phải đi đôi với các quy định, quy trình giám sát vàquản lý rủi ro tín dụng trước, trong và sau khi cấp tín dụng một cách nghiêmngặt, hệ thống thông tin đánh giá khách hàng phải đầy đủ và luôn cập nhật kịpthời do hình thức này chủ yếu là các món vay nhỏ và không có tài sản đảmbảo Để đảm bảo sự an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng, giữa các TCTD vớinhau và với NHTW luôn có sự thống nhất cao TDTD tại Việt nam và một sốnước trong khu vực đang gặp phải một số khó khăn như: thu nhập của ngườilao động không ổn định, hệ thống thông tin tín dụng cá nhân chưa phát triển,

hành lang pháp lý chưa hoàn thiện Đặc biệt các NHTM của Việt Nam vấp

phải sự cạnh tranh cực kỳ gay gắt của các ngân hàng nước ngoài khi mà theocam kết của tiến trình hội nhập từ 1/4/2008 các ngân hàng 100% nước ngoàiđược phép thành lập và hoạt động tại Việt nam, đây là các ngân hàng vốn rất

Trang 32

mạnh trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng Vì vậy để tránh được những khó khăntrong thời gian tới các NHTM Việt nam phải không ngừng cải tiến công nghệ,đào tạo cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn giỏi nâng cao năng lực tàichính… để có thể cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài có mặt tạiViệt nam

Sáu nguyên nhân khiến cho vay tiêu dùng tại việt nam chưa phát triển đúng với tiềm năng:

Một số ngân hàng ngại cho vay tiêu dùng vì các món vay nhỏ nhưng chi phí quản lý lớn và nhiều rủi ro: Đúng vậy cho vay tiêu dùng nhằm vào

nhóm đối tượng khách hàng chủ yếu là cá nhân và giá trị khoản vay được tínhdựa trên thu nhập của người lao động Chúng ta làm một phép tính đơn giảncác ngân hàng cho vay tiêu dùng với những người có thu nhập tối thiểu 3triệu/tháng và giá trị khoản vay sẽ là 25 tháng lương như vậy giá trị khoảnvay sẽ vào khoảng 70 -80 triệu Đối với ngân hàng cho vay 80 triệu là mộtkhoản vay nhỏ tuy nhiên lại có rất nhiều người vay do vậy quá trình thẩmđịnh và quản lý mất nhiều thời gian và chi phí, bên cạnh đó còn ẩn chứa rấtnhiều rủi ro do thu nhập của người vay có thể thay đổi bất kỳ lúc nào do họmất việc làm hoặc ốm đau… Ngoài hình thức trên các ngân hàng cũng chovay tiêu dùng theo hình thức cầm cố giấy tờ có giá như sổ tiết kiệm, kỳ phiếu,trái phiếu nhưng nhìn chung đây vẫn là những món vay nhỏ nên các ngânhàng không mặn mà cho vay lắm Tất cả những phân tích trên là lý do khiếncho vay tiêu dùng còn chưa phát triển mạnh tại thị trường Việt nam

Thiếu thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng liên quan đến khách hàng

cá nhân:

Nếu như các khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp thì việc thu thậpthông tin về khách hàng đó sẽ không gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên kháchhàng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng chủ yếu là cá nhân mà các ngân hàng

Trang 33

không có cơ sở dữ liệu về thông tin để tra cứu đảm bảo cấp tín dụng trongthời gian ngắn nhất Hiện nay hệ thống tra cứu thông tin duy nhất là Trungtâm thông tin tín dụng của NHNN ( CIC ) nhưng do một số ngân hàng khôngcập nhập đầy đủ nên vẫn xẩy ra trường hợp khách hàng có dư nợ tại ngânhàng khác nhưng CIC vẫn không hề có thông tin Các cơ quan cung cấp thôngtin cá nhân như phòng địa chính, chính quyến địa phương xã ( phường ) nơingười vay cư trú hay công an thì lại chưa sẵn sàng cung cấp những thông tinliên quan Bên cạnh đó nhiều khách hàng vì muốn vay được tiền nên đã chedấu thông tin hoặc khai báo thông tin không đúng sự thật do đó làm ngânhàng đưa ra những đánh giá không chính xác về khách hàng đó dẫn tới rủi rocho ngân hàng Vì vậy ngân hàng cần có những biện pháp để khách hàng hợptác trung thực trong việc cung cấp thông tin để tạo lòng tin đồng thời tìmkiếm các nguồn bảo lãnh để củng cố quan hệ với ngân hàng.

Văn bản pháp luật liên quan chưa đồng bộ và phù hợp với thực tế:

Việt nam là một nước có hệ thống pháp luật nói chung và các văn bảnpháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng nói riêng là không được hoànchỉnh, vẫn còn tồn tại nhiều văn bản pháp luật chồng chéo lên nhau, văn bảnnày phản bác lại văn bản kia, nhiều văn bản chỉ mới có hiệu lực được mộtthời gian ngay lập tức đã bộc lộ ra những vấn đề trái với thực tế và lập tức bị

vô hiệu Đặc biệt là các văn bản liên quan đến bất động sản, đăng ký giao dichbảo đảm… Điều 13 luật đất đai năm 2003 quy định hộ gia đình, cá nhân sửdụng đất không phải là đất thuê chỉ được thế chấp bảo lãnh quyền sử dụng đấttại các TCTD để sản xuất kinh doanh không phải để tiêu dùng nên ngân hàngkhông được nhận quyền sử dụng đất làm tài sản đảm bảo cho các khoản vaytiêu dùng Trong một vài năm trở lại đây tại Hà nội tình hình phát triển nhà ởtheo quy hoạch phát triển nhất là nhà trung cư, nhà vườn và biệt thự trong cáckhu đô thị tăng nhanh về cả số lượng xây dựng cũng như nhu cầu mua của

Trang 34

người sử dụng nhưng việc cho vay để mua những ngôi nhà này cũng còn gặpnhiều khó khăn Khách hàng muốn vay vốn mua nhà và thế chấp chính ngôinhà hình thành từ vốn vay tương đối nhiều nhưng các phòng Công chứng Nhànước không chấp nhận ký kết hợp đồng công chứng tài sản hình thành từ vốnvay, do đó không đảm bảo tính pháp lý về tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Thủ tục hành chính còn phức tạp đối với cả người cho vay và người đi vay:

Qúa trình hoàn thành các thủ tục để các ngân hàng có thể cho vay cònchưa đồng bộ, đặc biệt là những giao dich cần có tài sản đảm bảo Việc cấpgiấy chứng nhận quyến sử dụng đất và sở hữu nhà còn chậm khiến kháchhàng gặp khó khăn trong việc sử dụng tài sản là nhà và đất làm tài sản bảođảm trong quan hệ tín dụng Thời gian đăng ký giao dịch bảo đảm, thủ tục xácnhận tại một số cơ quan chính quyền Phường, Xã gặp nhiều vướng mắc mấtnhiều thời gian, mạng lưới đăng ký giao dịch bảo đảm còn mỏng, phân bốchưa hợp lý Đối với cho vay có tài sản bảo đảm trong giấy đề nghị vay vốn

có mục yếu cầu xác nhận của chính quyền địa phương nơi mình cư trú, tuynhiên một số hộ gia đình có hộ khẩu và tài sản thế chấp ở 2 điạ chỉ khác nhau.Hoặc khi khách hàng có nhu cầu vay sửa nhà phải có giấy phép sửa chữa nhàcủa Phường, Quận hay sở xây dựng nhưng đối với các trường hợp sửa chữanhỏ khách hàng thường ngại xin giấy phép vì thủ tục rườm rà Một khó khănnữa là các ngân hàng rất khó có được xác nhận của chủ đầu tư dự án về việcgiao bản gốc chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyến sởhữu đối với tài sản đang thế chấp tại ngân hàng trong trường hợp khách hàngthế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lại

Vướng mắc trong xử lý tài sản đảm bảo tiền vay khi khách hàng không trả được nợ:

Trang 35

Đối với các khoản vay tiêu dùng có tài sản thế chấp khi đến hạn thanhtoán khách hàng không có khả năng trả nợ thì về nguyên tắc ngân hàng sẽthanh lý tài sản đảm bảo để thu nợ nhưng trên thực tế các ngân hàng chưa thểchủ động xử lý tài sản đặc biệt là bất động sản nếu không có ý kiến chấpthuận của chủ tài sản và các cơ quan chức năng có liên quan mặc dù trong

hợp đồng thế chấp cầm cố qua công chứng có xác nhận rõ: “trường hợp

người vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng ngân hàng được xỷ lý tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ gốc lãi và các chi phí có liên quan” Ở các

nước phát triển cho vay tiêu dùng chỉ chiếm từ 35-40% tổng dư nợ cho vaynhưng lợi nhuận lại chiếm khoảng 60-65% tổng lợi nhuận của các ngân hàng.Một trong những lý do của việc các ngân hàng rất yên tâm triển khai rộng rãicho vay tiêu dùng là vì pháp luật ở các nước này rất nghiêm khắc trừng trịnhững khách hàng đi vay không trả nợ Nếu có nợ qúa hạn ngân hàng sẽ gửigiấy báo nợ đến khách hàng 3 lần sau lần thứ 3 trát gọi của Toà, trước hết Toà

án gọi 2 bên đến điều trần, nếu người vay cam kết và trả nợ thì thôi nếu không

sẽ có những phán quyết cưỡng chế Đây cũng là một trong những điểm màcác cơ quan quản lý Nhà nước Việt nam cần lưu tâm, tham khảo khi đưa racác văn bản luật điều chỉnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt nam

Quy chế chính sách của NHNN và các NHTM về cho vay tiêu dùng còn thiếu:

Cho vay tiêu dùng nó mang những đặc thù riêng nhưng hiện NHTMvẫn thực hiện theo Quy chế cho vay chung của TCTD đối với khách hàng banhành kèm theo QĐ1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/13/2001 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước Về phía các ngân hàng thương mại cũng chưa có cácvăn bản quy định cụ thể về điều kiện cho vay, quy trình thực hiện thủ tục giấy

tờ phù hợp với từng loại sản phẩm đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đìnhvay tiêu dùng để giảm bớt những thủ tục không cần thiết

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG

CHƯƠNG DƯƠNG2.1 Tổng quan về Chi nhánh NHNT Chương Dương

2.1.1 Lich sử hình thành và phát triển Chi nhánh NHNT Chương Dương

Chi nhánh NHNT Chương Dương trụ sở chính số 564 Nguyễn Văn Cừ

- Long Biên - Hà nội chính thức đi vào hoạt động từ ngày 06/01/2003 với têngọi ban đầu là Chi nhánh cấp 2 Chương Dương thuộc Chi nhánh NHNT HàNội Tổng số cán bộ lúc thành lập là 20 người ban Giám đốc 2 người với 3phòng nghiệp vụ là: phòng Tín dụng và Thanh toán quốc tế (7 người ), phòng

Kế toán và dịch vụ ngân hàng ( 6 người ), phòng Hành chính ngân quỹ ( 5

người ) Thực hiện theo Quyết định 888/2005/QĐ – NHNN ngày 16/06 năm

2005 của NHNN ban hành quy định về việc mở, thành lập và chấm dứt hoạt động sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp của ngân hàng thương mại và cũng để đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển hệ thống

Chi nhánh của NHNT Việt Nam, Quyết định số 811/QĐ.NHNT.TCCB.ĐTngày 01/01/2007 của NHNT Việt nam chính thức câu nhận Chi nhánh NHNTChương Dương từ chi nhánh cấp 2 thuộc Chi nhánh NHNT Hà nội thành chinhánh cấp 1 với chức năng và nhiện vụ được ban hành kèm theo quyết địnhtrên Độ tuổi trung bình của cán bộ nhân viên tại chi nhánh là 29 Với việc trẻhoá đội ngũ lao động đã tạo điều kiện cho chi nhánh bổ xung nguồn nhân lựcmới tăng khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ thông tin mới trên cơ sở đótạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, mở rộng quy mô kinhdoanh của chi nhánh góp phần thúc đẩy kinh tế địa bàn Quận Long Biên vàcác vùng lân cận phát triển

Trang 37

Với phương châm luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt, mục

tiêu của Chi nhánh NHNT Chương Dương là duy trì vai trò NHTM hàng đầu

ở Việt nam Chi nhánh NHNT Chương Dương cam kết xây dựng mô hình tổchức tiên tiến theo chuẩn mực quốc tế, đa dạng hoá hoạt động, đi đầu về ứngdụng công nghệ ngân hàng hiện đại nhằm cung ứng các dịch vụ tài chínhngân hàng chất lượng cao cho mọi thành phần kinh tế Chi nhánh NHNTChương Dương sẽ giữ vững niềm tin của đông đảo bạn hàng trong và ngoàinước

* Chức năng của Chi nhánh NHNT Chương Dương:

- Sử dụng có hiệu quả, an toàn, phát triển vốn và các nguồn lực của Chinhánh NHNT Chương Dương

- Tổ chức hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn, lành mạnh góp phầnphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ về tài chính cũng như các nghĩa vụkhác theo quy định của pháp luật và của NHNT Việt nam

* Nhiệm vụ của Chi nhánh NHNT Chương Dương:

- Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế,dân cư trong nước và nước ngoài bằng VNĐ và ngoại tệ

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đốivới các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu về vốn

- Tổ chức chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ cógiá theo quy định của NHNN và NHNT Việt nam

- Thực hiện các nghĩa vụ thanh toán

- Bảo đảm an toàn kho quỹ, bảo quản tiền mặt và các ấn chỉ quan trọng,bảp quản chi trả tiền mặt chính xác, kịp thời

- Tiến hành thực hiện các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, quản lý tiền vốn,các dự án đầu tư phát triển theo yêu cầu của khách hàng

Trang 38

- Thực hiện tốt tất cả các nhiệm vụ mà NHNT Việt nam giao phó.

* Bộ máy tổ chức

Theo quyết định 936/QĐ.NHNT.TCCB.ĐT ngày 13/12/2006 của Hộiđồng quản trị NHNT Việt nam về việc thành lập Chi nhánh NHNT ChươngDương bộ máy tổ chức của Chi nhánh gồm có các phòng, tổ sau:

1 Phòng kế toán – thanh toán và Dich vụ Ngân hàng

2 Phòng quan hệ khách hàng

3 Phòng hành chính nhân sự

4 Phòng ngân quỹ

5 Tổ kiểm tra nội bộ

Mỗi phòng do trưởng/phó phụ trách phòng điều hành và một số phótrưởng phòng giúp việc

Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban:

* Nghiệp vụ kế toán tổng hợp:

Chức năng: Tổ chức công tác hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tếphát sinh tại Chi nhánh theo luật kế toán, các văn bản hướng dẫn của Bộ tàichính NHNN và NHNT Việt nam

Nhiệm vụ:

- Theo dõi, quản lý và hạch toán các khoản chi tiêu nội bộ, thuế, tài sản

cố định và công cụ lao động theo quy chế tài chính của NHNT Việt nam

- Thành viên bản quản lý kho quỹ và thực hiện kiểm quỹ theo quy định

- Phối hợp với các phòng nghiệp vụ thực hiện tiếp quỹ, hoàn quỹ vàquản lý quỹ tiền mặt

- Chấm đối chiếu, quản lý các sổ phụ nội, ngoại bảng liên quan đến tiềngửi tiền vay của doanh nghiệp và cá nhân, các tài khoản tiền gửi của chinhánh tại Hội sở chính VCB, các tài khoản thu nhập và chi phí của chi nhánh

Trang 39

- Tập hợp, chấm đối chiếu và hạch toán chứng từ thanh toán bù trừ,chuyển tiền điện tử thanh toán điện tử liên ngân hàng, IBT online

- Tập hợp đánh số đóng và gửi lưu trữ chứng từ kế toán theo chế độquy định

- Thực hiện công tác báo cáo, thống kê định kỳ của NHNN, NHNT vàcác báo đột xuất theo yêu cầu của Ban Giám đốc

- Tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc xử lý các nghiệp vụ liênquan đến công tác hạch toán - kế toán

* Nghiệp vụ thanh toán Xuất nhập khẩu và bảo lãnh:

Chức năng: Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán Xuấtnhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và bảo lãnh của khách hàng

- Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền đi nước ngoài của khách hàng là tổchức và cá nhân

- Trực tiếp nhận hồ sơ và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh trong nước vàngoài nước, L/C At sight, L/C trả chậm… đối với trường hợp ký quỹ 100%.Phát hành thư bảo lãnh đối với các hồ sơ bảo lãnh có mức ký quỹ dưới 100%

đã được duyệt do bộ phận quan hệ khách hàng chuyển đến

Trang 40

- Nhận điện từ trung tâm thanh toán NHNT TW, chuyển điện cho cácphong ban liên quan In bảng kê điện đã nhận

- Quản lý và kiểm tra mẫu dấu chữ ký của các ngân hàng nước ngoài

- Thực hiện công tác báo cáo, thống kê định kỳ theo quy định củaNHNT, NHNN và các báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Ban Giám đốc.Cung cấp các thông tin theo yêu cầu của phòng quan hệ khách hàng và BanGiám đốc

* Phòng Quan hệ khách hàng(QHKH):

Chức năng: Phòng QHKH có chức năng là đầu mối thiết lập QHKH,duy trì và không ngừng mở rộng mối quan hệ đối với khách hàng trên tất cảcác mặt hoạt động, tất cả các sản phẩm ngân hàng nhằm đạt được mục tiêuphát triển kinh doanh một cách an toàn, hiệu qủa và tăng thị phần của NHNT

- Trực tiếp khởi tạo và quản lý mối quan hệ tín dụng với khách hàng là

tổ chức

- Tuỳ theo đặc điểm riêng đối với từng khách hàng, phối hợp cùng cácphòng ban khác thiết kế các loại sản phẩm “ trọn gói” phù hợp và có tính hấpdẫn đối với khách hàng

Ngày đăng: 24/05/2014, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình NHTƯ - nhà xuất bản Thốngkê năm 2005 2. Giáo trình NHTM – nhà xuất bản Thống kê năm 2005 Khác
5. Quản trị NHTM – nhà xuất bản tài chính năm 2004- Ttác giả Peter Rose Khác
6. Báo cáo kết quả kinh doanh Chi nhánh NHNT Chương Dương năm 2004 -2007 Khác
7. Văn bản pháp luật về tín dụng ngân hàng và các văn bản liên quan 8. Tạp trí ngân hàng, thời báo ngân hàng do NHNN phát hành Khác
9. Thông tin ngân hàng ngoại thương - chịu trách nhiệm xuất bản Thạc sỹ Nguyễn Thu Hà – Phó TGĐ NHNT VN Khác
10. Các trang Web: WWW.vietcombank.com.vn,WWW.Thoibaokinhtesaigon.com.vn Danh mục các chữ viết tắt CN: Chi nhánh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Cơ cấu huy động vốn của Chi nhánh NHNT Chương Dương - giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương
Bảng 2.1 Cơ cấu huy động vốn của Chi nhánh NHNT Chương Dương (Trang 44)
Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ của Chi nhánh năm 2005 - 2007 - giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương
Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ của Chi nhánh năm 2005 - 2007 (Trang 46)
Bảng 2.5 Kết quả TDTD của Chi nhánh NHNT Chương Dương 05 - 07 - giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương
Bảng 2.5 Kết quả TDTD của Chi nhánh NHNT Chương Dương 05 - 07 (Trang 59)
Bảng 2.6 Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ của Chi nhánh - giải pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương chương dương
Bảng 2.6 Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ của Chi nhánh (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w