1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam

136 958 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm tờn dụng xuất khẩu: kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Tác giả Ngụ Minh Phương
Người hướng dẫn ThS. Kim Hương Trang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, hình thức bảo hiểm này tuy còn khá mới mẻ nhưng khi mà hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng phát triển thì bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ trở thành một

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn : ThS Kim Hương Trang

Sinh viên thực hiện : Ngô Minh Phương

Lớp : Anh 4 Khóa : K45

Hà Nội - 05/2010

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo nguồn ngoại tệ lớn đáp ứng nhu cầu nhập khẩu Ngày nay, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các quốc gia muốn phát triển nhất thiết phải quan tâm tới vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ Để hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu, các nước đều xây dựng cho mình những chính sách hỗ trợ xuất khẩu

Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Các chính sách trợ cấp xuất khẩu như thưởng thành tích xuất khẩu, thưởng vượt kim ngạch xuất khẩu hay trợ cấp thay thế nhập khẩu trước đây đã được thay thế bằng các cơ chế và chính sách hỗ trợ xuất khẩu, trong đó chính sách tín dụng xuất khẩu được coi là một công cụ vô cùng hữu hiệu

Tuy nhiên, hoạt động tín dụng xuất khẩu lại hàm chứa trong nó rất nhiều rủi ro mà điển hình là rủi ro người xuất khẩu không được thanh toán Đồng thời, nó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp trong việc phát triển mặt hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu Để tiếp tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, giải pháp mà nhiều nước trên thế giới đưa ra là hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Thực tế cho thấy, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, hình thức bảo hiểm này tuy còn khá mới mẻ nhưng khi mà hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng phát triển thì bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ trở thành một yêu cầu và đòi hỏi tất yếu của các tổ chức tín dụng, ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã quyết định nghiên cứu đề tài: Bảo

Trang 3

hiểm tín dụng xuất khẩu: kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Một là, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

và vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Hai là, nghiên cứu tình hình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của một số nước trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động này cho Việt Nam

Ba là, trên cơ sở nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, đưa ra những giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam

* Đối tượng nghiên cứu

Lý luận về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Kinh nghiệm của một số nước áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thực trạng và tầm quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, giải pháp cho việc phát triển bảo hiểm tín dụng tại Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Chọn 3 tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nổi tiếng trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm thực tế cho Việt Nam

Phương pháp phân tích tổng hợp, thu thập và đánh giá trên cơ sở phân tích các thông tin tài liệu về hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Việt Nam và thế giới

Trang 4

5 KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Chương 2: Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong lĩnh vực bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Chương 3: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam và ý nghĩa thực tiễn của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn ThS Kim Hương Trang đã giúp em hoàn thành khoá luận này!

Trang 5

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM

- Xét trên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, tín dụng được coi là phương pháp dịch chuyển quỹ

từ người cho vay sang người đi vay

- Xét trên góc độ hoạt động ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp…), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng, trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên

đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

- Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Ví dụ như hình thức bán hàng trả chậm, bên bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán

1

PGS.TS Lª V¨n TÒ (chñ biªn), 2007, NghiÖp vô Ng©n hµng th-¬ng m¹i, NXB Thèng Kª

Trang 6

Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, tín dụng thể hiện

các nội dung cơ bản sau: Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng, và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn Khoản lợi tức dôi ra này gọi là lợi tức tín dụng

* Tín dụng xuất khẩu:

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa, thương mại thế giới không ngừng được mở rộng thì nhu cầu về thị trường tiêu thụ ngày càng trở nên cấp bách hơn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Do khả năng về tài chính

có hạn mà các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đủ vốn để thu mua, chế biến hàng xuất khẩu, và từ đó nảy sinh quan hệ tín dụng xuất khẩu Có thể nói, sự ra đời của tín dụng xuất khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế

Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Tín dụng xuất

khẩu là khoản tín dụng người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu (tín dụng thương mại) hoặc khoản cho vay trung và dài hạn, dùng để tài trợ các dự án cung cấp vốn cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá.”

Tín dụng xuất khẩu bao gồm hai hình thức:

Tín dụng cấp trước khi gửi hàng hoặc hoàn thành dự án: Đây là hình

thức cấp tín dụng trung hạn hoặc ngắn hạn (từ khi ký hợp đồng đến khi giao hàng), thường do doanh nghiệp nhập khẩu cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu Mục đích của TDXK trước khi giao hàng là nhằm cung ứng vốn để doanh nghiệp xuất khẩu mua nguyên vật liệu, chế biến, vận chuyển hàng hoá, bảo hiểm, thuế…; đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp xuất khẩu

Ngoài ra, Ngân hàng cũng có thể cấp tín dụng ứng trước cho doanh nghiệp xuất khẩu khi thanh toán bằng phương thức nhờ thu kèm chứng từ

Trang 7

hoặc tín dụng chứng từ Các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác rất cẩn thận khi xem xét hạn mức cho vay vì nhà xuất khẩu bao giờ cũng muốn tối đa hoá giá trị tín dụng trong khi đó hoạt động xuất khẩu có rất nhiều rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Tín dụng cấp sau khi giao hàng hoặc hoàn thành dự án: Đây là hình

thức cấp tín dụng trung và dài hạn, do Ngân hàng và các tổ chức tín dụng cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu Ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trên

cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá như hối phiếu và bộ chứng từ hàng hoá Việc ngân hàng và các tổ chức tín dụng có chiết khấu mua chứng từ thanh toán hay không phụ thuộc vào tính chất của bộ chứng từ, độ tín nhiệm của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu cũng như điều khoản thanh toán

Như vậy, TDXK có thể coi là sự cam kết hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu TDXK không những có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong nước mà còn là biện pháp hữu hiệu khuyến khích nhà nhập khẩu mua hàng Vòng quay vốn và khả năng tiêu thụ hàng hoá tăng lên khiến hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phát triển

1.2 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (Export Credit Insurance)

1.2.1 Khái niệm

Theo định nghĩa của Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB): “Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (BHTDXK) là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong các hợp đồng xuất khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở khi họ phải đối mặt với rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khả năng thanh toán, phá sản.”

Thực chất, BHTDXK là việc nhà xuất khẩu đóng tiền phí bảo hiểm cho công ty hay tổ chức bảo hiểm theo thoả thuận với một hay nhiều loại rủi ro nhất định Sau đó, nhà xuất khẩu sử dụng bảo hiểm này làm chứng từ thế chấp khi vay vốn tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng Bản chất của việc này là

Trang 8

nhà xuất khẩu mua bảo hiểm chuyển giao cho ngân hàng hay tổ chức tín dụng quyền đòi tiền nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà nhập khẩu không thể thanh toán tiền hàng

Trên thực tế, BHTDXK không chỉ áp dụng cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá thông thường mà còn bảo hiểm cho các nhà đầu tư trong nước khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hoặc bảo hiểm cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm thu hút vốn đầu tư vào trong nước

Như vậy, mục tiêu của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là:

 Bảo vệ nhà xuất khẩu trước những rủi ro người mua nước ngoài không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng vì các lý do thương mại, chính trị…

 Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ bằng những điều khoản mang tính cạnh tranh

 Hỗ trợ quá trình thâm nhập vào thị trường khu vực nước ngoài của các nhà xuất khẩu và đầu tư trong nước

 Giúp các nhà xuất khẩu, các tổ chức tín dụng tài trợ cho xuất khẩu có khả năng linh hoạt hơn về tài chính trong việc xử lý các khoản nợ từ nước ngoài

 Khuyến khích hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào trong nước

Cũng giống như các loại hình bảo hiểm khác, BHTDXK tuân thủ theo nguyên tắc “chỉ bảo hiểm cho một rủi ro mà không bảo đảm cho một sự chắc chắn” Tức là người xuất khẩu sẽ chỉ được bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu khi người nhập khẩu bị phá sản, không trả nợ được trong một thời gian dài Khoảng thời gian này được gọi là thời gian chờ đợi (waiting period) Thời gian chờ đợi dài hay ngắn tuỳ thuộc vào quy định của từng tổ chức bảo hiểm nhưng thông thường là 6 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

Trang 10

Hình 1: Thời gian chờ đợi

( Nguồn: Munich Re Group, “Export credit Insurance”, 2004, Munchener

Ruckversicherungs-Gesellschaft, Koniginstrasse 107)

1.2.2 Các loại rủi ro được bảo hiểm trong Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu2

Rủi ro thương mại: là những rủi ro liên quan đến người nhập khẩu hoặc

Ngân hàng thanh toán, bao gồm:

 Không có khả năng trả nợ do bị phá sản, thua lỗ kéo dài, tịch biên tài sản…

 Người nhập khẩu mất khả năng thanh toán vào cuối thời hạn tín dụng hoặc sau một thời hạn xác định khi thời hạn tín dụng đã thoả thuận chấm dứt

 Người nhập khẩu từ chối nhận hàng mặc dù hàng hoá được giao hoàn toàn phù hợp với các điều khoản của hợp đồng

 Người nhập khẩu từ chối thanh toán các điều khoản có liên quan đến hàng xuất khẩu như chi phí gom hàng, chi phí gia công…

Rủi ro chính trị: là những rủi ro do sự mất ổn định về kinh tế, chính trị,

xã hội của nước người mua ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, như:

 Huỷ hay không cấp mới giấy phép xuất khẩu

2Paul Delbridge FIA and Bryan Joseph FIA, 1992, “Export and Trade Credit Insurance”, The Staple Inn Actuarial Society,

Trang 11

 Chiến tranh, nổi loạn, đình công, đảo chính hoặc các biến động khác ở nước người nhập khẩu ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng

 Rủi ro trong việc chuyển tiền từ nước người nhập khẩu khi Chính phủ nước nhập khẩu đưa ra các biện pháp nhằm trì hoãn việc thanh toán nợ nước ngoài do việc thanh toán sẽ làm tăng những thiệt hại cho Chính phủ nước này

 Người xuất khẩu bị cấm vận trong thanh toán, tức là tài khoản tiền gửi ở nước ngoài của người xuất khẩu bị phong toả

 Hành động của Chính phủ nước ngoài, theo một cách nào đó đã cản trở việc thực hiện hợp đồng như: hạn chế xuất/nhập khẩu, tịch thu hoặc chiếm hữu hàng hoá, quốc hữu hoá…

 Giao dịch buôn bán giữa người xuất khẩu tư nhân và người nhập khẩu thuộc khu vực nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước không thực hiện nghĩa vụ cam kết trong thanh toán

Ngoài ra, cũng cần kể đến các loại rủi ro khác như: rủi ro tài chính, rủi

ro sản xuất và vận tải, rủi ro tỷ giá

2 Đặc điểm của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

2.1 Hình thức tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp

BHTDXK không những được biết đến như một loại hình bảo hiểm phi nhân thọ mà còn được xem là một công cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích

và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia

Nếu rủi ro xảy ra với doanh nghiệp xuất khẩu trong quá trình đi vay hay bán chịu, các cơ quan bảo hiểm sẽ đền bù theo mức phí bảo hiểm mà doanh nghiệp đã mua BHTDXK sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng, phát triển nhiều mặt hàng mới, thị trường mới, yên tâm khi thâm nhập vào các thị trường nhiều rủi ro Ban đầu, các tổ chức bảo hiểm này đều do Nhà nước bỏ vốn thành lập và hỗ trợ theo cơ chế

Trang 12

bù lỗ hoà vốn dài hạn Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động bảo hiểm phải đảm bảo “không mang tính ưu đãi/hỗ trợ phát triển”, phù hợp với nguyên tắc của WTO Từ đó, mô hình BHTDXK đã từng bước có sự tham gia của khu vực tư nhân.3

Để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia BHTDXK, Chính phủ các nước hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho các doanh nghiệp Mặt khác, để hỗ trợ cho các công ty bảo hiểm khi phải bồi hoàn cho những khiếu nại nợ lớn, Chính phủ còn thực hiện tái bảo hiểm đối với hoạt động BHTDXK của Công

ty bảo hiểm Do thực hiện nhiệm vụ mà Chính phủ giao nên các Công ty bảo hiểm được trả phí hoạt động, thường bằng 15% tổng số phí tái bảo hiểm của Công ty bảo hiểm đó

Trong loại hình BHTDXK, tỷ lệ rủi ro được bảo hiểm cao, thường từ 90% đến 95% trị giá hợp đồng xuất khẩu (được tổ chức cung cấp bảo hiểm chấp nhận) Doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ phải chịu một phần rủi ro đối với doanh thu của mình Tỷ lệ được bảo hiểm đối với các rủi ro chính trị thường cao hơn đối với các rủi ro thương mại nhằm tạo sự an tâm cho các nhà xuất khẩu, đặc biệt khi xuất khẩu sang các thị trường có bất ổn về chính trị Như vậy, với sự tài trợ của Chính phủ, BHTDXK đã giải quyết phần lớn rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu và góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia

2.2 Được cung cấp bởi các tổ chức tín dụng xuất khẩu

Tổ chức tín dụng xuất khẩu (Export Credit Agencie-ECA) là tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ, khuyến khích hoạt động xuất khẩu và đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp trong nước thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho vay, bảo lãnh và bảo hiểm

3

http://www.webbaohiem.net/kinh-doanh/3081-bao-hiem-tin-dung-xuat-khau-kinh-nghiem-cho-viet-nam.html

Trang 13

Về cơ bản, chức năng của các tổ chức tín dụng xuất khẩu là bảo đảm về mặt tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng và các nhà đầu tư trước các rủi ro thương mại và rủi ro chính trị Hầu hết các hỗ trợ về TDXK được thực hiện thông qua 2 hình thức là bảo lãnh và bảo hiểm Hiện nay, các nước phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có tổ chức tín dụng xuất khẩu chính thức (tổ chức tín dụng xuất khẩu được Nhà nước bảo trợ) hoặc Ngân hàng xuất nhập khẩu-Eximbank để hỗ trợ xuất khẩu, đặc biệt là cung cấp BHTDXK

2.2.1 Lịch sử phát triển của các tổ chức tín dụng xuất khẩu

Tổ chức tín dụng xuất khẩu đầu tiên, Export Credit Guarantee Department (ECGD) ra đời tại Anh vào năm 1919 Cho đến những năm 1970, hầu hết các thành viên của OECD thành lập tổ chức tín dụng xuất khẩu và tiếp sau đó, các nước đang phát triển cũng thành lập tổ chức tín dụng xuất khẩu như một công cụ quan trọng thúc đẩy xuất khẩu

Hình 2: Thời gian ra đời tổ chức tín dụng xuất khẩu tại các nước

trên thế giới

Trang 14

(Nguồn: Concept Paper on The Creation of The Regional Export Credit and Finance Scheme, 2004)

Năm 1934, các nhà bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thuộc sở hữu Nhà nước và tư nhân thành lập Hiệp hội Bern có 75 thành viên và là tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và đầu tư hàng đầu thế giới

2.2.2 Các mô hình tổ chức tín dụng xuất khẩu trên thế giới 4

Trên thế giới hiện nay, có 4 mô hình tổ chức tín dụng xuất khẩu

Mô hình 1: Tổ chức tín dụng xuất khẩu là một Uỷ ban của Chính phủ

Mô hình này được áp dụng tại Anh và Thụy Điển Tại Anh, tổ chức tín dụng được biết đến là Export Credit Guarantee Department-ECGD Đây là một Uỷ ban độc lập hoạt động dựa trên vốn ngân sách do bộ trưởng Bộ Công thương phê duyệt Tại Thụy Điển, Export Risk Guarantees là một bộ phận của Phòng Hợp tác Kinh tế

Mô hình 2: Tổ chức tín dụng xuất khẩu là tổ chức thuộc sở hữu Nhà nước

Đây là mô hình phổ biến nhất trên thế giới Tuy nhiên, có nhiều dạng khác nhau và cũng có nhiều dòng sản phẩm khác nhau Một số tổ chức chỉ cung cấp bảo hiểm như SACE của Italia, NEXI của Nhật Bản; một số khác chỉ cho vay như JBIC của Nhật Bản Trong khi đó, tại Mỹ và Đức, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm đầu tư thậm chí còn được cung cấp bởi hai tổ chức khác nhau (US Eximbank và OPIC; Hermes và PWC)

Mô hình 3: Công ty tư nhân hoạt động nhân danh Chính phủ

Đây là mô hình được áp dụng tại các nước như Pháp, Đức, Hà Lan và gần đây là Nam Phi Với mục đích hỗ trợ xuất khẩu quốc gia, các công ty hoạt động độc lập so với bộ máy Nhà nước nhưng những vấn đề quan trọng sẽ được quyết định bởi Chính phủ Khi hoạt động nhân danh Chính phủ, các rủi

ro sẽ do Chính phủ tái bảo hiểm

Mô hình 4: Tổ chức tín dụng xuất khẩu phi chính thức

4http://www.globalclearinghouse.org/wefbrazil/Docs/ADB%20Concept%20Paper.pdf

Trang 15

Đây là mô hình mới, phát triển tại New Zealand sau khi có sự tư nhân hoá các tổ chức tín dụng xuất khẩu quốc gia vào những năm 1980 Chính phủ nhận thấy rằng không có bất cứ một ràng buộc nào về vấn đề này và đã chuyển giao nhiệm vụ này cho một tổ chức Danish ECA của New Zealand, nhận vốn từ Chính phủ đảm trách việc phân tích rủi ro và báo cáo lại cho Chính phủ

2.2.3 Vai trò chủ yếu của các tổ chức tín dụng xuất khẩu

Tổ chức tín dụng xuất khẩu chủ yếu cung cấp các sản phẩm BHTDXK Bên cạnh đó các tổ chức tín dụng xuất khẩu cũng là nguồn cung cấp thông tin thị trường, năng lực và tình trạng tài chính của người mua giúp các nhà xuất khẩu thực hiện các giao dịch kinh doanh an toàn và hiệu quả Các quốc gia xuất khẩu cũng được hưởng lợi nhờ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng thu ngoại hối cải thiện cán cân thanh toán quốc gia Vì những lợi ích đó nên hầu hết các nước phát triển đều thành lập các tổ chức tín dụng xuất khẩu để tăng cường năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu

Các tổ chức tín dụng xuất khẩu có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các công ty bảo hiểm thương mại, công ty tái bảo hiểm, các tổ chức tín dụng xuất khẩu chính thức khác thông qua việc trao đổi cơ sở dữ liệu từ Hiệp hội Bern, trao đổi công nghệ, đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm trong những dự án cụ thể; cung ứng dịch vụ bổ sung, không cạnh tranh; chuyển giao rủi ro với các công ty tái bảo hiểm qua việc nâng cao năng lực, cân đối cơ cấu rủi ro

Tóm lại, các tổ chức tín dụng xuất khẩu là các tổ chức chuyên cung cấp BHTDXK Với nguồn vốn và sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ, tổ chức tín dụng xuất khẩu đã làm giảm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu và góp phần thúc đẩy xuất khẩu của các nước phát triển

2.3 Quy tắc xuất xứ là một trong các yếu tố quyết định trong bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Trang 16

Bên cạnh các yếu tố rủi ro, quy tắc xuất xứ cũng là một yếu tố quyết định trong BHTDXK Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu một số nét cơ bản về quy tắc xuất xứ

2.3.1 Một số nét cơ bản về quy tắc xuất xứ (Rules of Origin)

Theo Tổ chức Thương mại thế giới WTO, quy tắc xuất xứ (QTXX) được chia thành hai loại:

(1) Quy tắc xuất xứ không ưu đãi: được sử dụng để phân biệt sản phẩm

nước ngoài với sản phẩm trong nước khi một quốc gia không muốn có sự đối

xử giống nhau giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu Theo Hiệp định của WTO ký tại Marrakech năm 1994, quy tắc xuất xứ có thể hiểu là tất cả những QTXX được áp dụng trong chính sách thương mại không mang tính chất ưu đãi của một nước như trong việc áp dụng Quy tắc đối xử tối huệ quốc MFN, chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ, hạn ngạch thuế quan…

(2) Quy tắc xuất xứ ưu đãi: được sử dụng để quyết định hàng hoá nào

có thể nhập vào một nước dưới sự đối xử ưu đãi Quy tắc này xác định liệu hàng hoá có thích hợp với sự đối xử đặc biệt giữa hai hay nhiều nước hay không, như Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP), các khu vực thương mại tự do, các hiệp định song phương và khu vực Theo các hiệp định này, các hàng hoá nhất định sẽ được hưởng chế độ miễn hoặc giảm thuế khi được nhập vào nước cho hưởng ưu đãi nếu chứng minh được nguồn gốc xuất xứ từ nước được hưởng ưu đãi

Mục đích chính của Quy tắc xuất xứ (Rules of Origin) là đảm bảo những lợi ích của chế độ ưu đãi thuế quan theo Hệ thống ưu đãi phổ cập (GPS) chỉ được dành cho những sản phẩm mà thực sự có thu hoạch, sản xuất, gia công hoặc chế biến ở những nước xuất khẩu được hưởng ưu đãi Tuy nhiên, vai trò của QTXX không giới hạn trong các ưu đãi thuế quan Trên thực tế, khái niệm xuất xứ hàng hoá là một công cụ chủ yếu của các chính sách thương mại khác, từ việc đàm phán khu vực mậu dịch tự do hay hình

Trang 17

thành một khối kinh tế khu vực đến việc áp dụng thuế chống phá giá hoặc cấp giấy phép nhập khẩu

Trang 18

* Tiêu chuẩn xác định xuất xứ

Sản phẩm xuất khẩu từ một nước được hưởng ưu đãi có thể được chia thành hai nhóm:

Nhóm 1: Những sản phẩm được thu hoạch, sản xuất hoàn toàn trong nước xuất khẩu Những sản phẩm này được gọi là sản phẩm “xuất xứ toàn bộ’, có xuất xứ GSP bởi vì hoàn toàn không sử dụng các bộ phận hay nguyên liệu nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ

Nhóm 2: Những sản phẩm được làm từ nguyên liệu, bộ phận hoặc phụ tùng nhập khẩu, có nghĩa là những sản phẩm này được sản xuất toàn bộ hoặc một phần từ nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ Những sản phẩm này được gọi là sản phẩm “có thành phần nhập khẩu”, có xuất xứ tại nước ưu đãi khi chúng được “gia công hoặc chế biến đầy đủ” tại nước xuất khẩu được hưởng ưu đãi

Với một sản phẩm xuất xứ toàn bộ, việc xác định xuất xứ không phải là vấn đề khó khăn Nhưng nếu sản phẩm có thành phần nhập khẩu từ các nước khác nhau thì việc xác định nguồn gốc xuất xứ trở nên phức tạp hơn Đối với các sản phẩm này, để xác định được nguồn gốc xuất xứ, các nước có thể áp dụng các tiêu chuẩn như sau:

Thứ nhất là tiêu chuẩn gia công hay còn gọi là quy tắc thay đổi hạng mục thuế quan (Change in Tariff Classification Rule) Theo tiêu chuẩn này,

nguyên liệu, bộ phận hay thành phần nhập khẩu được coi là đã gia công, chế biến đầy đủ khi thành phẩm được xếp vào hạng mục HS với 4 số khác hạng mục của tất cả các nguyên liệu, bộ phận và thành phần nhập đã sử dụng Các nước cho hưởng ưu đãi đã đưa ra một danh mục các hoạt động gia công hoặc chế biến phải thực hiện đối với nguyên liệu không có xuất xứ để sản phẩm được coi là có xuất xứ Tiêu chuẩn này được áp dụng bởi Cộng đồng Châu

Âu, Nhật, Nauy, Thụy Sỹ

Trang 19

Thứ hai là tiêu chuẩn tỷ lệ phần trăm (Percentage Test) Tiêu chuẩn

này được áp dụng tại Australia, Canada, New Zealand, Mỹ, Cộng hoà Séc, Hungary, Ba Lan, Liên bang Nga và Slovakia Tiêu chuẩn này được thống nhất, hài hoà hoá hoàn toàn Các nước Canada, Bungary, Cộng Hòa Séc, Ba Lan, Liên bang Nga quy định một tỷ lệ phần trăm tối đa cho trị giá nguyên liệu, bộ phận và thành phần nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ Các nước New Zealand, Mỹ, Úc quy định một tỷ lệ phần trăm tối thiểu cho trị giá nguyên liệu nội địa và chi phí sản xuất khi sản xuất sản phẩm xuất khẩu (Phụ lục 1)

2.3.2 Tầm quan trọng của Quy tắc xuất xứ

QTXX được các tổ chức tín dụng xuất khẩu và công ty bảo hiểm sử dụng để xác định tỷ lệ phần trăm tối đa cho trị giá nguyên liệu, thành phần nhập khẩu của hàng hoá (hay tỷ lệ phần trăm tối thiểu cho trị giá nguyên liệu, thành phần nội địa của hàng hoá) Và các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ căn cứ vào đó để quyết định việc cung cấp việc cung cấp dịch vụ của mình Vì vậy, nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá đem xuất khẩu là một yếu tố quyết định với người xuất khẩu khi muốn tham gia BHTDXK Các doanh nghiệp xuất khẩu phải chấp nhận quy định về QTXX mà các tổ chức bảo

hiểm tự định

Quy tắc xuất xứ là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định số thuế phải nộp cũng như quyết định liệu có rào cản thương mại nào với hàng hoá đem xuất khẩu hay không Nó là cơ sở để các doanh nghiệp tính toán các chi phí phải bỏ ra và cân nhắc sự cần thiết của việc sử dụng BHTDXK Nếu thực

sự cần thiết, doanh nghiệp xuất khẩu phải tìm hiểu về các nguyên tắc của QTXX mà tổ chức bảo hiểm sử dụng vì nó thường là điều kiện tiên quyết để được bảo hiểm Nếu sản phẩm xuất khẩu là sản phẩm xuất xứ toàn bộ thì tỷ lệ phần trăm rủi ro được bảo hiểm cũng sẽ tăng lên

QTXX đóng vai trò quan trọng đối với nhu cầu tài chính của doanh nghiệp xuất khẩu Nó khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước đa dạng hoá

Trang 20

loại hình kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hoá để có thể sử dụng một cách tối

đa nguyên liệu và thành phần trong nước

Khi sử dụng các sản phẩm BHTDXK của tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp xuất khẩu phải tính toán rất cụ thể chi phí phải bỏ ra và lợi ích đạt được Chính vì vậy, việc tìm hiểu QTXX được áp dụng như thế nào ở các quốc gia khác nhau sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn

3 Các lĩnh vực kinh doanh chính của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 5 Trong Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có 3 lĩnh vực kinh doanh chính là:

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn (Short-term Export Credit

Insurance): Theo quy định của WTO hay OECD, các sản phẩm bảo hiểm tín

dụng xuất khẩu ngắn hạn về cơ bản là sản phẩm bảo hiểm thương mại Đây

là sản phẩm bảo hiểm xuất khẩu truyền thống, dành cho những khoản tín dụng có thời hạn (credit period) không vượt quá 180 ngày Trên thế giới, 90% giao dịch thương mại quốc tế được thực hiện bằng tiền mặt hoặc các loại tín dụng ngắn hạn Loại bảo hiểm này thường bảo hiểm cho toàn bộ doanh thu của doanh nghiệp Trước khi gửi hàng hoặc sau khi xuất hàng, người xuất khẩu có thể được bảo hiểm đối với những rủi ro chính trị và thương mại Tỷ lệ bảo hiểm thường lên tới 90-95% trị giá hợp đồng (không bao gồm thuế giá trị gia tăng)

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn (Medium-long term

Export Credit Insurance): Bảo hiểm cho những khoản tín dụng có thời hạn

trên 12 tháng (trung hạn từ 1 đến 5 năm, dài hạn trên 5 năm)6; áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu như máy móc, thiết bị, các công trình, dự án và các hình thức xuất khẩu với lượng vốn lớn Tỷ lệ được bảo hiểm thường là 85% trị giá hợp đồng Theo quy định của WTO và OECD, loại hình BHTDXK

5 Website cña Trung t©m Th-¬ng m¹i Quèc tÕ (International Trade Centre)

http://www.intracen.org/tfs/docs/glossary/ee.htm

6

International Finance Consulting, 2004, The OECD Arrangement specifies maximum

repayment terms for official support depending on country Category and industry sector.

Trang 21

này được phép có sự hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ (được các tổ chức tín dụng thuộc Nhà nước trợ cấp và bảo lãnh kinh doanh) do trị giá bảo hiểm lớn

và mức độ rủi ro cao

Bảo hiểm đầu tư (Investment Insurance): Như đã nói ở trên, BHTDXK

không chỉ bảo hiểm cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông thường mà còn bảo hiểm các rủi ro cho các nhà đầu tư khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tổ chức bảo hiểm Multilateral Investment Guarantee Agency (MIGA) đã phối hợp với World Bank cung cấp loại bảo hiểm này.MIGA bắt đầu đi vào hoạt động tháng 4 năm 1988 với các thành viên của cả các nước phát triển và đang phát triển Mục tiêu cơ bản của tổ chức là khuyến khích hoạt động đầu tư nước ngoài bằng cách cung cấp bảo hiểm rủi ro chính trị (PRI) cho các nhà đầu tư và các dịch vụ nhằm cải thiện khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài

II VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU

1 Đối với doanh nghiệp xuất khẩu

1.1 Bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu trước các rủi ro về tài chính

Phần lớn các rủi ro nhà nhập khẩu không thanh toán tiền hàng (bao gồm cả rủi ro thương mại và chính trị) đến từ hoạt động tín dụng xuất khẩu Những rủi ro đó ảnh hưởng lớn đến doanh thu và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu Vì thế, khi quyết định cấp TDXK cho khách hàng, các doanh nghiệp xuất khẩu phải cân nhắc một cách rất kỹ lưỡng

Nhưng chúng ta cũng thấy rằng cấp tín dụng cho khách hàng được coi

là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh, thể hiện sự tôn trọng, tin tưởng và

ý định hợp tác lâu dài Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, cấp tín dụng cho khách hàng là một nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu Bằng cách sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, các nhà xuất khẩu có thể bảo đảm tài chính cho chính mình trước những rủi ro mà họ có thể gặp phải Điều này sẽ

Trang 22

tạo tâm lý an tâm hơn cho nhà xuất khẩu trong việc sẵn sàng cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu Hơn thế nữa, nhà xuất khẩu có thể mở rộng các điều kiện thanh toán như chấp nhận điều kiện thanh toán trả chậm ngoài tiền mặt và Thư tín dụng mà nhà nhập khẩu yêu cầu, cho phép nhà nhập khẩu mua trả chậm với số lượng lớn hơn… Sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu vừa có thể duy trì các mối làm ăn, vừa mở rộng thị phần và tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các nhà xuất khẩu khác

1.2 Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng

Không chỉ đóng vai trò là công cụ che chắn và giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu, BHTDXK còn giúp các nhà xuất khẩu tăng năng lực tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng và các tổ chức tài chính Khi vay vốn của ngân hàng và các tổ chức tài chính, nếu các khoản phải thu từ nước ngoài đều

đã được bảo hiểm thì ngân hàng sẽ tin tưởng hơn vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Ngoài ra, khi doanh nghiệp tiến hành chiết khấu hối phiếu và

bộ chứng từ tại các ngân hàng, các ngân hàng sẽ chấp nhận chiết khấu với một tỷ lệ cao hơn nếu các rủi ro trong thanh toán hối phiếu đã được bảo hiểm Qua đó, doanh nghiệp có khả năng về vốn để phát huy tối đa năng lực sản xuất và khả năng cung cấp hàng hoá dịch vụ

1.3 Doanh nghiệp xuất khẩu có nhiều điều kiện để thâm nhập các thị

trường mới

Trên thực tế, nhiều trường hợp thị trường có nhu cầu cao với các sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu nhưng đồng thời đó lại là thị trường có mức độ rủi ro cao Những rủi ro này thường xuất phát từ những bất ổn về chính trị như chiến tranh, bạo động…khiến nhiều nhà xuất khẩu có tâm lý e ngại khi tiếp cận các thị trường này

Tuy nhiên, khi áp dụng BHTDXK, các doanh nghiệp xuất khẩu không còn quá lo lắng khi thâm nhập vào thị trường mới vì tỷ lệ được bảo hiểm với

Trang 23

các rủi ro chính trị, các rủi ro liên quan đến thị trường là rất cao (thường trên 95% trị giá bảo hiểm)

Doanh nghiệp xuất khẩu còn được các tổ chức tín dụng xuất khẩu và công ty bảo hiểm hỗ trợ về thông tin liên quan đến đối tác nhập khẩu và nước nhập khẩu

2 Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu về cơ bản đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu Song bên cạnh đó, nó cũng có vai trò không nhỏ đối với các doanh nghiệp nhập khẩu

Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu còn hạn chế về vốn hay gặp khó khăn trong quay vòng vốn cho nên họ thích sử dụng tín dụng hơn trong thanh toán hàng nhập khẩu Khi các doanh nghiệp xuất khẩu sẵn sàng cho thanh toán trả chậm, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn Mặt khác, các doanh nghiệp có nhu cầu

về tín dụng xuất khẩu sẽ có thêm nhiều sự lựa chọn trong vấn đề tìm đối tác cho mình

Trang 24

CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU

I KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU THẾ GIỚI

1 Thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu châu Âu

Châu Âu là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động BHTDXK, chiếm 80% thị phần doanh thu phí BHTDXK toàn thế giới

Hoạt động BHTDXK Châu Âu phát triển ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Tây Ban nha Đến nay, thị trường thuộc sự kiểm soát của

3 tổ chức tín dụng xuất khẩu chủ chốt là Coface (Pháp), Atradius (Hà Lan) và Euler & Hermes (Đức)

Tại Châu Âu, Uỷ ban Châu Âu EC có vai trò điều phối hoạt động của các tổ chức tín dụng của các nước thành viên Việc xây dựng một thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiệu quả rất cần thiết cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như cho sự phát triển chung của thị trường xuất khẩu Châu Âu Ngày 1/7/1990, EC đã ban hành một chỉ thị mà theo đó, các tổ chức tín dụng

và công ty bảo hiểm của các nước khác nhau thuộc EC có thể cung cấp dịch

vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp xuất khẩu của các nước thành viên khác Chỉ thị này cũng quy định kể từ sau ngày 31/12/1992, các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chính thức như ECGD của Anh, Hermes của Đức, SACE của Italia…khi cung cấp dịch vụ không được có sự phân biệt giữa các nhà xuất khẩu trong nước và các nhà xuất khẩu nước ngoài khác thuộc EC Quy định này đã giúp cho các nhà xuất khẩu Châu Âu có thể tìm kiếm và sử dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở bất cứ quốc gia nào thuộc cộng đồng chung Đồng thời thị trường bảo hiểm của mỗi nước phải không ngừng cải thiện để

Trang 25

thích nghi với việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm của mình ra nước ngoài và trước sự cạnh tranh của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài Tháng 7/1998, EU ban hành chỉ thị liên quan đến quy tắc hài hòa hoá trong bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn nhằm giảm thiểu những hành vi cạnh tranh không công bằng giữa các tổ chức bảo hiểm chính thức trong cộng đồng chung Châu

Âu Chính vì vậy, tại thị trường châu Âu, BHTDXK tư nhân phát triển mạnh hơn các mô hình khác

Thương mại thế giới phát triển đã tạo cơ hội cho BHTDXK phát triển

Từ 1990 cho đến nay, thị trường BHTDXK Châu Âu đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của các tổ chức tín dụng xuất khẩu Năm 1990, doanh thu của 5

tổ chức bảo hiểm đứng đầu chỉ chiếm 40% thị trường toàn cầu Năm 2005, 4

tổ chức hàng đầu đã chiếm tới 80 % thị trường, gồm có: Euler Hermes - 37%; Atradius - 23%; Coface - 18% và Credito y Caucion - 15%7 Năm 2005, tổng phí bảo hiểm tín dụng toàn cầu khoảng 6,9 tỷ USD, tăng 4,5 % so với năm

2004 trong đó có sự đóng góp chủ yếu của thị trường BHTDXK Châu Âu Sự phát triển của hoạt động TDXK thế giới đã mang đến một thị trường bảo hiểm tín dụng toàn cầu vô cùng sôi động, nổi bật hơn cả là các nước Trung và Tây

Âu như Ba Lan, Cộng hoà Séc…

Nhiều nhà bảo hiểm tín dụng đưa ra các chính sách hướng vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) vì các doanh nghiệp này còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề quản trị rủi ro tín dụng Khu vực SMEs là một thị trường hứa hẹn cho các nhà bảo hiểm tín dụng Châu Âu Ước tính rằng, các tổ chức bảo hiểm mới chỉ thâm nhập 20% vào thị trường tiềm năng này Tính đến

2005, chỉ có khoảng 2% các doanh nghiệp nhỏ (doanh thu dưới 10 triệu EUR)

7Swiss Re, “Credit Insurance and surety: solidifying commitments”, Sigma No 6/2006

Trang 26

sử dụng BHDXK trong khi đó, 30% doanh nghiệp lớn (doanh thu trên 150 triệu EUR) và 15% doanh nghiệp vừa đã áp dụng hình thức này.8

2 Thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu châu Mỹ

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Châu Mỹ cũng phát triển từ rất sớm, đi đầu là các nước như Mỹ, Canada, Mexico, Brazil…Mặc dù gần 3/4 doanh thu phí BHTDXK là từ khu vực Tây Âu nhưng thị trường Châu Mỹ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ

Biểu đồ 1: So sánh cơ cấu phí bảo hiểm tín dụng thế giới năm 1998-2004

(Nguồn: SwissRe, Sigma No6/2006)

Từ biểu đồ trên, ta có thể thấy, trong khi tỷ trọng doanh thu phí BHTDXK của Tây Âu trong doanh thu phí bảo hiểm toàn cầu giảm 8% từ năm 1998-2004 thì tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm của cả khu vực Bắc Mỹ

và Mỹ Latin đều tăng lên, đặc biệt khu vực Bắc Mỹ tăng tới 5%

Năm 2005, doanh thu phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của khu vực Bắc

Mỹ khoảng 759 triệu USD, chiếm khoảng 11 % doanh thu toàn thị trường

8

Cristea Mirela, Domnisoru Sorin and Dracea Raluca,“Export Credit Agencies and Their Role on the Export Credit Insurance Market”

Trang 27

Thị trường BHTDXK Bắc Mỹ phát triển nhất là Mỹ và Canada Từ những năm 1930, tổ chức tín dụng xuất khẩu đã hình thành tại Mỹ, thúc đẩy xuất khẩu Mỹ phát triển Mỹ chiếm đến 16% tổng doanh thu phí bảo hiểm thế giới với 1,083 tỷ USD năm 2004

Thị trường BHTDXK Châu Mỹ Latin cũng khá phát triển với tổng phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là 174 triệu USD năm 2004 Các tập đoàn bảo hiểm của Châu Âu đã thành lập các chi nhánh ở hầu hết các nước Brazil và Mexico là hai quốc gia phát triển nhất trong lĩnh vực BHTDXK Tại Brazil, luật về BHTDXK có từ năm 1962 nhưng các mô hình BHTDXK từ năm 1962-1992 của Brazil hoạt động không hiệu quả Cho đến năm 1997, tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chính thức của Brazil - SBCE ra đời đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của nước này SBCE cũng là một trong các thành viên của Hiệp hội Bern Theo số liệu của SBCE, chỉ trong 3 năm từ 2000-2003, SBCE đã bảo hiểm cho hàng hoá xuất khẩu với giá trị là 1,198 tỷ USD9

3 Thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu châu Á

Các quốc gia Châu Á đã đầu tư mạnh mẽ cho lĩnh vực này trong một thời gian dài để thúc đầy xuất khẩu Ấn Độ hình thành ECGC với số vốn 100 triệu USD từ năm 1957, đến năm 2008, ECGC bảo hiểm khoảng 17% kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ Năm 2001 - một năm sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc thành lập Tổng công ty SINOSURE từ sáp nhập hai bộ phận tín dụng xuất khẩu của Công ty bảo hiểm PICC và Ngân hàng Eximbank với số vốn khoảng 500 triệu USD Trong gần 10 năm hoạt động, SINOSURE đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc từ

9

Fernado Gomes, 2004, “Export Credit Insurance - Comparing the Brazillian and

American Models”

Trang 28

300 tỷ lên tới hơn 1000 tỷ (năm 2009)10 Tính đến tháng 12/2009, SINOSURE đã bảo hiểm cho trên 75 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu11, hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu ở những nhóm ngành hàng chủ đạo từ nông lâm đến sản xuất công nghiệp chế biến, máy móc, thiết bị điện tử, ô tô…Các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đều lập tổ chức tín dụng xuất khẩu chuyên biệt như NEXI, KEIC, ECICS trong đó, NEXI là một trong 10 tổ chức tín dụng xuất khẩu lớn nhất thế giới Ngoài lĩnh vực bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, tổ chức này còn cung cấp bảo lãnh đầu tư và bảo hiểm tín dụng đầu tư cho hầu hết các dự án của Nhật Bản ở nước ngoài Sau

10 năm từ 1994 - 2004, thị trường BHTDXK của Nhật Bản đã phát triển rất nhanh chóng Từ tháng 4 năm 2004, Chính phủ Nhật đã chính thức cho phép các công ty bảo hiểm tín dụng tư nhân tham gia cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho thị trường BHTDXK Nhật ngày càng phát triển

II KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU

1 Kinh nghiệm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Hà Lan

1.1 Khái quát thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Hà Lan

Thương mại, dịch vụ, đặc biệt là xuất khẩu có vai trò vô cùng quan trọng với nền kinh tế Xuất khẩu thường đóng góp một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Hỗ trợ xuất khẩu chính thức là một trong các công cụ quan trọng nhất để thúc đẩy xuất khẩu phát triển Hầu hết các khoản tín dụng xuất khẩu của các nước thuộc OECD đều được hỗ trợ chính thức các dưới hình thức khác nhau như: cấp tín dụng trực tiếp tại Mỹ, Canada; Chính phủ

Titi Soentoro and NADI/Solidaritas Perempuan, 2004, “A Brief Overview of Export

Credit Agencies in the Asia-Pacific Region”

Trang 29

bảo hiểm cho cỏc rủi ro tớn dụng xuất khẩu tại Anh hay Chớnh phủ hỗ trợ giỏn tiếp qua hoạt động tỏi bảo hiểm tại Hà Lan

Tại Hà Lan, cú hai tổ chức tớn dụng xuất khẩu chớnh thức là Cụng ty phỏt triển tài chớnh Hà Lan (The Netherland Development Finance Company - FMO) và Atradius Cả hai tổ chức này đều hoạt động thay mặt cho Chớnh phủ FMO là một bộ phận của Phũng hợp tỏc phỏt triển thuộc Bộ Ngoại giao,

cú nhiệm vụ giải ngõn cho cỏc hoạt động của Chớnh phủ Trong khi đú, Atradius đó cú giao kết với Chớnh phủ Hà Lan, thay mặt Chớnh phủ cung cấp một số chương trỡnh hỗ trợ hoạt động xuất khẩu cho cỏc doanh nghiệp Hà Lan

Chớnh phủ Hà Lan khụng cấp tớn dụng xuất khẩu cho cỏc doanh nghiệp

mà cung cấp bảo hiểm tớn dụng xuất khẩu thụng qua hoạt động của Atradius, trước đõy là Nederlandsche Credietverzekering Maatschappoj (NCM) NCM được thành lập vào năm 1925 tại Amstecdam, Hà Lan Năm 1932, NCM trở thành một tổ chức thuộc Chớnh phủ Hà Lan và hoạt động như cố vấn cho Chớnh phủ Hà Lan trong lĩnh vực bảo hiểm tớn dụng xuất khẩu và tài chớnh xuất khẩu tại Liờn minh Chõu õu (EU), Tổ chức hợp tỏc và phỏt triển kinh tế (OECD) và Paris Club12 NCM cũng là một thành viờn của Hiệp hội Bern và

Tổ chức bảo hiểm tớn dụng thế quốc tế (ICIA) Sau đú, NCM sỏp nhập với một cụng ty bảo hiểm tư nhõn của Đức (2001), đổi tờn thành Atradius (2004), hoạt động dưới hỡnh thức cụng ty bảo hiểm tư nhõn song vẫn chịu sự chi phối lớn từ Chớnh phủ Hà Lan và được Chớnh phủ tỏi bảo hiểm cho cỏc hoạt động của mỡnh

Tại Hà Lan, cỏc rủi ro tớn dụng xuất khẩu (hầu hết là rủi ro tớn dụng ngắn hạn) được bảo hiểm trờn thị trường bảo hiểm tư nhõn Thị trường bảo hiểm tư nhõn Hà Lan bị chi phối bởi 3 cụng ty BHTDXK quốc tế là Atradius, Coface

12

Paris Club là một diễn đàn nhằm đ-a ra giải pháp cho các thoả thuận nợ đa ph-ơng giữa các Chính phủ của 19 n-ớc thành viên, trong đó có Hà Lan

Trang 30

và Euler-Hermes Các công ty này chủ yếu cung cấp bảo hiểm cho toàn bộ doanh thu từ xuất khẩu của doanh nghiệp và được giới hạn ở một hạn mức đã thoả thuận Các hợp đồng ngắn hạn và trung hạn có thể được tái bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm tư nhân Chính phủ Hà Lan chỉ bảo hiểm và tái bảo hiểm cho các rủi ro TDXK trung và dài hạn (trên 3 năm)

Do không đủ nguồn lực để tiếp cận với thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu quốc tế, các doanh nghiệp nhỏ dường như chỉ có thể lựa chọn các công ty bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hoạt động tại Hà Lan Trong khi đó, doanh nghiệp lớn có thể áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các công ty bảo hiểm khác trên thế giới Trên thực tế, tại Hà Lan, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng BHTDXK chiếm đến 95,1%13

Tại Hà Lan, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn phát triển mạnh hơn bảo hiểm trung hạn và bảo hiểm đầu tư Năm 2008, Hà Lan đứng thứ 8 thế giới với tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn đạt 29 tỷ USD14

Trung gian tài chính như các nhà môi giới và Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường BHTDXK Hà Lan (80% bảo hiểm của Atradius được cung cấp thông qua hoạt động của trung gian tài chính)

1.2 Kinh nghiệm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Atradius - DSB 1.2.1 Giới thiệu về Atradius - DSB

Atradius là một trong số 3 tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hàng đầu thế giới Tiền thân của Atradius là từ 3 tổ chức tín dụng xuất khẩu: tập đoàn bảo hiểm tín dụng của Đức Gerling-Konzern Spezial Kreditvercherung (Gerling Credit), tổ chức bảo hiểm Hà Lan Nederlandsche Credietverzekering Maatschappoj (NCM) và tổ chức tín dụng Credito y Caucion

Trang 31

NCM là một tổ chức của Hà Lan, được thành lập vào năm 1925, với mục tiêu ban đầu là hỗ trợ thương mại cho các doanh nghiệp trong nước Năm

1932, NCM được chuyển đổi thành một tổ chức tín dụng xuất khẩu chính thức của Hà Lan, chuyên cung cấp các dịch vụ tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước này

Gerling Credit được thành lập vào năm 1954, là bộ phận chuyên về bảo hiểm tín dụng của tập đoàn Gerling (Đức) Năm 1962, Gerling Credit mở chi nhánh đầu tiên tại Thụy Điển và bắt đầu cung cấp dịch vụ ra nước ngoài Đây

là tổ chức bảo hiểm tư nhân đầu tiên trên thế giới cung cấp BHTDXK

Credito y Caucion là một tổ chức tín dụng xuất khẩu uy tín tại Tây Ban Nha Tổ chức này được thành lập vào năm 1929, hoạt động chủ yếu tại thị trường Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Mỹ Latin Năm 2005, Credito y Caucion là tổ chức tín dụng xuất khẩu lớn thứ tư thế giới

Nửa sau thế kỷ 20, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức tín dụng xuất khẩu và khuyến khích họ tích cực mở rộng thương mại quốc tế Năm 2001, NCM và Gerling Credit đã sáp nhập với nhau tạo thành Gerling NCM Năm 2004, Gerling NCM đổi tên thành Tập đoàn Atradius Năm 2008, Credito y Caucion cũng trở thành một phần trong tập đoàn Atradius Sự kết hợp của Credito y Caucion đã mở rộng thị trường cho Atradius tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Brazil

Với 160 văn phòng đại diện tại 42 quốc gia, Atradius có khả năng nắm bắt thông tin về tín dụng của 52 triệu doanh nghiệp trên khắp thế giới (Phụ lục)

Biểu đồ 2: Doanh thu từ các thị trường của tập đoàn Atradius

Trang 32

(Nguồn: Annual Report 2008, Atradius)

Ngày nay, Atradius là một trong những tổ chức tín dụng xuất khẩu chính thức lớn nhất trên thế giới, chuyên cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và các sản phẩm quản trị tín dụng khác

Tập đoàn Atradius cung cấp bảo hiểm tín dụng thương mại, dịch vụ bảo đảm và nhờ thu cho nhà xuất khẩu nhằm làm giảm những thiệt hại về tài chính trong trường hợp người mua không thanh toán tiền hàng

Các sản phẩm và dịch vụ chính của Atradius như: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, Nhờ thu, Bao thanh toán (Factoring), Dịch vụ thông tin kinh tế, Tái bảo hiểm, Bảo đảm tín dụng trả góp, Bảo hiểm kinh doanh trái phiếu và Các sản phẩm đặc biệt khác, cụ thể như sau:

(1) Bảo hiểm tín dụng: Đây là hoạt động kinh doanh chính của Atradius,

bao gồm nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng Hoạt động Bảo hiểm tín dụng tại Atradius bao gồm bảo hiểm tín dụng truyền thống và bảo hiểm liên quan đến các sản phẩm đặc biệt và rủi ro chính trị Bảo hiểm tín dụng truyền thống được chia thành 2 nhánh là bảo hiểm tín dụng trong nước và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Bảo hiểm tín dụng truyền thống được cung cấp cho cả doanh nghiệp lớn và nhỏ Thị trường bảo hiểm tín dụng trong nước năm 2008

Trang 33

đạt doanh thu 1,2389 tỷ EUR15

Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến cho doanh thu bảo hiểm tại nhiều khu vực giảm sút Đặc biệt tại Anh, tỷ giá GBP/EUR giảm dẫn đến ảnh hưởng đến doanh thu (tính bằng đồng EUR) Bảo hiểm phi truyền thống và rủi ro chính trị (các sản phẩm đặc biệt) cũng làm tăng doanh thu của Atradius Năm

2008, doanh thu đạt 45,6 triệu EUR, cho thấy sự thành công bước đầu của dòng sản phẩm này

(2) Nhờ thu: Nhờ thu thường được xem là một phần của bảo hiểm tín dụng

Thông qua một tổ chức thứ 3 như tập đoàn Atradius, khách hàng vẫn có thể thu hồi nợ từ người mua, bảo đảm nguồn vốn mà vẫn duy trì được các mối quan hệ trong kinh doanh Từ năm 2005, nhu cầu về nhờ thu của các tập đoàn trên thế giới tăng lên nhanh chóng Qua các năm, hoạt động nhờ thu đã đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển của Atradius Năm 2007, Atradius bắt đầu khai thác mạng lưới toàn cầu phục vụ cho hoạt động nhờ thu xuyên quốc gia Năm 2008, doanh thu của nhờ thu đạt 57,7 triệu EUR, tăng 19,7% so với năm 2007 Doanh thu tăng mạnh nhất là từ khu vực Tây Âu, Italia, Anh và Ai len Sự phát triển của hoạt động nhờ thu đã hỗ trợ đắc lực cho bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

(3) Bao thanh toán: Tại Atradius, Bộ phận Fortis Commercial Finance sẽ

tiếp cận thị trường bao thanh toán thế giới nhờ có sự liên kết với các công ty bao thanh toán của 10 nước Châu Âu Sự hợp tác này đã giúp cho Atradius chủ động trong vấn đề đa dạng hoá các sản phẩm của mình

(4) Dịch vụ thông tin kinh tế: Đây là dịch vụ chuyên cung cấp thông tin

kinh tế - tài chính cho khách hàng thông qua trung tâm Atradius Observe News và 160 văn phòng đại diện của tập đoàn trên khắp thế

15Annual Report 2008, Atradius

Trang 34

giới Mạng lưới thông tin toàn cầu này sẽ giúp khách hàng cập nhật thông tin và dự báo những rủi ro có thể xảy ra từ phía người mua, nhà cung cấp và các đối thủ cạnh tranh

(5) Bảo hiểm tín dụng trả góp (Instalment credit protection): Đây là công

cụ giúp cá nhân và doanh nghiệp quản trị và bảo hiểm cho các rủi ro ngắn hạn và trung hạn liên quan tới các thoả thuận thanh toán nhiều lần như trong tín dụng thương mại, cho thuê, cho thuê tài chính…Atradius thúc đấy hoạt động kinh doanh của khách hàng bằng việc làm giảm yêu cầu về vốn chủ sở hữu trong khuôn khổ Basel II và giúp duy trì tài chính doanh nghiệp Doanh thu bảo hiểm tín dụng trả góp năm 2008 đạt 32,5 triệu EUR16

, tăng 15,9 % so với năm 2007, do nhu cầu lớn của thị trường

(6) Bảo hiểm kỳ phiếu (Bonding): Đây là hình thức được áp dụng tại Italia,

Pháp, Tây Ban Nha và khu vực Bắc Âu (Thụy Sĩ, Phần Lan…)

(7) Tái bảo hiểm: Atradius đưa ra hoạt động tái bảo hiểm với bên thứ 3 với

mục tiêu chính là mở rộng thị trường Năm 2008, chỉ số bồi thường tăng trên mức dự kiến từ 42,6% tới 51,7%17

(8) Các sản phẩm đặc biệt (Special Products): Trong các trường hợp, khách

hàng không cần thiết phải bảo hiểm cho toàn bộ doanh thu của mình Khi đó, các công cụ quản trị rủi ro truyền thống không còn thực sự thích hợp Atradius đã đưa ra một giải pháp hiệu quả với tên gọi là sản phẩm đặc biệt Khách hàng có thể được bảo vệ trước những rủi ro về tài chính của hợp đồng đơn lẻ hay của một đối tác Ngoài ra, Atradius còn cung cấp các công cụ bảo đảm cho khách hàng trước rủi ro tỷ giá

16Atradius, Annual Report 2008

17Atradius, Annual Report 2008

Trang 35

Với doanh thu hằng năm chiếm khoảng 31% doanh thu trên thị trường bảo hiểm tín dụng toàn cầu, các sản phẩm của Atradius đã giúp bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu trước rủi ro không được thanh toán

Biểu đồ 3: Doanh thu bảo hiểm của Atradius 2004 - 2008

(Đơn vị: triệu EUR)

( Nguồn: Annual Report 2008, Atradius)

Tổng doanh thu bảo hiểm liên tục tăng qua các năm Năm 2008 doanh thu đạt 1,777 tỷ EUR, tăng 46,7% so với năm 2007

* Atradius - Dutch State Business (DSB)

Atradius-DSB là công ty con của Tập đoàn Atradius, chuyên cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh đầu tư cho ngân hàng và các doanh nghiệp trong nước đồng thời chịu trách nhiệm trong việc thu hồi các khoản tín dụng xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu phá sản Công ty được hình thành từ 100% vốn của NCM (theo mô hình 3-ECA) Chính vì vậy

mà có thể nói, Atradius-DSB đã có hơn 70 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Công ty hoạt động dưới sự giám sát Bộ Tài Chính Hà Lan và dựa trên những chính sách mà Chính phủ ban hành

Tháng 6/2002, Atradius-DSB giới thiệu trang web của công ty và đây

đã trở thành một kênh thông tin khá hiệu quả cho Atradius-DSB Năm 2005,

Trang 36

Atradius-DSB đã cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho 75 dự án, tăng

174 % so với năm 2004, trong đó, các dự án trong lĩnh vực nạo vét, cải tạo đất…tại Tiểu vương quốc Arập thống nhất, Quata và Trung Quốc chiếm 70% tổng doanh thu của Atradius-DSB.18

Tính đến tháng 3/2010, Atradius-DSB đã xây dựng chính sách bảo hiểm tín dụng xuất khẩu cho 20 quốc gia19 được coi là các thị trường mới và đầy tiềm năng cho hoạt động xuất khẩu và đầu tư của các doanh nghiệp Hà Lan

Chính phủ Hà Lan hỗ trợ một phần phí bảo hiểm khi các doanh nghiệp mua bảo hiểm tín dụng trung hạn Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Atradius-DSB được Chính phủ Hà Lan tái bảo hiểm Như vậy, doanh thu của Atradius chủ yếu từ phí bảo hiểm tín dụng

1.2.2 Hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Atradius-DSB

Các giao dịch xuất khẩu hàng hoá và các dự án xây dựng ở nước ngoài thường có thời hạn thanh toán tương đối dài và các điều khoản thanh toán mở

Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu thường phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến họat động xuất khẩu Từ năm 1932, Atradius đã thay mặt cho Chính phủ Hà Lan cung cấp BHTDXK Ban đầu, Atradius cung cấp bảo hiểm còn Chính phủ thực hiện tái bảo hiểm Từ năm 2010, Chính phủ Hà Lan sẽ đảm nhiệm cả hai công việc này thông qua hoạt động của Atradius DSB

Atradius-DSB là một công cụ của Nhà nước trong việc thúc đẩy xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Lan bằng cách cung cấp BHTDXK và bảo hiểm đầu tư BHTDXK được cung cấp cho các nhà xuất khẩu và các ngân hàng Điều này không được áp dụng tại thị trường bảo hiểm

18 Website cña Tæ chøc phi chÝnh phñ vÒ ECA: http://www.eca-

watch.org/problems/eu_russ/netherlands/BothEnds_Atradius_business_booms_14feb06.ht ml

19 Agentina, Brazil, Bungari, Trung Quèc, Céng hoµ SÐc, Estonia, Hungary, Ên §é,

Indonesia, Latvia, Lithuana, Malaysia, Mexico, Ba Lan, Rumani, Nga, Singapore,

Slovakia, Th¸i Lan, Thæ NhÜ Kú, Ukraina.

Trang 37

tư nhân, đặc biệt với các khoản tín dụng có thời hạn tín dụng dài, các giao dịch lớn và các thị trường xuất khẩu có mức độ rủi ro cao Không cạnh tranh với thị trường bảo hiểm tư nhân mà chỉ bù khoảng trống thị trường, Chính phủ sẽ căn cứ vào thị trường tư nhân để quyết định loại giao dịch nào được hưởng hỗ trợ từ Atradius-DSB Như vậy, các chương trình BHTDXK của Atradius-DSB hoàn toàn có thể thay đổi tuỳ thuộc vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm tư nhân tại Hà Lan

Một trong các điều kiện để hàng hoá xuất khẩu được tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Atradius-DSB là quy tắc xuất xứ Chính phủ quy định

tỷ lệ tối đa các yếu tố và thành phần nhập khẩu trong hàng hoá là 50% Nếu thành phần nhập khẩu của hàng hoá xuất khẩu vượt quá hạn mức này, Atradius-DSB sẽ không chấp nhận bảo hiểm

Chính phủ cũng quy định đối với các giao dịch trong một hạn mức nhất định, Atradius-DSB có thể tự quyết định mà không cần sự chấp thuận trước của Chính phủ Đối với các giao dịch vượt quá hạn mức đó, Atradius phải đệ trình với Chính phủ và Bộ Tài chính sẽ ra quyết định cuối cùng

Atradius-DSB chủ yếu cung cấp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn Đối với hàng hoá xuất khẩu, thời hạn tín dụng ít nhất là 5 năm, với các hợp đồng xây dựng, có thể được bảo hiểm với các điều kiện tín dụng lên tới 10 năm, phụ thuộc và giá trị hợp đồng và nước thực hiện dự án Atradius cung cấp bảo hiểm tín dụng trung hạn và dài hạn với thời gian được bảo hiểm

có thể lên tới 15 năm

Thông thường, bảo hiểm trung hạn được cung cấp thông qua một chương trình nhất định như bảo hiểm toàn bộ doanh thu Trong suốt khoảng thời gian chuyển nhượng hợp đồng, nhà xuất khẩu có thể bảo lưu các điều kiện bảo hiểm đã được thoả thuận, bảo lưu này có giá trị hiệu lực trong 6 tháng nhưng thời hạn này cũng có thể được mở rộng tuỳ theo quyết định của Atradius

Trang 38

Trước khi cam kết bảo hiểm, Atradius-DSB sẽ điều tra về khả năng tín dụng của nhà nhập khẩu và tình hình nước nhập khẩu Trong một số trường hợp, Atradius-DSB có thể quyết định bảo hiểm cho các giao dịch đặc biệt nếu nhà xuất khẩu có bảo lãnh thanh toán từ người mua như bảo lãnh ngân hàng đối với người mua cá nhân hay bảo lãnh từ Chính phủ nước nhập khẩu nếu người mua là tổ chức Chính phủ

Atradius-DSB bảo hiểm cho cả rủi ro thương mại và rủi ro chính trị Công ty hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu với các sản phẩm và dịch vụ được thiết kế cho nhiều loại rủi ro và củng cố khả năng tài chính của nhà xuất khẩu,

cụ thể là:20

(1) Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu dành cho nhà xuất khẩu

 Bảo hiểm chi phí xuất khẩu hàng hoá (Capital Goods Insurance): Là

loại hình bảo hiểm giúp nhà xuất khẩu hạn chế các rủi ro nhà nhập khẩu không thanh toán chi phí xuất khẩu hàng hoá Các rủi ro đó bao gồm:

 Rủi ro khi nhà nhập khẩu từ chối nhận hàng và không hoàn trả chi phí sản xuất hàng hoá

 Thanh toán chậm sau một thời hạn nhất định khi thời hạn thanh toán đã chấm dứt

 Rủi ro nhà xuất khẩu không nhận được tiền thanh toán theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng và lãi suất tín dụng thích hợp bằng đồng EUR trên thị

thường Châu Âu

Đối với loại hình bảo hiểm này, Atradius-DSB không bảo hiểm cho rủi

ro vận tải và rủi ro chiến tranh trong suốt quá trình vận chuyển

Nhà xuất khẩu phải chịu phần trăm rủi ro nhất định, thường từ 2-10%, tức là đối với loại hình bảo hiểm này, tỷ lệ được bảo hiểm sẽ từ 90-98%, tuỳ

20

Website cña Atradius-DSB:

http://www.atradiusdutchstatebusiness.nl/dsben/products/project -finance/index.html

Trang 39

thuộc vào giá trị khoản tín dụng, thời hạn tín dụng, nhà nhập khẩu, tình hình nước nhập khẩu

Nhà xuất khẩu cũng có thể chuyển rủi ro này cho một bên thứ 3 nhưng chỉ khi bên thứ 3 đó có liên quan đến giao dịch như nhà cung cấp hay ngân hàng của người xuất khẩu Sự chuyên giao này phải được Atradius-DSB chấp thuận trước khi Cam kết bảo hiểm (Promise of Cover) được phát hành

Tỷ lệ phí bảo hiểm với mỗi giao dịch là khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phí bảo hiểm như giá thoả thuận, các điều kiện thanh toán, bảo lãnh thanh toán, tình hình nhà nhập khẩu, nước nhập khẩu, người bảo lãnh (doanh nghiệp tư nhân, Ngân hàng hay tổ chức Chính phủ), thời hạn giao hàng và tỷ lệ được bảo hiểm

Trong một số trường hợp, nhà xuất khẩu không được thanh toán trong một thời gian dài sau khi đã đến hạn thanh toán Nhà xuất khẩu có quyền khiếu nại nếu khoản phải thu từ nhà nhập khẩu không được hoàn trả sau một khoảng thời gian chờ đợi Atradius-DSB quy định thời gian chờ đợi là 3 tháng, nhưng trong một số trường hợp có thể kéo dài đến 6, 9, 12 tháng tuỳ vào quy định tương ứng với từng nước nhập khẩu

Trường hợp nhà xuất khẩu không được thanh toán do nhà nhập khẩu từ chối nhận hàng, khoảng thời gian chờ đợi sẽ được tính kể từ ngày ký kết hợp đồng mua bán Trường hợp nhà xuất khẩu đã cấp tín dụng nhưng không nhận được tiền thanh toán như trong hợp đồng đã ký kết, khoảng thời gian này được tính kể từ ngày đến hạn thanh toán

Về khiếu nại, sau thời gian chờ đợi như đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, nhà xuất khẩu có quyền khiếu nại cho khoản tín dụng không được thanh toán Atradius sẽ thanh toán tiền bồi thường trong vòng 14 ngày Sau khi thanh toán tiền bồi thường, Atradius sẽ hưởng tất cả quyền lợi với hàng hoá theo hợp đồng mua bán Khoản bồi thường sẽ được thanh toán bằng đồng EUR Việc quy đổi ngoại tệ sẽ được thực hiện bằng tỷ giá vào ngày đáo hạn

Trang 40

thanh toán nhưng không cao hơn tỷ giá vào ngày hợp đồng mua bán có hiệu lực Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi cho công ty bảo hiểm

 Bảo hiểm dự án xây dựng (Construction Project Insurance):

Thực hiện dự án xây dựng tại nước ngoài khác với hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở các điểm sau: Các dự án thường thoả thuận kinh phí dự tính chung cho cả hợp đồng xây dựng Trong khi thực hiện các công trình xây dựng, bên thực hiện dự án sẽ phải cung cấp báo cáo hàng tháng về tiến độ công trình Căn cứ vào báo cáo tiến độ, khách hàng nước ngoài sẽ cấp giấy chứng nhận tỷ

lệ công việc đã hoàn tất Ngay sau khi nhận được chứng nhận này, khách hàng phải thanh toán như trên chứng nhận đã ký Tất cả giấy chứng nhận sẽ cùng đại diện cho hợp đồng cuối cùng Nếu bên thực hiện dự án tạm ứng trước một khoản, một phần của số tiền được trả trước sẽ được khấu trừ từ mỗi giấy chứng nhận đã cấp trong các công trình

Do tính chất của các dự án xây dựng tại nước ngoài, Atradius-DSB cung cấp bảo hiểm cho các cá nhân và doanh nghiệp Hà Lan khi gặp phải các rủi ro liên quan đến các dự án xây dựng như rủi ro không được cấp chứng nhận hay được cấp chứng nhận nhưng không nhận được khoản tiền thanh toán Ngoài ra, Atradius-DSB còn bảo hiểm cho các rủi ro chính trị gây ra hỏng hóc, mất mát nhà xưởng và thiết bị dùng để thực hiện các dự án tại nước ngoài

Đối với bảo hiểm nhà xưởng và máy móc, thiết bị (Plant and Equipment Insurance), các rủi ro được bảo hiểm là các rủi ro chính trị như: chiến tranh, nội chiến, bạo loạn và rủi ro không vận chuyển được nhà xưởng, máy móc thiết bị đến nơi thực hiện dự án do lệnh cấm của Chính phủ nước

đó Hợp đồng bảo hiểm sẽ chính thức có hiệu lực kể từ khi các máy móc thiết

bị đến nước thực hiện dự án và kết thúc khi chúng được chuyển đến một nước khác hoặc khi dự án được hoàn thành

Ngày đăng: 24/05/2014, 20:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Thời gian ra đời tổ chức tín dụng xuất khẩu tại các nước  trên thế giới - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Hình 2 Thời gian ra đời tổ chức tín dụng xuất khẩu tại các nước trên thế giới (Trang 13)
Bảng 1: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Atradius-DSB từ 2004-2008 - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 1 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Atradius-DSB từ 2004-2008 (Trang 45)
Bảng 2: Mức phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tối thiểu đối với   BHTDXK đơn người mua - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 2 Mức phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tối thiểu đối với BHTDXK đơn người mua (Trang 54)
Bảng 3: Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm tối đa đối với các Ngân hàng - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 3 Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm tối đa đối với các Ngân hàng (Trang 56)
Bảng 5: Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm tối đa đối với tổ chức tài chính   của nhà cung cấp - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 5 Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm tối đa đối với tổ chức tài chính của nhà cung cấp (Trang 61)
Bảng 7: Tỷ lệ bảo hiểm dành cho các doanh nghiệp nhỏ - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 7 Tỷ lệ bảo hiểm dành cho các doanh nghiệp nhỏ (Trang 64)
Bảng 8: Kết quả hoạt động của SINOSURE 2002-2008 - khóa luận tốt nghiệp bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam
Bảng 8 Kết quả hoạt động của SINOSURE 2002-2008 (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w