Các nội dung cơ bản của luận văn đượctrình bày theo cấu trúc sau: Chương 1 - Khái quát về tra cứu ảnh và bài toán tra cứu tàu cá trên biển Chương 2 - Một số kỹ thuật đánh giá độ tương tự
Trang 1Ninh Thị Kim Yến
MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ
TRONG TRA CỨU TÀU CÁ TRÊN BIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÁY TÍNH
Thái Nguyên - 2016
Trang 2Ninh Thị Kim Yến
MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ
TRONG TRA CỨU TÀU CÁ TRÊN BIỂN
Chuyên ngành: Khoa học máy tính
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÁY TÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐỖ NĂNG TOÀN
Thái Nguyên - 2016
Trang 3Học viên xin cam đoan, toàn bộ nội dung liên quan tới đề tài được trìnhbày trong luận văn là bản thân học viên tự tìm hiểu và nghiên cứu, dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Năng Toàn
Các tài liệu, số liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ nguồn gốc Họcviên xin chịu trách nhiệm trước pháp luật lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 6 năm 2016
Học viên thực hiện
Ninh Thị Kim Yến
Trang 4Học viên xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại họcCông nghệ thông tin và Truyền thông - Đại học Thái Nguyên đã tận tìnhtruyền đạt kiến thức, tổ chức hoạt động cho lớp Thạc sĩ chuyên ngành Khoahọc máy tính, khóa học 2014-2016 Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn vàbiết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đỗ Năng Toàn, trong thời gian qua đã luôntận tình chỉ bảo, giúp đỡ, kịp thời định hướng để em có thể hoàn thành đượcluận văn này.
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thủ trưởng các cấp - nơihọc viên đang công tác, đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ để học viên hoàn thành
chương trình học trong thời gian qua Đồng thời, học viên xin được chân
thành cảm ơn gia đình, các bạn cùng lớp và những người thân thiết đã độngviên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn./
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 6 năm 2016
Học viên thực hiện
Ninh Thị Kim Yến
Trang 5MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
CÁC THUẬT NGỮ, TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH MINH HỌA iv
MỞ ĐẦU 1
Chương1 KHÁI QUÁT VỀ TRA CỨU ẢNH VÀ BÀI TOÁN TRA CỨU TÀU CÁ TRÊN BIỂN 3
1.1 Khái quát về tra cứu ảnh 3
1.1.1 Giới thiệu 3
1.1.2 Một số phương pháp tra cứu ảnh 7
1.2 Bài toán tra cứu tàu cá trên biển 21
1.2.1 Giới thiệu 21
1.2.2 Cách tiếp cận 26
Chương 2 MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ 27
2.1 Kỹ thuật theo mô hình không gian vector (VSM) 27
2.1.1 Phép so sánh histogram 27
2.1.2 Phép so sánh qua giá trị điểm ảnh 33
2.2 Kỹ thuật theo mô hình k-phần tử kề cận (k-NN) 40
2.2.1 Thuật toán k-NN 40
2.2.2 k-NN trong so khớp điểm ảnh 42
2.3 Kỹ thuật kết hợp 50
Chương 3 CHƯƠNG TRÌNH THỬ NGHIỆM 54
3.1 Phân tích yêu cầu bài toán 54
3.2 Phân tích lựa chọn công cụ 55
3.2.1 Mô tả dữ liệu thử nghiệm 55
Trang 63.2.2 Trích chọn đặc trưng cho tàu cá 56
3.2.3 Lựa chọn kỹ thuật đánh giá độ tương tự 56
3.3 Một số kết quả chương trình 57
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64
Trang 7CÁC THUẬT NGỮ, TỪ VIẾT TẮT
nội dung
tế về màu sắc
địa lý
Trang 8DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1 Mô hình hệ thống Tra cứu ảnh theo nội dung 5
Hình 1.2 Không gian màu RGB được trực quan hoá như một hình khối 8
Hình 1.3 Mô tả không gian màu HSV 9
Hình 1.4 Ví dụ về một số loại kết cấu 12
Hình 1.5 Mô hình tàu làm nghề lưới kéo 22
Hình 1.6 Mô hình tàu làm nghề lưới vây 22
Hình 1.7 Mô hình tàu làm nghề lưới rê 23
Hình 1.8 Mô hình tàu làm nghề câu 23
Hình 1.9 Mô hình tàu làm nghề chụp mực 23
Hình 1.10 Tàu cá lưới kéo 41,38 mét 24
Hình 1.11 Tàu chụp mực, dùng đèn vỏ thép dài 43,6 m 25
Hình 1.12 Tàu lưới vây dùng đèn 37,8m 25
Hình 1.13 Tàu lưới kéo hai boong vỏ thép 25
Hình 1.14 Tàu câu mực xa bờ 65m 25
Hình 2.1 Độ tương tự giữa a) và b) phải lớn hơn giữa a) và c) 28
Hình 2.2 Khoảng cách đường tiếp tuyến 34
Hình 2.3 Ảnh và histogram của ảnh 36
Hình 2.4 (a) Ảnh gốc; (b) Histogram gốc; (c) Ảnh cân bằng ; (d) Histogram cân bằng 37
Hình 2.5 Khoảng cách Euclidean trong không gian 2D 41
Hình 2.6 1-NN và 2-NN 42
Hình 2.7 So khớp các điểm “quan trọng” (matching) 43
Hình 2.8 Mô tả điều kiện có thể “ghép đúng” được theo 3 phần tử kề cận 43
Hình 2.9 Sơ đồ thuật toán dò biên Canny 50
Hình 2.10 Hàm xấp xỉ Gaussian rời rạc với 1 4 (cửa sổ W kích cỡ 5x5) 51
Hình 2.11 Cặp mặt lạ tính toán gradient 51
Hình 3.1 Giao diện chương trình thử nghiệm 58
Hình 3.2 Chọn ảnh cần truy vấn 58
Hình 3.3 Biểu đồ Histograms của ảnh 59
Hình 3.4 Xác định giá trị ngưỡng và ảnh xử lý 59
Hình 3.5 Giao diện hiển thị kết quả cuối cùng 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhận dạng và xử lý ảnh là một trong những lĩnh vực có nhiều ứng dụngtrong thực tiễn như: Hệ thống thông tin địa lý, quân sự, y học, vv Đối vớilĩnh vực khoa học quân sự, trong những thập kỷ vừa qua, công nghệ xử lý ảnh
đã thực sự trở thành một lĩnh vực mũi nhọn không thể thiếu
Thời gian gần đây, tình trạng tàu cá nước ngoài có những hành độngxâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam ngày càng nhiều và phức tạp
Tàu cá nước ngoài không chỉ khai thác trái phép hải sản, đưa phương
tiện vào thăm dò tài nguyên biển nước ta, mà còn xuất hiện những hành độngmang tính chất đặc biệt nguy hiểm, dễ gây xung đột vũ trang trên biển như uyhiếp, vô cớ trấn cướp tài sản của ngư dân Việt Nam
Một số hình ảnh tàu cá Việt Nam bị tàu cá nước ngoài uy hiếp trên biển
Trang 10Trong các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam nói riêng
và trên thế giới nói chung, bài toán nhận dạng các loại tàu cá trên biển luôn
được đặt ra cấp thiết từ nhiều năm qua, giải quyết tốt bài toán này sẽ giúp cho
việc quản lý tình hình an ninh mặt biển được nhanh chóng, chính xác, hiệuquả Nhằm đáp ứng bài toán nhận dạng tàu cá, luận văn này sẽ tập trungnghiên cứu một số kỹ thuật đánh giá độ tương tự trong tra cứu tàu cá trên biển
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các ảnh/video có chứa tàu bao gồm
các loại tàu cá nước ngoài, tàu cá Việt Nam cùng các đặc điểm hình dạng cơbản của chúng Phạm vi nghiên cứu là các ảnh mặt biển vào ban ngày có chứamột con tàu
3 Những nội dung nghiên cứu chính
Luận văn được trình bày trong 3 chương, có phần mở đầu, phần kết luận,phần mục lục, phần tài liệu tham khảo Các nội dung cơ bản của luận văn đượctrình bày theo cấu trúc sau:
Chương 1 - Khái quát về tra cứu ảnh và bài toán tra cứu tàu cá trên biển Chương 2 - Một số kỹ thuật đánh giá độ tương tự
Chương 3 - Chương trình thử nghiệm
Do thời gian thực hiện và hiểu biết của học viên còn hạn chế nên luận
văn này không tránh khỏi các thiếu sót về nội dung cũng như hình thức trình
bày Học viên rất mong nhận được sự cảm thông, góp ý, nhận xét của các quýthầy cô và người đọc để học viên có thể hoàn thiện và tiếp tục theo các hướngnghiên cứu sau này
Trang 11Chương1 KHÁI QUÁT VỀ TRA CỨU ẢNH VÀ BÀI TOÁN
TRA CỨU TÀU CÁ TRÊN BIỂN 1.1 Khái quát về tra cứu ảnh
1.1.1 Giới thiệu
Những năm gần đây, vấn đề tra cứu ảnh số nhận được sự quan tâmngày càng lớn Nguyên nhân một phần là do sự phát triển của công nghệ chếtạo thiết bị thu nhận và lưu trữ ảnh số cũng như sự phát triển mạnh mẽcủa mạng Internet Người sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau có cơ hội
để truy cập và sử dụng các kho lưu trữ ảnh thuộc đủ loại chủ đề và với
nhiều kiểu định dạng ảnh khác nhau Tuy nhiên người ta cùng nhận thấyrằng việc tìm được một bức ảnh mong muốn trong bộ sưu tập ảnh đa dạng
có kích thước lớn là rất khó khăn
Tra cứu ảnh là một quá trình tìm kiếm trong một cơ sở dữ liệu ảnhnhững ảnh thoả mãn một yêu cầu nào đó Ví dụ, người sử dụng có thể tìmkiếm tất cả các ảnh về chủ đề về “tàu cá” trong một cơ sở dữ liệu ảnh hoặcmột người sử dụng khác lại muốn phân loại cơ sở ảnh của mình thành các bộ
sưu tập có chủ đề khác nhau Một ví dụ khác về tra cứu ảnh là một người
muốn tìm tất cả các ảnh tương tự với một bức ảnh mẫu nào đó trong một cơ
sở dữ liệu ảnh
Trước năm 1990, người ta thường sử dụng phương pháp tra cứu ảnh theo
văn bản (Text Based Image Retrieval) Theo cách này người ta sẽ gán cho
mỗi bức ảnh một lời chú thích phù hợp với nội dung hoặc một đặc điểm nào
đó của ảnh, sau đó việc tra cứu ảnh được thực hiện dựa trên những lời chúthích này Phương pháp này khá đơn giản Phương pháp tra cứu ảnh như trên
còn được gọi là tra cứu ảnh theo từ khóa Tuy nhiên, việc tra cứu chỉ dựa vào
văn bản đi kèm còn có nhiều nhập nhằng giữa nội dung hiển thị ảnh và nội
Trang 12dung văn bản đi kèm ảnh trong quá trình tra cứu Bên cạnh đó phương pháptra cứu ảnh dựa theo văn bản không thể áp dụng để tra cứu các cơ sở dữ liệu
ảnh có số lượng ảnh lớn và kết quả tra cứu thì mang tính chủ quan và cảm
ngữ cảnh
Vấn đề tra cứu ảnh đã được nhìn nhận rộng rãi và việc tìm kiếm cácgiải pháp cho vấn đề này trở thành một lĩnh vực rất sôi động, thu hút sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và phát triển
Một trong những phương pháp được nhiều người quan tâm nghiêncứu hiện nay là phương pháp “Tra cứu ảnh dựa theo nội dung” (ContentBased Images Retrieval - CBIR) Phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung ra
đời đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp từ khóa CBIR là
một lĩnh vực khoa học được phát triển dựa trên cơ sở lý thuyết và ứng dụngcủa xử lý ảnh Hệ thống cho phép người dùng tra cứu các ảnh tương tự trongmột cơ sở dữ liệu hình ảnh
CBIR được thực hiện thông qua việc tính độ tương tự giữa hai bức ảnh
được biểu diễn bởi một trong số các đặc trưng mức thấp của ảnh như: Màu
sắc, hình dạng, kết cấu… Kết quả đưa ra là tập các bức ảnh tương tự với ảnhtruy vấn được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ tương tự
Trong một hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung điển hình (hình vẽ 1.1)
các nội dung trực quan của ảnh được trích chọn và mô tả bằng những véc tơ
đặc trưng nhiều chiều Tập hợp các vec tơ đặc trưng của các ảnh trong một
cơ sở dữ liệu ảnh tạo thành cơ sở dữ liệu đặc trưng Quá trình tra cứu ảnhđược tiến hành như sau: người sử dụng cung cấp cho hệ thống tra cứu mộtảnh mẫu cụ thể hoặc hình vẽ phác thảo của đối tượng ảnh cần tìm Sau đó hệ
thống sẽ chuyển những mẫu này thành các véc tơ đặc trưng và tính toán sựgiống nhau (hay độ tương tự) giữa véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu và véc tơ
đặc trưng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu Sau cùng việc tra cứu được tiến
Trang 13hành với sự trợ giúp của các sơ đồ đánh chỉ số Sử dụng sơ đồ đánh chỉ số làcách hiệu quả để tìm kiếm trong các cơ sở dữ liệu ảnh.
Hình 1.1 Mô hình hệ thống Tra cứu ảnh theo nội dung
Trong mô hình này, người sử dụng sẽ tạo truy vấn bằng cách chọn một ảnhmẫu trong một cơ sở dữ liệu ảnh cho trước hoặc phác thảo một hình vẽ mô tả
đối tượng ảnh cần tìm bằng cách sử dụng một giao diện đồ hoạ của hệ thống.Ảnh mẫu đó được đưa qua khối mô tả nội dung trực quan, trong đóngười ta sử dụng một phương pháp mô tả nội dung trực quan nào đó để
trích chọn một đặc điểm nội dung trực quan để xây dựng thành một véc tơ
đặc trưng
Véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu sẽ được so sánh với véc tơ đặc trưng
tương ứng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu ảnh Kết quả của phép so sánh
là một chỉ số đánh giá độ tương tự giữa ảnh mẫu và ảnh lấy ra để so sánh.Dựa vào chỉ số độ tương tự tính toán được ở trên, hệ thống sẽ sắp xếp các
ảnh tìm được trong cơ sở dữ liệu ảnh theo một sơ đồ đánh chỉ số nào đó Danh
sách các ảnh tìm được (đã được sắp xếp) được đưa ra đầu ra của hệ thống
trưng
Trang 14Các chức năng chính của một hệ thống tra cứu ảnh dựa vào nội dung bao gồm:
Phân tích nội dung của nguồn thông tin và biểu diễn nội dung của các
nguồn thông tin được phân tích phù hợp với sự đối sánh truy vấn của người
sử dụng (không gian của thông tin nguồn được chuyển đổi thành không gian
đặc điểm với mục đích đối sánh nhanh trong bước tiếp theo) Bước này
thường mất nhiều thời gian cho việc xử lý tuần tự các thông tin nguồn (ảnh)trong cơ sở dữ liệu Nó chỉ phải làm một lần và có thể làm độc lập
Phân tích các truy vấn của người dùng và biểu diễn chúng thành các
dạng phù hợp với việc đối sánh với cơ sở dữ liệu nguồn Nhiệm vụ của bướcnày giống với bướctrước nhưngchỉ được áp dụng với những ảnh truy vấn
Xác định chiến lược để đối sánh tìm kiếm truy vấn với thông tin được
lưu trữ trong cơ sở dữ liệu Bước này có thể thực hiện trực tuyến và thực hiệnrất nhanh Công nghệ đánh chỉ số có thể được sử dụng để nhận dạng khônggian đặc điểm để tăng tốc độ xử lý đối sánh
Tạo ra sự điều chỉnh cần thiết trong hệ thống (thường là bằng cách đối
chiếu các tham số trong công nghệ đối sánh) dựa trên phản hồi từ người sửdụng hoặc những hình ảnh đượctra cứu
Một hệ thống tra cứu ảnh dựa trên nội dung tiêu biểu không chỉ liên quantới các nguồn thông tin trong những dạng khác nhau (ví dụ như văn bản, ảnh
và video) mà còn liên quan đến nhu cầu của người sử dụng Về cơ bản nóphân tích cả nội dung của nguồn thông tin cũng như truy vấn của người sửdụng và sau đó đối sánh chúng để tìm ra những tiêu chí có liên quan này
Các phương pháp truy vấn dưới đây được sử dụng phổ biến trong nghiên
cứu tra cứu ảnh dựa vào nội dung:
+ Truy vấn người sử dụng
+ Truy vấn bởi ảnh mẫu (QBE)
Trang 15+ Truy vấn bởi đặc trưng (QBF)
+ Các truy vấn dựa vào thuộc tính
Một người sử dụng tiêu biểu chắc chắn thích truy vấn các hệ thống tracứu ảnh dựa vào nội dung bằng việc yêu cầu các câu hỏi tự nhiên như “Đưacho tôi tất cả các bức ảnh có hình ảnh của tàu cá” hoặc “Tìm tất cả các ảnh cótàu” Ánh xạ truy vấn ngôn ngữ tự nhiên này đến một truy vấn trên cơ sở dữliệu ảnh là vô cùng khó so với việc sử dụng các phương pháp chú thích Khả
năng của các máy tính để thực hiện nhận dạng đối tượng tự động trên các ảnh
chung vẫn là một vấn đề nghiên cứu mở Do đó hầu hết các nỗ lực nghiên cứu
và thương mại tập trung vào xây dựng các hệ thống thực hiện tốt với cácphương pháp QBE
1.1.2 Một số phương pháp tra cứu ảnh
1.1.2.1 Tra cứu ảnh theo nội dung
Trích rút đặc trưng là cơ sở của tra cứu ảnh dựa vào nội dung Theo
nghĩa rộng, các đặc trưng có thể bao gồm cả các đặc trưng dựa vào văn bản và
các đặc trưng trực quan như màu, kết cấu, hình dạng Trong phạm vi đặctrưng trực quan, các đặc trưng có thể được phân loại tiếp thành các đặc trưng
chung và các đặc trưng lĩnh vực cụ thể Các đặc trưng trực quan chung gồmmàu, kết cấu và hình dạng trong khi các đặc trưng lĩnh vực cụ thể là phụ thuộc
ứng dụng, có thể gồm mặt người và vân tay Các đặc trưng lĩnh vực cụ thể
bao gồm nhiều tri thức lĩnh vực
Nói chung, không tồn tại một biểu diễn đơn tốt nhất cho một đặc trưng
đã cho Với mọi đặc trưng được cho tồn tại nhiều biểu diễn mô tả đặc trưng từ
các viễn cảnh khác nhau
a) Màu sắc
Mắt người rất nhạy cảm với màu sắc và đặc điểm màu là một trongnhững thành phần quan trọng giúp con người có thể nhận biết được hình ảnh
Trang 16Vì vậy, đặc điểm màu sắc là đặc điểm cơ bản của nội dung ảnh Đặc điểmmàu sắc có thể cung cấp những thông tin rất hữu hiệu cho việc phân loại ảnh
và chúng cũng rất hữu ích cho việc tra cứu ảnh Cũng vì thế mà tra cứu ảnhdựa trên màu sắc được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống tra cứu ảnh dựatrên nội dung Biểu đồ màu thường được sử dụng để thể hiện những đặc điểmmàu của các ảnh Mặc dù vậy trước khi sử dụng biểu đồ màu chúng ta cầnphải lựa chọn và xác định kiểu không gian màu và lựa chọn độ đo tương tự
Không gian màu
Không gian màu là sự biểu diễn tập các màu, một số không gian màu
được sử dụng rộng rãi trong đồ họa máy tính Màu sắc thường được xác định
trong không gian màu 3 chiều
Không gian màu RGB
Không gian màu RGB là không gian màu được sử dụng nhiều nhất cho
đồ hoạ máy tính Lưu ý rằng R, G và B là viết tắt của các từ đỏ (Red), xanh
lục (Green) và xanh lơ (Blue) Đây là không gian màu cộng: đỏ, xanh lục và
xanh lơ được kết hợp lại để tạo ra các màu khác Không gian này không đồng
nhất về nhận thức Không gian màu RGB có thể được trực quan hoá như mộthình khối, như được minh hoạ trong hình 1.2
Hình 1.2 Không gian màu RGB được trực quan hoá như một hình khối.
Trang 17Không gian màu HSx
Không gian màu HSI, HSV, HSB và HSL thường được gọi là HSx cómối liên quan gần gũi với sự nhận thức về màu sắc của con người hơn làkhông gian màu RGB Những trục từ không gian màu HSx mô tả những đặctính của màu như sắc độ, độ bão hoà và độ sáng Sự khác nhau giữa nhữngkhông gian màu HSx là sự biến đổi của chúng từ không gian màu RGB,
chúng thường được mô tả bằng những hình dạng khác nhau (như hình nón,
hình trụ) Trong hình 1.3 không gian màu HSV được mô tả như hình nón
Hình 1.3 Mô tả không gian màu HSV
Sắc độ là thành phần của không gian màu HSx Sắc độ là góc giữanhững đường tham chiếu và điểm gốc màu trong không gian màu RGB Vùng
đến cạnh hình nón Chiều cao của đường cắt chính là giá trị (value) đây chính
là độ sáng hoặc độ chói của màu Khi độ bão hoà S bằng 0 thì H không xácđịnh, giá trị nằm trên trục V biểu diễn ảnh xám Không gian màu HSV dễdàng lượng tử hoá Mức lượng tử hoá thông dụng trong không gian màu này
là 162 mức với H nhận 18 mức, S và V nhận 3 mức
Không gian màu YUV và YIQ
Các không gian màu YUV và YIQ được phát triển cho truyền hình vô
tuyến Không gian màu YIQ là giống như không gian màu YUV, ở đây mặt
Trang 18phẳng I-Q là một mặt phẳng quay 330của mặt phẳng U-V Tín hiệu Y biểudiễn độ chói của một pixel và là kênh duy nhất được sử dụng trong ti vi đentrắng U và V cho YUV và I và Q cho YIQ là các thành phần màu.
Kênh Y được định nghĩa bởi các giá trị năng lượng có trọng số củaR(0.299), G(0.587) và B(0.144) Các không gian màu YUV và YIQ không
là đồng nhất nhận thức Khi các không gian màu YUV và UIQ được lượnghoá, mỗi trục được lượng hoá với cùng độ chính xác
Không gian màu CIE XYZ và CIE LUV
Không gian màu đầu tiên được phát triển bởi CIE là không gian màu
XYZ Thành phần Y là thành phần độ chói được xác định bởi các tổng cótrọng số của R(0:212671), G(0:715160) và B(0:072169) X và Y là các thànhphần màu Không gian màu XYZ là không đồng nhất nhận thức Trong lượnghoá không gian màu XYZ, mỗi trục được lượng hoá với cùng độ chính xác.Không gian màu CIE LUV là một biến đổi xạ ảnh của không gian màu
XYZ là đồng nhất nhận thức Kênh L của không gian màu LUV là độ chói
của màu Các kênh U và V là các thành phần màu Vậy, khi U và V được đặtbằng 0, kênh L biểu diễn một ảnh cấp xám
Trong lượng hoá không gian LUV, mỗi trục được lượng hoá với cùng độ
chính xác Với cả không gian màu XYZ và LUV, các lược đồ lượng hoá
thường sử dụng 8 (23), 27 (33), 64 (43), 125 (53) bin
Lược đồ màu
Lược đồ màu được xác định bằng một tập các bin, trong đó mỗi bin biểu
thị xác suất của các pixel trong ảnh Một lược đồ màu H của một ảnh đã cho
được xác định bởi véc tơ: H H[ 0 ],H[ 1 ],H[ 2 ], ,H[i], H[N], trong đó H [i] là
số các pixel có màu i trong ảnh, i biểu diễn một màu trong lược đồ màu và
tương ứng với một khối con trong không gian màu RGB và N là số các bintrong lược đồ màu
Trang 19Mỗi pixel trong ảnh sẽ thuộc về một bin của lược đồ màu của ảnh, vì thếvới lược đồ màu của một ảnh, giá trị của mỗi bin là số các pixel cùng màu Để
so sánh các ảnh có các kích cỡ khác nhau, các lược đồ màu được chuẩn hóa
Lược đồ màu chuẩn hóa H’ được xác định:
H P là tổng số các
pixel trong ảnh
Trong lược đồ lượng hóa không gian màu lý tưởng, các màu riêng biệt
không được định vị trong cùng hình khối con và các màu tương tự được gánvào cùng hình khối con Sử dụng một số màu sẽ giảm khả năng các màu tương
tự được gán vào các bin khác nhau nhưng cũng tăng khả năng các màu riêngbiệt được gán vào cùng các bin, nội dung thông tin của các ảnh sẽ giảm Mặt
khác, các lược đồ màu với một số lượng lớn các bin sẽ chứa nhiều thông tin về
nội dung của ảnh, theo đó giảm khả năng các màu riêng biệt sẽ được gán vào
cùng các bin Tuy nhiên, chúng tăng khả năng các màu tương tự sẽ được gánvào các bin khác nhau và tăng không gian lưu trữ biểu diễn ảnh và thời gian
tính toán khoảng cách giữa các lược đồ màu Do đó, cần có sự thỏa hiệp trongviệc xác định số lượng các bin sẽ được sử dụng trong các lược đồ màu
b) Kết cấu
Kết cấu là một đặc tính quan trọng khác của ảnh Các biểu diễn kết cấu
đa dạng đã được nghiên cứu trong nhận dạng mẫu và thị giác máy tính Về cơ
bản, các phương pháp biểu diễn kết cấu có thể được phân ra thành hai loại:cấu trúc và thống kê
Các phương pháp cấu trúc, gồm toán tử hình thái và đồ thị kề, mô tả kết
cấu bởi nhận dạng cấu trúc gốc và các luật sắp đặt của chúng Chúng có chiều
hướng hiệu quả nhất khi được áp dụng với các kết cấu đều
Các phương pháp thống kê, gồm các kỹ thuật phổ năng lượng Fourier,
Trang 20các ma trận đồng khả năng, phân tích thành phần chính bất biến - trượt, đặc
trưng Tamura, phân rã Wold, trường ngẫu nhiên Markov (Markov random
field), mô hình fractal và lọc đa phân giải như biến đổi Gabor và sóng, mô tảkết cấu bằng phân bố thống kê của cường độ ảnh
Trích xuất nội dung ảnh theo kết cấu nhằm tìm ra mô hình trực quan của
ảnh và cách thức chúng được xác định trong không gian Kết cấu được biểu
diễn bởi các texel mà sau đó được đặt vào một số các tập phụ thuộc vào số kếtcấu được phát hiện trong ảnh Các tập này không chỉ xác định các kết cấu màcòn chỉ rõ vị trí các kết cấu trong ảnh Việc xác định các kết cấu đặc biệt trong
ảnh đạt được chủ yếu bằng cách mô hình các kết cấu như những biến thể cấp
độ xám 2 chiều Ví dụ về một số loại kết cấu
Hình 1.4 Ví dụ về một số loại kết cấu
c) Hình dạng
Hình dạng được xem như là một đặc trưng quan trọng trong mô tả các
đối tượng nổi bật trong ảnh và có thể giúp phân biệt giữa hai ảnh
Bước đầu tiên là sử dụng một phương pháp phân đoạn thích hợp để chiaảnh thành các vùng Các kỹ thuật phân đoạn có thể được phân lớp thành ba
loại: dựa vào vùng, dựa vào đường biên và dựa vào pixel Sau khi ảnh được
phân đoạn và thu được các vùng, các đặc trưng thuộc về các vùng thu được sẽđược ghi lại Các mã xích sử dụng 4 hoặc 8 liên thông để biểu diễn các đoạn
thẳng tạo thành đường biên của vùng Các dấu hiệu, số các hình và đa giác là
Trang 21các lược đồ biểu diễn khác.
Bước tiếp theo là sử dụng các mô tả thích hợp cho các vùng này sao cho
chúng có thể được sử dụng trong khi đối sánh các vùng của các ảnh khácnhau Các mô tả hình được chia thành ba loại: Các mô tả dựa vào đường biênxác định các thuộc tính của đường biên Các kỹ thuật dựa vào đường biên sửdụng các phác thảo vùng để tính toán hình Mô tả Fourier là một trong những
phương pháp phổ biến thuộc về loại này Trong kỹ thuật này, đường biên của
một vùng đã cho được thu và được biến đổi Fourier Các hệ số Fourier trội
được sử dụng như các mô tả hình Các mô tả khác trong loại này là các
mômen hình
Nếu một vùng có một hình phức hợp, nó có thể được phân tách tiếpthành các hình đơn giản hơn như các hình chữ nhật hoặc các hình tròn và một
số thuộc tính của các hình đơn giản này và các quan hệ của chúng có thể được
sử dụng cho các mô tả hình Các mô tả vùng khác gồm màu và kết cấu Một
số đặc tính của vùng như trọng tâm, không cụ thể đối với đường biên hoặc nộidung của vùng
d) Thông tin không gian
Các vùng hoặc đối tượng với các đặc tính màu và kết cấu tương tự có thể
được phân biệt dễ dàng bằng việc tận dụng các ràng buộc không gian Thí dụ,
các vùng bầu trời màu xanh và biển xanh có thể có các lược đồ màu tương tự,
nhưng các vị trí không gian của chúng trong các ảnh là khác nhau Do đó, vị
trí không gian của các vùng (hoặc các đối tượng) hoặc quan hệ không giangiữa nhiều vùng (hoặc đối tượng) trong một ảnh thì rất hữu ích cho tìm kiếmcác ảnh
Thu thông tin không gian của các đối tượng trong một ảnh là một quátrình quan trọng đối với các hệ thống GIS Quá trình này bao gồm việc biểudiễn vị trí không gian tuyệt đối và cũng bao gồm vị trí không gian tương đối
Trang 22của các đối tượng Các thao tác như giao và chồng được sử dụng Bố cục màukết hợp thông tin không gian với thông tin màu xuất hiện trong ảnh và tạo ramột đặc trưng rất quan trọng trong quá trình tra cứu, gọi là đặc trưng màu –không gian.
Biểu diễn quan hệ không gian được sử dụng rộng rãi nhất là các xâu 2D
được đề xuất bởi Chang và cộng sự Nó được xây dựng bởi việc chiếu các ảnh
dọc theo các hướng x và y Hai tập ký hiệu V và A được định nghĩa trên hìnhchiếu Mỗi ký hiệu trong V biểu diễn một đối tượng trong ảnh Mỗi ký hiệu Abiểu diễn một loại quan hệ không gian giữa các đối tượng Do sự biến đổi của
nó, xâu 2DG cắt tất cả các đối tượng dọc theo hình hộp tối thiểu của nó và mởrộng các quan hệ không gian thành lập hai toán tử không gian Một tập địnhnghĩa các quan hệ không gian cục bộ Tập còn lại định nghĩa quan hệ khônggian toàn cục, chỉ ra rằng hình chiếu của hai đối tượng là tách rời, nối tiếphoặc định vị tại cùng vị trí Thêm nữa, xâu 2DC được đề xuất để cực tiểu hóa
số các đối tượng cắt Xâu 2D-B biểu diễn một đối tượng bằng hai ký hiệu, vịtrí cho bắt đầu và kết thúc đường bao của đối tượng Tất cả các phương phápnày có thể hỗ trợ ba loại truy vấn Loại truy vấn 0 tìm tất cả ảnh chứa đối
tượng O1, O2, ,On Loại 1 tìm tất cả các ảnh chứa các đối tượng có quan hệ
nào đó giữa chúng nhưng khoảng cách giữa chúng là không đáng kể Loại 2
tìm tất cả các ảnh có quan hệ khoảng cách nào đó với mỗi ảnh khác
Thêm với xâu 2D, cây tứ phân không gian và ảnh ký hiệu cũng được sửdụng cho biểu diễn thông tin không gian Tuy nhiên, tìm kiếm các ảnh dựatrên các quan hệ không gian của các vùng còn lại là một vấn đề nghiên cứukhó trong tra cứu ảnh dựa vào nội dung, do phân đoạn tin cậy của các đối
tượng hoặc các vùng thường là không khả thi ngoại trừ các ứng dụng rất giới
hạn Mặc dù một số hệ thống chia các ảnh thành các khối đều, chỉ thu được sựthành công khiêm tốn với các lược đồ chia không gian như thế do hầu hết các
Trang 23ảnh tự nhiên không thể ép thành các khối con đều về không gian Để giải
quyết vấn đề này, một phương pháp dựa vào biến đổi radon, tận dụng phân bốkhông gian của các đặc trưng trực quan không cần phân đoạn phức tạp
e) Phân đoạn
Phân đoạn là quá trình phân ảnh ra thành các vùng mà về lý tưởng nó sẽtương ứng với các đối tượng xuất hiện trong ảnh Đây là bước rất quan trọngđối với tra cứu ảnh Cả đặc trưng hình và đặc trưng bố cục phụ thuộc vàophân đoạn tốt Trong phần này chúng tôi sẽ mô tả một số kỹ thuật phân đoạn
đã có được sử dụng trong cả thị giác máy và tra cứu ảnh
Trong, Lybanon và các cộng sự đã nghiên cứu một cách tiếp cận phéptoán hình thái học (mở và đóng) trong phân đoạn ảnh Họ đã kiểm tra cáchtiếp cận của họ với các loại ảnh khác nhau, gồm các ảnh thiên văn và các ảnhhồng ngoại Trong khi cách tiếp cận này là hiệu quả trong xử lý các loại ảnhkhoa học ở trên, hiệu năng của nó cần được tiếp tục đánh giá cho các ảnh tựnhiên phức tạp hơn Li và cộng sự đã đề xuất một cách tiếp cận phân đoạn dựavào entropy mờ Cách tiếp cận này dựa trên thực tế rằng entropy cực đại địa
phương tương ứng với sự không rõ ràng giữa các vùng khác nhau trong ảnh
Cách tiếp cận này rất hiệu quả cho các ảnh có lược đồ không có các đỉnh vàcác rãnh rõ ràng Các kỹ thuật phân đoạn khác dựa trên phép đạc tam giácDelaunay (Delaunay triangulation), fractals và luồng biên (edge flow)
Tất cả các thuật toán được đề cập ở trên là tự động Một ưu điểm chínhcủa các thuật toán phân đoạn loại này là nó trích rút các đường bao từ một số
lượng lớn các ảnh mà không chiếm thời gian và nỗ lực của con người Tuy
nhiên, trong một lĩnh vực tự nhiên, với các ảnh không có điều kiện tiên quyết,
phân đoạn tự động không luôn luôn tin cậy Một thuật toán có thể phân đoạntrong trường hợp này chỉ là các vùng, mà không là các đối tượng Để thu đượccác đối tượng mức cao, nó cần có sự trợ giúp của con người
Trang 24Samadani và Han đã đề xuất một cách tiếp cận trích rút đường bao được
trợ giúp bởi máy tính, nó kết hợp các đầu vào thủ công từ người sử dụng vớicác biên ảnh được sinh ra bởi máy tính Trong, Daneel và cộng sự đã pháttriển một phương pháp cải tiến của các chu tuyến thiết thực Dựa trên đầu vàocủa người sử dụng, đầu tiên thuật toán sử dụng một thủ tục tham lam để cungcấp sự hội tụ ban đầu nhanh Thứ hai, nét ngoài được lọc bằng việc sử dụngquy hoạch động Trong, Rui và cộng sự đã đề xuất một thuật toán dựa vàophân cụm và nhóm trong không gian - màu - kết cấu Người sử dụng địnhnghĩa đối tượng quan tâm là ở đâu, và thuật toán nhóm các vùng thành các đối
tượng có ý nghĩa
Giá trị đáng chú ý sau cùng đề cập trong phân đoạn là các yêu cầu chính
xác phân đoạn là rất khác nhau cho các đặc trưng hình và các đặc trưng bố
cục Với các đặc trưng hình, phân đoạn chính xác là mong muốn cao trong khi
các đặc trưng bố cục, một phân đoạn thô có thể là đủ
1.1.2.2 Tra cứu ảnh dựa vào hình dạng
a) Lược đồ hình dạng
Lược đồ hình dạng là phương pháp giúp cho việc tính toán được dễ dàng
và nhanh trong thi hành Chúng sử dụng cả sự so sánh về màu sắc và vân Vấn
đề chính là định nghĩa biến cho lược đồ hình dạng được định nghĩa Xem như
hình dạng trong ảnh là một vùng những giá trị một trong ảnh nhị phân, trongkhi toàn thể những giá trị khác đều là giá trị không Một kiểu của so khớphình dạng ảnh là so khớp hình chiếu thông qua hình chiếu đứng và hình chiếunằm của hình dạng Giả sử rằng hình dạng có n hàng và có m cột Mỗi hàng
và mỗi cột là một bin trong lược đồ hình dạng Tổng số được lưu trữ trongmột bin là tổng số những giá trị 1 được lưu trữ trong dòng hoặc cột tương ứng
đó Điều này đưa đến một lược đồ gồm có một bin, nhưng điều này cũng chỉ
có ý nghĩa khi tất cả những ảnh được xem xét phải có cùng một kích thước
Trang 25Để làm cho việc so khớp hình chiếu bất biến đối với kích thước, số lượng bin
của dòng và số lượng bin của cột phải ổn định Bằng cách định nghĩa nhữngbin từ góc trái trên đến góc phải dưới của hình dạng, sự chuyển đổi bất biến
đã đạt được Việc so khớp hình chiếu không bất biến đối với phép xoay ảnh,nhưng nó có thể làm việc tốt với sự xoay nhỏ và sự thiếu chính xác thuộc về
hình học ở mức độ nhỏ Một cách khác để làm nó bất biến đối với phép quay
là tính toán theo trục toạ độ elip vừa nhất và xoay chúng cho đến khi trụcchính là trục nằm ngang Vì không biết nơi đâu là phía trên cùng của hìnhdạng, xoay hai khả năng có thể xảy ra để thử Hơn nữa, nếu trục chính và trụcphụ có cùng chiều dài thì 4 khả năng xoay phải được xem xét So khớp hìnhchiếu được sử dụng thành công trong tìm kiếm ảnh logo Những khả năng
khác để xây dựng lược đồ thông qua góc tiếp tuyến tại mỗi điểm ảnh trênđường bao của hình dạng Độ đo này thì hoàn toàn tự động về mặt kích thước
và bất biến đối với sự dịch chuyển, nhưng nó cũng không bất biến đối với
xoay đối tượng, bởi vì góc tiếp tuyến được tính từ hình dạng đối với mộthướng xác định Có một số cách khác nhau để giải quyết vấn đề này Cách thứ
nhất là xoay hình dạng về trục chính như đã mô tả ở trên Một cách khác đơngiản hơn là xoay lược đồ hình dạng Nếu lược đồ có K bin, thì sẽ có K khả
năng xoay Những vị trí xoay không đúng có thể làm ảnh hưởng tốc độ của
việc tính toán, đặc biệt là trong trường hợp lược đồ và ảnh có kích thước lớn.Hoặc là lược đồ có thể được tiêu chuẩn hoá bởi cách chọn bin với số đếm lớnnhất là bin đầu tiên Một vài bin lớn nhất nên được thử vì có thể có sự tồn tạicủa nhiễu
Trang 26đa giác Đối với một dãy những điểm ảnh, một loại so khớp cổ điển là dùng
mô tả Fourier để so sánh hai hình dạng với nhau Trong toán học hàm liêntục, mô tả Fourier là những hệ số của dãy triển khai Fourier của hàm mà địnhnghĩa đường biên của hình dạng ảnh Trong trường hợp đặc biệt, hình dạng
được trình bày bởi dãy của m điểm <V0,V1, ,Vm-1>
Từ những dãy điểm này, một dãy của vectơ đơn vị :
k k
k k k
V V
V V V
và một dãy của những sai phân:
k
e v v L
n L
a
1
) / 2 ( 1
2 )
2 (
Những mô tả này có thể được dùng để định nghĩa độ đo khoảng cách hình dạng.Giả sử Q là ảnh truy vấn và I là ảnh mang hình dạng được so sánh với Q
Fourier cho ảnh Khi đó độ đo khoảng cách Fourier như sau:
2 / 1 2 )
Q n I n Fourier I Q a a d
Như đã mô tả, khoảng cách này chỉ bất biến đối với phép tịnh tiến Nếu mà
những bất biến khác đòi hỏi, có thể dùng sự kết hợp với nhiều hàm số học có
Nếu mà đường biên được trình bày dưới dạng một đa giác, chiều dài của cáccạnh và góc giữa chúng có thể được tính và dùng để trình bày hình dạng Một
(1.2)
(1.3)
(1.4) (1.1)
Trang 27hình dạng có thể được trình bày bởi một dãy những điểm nối liền nhau (Xi,
Yi, α i ), với cặp đường thẳng giao nhau tại điểm (Xi, Yi) với góc lớn α i
Cho một dãy Q = Q1, Q2, , Qn của những điểm nối liền nhau trình bày
đường biên của đối tượng truy vấn Q và một dãy tương tự I = I1, I2, , Im
trình bày đường biên của đối tượng I, mục tiêu là tìm một ánh xạ từ Q tới I
mà ánh xạ từ dãy phân đoạn của ảnh truy vấn tới dãy có chiều dài tương tự
phân đoạn của ảnh và sao cho cặp của dãy phân đoạn truy vấn gần kề mà gặp
tại một góc đặc biệt α nên ánh xạ tới một cặp những dãy phân đoạn gần kề
mà gặp nhau tại một góc α' tương tự Một kỹ thuật so khớp đường biên khác
là so khớp mềm dẻo (elasticmatching) trong đó hình dạng truy vấn được làmbiến dạng để trở nên càng giống với hình dạng ảnh mẫu càng tốt Sự cách biệtgiữa hình dạng ảnh truy vấn và hình dạng của ảnh mẫu dựa vào hai thànhphần chính: năng lượng đòi hỏi trong quá trình biến dạng từ hình dạng ảnhtruy vấn tới mức độ phù hợp nhất với hình dạng trong ảnh mẫu Và sự đo
lường về độ giống nhau giữa hình dạng ảnh truy vấn sau khi bị biến dạng
khớp với hình dạng trong ảnh mẫu
c) So khớp với ảnh phác họa
Hệ thống so khớp phác họa cho phép người dùng nhập vào một bản pháchọa của những đường biên chính trong một ảnh và sau đó hệ thống sẽ tìmkiếm những ảnh màu hay ảnh xám mà có đường biên khớp nhất Những ảnh
màu được tiền xử lý như sau để đạt được một dạng trung gian gọi là ảnh được
trích rút (abstract image)
- Áp dụng phép biến đổi affine để giảm kích thước ảnh về kích thước chỉ
định trước Dùng một mặt nạ trung vị để lọc nhiễu Kết quả của bước này cho
ra một ảnh được tiêu chuẩn hóa [1]
- Dò biên sử dụng thuật toán dò tìm đường biên dựa trên gradient Dò
biên được tiến hành qua hai bước: những biên toàn cục sẽ được tìm thấy trước
Trang 28tiên với một ngưỡng toàn cục dựa trên giá trị trung bình và biến đổi của
gradient; sau đó, những đường biên cục bộ sẽ được chọn từ toàn cục theo
những ngưỡng cục bộ Kết quả của bước này cho ra ảnh gọi là ảnh đã đượclọc biên (refined edge image)
- Tiến hành làm mảnh và rút ngắn trên ảnh đã được lọc biên Kết quảcuối cùng được gọi là ảnh được trích rút Khi người sử dụng nhập vào mộtbức ảnh phác họa ở dạng thô như là một ảnh truy vấn, nó cũng lần lượt được
đưa qua các giai đoạn chuẩn hóa kích thước, nhị phân hóa, làm mảnh hoá và
rút gọn Kết quả của quá trình xử lý này cho ra một ảnh gọi là bản phác họa
đều nét Giờ đây, bản phác họa đều nét phải được so khớp với những ảnhđược trích rút ở trên Thuật giải so khớp là thuật giải dựa vào mối tương quan
Hai ảnh sẽ được chia ra làm những hệ thống lưới ô vuông Đối với mỗi hệthống lưới ô vuông của ảnh truy vấn, tương quan cục bộ với hệ thống lưới ô
vuông tương ứng của ảnh cơ sở dữ liệu sẽ được tính Để thiết thực hơn, tương
quan cục bộ được tính cho một vài những dịch chuyển khác biệt trong vị trítrong hệ thống ô lưới trên những ảnh cơ sở dữ liệu và giá trị tương quan cực
đại qua tất cả những dịch chuyển là kết quả của cho hệ thống ô lưới đó Độ đo
sự giống nhau cuối cùng là tổng của mỗi tương quan cục bộ Độ đo khoảngcách là nghịch đảo của độ đo sự giống nhau này
Từ những chú giải trên, nó có thể được biểu diễn lại dưới dạng sau:
g
Q I
n n correlatio n
sketch
g L g A shift d
Q I
d
))]
( )), ( ( (
ˆ
[ max
1 )
, (
lưới g của bản họa đều nét có kết quả từ ảnh truy vấn Q
(1.5)
Trang 291.2 Bài toán tra cứu tàu cá trên biển
1.2.1 Giới thiệu
Tàu cá di chuyển trên bề mặt đại dương, có đường đi không ổn định, nó
dễ dàng được nhận ra một cách trực quan qua các ảnh thu được từ vệ tinhquân sự Nên bình thường tàu được xác định trong khi nó vẫn còn ở rất xa.Các loại tàu, lớp tàu nên được xác định từ hình bóng của nó từ rất sớm trướckhi hình ảnh, tên của nó có thể được phân biệt bằng các loại ngư cụ khác.Việc xác định đầu tiên được thực hiện là phải xác định được các tàu này là mộttàu cá Việt Nam hay là tàu cá nước ngoài
Tàu thuyền khai thác thủy sản là tàu thuyền có kết cấu và tính năng phùhợp với yêu cầu hoạt động của từng loại ngư cụ nhằm đạt hiệu quả đánh bắtcao Phân loại tàu thuyền đánh cá dựa vào các yếu tố sau:
Trang bị động lực: có lắp máy hoặc không lắp máy, trong luận văn này
chỉ quan tâm tới loại tàu cá lắp máy có công suất từ 90CV trở lên (Việt Namkhoảng 25.488 chiếc, chiếm 20,7%) [2]
Loại ngư cụ: tàu làm nghề lưới kéo, nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề
câu, nghề chụp mực…nghề lưới kéo chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu khaithác của cả nước trên 18%, nghề lưới rê 37,9%, nghề câu 17,5% [2]
Vật liệu vỏ tàu: tàu vỏ gỗ, tàu vỏ thép, tàu vỏ thép, tàu vỏ composit.
- Đối với tàu cá Việt Nam có đặc điểm chung là thường sơn các màu loẹt,
tùy theo phong tục của từng địa phương, thường ngắn và thấp hơn so với tàu cá
nước ngoài Hai bên mạn tàu có chữ và số tàu (tên địa phương và công ty) Trên
boong có buồng lái không lớn, có nhiều cột, tàu lớn có cẩu…
- Đối với tàu cá nước ngoài tiếp giáp vùng biển Việt Nam bao gồm tàu
cá Trung Quốc, Philippin, Thái Lan trong luận văn này chủ yếu quan tâmtới các tàu cá hoạt động trong Vùng biển Việt Nam chủ yếu đó là các tàu củaTrung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan Về cấu trúc thường lớn hơn tàu cá VN
Trang 30Đối với tàu cá Trung Quốc chủ yếu sơn màu nâu cánh dán, ít sơn màu
lòe loẹt Riêng đối với tàu của Bắc Hải có ca bin dài và nằm ở 1/3 tính từ mũitàu, mạn khô cao Đối với tàu của tỉnh Hải Nam và Quảng Đông chủ yếu làtàu sắt cỡ lớn Tàu Quảng Tây là tàu nhỏ, cabin nằm ở 1/3 tính từ phía sau,mũi cao Đối với tàu cá bằng sắt thì thường sơn màu xám đen
a) Một số loại tàu cá Việt Nam khai thác xa bờ (vùng khơi)
Việt Nam có khoảng 123.125 chiếc tàu cá nhưng chủ yếu là tàu vỏ gỗ(khoảng 99%), phần lớn đóng theo mẫu dân gian, tàu vỏ thép và compositechiếm số lượng không đáng kể [2]
Tàu làm nghề lưới kéo (giã cào)
Kích thước vỏ tàu phổ biến như
sau: chiều dài của tàu từ 13,4m-32m, chiều
rộng của tàu từ 3,5m-6,9m
Hình 1.5 Mô hình tàu làm nghề lưới
kéo
Tàu làm nghề lưới vây (vây bút chì)
Tàu có một số đặc điểm khác tàu thuyền
làm nghề thủy sản khác như: tốc độ tàu khi
vây lưới phải cao, bán kính quay trở nhỏ, be
thấp, chiều rộng của tàu lớn
Hình 1.6 Mô hình tàu làm nghề
lưới vây
Trang 31Tàu làm nghề lưới rê
Lưới rê sử dụng lưới có độ thô nhỏ nên be
tàu phải nhẵn, vỏ tàu hầu hết cấu tạo bằng gỗ
với kích thước và kiểu dáng rất khác nhau, đa
số các tàu có cabin ở phía đuôi tàu Kích thước
nhỏ, chiều dài từ 8-14,5m Từ Đà Nẵng trở vào
có kích thước lớn hơn, chiều dài tàu từ 8-20m
Công suất máy tàu phổ biến từ 12-350CV
Hình 1.7 Mô hình tàu làm nghề lưới rê
Tàu làm nghề câu
Hầu hết đóng bằng gỗ dày, kiểu dáng
phong phú theo từng vùng, tàu khu vực miền
Trung đóng theo kiểu dân gian truyền thống,
miền Nam đóng theo kiểu Thái Lan có cải
Tàu làm nghề mành chụp
Hầu hết cấu tạo vỏ bằng gỗ, đóng theo
kiểu dân gian, boong thao tác được đặt phía
trước cabin, hai bên mạn phía trước và phía
sau có lắp đặt 2-4 tăng gông dùng để căng
lưới chụp mực thường từ 11-17m tùy thuộc
vào công suất từ 45-250 CV
Hình 1.9 Mô hình tàu làm nghề
mành chụp
Trang 32Tóm lại, tàu cá Việt Nam có kích cỡ nhỏ, năng lực chịu gió bão kém, sứcchứa các khoang nhiên liệu, nước ngọt, chứa cá đều nhỏ, không có hệ thống
làm đông, tốc độ thấp, kết cấu thân tàu và bố trí chung không hợp lý Việt
Nam cũng đã quy chuẩn một số tàu vỏ thép phục vụ đánh bắt xa bờ nhưng dogiá thành cao và thiết kế chưa phù hợp thực tiễn nên số lượng tàu vỏ thép
được hạ thủy tới thời điểm hiện tại là rất ít Được biết, trong khi ngư dân có
thể dùng tàu vỏ gỗ để đánh bắt tùy theo ngành nghề, theo mùa, còn các mẫuthiết kế của tàu vỏ thép mỗi con tàu chỉ dùng cho một ngành nghề đánh bắt
b) Một số loại tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam
Một số tàu cá nước ngoài đã quy chuẩn phục vụ từ đánh bắt xa bờ, kết hợp
được làm ăn kinh tế với chiêu bài chính trị
Tàu cá lưới kéo vỏ thép 41,38 mét
Kích thước chủ yếu: dài 41.38m,
rộng 7.2m, cao mạn 4.0m Sống mũi
vểnh về phía trước, một boong, một
đáy, đuôi vuông, kết cấu ngang, tốc độ
thiết kế 11hải lý/giờ, năng lực hoạt
động độc lập 90 ngày, chứa khoảng 90
tấn dầu đốt, có sức chịu gió tốt Hệ số
lăng trụ nhỏ, đầu đuôi tàu mảnh mai,
sức cản sóng giảm, các thành phần sức
cản còn lại cũng giảm
Hình 1.10 Tàu cá lưới kéo 41,38 mét
Loại tàu cá lưới kéo vỏ thép
41,38m được nước ngoài chuẩn bị
riêng cho việc đánh bắt xa bờ, mà
cụ thể ở quần đảo Trường Sa thuộcchủ quyền Việt Nam
Trang 33Tàu chụp mực, dùng đèn vỏ thép
Chiều dài tối đa 43,6 m; chiều rộng
7,6m; chiều cao mạn 4,1m; mớn nước
3,2m Đó là tàu một boong, một đáy,
đuôi vuông, hai máy chính, tốc độ thiết
kế 11 hải lý/giờ, dự trữ nhiên liệu 73
Tàu đánh cá lưới vây dùng đèn
một boong vỏ thép 37,8 mét
Tàu có chiều dài toàn bộ 37,8;
chiều dài giữa hai trục 32,3; chiều rộng
6,3; chiều cao mạn 3,35; mớn nước 2,4
mét; tốc độ 11 hải lý/giờ; tầm hoạt
động 1500 hải lý; 13 người Hình 1.12 Tàu lưới vây dùng đèn 37,8m
Tàu lưới kéo hai boong vỏ thép
36,8 mét (8186)
Đó là một tàu đánh cá lưới kéo viễn
dương nhỏ có GT=370, chiều dài toàn
bộ 36,8m, tàu có thể hoạt động tại các
độ sâu 400 tới 1000 mét nước Hình 1.13 Tàu lưới kéo hai boong vỏ thép
Tàu câu mực xa bờ 65 mét
Tàu có chiều dài 65,53m, chiều dài
giữa hai trụ 57,5m, chiều rộng 9,8m,
chiều cao mạn 6,20m, lượng chiếm
nước 1487 tấn Có khả năng hoạt động
Trang 34Trong 05 loại tàu trên, loại số 1, 2, 3 (tính từ trên xuống) được thiết kếvới vùng hoạt động chủ đích là Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa; tàu số 4,5 hoạt động viễn dương
nên có thể tính cả vùng Trường Sa Các loại tàu trên đều có kết cấu theo hệthống ngang, một đáy, một boong, có sống chính, cứ cách bốn khoảng sườnlại có một sườn khỏe và đà ngang khỏe
1.2.2 Cách tiếp cận
Để giải quyết bài toán tra cứu nhận dạng tàu cá trên biển, luận văn đi vào
phân tích những đặc điểm cơ bản của các loại tàu cá Việt Nam và nướcngoài nhằm đưa ra được các đặc trưng chính phục vụ cho bài toán tra cứu,nhận dạng tàu cá Trong tình hình Biển Đông đang căng thẳng, nước ngoài
thường sử dụng các tàu cá cho chức năng quân sự, trên đó được trang bị
súng và nhiều thiết bị hiện đại, vì thế bên cạnh việc xây dựng các đặc trưngtra cứu, nhận dạng cho tàu cá Việt Nam rất cần thiết phải xây dựng tính năngtra cứu, nhận dạng tàu cá nước ngoài Từ việc đưa ra các đặc trưng dựa trênmàu sắc, hình dạng của các loại tàu để tra cứu, nhận dạng được các tàu cá,bao gồm cả các tàu cá làm nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu, nghềmành chụp, đặc biệt là tàu vỏ gỗ, vỏ thép,… phân biệt được với các tàu cá
nước ngoài
Trang 35Chương 2 MỘT SỐ KỸ THUẬT ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ
Các mô hình độ tương tự về ảnh đều có thể nghiên cứu dựa trên bài toántra cứu ảnh trong một tập ảnh cho trước Bài toán yêu cầu đưa ra kết quả làbảng xếp hạng về độ đo tính tương tự của tập ảnh so với ảnh tra cứu Với bàitoán này, chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu một số kỹ thuật đánh giá độ tương
tự dựa trên những mô hình tiêu biểu dưới đây
2.1 Kỹ thuật theo mô hình không gian vector (VSM)
Trong mô hình này, nội dung mỗi ảnh được trích chọn thành vector đặc
trưng, cơ sở dữ liệu ảnh là cơ sở dữ liệu lưu trữ các vector đặc trưng Phần lớn
các đặc trưng của ảnh đều có thể được xác định qua histogram (color
histogram, texture histogram, invariant feature histogram, local feature histogram, gabor feature histogram) Trong mô hình không gian vector, các
histogram được chuẩn hoá tức là các bin có giá trị tới hạn là 1 Từ trước đến
nay, trong các bài toán tính toán độ tương tự giữa 2 ảnh dựa trên histogram,
không gian vector cho nên chúng được đặt cái tên là mô hình không gian
vector (VSM) [14]
2.1.1 Phép so sánh histogram
2.1.1.1 So sánh ngang các bin histogram (bin-by-bin)
Việc so sánh histogram (vector đặc trưng ảnh) theo kiểu bin-by-bin
thường được tính toán nhanh chóng bởi phép so sánh chỉ tính đến độ lớn củabin mà không tính đến vị trí của bin
Trang 36Hình 2.1 Độ tương tự giữa a) và b) phải lớn hơn giữa a) và c)
Hình 2.1 cho thấy nếu so sánh kiểu bin-by-bin thì phép so sánhhistogram của hình a) và b) so với của a) và c) là tương tự nhau, song về trựcquan rõ ràng là độ tương tự của hình a) và b) lớn hơn so với a) và c) – (xét
trên góc độ đây là histogram màu của ảnh xám chẳng hạn) [12]
a) Độ tương tự qua histogram đồng nhất (histogram intersection)
Như ta đã biết, dựa vào không gian màu của ảnh, histogram của ảnhđược xác định bằng cách tách biệt các màu sắc của ảnh theo các thành phần
màu sắc (3 thành phần màu sắc trên hệ 3 chiều) và đếm số lượng có được từ
ảnh của các màu này Vì vậy, màu của bức ảnh được ánh xạ tới không gian
)
( j
H i , trong đó mỗi phần tử đại diện cho tần suất xuất hiện của màu j trong
ảnh I
Phép chỉ số hoá màu sắc cho phép nhận dạng ảnh hoặc các thành phần
ảnh dựa trên sự phân bố histogram màu của các điểm ảnh, Swain và Ballard
giới thiệu phương pháp đối sánh histogram và gọi là histogram intersection
) ' ( ), ( min(
) ' ( ) (
I H I H
Với hai ảnh, giá trị của histogram intersection càng lớn thì độ tương tựcủa hai ảnh càng cao
(2.1)