1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Xác Định Tỷ Lệ Bổ Sung Thích Hợp Và Ảnh Hưởng Của Khoáng Bentonite Đến Năng Suất Sinh Sản Của Vịt Đẻ Trứng Giống.pdf

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác Định Tỷ Lệ Bổ Sung Thích Hợp Và Ảnh Hưởng Của Khoáng Bentonite Đến Năng Suất Sinh Sản Của Vịt Đẻ Trứng Giống
Tác giả Lê Hồng Sơn, Trịnh Vinh Hiển
Trường học Viện Chăn Nuôi
Chuyên ngành Chăn nuôi và Dinh dưỡng Thức ăn Động vật
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 184,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word ta41 doc B¸o c¸o khoa häc ViÖn Ch¨n Nu«i 2006 1 X¸c ®Þnh tû lÖ bæ sung thÝch hîp vµ ¶nh h−ëng cña kho¸ng Bentonite ®Õn n¨ng suÊt sinh s¶n cña vÞt ®Î trøng gièng Lª Hång S¬n 1, TrÞnh Vin[.]

Trang 1

Xác định tỷ lệ bổ sung thích hợp và ảnh hưởng của khoáng Bentonite đến năng suất sinh sản của vịt đẻ trứng giống

Lê Hồng Sơn 1, Trịnh Vinh Hiển 2

1 Trung tâm Khuyến nông Quốc gia , 2 Trạm Nghiên cứu va Chế biến SPCN

Abstract Bentonitte is a natural mineral with adsorption and cation exchange characteristics These features are used

in aninal feed in many countries over the world The Co Dinh bentonitte mine in Thanh Hoa has a content of montmorimonit from 55-57%, CEC- 53,21 mldl/100g, adsorption - 12,37% and a high content of several micro-minerals (Zn - 74mg/kg, Mn - 1163mg/kg, Cu - 19mg/kg, Co - 262mg/kg) The task of the study was

to determine the appropriate supplement level of this mineral in the ration of reproductive ducks and make according recommendations to users in animal husbandry The experience was conducted on 1200 reproductive ducks which were divided into 5 groups The basic ration with ordinary supplementing minerals was used for the control group The ration for groups 2 and 3 was supplemented with 2% and 3 % bentonitte respectively The ration for groups 4 and 5 was supplemented with 2% and 3% of bentonite respectively but without inorganic micro-minerals in the basic ration The result of the experience showed that the supplementation of 3% of bentonitte into the basic ration (with supplementation of micro-minerals) has improved the quality and reduced the cost price by 15% for 1 class ducks It is possible to use 3% of bentonitte in the ration to fully replace micro-minerals while retaining productivity and quality

Đặt vấn đề

Bentonite là một loại khoáng sét tự nhiên có tính chất hấp phụ và trao đổi ion Các tính chất này làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi Ngoài ra, bentonite còn chứa trên

40 loại nguyên tố hoá học có giá trị dinh dưỡng, vì vậy được các nước phát triển trên thế giới sử dụng nhiều trong nghành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi

Bentonite có khả năng hấp phụ các độc tố nấm mốc, trong đó có độc tố Aflatoxin mà hầu hết ở các loài động vật đều bị nhiễm độc Sự mẫn cảm với độc tố Aflatoxin của động vật rất đa dạng, tuỳ thuộc vào loài động vật, tuổi, tính biệt, tập quán, điều kiện chăn nuôi và môi trường, nhưng vịt là loài mẫn cảm nhất với Aflatoxin (nhạy cảm gấp 6 – 10 lần so với

gà và hàng trăm lần so với động vật nhai lại)

Trong 3 năm gần đây Viện Chăn nuôi đ` nghiên cứu sử dụng Bentonite tự nhiên trên một

số đối tượng gia súc, gia cầm như: gà, lợn và bò nuôi thịt Kết quả thu được rất đáng khả quan Có thể thay được khoáng vi lượng để bổ sung vào thức ăn, tăng khả năng tăng trọng của vật nuôi, hạn chế được sự phát triển của một số loài nấm mốc, mang lại hiệu quả kinh

tế và giảm giá thành trong chăn nuôi

Bentonite Cổ Định, Thanh Hoá có giá thành khai thác rẻ, hàm lượng montmorinonit từ 55 – 57%, CEC – 53,21 mldl/100g, khả năng hấp phụ – 12,37% và hàm lượng một số nguyên

tố vi lượng cao (Zn – 74mg/kg, Mn – 1163 mg/kg, Cu – 19 mg/kg, Co – 262 mg/kg) Các

Trang 2

chỉ tiêu này đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu và thay thế được phần khoáng vi lượng

sử dụng trong thức ăn chăn nuôi Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu thử nghiệm sử dụng Bentonite Cổ định, Thanh Hoá trong thức ăn chăn nuôi nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng khoáng tự nhiên bentonite của mỏ này trên đối tượng vịt sinh sản

Mục tiêu của đề tài

- Xác định được mức bổ sung thích hợp khoáng Bentonite Cổ Định Thanh Hoá trong khẩu phần nuôi Vịt sinh sản ở giai đoạn đẻ trứng

- Đưa ra khuyến cáo cho người chăn nuôi vịt sinh sản về việc sử dụng loại khoáng tự nhiên này trong thức ăn chăn nuôi

Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Vịt sinh sản (giống vịt cỏ )

- Thí nghiệm tiến hành tại trại vịt Huyện Triệu sơn, Thanh hoá trong 6 tháng sinh sản của Vịt (Tính từ lúc đẻ bói 5 % trong đàn đến hết 6 tháng sau)

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

- Vịt thí nghiệm được phân thành 5 lô, trong đó lô 1 là lô đối chứng và 4 lô thí nghiệm

- Tổng số lượng Vịt thí nghiệm: 1200 con Vịt sinh sản, 80 con/lô (không kể trống), thí nghiệm được lặp lại 3 lần

- Lô đối chứng sử dụng khẩu phần cơ sở có bổ sung khoáng vi lượng như thông thường, nhưng không bổ sung Bentonite

- Bổ sung khoáng Bentonite vào thức ăn của lô thí nghiệm 2 và 3 với các mức 2 % và 3% coi như một loại nguyên liệu thức ăn Tương tự lô 4 và 5 cũng được bổ sung 2 và 3% Bentonite nhưng không bổ sung khoáng vi lượng vô cơ trong khẩu phần cơ sở

- Ngoài yếu tố thí nghiệm, các yếu tố như giống, tuổi, chuồng trại và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác là đồng đều giữa các lô

Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Lô thí nghiệm Thức ăn thí nghiệm

Ghi chú: KPCS – Khẩu phần cơ sở

Trang 3

Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Tỷ lệ nuôi sống của Vịt thí nghiệm

+ Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng bình quân/mái của Vịt nuôi thí nghiệm

+ Tỷ lệ trứng dị hình, mỏng vỏ

+ Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở của trứng Vịt trong thí nghiệm

+ Tiêu tốn thức ăn/10 trứng giống và /vịt con loại 1

+ So sánh hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tỷ lệ đẻ bình quân của Vịt qua các tháng nuôi thí nghiệm(%)

Kết quả theo dõi tỷ lệ đẻ của Vịt qua sáu tháng nuôi thí nghiệm theo tuần tuổi (từ 22 – 45 tuần tuổi) được trình bày tại bảng 2

Vịt sinh sản ở các lô thí nghiệm được cho ăn cùng một định mức, bình quân 125g TAHH/con/ngày nhưng với 5 khẩu phần thí nghiệm khác nhau Kết quả cho thấy tỷ lệ đẻ của các lô đều đạt đỉnh cao ở giai đoạn 30 – 33 tuần tuổi Tuy nhiên tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao của các lô thí nghiệm không hoàn toàn giống nhau và dao động từ 80,4 đến 86,7 %

Tỷ lệ đẻ bình quân sau 6 tháng nuôi thí nghiệm đạt cao nhất ở lô 3 (KPCS + 3% Bentonite)

là 72,3 %, sau đó đến lô 2 và lô 5 Lô 1 (đối chứng) đạt 64,4 %, thấp hơn 7,9 % so với lô 3 Lô 4, lô 5 sử dụng 2% và 3% Bentonite trong thức ăn nhưng không bổ sung khoáng vi lượng, kết quả tỷ lệ đẻ bình quân đạt 63,4 và 65%, tương đương với lô 1 đạt 64,4%

Có sự sai khác đáng kể về tỷ lệ đẻ bình quân của vịt thí nghiệm ở lô 2 và 3 so với các lô: 1,

4 và 5 (p < 0,05)

Bảng 2: Tỷ lệ đẻ bình quân của Vịt nuôi thí nghiệm

Lô thí nghiệm

ảnh hưởng của việc sử dụng Bentonite trong khẩu phần đến năng suất, khối lượng,

tỷ lệ dập vỡ và dị hình của trứng Vịt

Trang 4

Bảng 3: Năng suất, khối lượng, tỷ lệ dập vỡ và dị hình của trứng Vịt thí nghiệm

Lô thí nghiệm

Tỷ lệ trứng dập vỡ và dị

hình(%)

Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu về năng suất, khối lượng và tỷ lệ dập vỡ, dị hình của trứng vịt thí nghiệm (Bảng 3) cho thấy: không có sự ảnh hưởng rõ rệt của việc sử dụng Bentonite của mỏ Cổ Định Thanh hoá trong thức ăn cho vịt sinh sản đến khối lượng trứng cũng như

tỷ lệ trứng dị hình Khối lượng trứng vịt ở các lô đạt từ 62,5 đến 64,1g/quả (cân trứng ở 33

và 42 tuần tuổi), tỷ lệ dập vỡ và dị hình dao động từ 4,2 – 5,0 %

Năng suất trứng/mái đạt cao nhất ở lô 3 (130 quả/mái/6 tháng đẻ), sau đó đến lô 2 (128/mái) Các lô 1, 4 và 5 đạt năng suất 116, 114 và 117 quả/mái, thấp hơn đáng kể so với lô 2 và lô 3 (p < 0,05)

Qua kết quả này chúng tôi nhận thấy năng suất trứng/mái được cải thiện rõ rệt khi sử dụng Bentonite của mỏ Cổ Định Thanh hoá trong khẩu phần có bổ sung khoáng vi lượng Đối với khẩu phần có sử dụng Bentonite nhưng không bổ sung thêm khoáng vi lượng, kết quả chỉ đạt tương đương với lô đối chứng

Tỷ lệ phôi và kết quả ấp nở bình quân của trứng vịt nuôi thí nghiệm

Bảng 4:Tỷ lệ phôi và các chỉ tiêu về ấp nở

Lô thí nghiệm

Qua kết quả thí nghiệm trình bày tại bảng 4, chúng tôi nhận thấy kết quả về tỷ lệ phôi, tỷ

lệ nở/tổng trứng ấp và tỷ lệ nở/phôi của các lô thí nghiệm đều đạt tương đối cao Không có

ảnh hưởng rõ rệt của việc sử dụng Bentonite trong khẩu phần đến các chỉ tiêu này Tỷ lệ phôi của các lô thí nghiệm đạt từ 95 – 97%, tỷ lệ nở/tổng trứng có phôi đạt từ 89,0 – 90,7%, không có sự sai khác đáng kể

Tuy nhiên, do không có sự chênh lệch về các chỉ tiêu sinh sản như: tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở/tổng trứng ấp, nên số Vịt con loại 1/mái phụ thuộc vào năng suất trứng/mái

Trang 5

Tổng số Vịt con loại 1/mái của lô 3 và lô 2 đạt cao nhất trong 6 lô thí nghiệm (111,8 và 109,0 con/mái), tăng 14,4 con và 11,6 con so với lô đối chứng Lô 4 và lô 5 đạt tương

đương với lô đối chứng

Như vậy, kết quả thí nghiệm này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài như: Bitieva I.A, (1998); Podolnikov B.E (1999); Kemp và cộng sự –1999 Bentonite có ảnh hưởng tốt đến quá trình tiêu hoá, làm giảm tốc độ di chuyển thức ăn trong đường ống dạ dày và trong đường ruột, do đó làm tăng sự sử dụng thức ăn Do có tính trao đổi ion và hấp phụ nên Bentonite làm tăng sự ổn định độ axit trong dịch dạ dày, tăng sự cân bằng các chất điện giải trong cơ thể, hấp thụ và thải ra ngoài cơ thể những sản phẩm độc hại của quá trình tiêu hoá, những chất độc lẫn vào thức ăn (các kim loại nặng, khí độc, chất phóng xạ), do đó có tác dụng kích thích sinh trưởng, sinh sản đối với gia súc

và gia cầm, làm tăng năng suất chăn nuôi, giảm chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm Tiêu tốn thức ăn và so sánh chi phí

Bảng 5: Kết quả tiêu tốn và chi phí/đơn vị sản phẩm

Lô thí nghiệm

So sánh tiêu tốn và chi phí thức ăn/10 quả trứng cho thấy lô 3 có tiêu tốn và chi phí thấp nhất trong 5 lô thí nghiệm (hết 1,8kg/10 trứng; chi phí 5.900 đ/10 trứng), sau đến lô 2 Các lô 1(đối chứng), 4 và 5 có tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng từ 2,0 – 2,05 kg Chi phí từ 6.430 đ

đến 6.594 đ/10 quả trứng

Tổng số Vịt con/mái tính trong 6 tháng nuôi sinh sản đạt cao nhất ở lô 3 và lô 2 (113,7 con

và 111,7 con) Do vậy chi phí/Vịt con loại 1 thấp nhất ở lô 3 và lô 2, chỉ bằng 85,0% và 87,8% so với chi phí cho lô đối chứng

Kết luận

- Bổ sung 3% Bentonite vào KPCS (có bổ sung khoáng vi lượng theo tiêu chuẩn thông thường) làm tăng được 14,4 Vịt con loại 1/mái so với lô đối chứng và giảm được 15% chi phí/một Vịt con loại 1

- Có thể sử dụng 3% Bentonite bổ sung thêm vào khẩu phần cơ sở thay thế khoáng vi lượng mà vẫn giữ được năng suất như sử dụng KPCS có bổ sung khoáng vi lượng

Tài liệu tham khảo Lương Tất Nhợ – Hướng dẫn nuôi Vịt đạt năng suất cao – Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội, 1994

Nguyễn Văn Diện và ctv – Kết quả bước đầu nuôi thích nghi Vịt bố mẹ hướng trứng CV2000 tại TP Hồ Chí Minh – Chuyên san Chăn nuôi Gia Cầm, Hội Chăn nuôi Việt Nam 1999 (trang 185)

Trang 6

Trần Thanh Vân và ctv – Một số chỉ tiêu về sức sản xuất trứng của vịt Khakicambell và con lai F1 của nó với Vịt cỏ màu lông cánh xẻ nuôi chăn thả tại Thái Nguyên – Kết quả nghiên cứu KHKT chăn nuôi 1996 – 1997 của Viện Chăn Nuôi ( Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội – 1998; Trang 99 – 108)

Lê Thị Phiên và ctv – Nghiên cứu xác định tỷ lệ Protein thô thích hợp cho Vịt CV2000 layer nuôi tại TTNC Vịt Đại Xuyên – Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi năm 2001 (Trang 223 – 229)

Hồ Khắc Oánh và ctv – Kết quả nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của con lai giữa Vịt CV2000 layer và Vịt Cỏ – Báo cáo khoa học Chăn Nuôi, Thú Y, phần chăn nuôi Gia cầm – Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội 12/2004 (Trang 144 – 149)

Trần Quốc Việt, Trịnh Vinh Hiển, Đào Đức Kiên – Xác định tiềm năng, vị trí phân bố và thành phần hoá học, khả năng hấp phụ, dung lượng trao đổi cation của Bentonite, zeolit tự nhiên ở Việt Nam – Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi (trang 211 – 218)

phụ lục

Khẩu phần thí nghiệm của Vịt Cỏ sinh sản nuôi tại Thanh Hoá

Tháng 6/2005 – 12/2005

Ngyên

Liệu (kg)

Lô 1

đối chứng

Lô 2 Pre + 2%B

Lô 3 Pre +3%B

Lô 4 0% + 2%B

Lô 5 0% +3B

Tổng cộng

Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm

DCP*: Dicanxiphotphat; VTM*: Vitamin; B: Bentonite

0,25*: Chất phụ gia của khoáng (không có khoáng vi lượng)

Trang 7

Sử dụng thân và lá cây dầm (Bidens bipinnata) làm thức ăn

chăn nuôi bò

Nguyễn Quốc Toản, Trần Quốc Tuấn, Hoàng Thị Lảng, Đào Đức Biên

Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì

Đặt vấn đề

Cây dầm là môt loài cỏ dại họ cúc, có tên gọi địa phương là cỏ hoa trắng hoặc hoa xuyến chi; tên latin là Bidens bipinnata Cây có thể mọc tự nhiên ven đường, trên các b`i đất trống chưa được sử dụng trồng màu hoặc mọc xen vào các cây cỏ khác Loại cây này có thể mọc xanh tốt quanh năm và được nhiều hộ gia đình chăn nuôi trâu bò sử dụng làm nguồn thức ăn chủ yếu cho gia súc trong trang trại của họ vào mùa đông, mùa khan hiếm thức ăn thô xanh

Để đánh giá khả năng cung cấp chất xanh, hàm lượng dinh dưỡng và khả năng thu nhận loại thức ăn này ở bò, chúng tôi tiến hành đề tài: "Sử dụng thân và lá cây dầm (Bidens bipinnata) làm thức ăn chăn nuôi bò"

Mục đích:

- Đánh giá khả năng sinh trưởng cung cấp năng suất chất xanh và hàm lượng dinh dưỡng của cỏ Bidens bipinnata;

- Đánh giá khả năng thu nhận thức ăn của bò

Nội dung và Phương pháp

Thử nghiệm trồng bằng hạt vào mùa khô và mùa mưa thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu

Bò và Đồng cỏ Ba vì: Cỏ được trồng trên hai thửa đất đ` được cày bừa; Thửa 1 để cỏ mọc

tự nhiên; Thửa 2 bón lót phân chuồng (thâm canh)

Thành phần dinh dưỡng của cỏ được phân tích tại Phòng Phân tích – Viện Chăn nuôi Thử nghiệm cho bò ăn thực hiện tại Trạm nghiên cứu thử nghiệm thức ăn gia súc - Viện Chăn nuôi:

Đối tượng:

Bò Lai Sind: 3 bò LaiSind trọng lượng 220 – 310 kg được bố trí cho thí nghiệm đánh giá khả năng thu nhận thức ăn trong 30 ngày, với khẩu phần cơ bản như sau:

Trang 8

Rơm lúa Tự do Tự do Tự do

Bò lai hướng sữa: 3 bò lai hướng sữa trọng lượng 150-300 kg được bố trí cho thí nghiệm

đánh giá khả năng thu nhận thức ăn trong 30 ngày, với khẩu phần cơ bản:

Phương pháp

- Khẩu phần: Rơm và Bidens bipinnata không hạn chế;

- Thu nhận thức ăn: Được tính toán thông qua việc cân khối lượng thức ăn trước và sau khi

ăn;

- Trọng lượng bò được đo trước và sau thí nghiệm

Xử lý số liệu

- Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học qua phần mềm Excel

Kết quả và thảo luận

Khả năng sinh trưởng và cung cấp chất xanh

Khả năng sinh trưởng:

Bảng 1 Thời gian sinh trưởng và thu cắt

Năng suất chất xanh thu được trong mùa khô thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2 Năng suất chất xanh của Bidens bipinnata vào mùa khô

Lứa cắt

Trang 9

Løa 1 10/01/06 3,64 ± 0,02 10/01/06 3,25 ± 0,17

Thµnh phÇn dinh d−ìng

B¶ng 3 Thµnh phÇn dinh d−ìng cá Bidens bipinnata

Kh¶ n¨ng thu nhËn thøc ¨n

Bß LaiSind

B¶ng 4 Kh¶ n¨ng thu nhËn Bidens bipinnata cña bß LaiSind

KhÈu phÇn

Gi¸ trÞ dinh d−ìng cña khÈu phÇn

Gi¸ tri dinh d−ìng cña B.bipinnata trong khÈu phÇn

B¶ng 4 cho thÊy kh¶ n¨ng thu nhËn Bidens bipinnata kh¸ cao, chiÕm tíi 41.65 % VCK (2.19 kg/ngµy), cung cÊp 5490 Kcal NLT§ (53.54%) vµ 382 g protein th« (71.26%)

Bß lai h−íng s÷a

B¶ng 5 Kh¶ n¨ng thu nhËn Bidens bipinnata cña bß lai h−íng s÷a

KhÈu phÇn

Th©n, l¸ B.bipinnata

(kg)

Trang 10

Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần

Giá tri dinh dưỡng của B.bipinnata trong khẩu phần

Bảng 5 cho thấy thu nhận Bidens bipinnata của nhóm bò lai hướng sữa tham gia thí nghiệm có thể đạt tới 14.53 kg/con/ngày, hay 2.49 kg VCK

Thảo luận

- NS chất xanh của cỏ được trồng vào mùa đông khá thấp, nguyên nhân có thể là do cỏ chưa tạo được thảm bền vững; Tuy vậy có thể khai thác làm nguồn thức ăn xanh cho gia súc trong mùa khô thiếu thức ăn;

- Thành phần dinh dưỡng của Bidens bipinnata cao hơn so với nhiều giống cỏ hoà thảo hiện đang được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi như cỏ voi, cỏ guinea, cỏ ruzi

- Thu nhận thức ăn của bò LaiSind và bò lai hướng sữa khá cao, đảm bảo sinh trưởng bình thường;

- Đề tài cần tiếp tục được thực hiện để có kết luận chính xác

Kết quả bước đầu sử dụng kháng sinh trong điều trị sau khi

đẻ để nâng cao khả năng sinh sản trong chăn nuôi bò sữa

Ngô thành Vinh, Ngô đình Tân, Trần thị Loan Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì

Tính cấp thiết của đề tài

Trong chăn nuôi bò sữa vấn đề quan trọng là năng suất sinh sản của đàn bò sữa cần được quan tâm hàng đầu, nhiều năm qua các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật đ` không ngừng

áp dụng một số các biện pháp quản lý, kỹ thuật như điều trị rối loạn sinh sản bằng hormone và biện pháp cải tiến dinh dưỡng cho bò sữa nhằm kiểm soát khả năng sinh sản Tuy nhiên trong những năm gần đây việc chọn lựa phương pháp cải tiến sinh sản mới chỉ

Ngày đăng: 20/06/2023, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w