Microsoft Word trang bia doc uû ban d©n téc ***************** b¸o c¸o tæng hîp ®Ò tµi cÊp bé Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ®µo t¹o, sö dông c¸n bé lµm c«ng t¸c d©n téc ë ®Þa ph−¬ng ®Õn n¨m 2020 C¬ quan qu¶n[.]
Trang 1
uỷ ban dân tộc
*****************
báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ
Thực trạng và giải pháp đào tạo, sử dụng cán bộ làm công tác dân tộc ở địa phương đến năm 2020
Cơ quan quản lý đề tài: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị chủ trì : Trường Cán bộ dân tộc Chủ nhiệm đề tài : TS Hoàng Hữu Bình Thư ký đề tài : ThS Nguyễn Văn Dũng
7163
06/3/2009
Hà NộI, tháng 02 năm 2009
Trang 3Những người chính tham gia thực hiện đề tài
Ngoài ra, đề tài có sự tham gia, đóng góp của:
- Các chuyên gia trong ngành Dân tộc học được đề tài phỏng vấn, chuyên gia quan tâm, nghiên cứu về CTDT có góp ý cho đề tài;
- Cán bộ làm CTDT, cán bộ lãnh đạo ở địa phương được đề tài phỏng vấn
và có tham luận
Nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn các chuyên gia, cán bộ, công chức làm CTDT tại địa phương đã hợp tác, đóng góp cho đề tài
TT Họ và tên Cơ quan công tác Trách nhiệm Ghi chú
1 Hoàng Hữu Bình Trường Cán bộ dân tộc Chủ nhiệm
12 Đào Văn Mái Ban DT Cao Bằng nt
13 Lý Văn Hải Ban DT Lào Cai nt
Trang 4Mục lục
Mở đầu
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết của vấn đề 1
I Những vấn đề lý luận chung về đào tạo, sử
dụng cán bộ làm cTDT ở địa phương
8
1 Một số khái niệm liên quan 8
2 Cơ sở khoa học của đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công
tác dân tộc ở địa phương
11
II Thực trạng và đánh giá thực trạng đào tạo,
bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công
1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ làm CTDT ở địa phương hiện nay 48
2 Dự báo yêu cầu về đội ngũ cán bộ làm CTDT đến năm 2010 và
Trang 52 Nhóm các giải pháp về đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở địa phương
63
3 Nhóm các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ làm CTDT ở địa phương
76
4 Nhóm giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
vùng miền núi, dân tộc theo tinh thần Nghị quyết TƯ 7 khoá IX
82Kết luận
Tài liệu tham khảo chính
Trang 6Phần Mở đầu
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết của vấn đề
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước (QLNN) về lĩnh vực công tác dân tộc (CTDT), thời gian qua Uỷ ban Dân tộc đã tổ chức thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm CTDT
- Đề tài: “Giải pháp tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm CTDT”, chủ
nhiệm đề tài: Đồng chí Bùi Văn Lịch, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban (2006)
Trong nghiên cứu này, tác giả đã làm nổi bật thực trạng và giải pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm CTDT từ Trung ương đến địa phương Nhìn chung hệ thống cơ quan làm CTDT đã được xây dựng và kiện toàn sau khi có Nghị
định 53/CP Tuy nhiên, trình độ năng lực của cán bộ ở Trung ương và địa phương
có nhiều khác nhau ở Trung ương, cán bộ có trình độ tương đối cao về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước, lý luận chính trị, tin học Trong khi đó, đội ngũ cán bộ địa phương còn thiếu và có trình độ chuyên môn trung bình, riêng về lý luận chính trị còn thấp
Về thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có phân tích về cơ quan thực hiện nhiệm vụ đào tạo, cách thức đào tạo, chương trình đào tạo Theo tác giả, các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng chưa trở thành một hệ thống thông suốt từ trung ương tới địa phương dẫn đến kết quả đào tạo, bồi dưỡng còn khá nhiều hạn chế Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng, phân tích về nguyên nhân của thực trạng, đề tài đã nêu ra một số giải pháp cho vấn đề,
đặc biệt nhấn mạnh phải đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ công tác dân tộc, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, tăng thêm thời gian đào tạo, tiếp tục
đổi mới chương trình, phương pháp Nhiệm vụ này hiện do Trường Cán bộ dân tộc đảm nhiệm và kiến nghị với Đảng, Nhà nước cho nâng cấp truờng thành Học viện Dân tộc để đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ dân tộc thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Đề tài nghiên cứu do TS Phan Văn Hùng (Viện trưởng Viện Dân tộc) làm
chủ nhiệm, có tiêu đề: “Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm
CTDT ” Báo cáo tổng hợp đề tài đã nêu rõ thực trạng đội ngũ cán bộ làm CTDT,
việc đào tạo, kết quả đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian qua Một số chuyên đề
Trang 7trong tập Kỷ yếu khoa học của đề tài phân tích sự khác nhau trong đội ngũ cán bộ cấp Trung ương và địa phương cả về số lượng lẫn chất lượng
Về tổ chức bộ máy cơ quan CTDT từ Trung ương đến địa phương, tác giả
nhận xét: đã khá quy củ, số lượng cán bộ cũng cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ, yêu
cầu công tác dân tộc Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm ở đây là chất lượng đội ngũ
cán bộ vẫn còn yếu về trình độ chuyên môn, chưa ngang tầm yêu cầu của công tác dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khoá 9 của Đảng về CTDT
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện công tác QLNN về CTDT thì phải hình thành cơ quan QLNN
về CTDT; ở nước ta hiện nay, đó là Uỷ ban Dân tộc và hệ thống cơ quan CTDT các
địa phương
Tiền thân của cơ quan QLNN về CTDT đầu tiên ở nước ta là Nha Dân tộc thiểu số (DTTS) - được thành lập theo Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trải qua một quá trình phát triển lâu dài theo tiến trình cách mạng, đến ngày 16/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định
số 51/2003/NĐ - CP qui định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc và sau đó, ngày 18/2/2004, ban hành tiếp Nghị định số 53/2004/NĐ - CP về kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan QLNN về CTDT thuộc Uỷ ban Nhân dân (UBND) các cấp - thì hệ thống cơ quan QLNN về CTDT đã có một bước phát triển mới về chất cả ở phương diện tổ chức bộ máy lẫn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Theo đó, ở Trung ương có Uỷ ban Dân tộc - là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ, có chức năng QLNN về lĩnh vực CTDT trong phạm vi cả nước
ở cấp tỉnh, Nghị định 53/2004/NĐ - CP quy định rõ:
* Thành lập Ban Dân tộc - là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực CTDT trong phạm vi tỉnh, có con dấu, tài khoản riêng, khi có một trong các điều kiện sau:
+ Có trên 20.000 người DTTS sinh sống tập trung thành cộng đồng làng, bản
+ Có trên 5.000 người DTTS đang cần được Nhà nước giúp đỡ, hỗ trợ phát triển
+ Có đồng bào DTTS sinh sống trên địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào DTTS nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại
* Đối với những tỉnh có đồng bào DTTS sinh sống nhưng chưa đáp ứng các quy định nêu trên thì tổ chức làm CTDT thực hiện theo 1 trong 2 mô hình sau:
Trang 8- Ban Dân tộc trực thuộc UBND tỉnh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND tỉnh về công tác chuyên môn; Văn phòng UBND tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc
- Sở có chức năng QLNN đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có CTDT và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều đến CTDT thuộc UBND tỉnh
Tính đến năm 2006, cả nước ta đã có 51 tỉnh, thành phố trực thuộc TW thành lập cơ quan QLNN về CTDT với một số tên gọi khác nhau (Ban Dân tộc, Ban Dân tộc - Tôn giáo, Ban Tôn giáo - Dân tộc, Ban Dân tộc - Miền núi, Ban Dân tộc - Miền núi - Định canh định cư, )
ở cấp huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), Nghị định 53/2004/NĐ -
CP quy định:
* Thành lập Phòng Dân tộc thuộc UBND huyện khi có 1 trong 2 tiêu chí: + Có ít nhất 5.000 người DTTS đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển
+ Có đồng bào DTTS sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng;
địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào DTTS nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại
* Đối với những huyện có đồng bào DTTS sinh sống nhưng chưa đủ các tiêu chí nêu trên thì tổ chức làm CTDT thực hiện theo 1 trong 2 mô hình sau:
+ Thành lập Phòng QLNN đa ngành, đa lĩnh vực; trong đó có CTDT và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều đến CTDT trực thuộc UBND huyện nhưng phải đảm bảo số phòng ở cấp huyện theo quy định của Nghị định số 12/2001/NĐ -
CP ngày 27/3/2001 của Chính phủ
+ Bố trí cán bộ chuyên trách CTDT trong Văn phòng HĐND và UBND hoặc phòng chuyên môn khác hiện có của UBND huyện
Năm 2006, trên địa bàn cả nước đã có 254 huyện thành lập cơ quan QLNN
về CTDT với một số tên gọi khác nhau (Phòng Dân tộc, phòng Dân tộc - Tôn giáo, phòng Tôn giáo - Dân tộc, )
ở cấp xã (phường, thị trấn), Nghị định 53/2004/NĐ - CP quy định: ở các xã
có đông đồng bào DTTS sinh sống không thành lập tổ chức riêng, nhưng phân công 1 uỷ viên UBND xã kiêm nhiệm theo dõi tổ chức thực hiện CTDT
Đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về CTDT:
ở trung ương, tính đến năm 2006 có 262 cán bộ, công chức, viên chức làm
việc tại 17 vụ, đơn vị trực thuộc UBDT
Đội ngũ cán bộ này ngày càng được trẻ hoá (Độ tuổi dưới 30: 17,2%; từ 30
đến 45: 40,8% Như vậy, độ tuổi dưới 45 tuổi chiếm 58% tổng số CC, VC)
Trang 9Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS cũng được tăng cường; ngoài dân tộc Kinh với 171 người, chiếm 65,26%; còn lại 34,14 % là thuộc 15 DTTS: Tày (38 người), Thái (13), Mường (12), Nùng (9), Khmer (8), Mông (2), Dao (1), Giarai (1), Lôlô (1), La ha (1), Chăm (1), Khơmú (1), Sán Chay (Nhóm Cao Lan) (1), Ê đê (1), Pa kô (1)
ở cấp tỉnh, tính đến năm 2006, có 51 tỉnh thành lập cơ quan QLNN về
CTDT với tổng số 853 cán bộ, công chức, viên chức; tính trung bình, mỗi Ban có
16 người Tuy nhiên, bên cạnh các Ban có nhiều cán bộ, công chức, viên chức như Bình Thuận (40 người), Lào Cai (40 người), Thanh Hoá (36 người), Nghệ An (35 người) thì có một số Ban có số lượng rất ít: Long An (6 người), Tuyên Quang (5 người)
Về độ tuổi, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan CTDT cấp tỉnh như sau: Dưới 30 tuổi: 19,4%, từ 30 đến 40: 27,5%, từ 41 đến 50: 32,7% và trên 51 tuổi: 20,5%
Tính chung, tỷ lệ cán bộ, công chức là người DTTS trong cơ quan QLNN về CTDT cấp tỉnh đạt 30,4%; trong đó: Dân tộc Tày: 10,5%, Mường: 5,1%, Nùng: 2,7%, Khmer: 1,6%, Mông: 1,6%
ở một số Ban Dân tộc tỉnh, tỷ lệ cán bộ DTTS cao, như: Bắc Kạn: 100%, Sóc Trăng: 93,3%, Thái Nguyên: 66,7% ; ngược lại, ở 8 Ban Dân tộc tỉnh lại không có cán bộ, công chức là người DTTS (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Hà Tây, Hà Tĩnh, Long An, Ninh Bình, Quảng Bình và Tây Ninh)
ở cấp huyện, do hầu hết các Phòng Dân tộc đều mới được thành lập nên hầu
hết đội ngũ các bộ, công chức QLNN về CTDT đều mới được điều động từ các cơ quan khác của huyện đến; trung bình mỗi Phòng có từ 2 đến 3 người; trong khi đó, theo quy định là có từ 3 đến 5 người
Theo số liệu khảo sát năm 2005 của Viện Dân tộc ở 124 Phòng Dân tộc cấp huyện, thì đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc Kinh chiếm 63%, DTTS chiếm 37%; trong đó dân tộc Mường: 12,8%, Tày: 8,1%, Khmer: 2,8%, Êđê: 0,6%, Bana: 0,3%
Nếu đem số liệu trên so sánh với ở cấp tỉnh thì thấy tỷ lệ DTTS cao hơn một chút nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu
ở cấp xã, tính chung cả nước hiện nay có 10.751 đơn vị, trong đó có 5.900
đơn vị ở vùng miền núi, có đồng bào DTTS sinh sống Mỗi xã có đủ tiêu chí cử 1 người theo dõi CTDT Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có cuộc điều tra, khảo sát nào để đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ này
Qua số liệu của các cơ quan CTDT địa phương, chúng ta thấy:
Trang 10- Về số lượng, đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về CTDT đã và đang ngày một được tăng cường, đặc biệt là kể từ sau khi có Nghị định 51/2003/NĐ - CP và Nghị định 53/2004/NĐ - CP của Chính phủ
- Chuyên môn được đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về CTDT rất đa dạng - đây là một đặc điểm khác biệt so với đội ngũ cán bộ, công chức các
bộ, ngành khác
Tính đa dạng về chuyên môn được đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ ở trung ương mà còn ở cả các địa phương
Chẳng hạn như ở cấp huyện, theo số liệu điều tra của Viện Dân tộc năm
2005 tại 124 Phòng Dân tộc huyện cho thấy: Trong tổng số 359 cán bộ, công chức
được phân theo 10 nhóm ngành đào tạo, có 21,7% thuộc nhóm ngành nông - lâm nghiệp; hành chính, chính trị: 14,5%; kinh tế: 27,6%; các ngành còn lại (luật, KHXH, dân tộc học, xây dựng, sư phạm, giao thông ): 26,3%
- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán
bộ, công chức chưa có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, còn yếu, chưa cập nhật thường xuyên nhận thức về CTDT, am hiểu về các dân tộc nhất là các DTTS, tỷ lệ các bộ, công chức là người DTTS còn hạn chế Đặc biệt là ở cấp xã,
đội ngũ cán bộ CTDT chưa thực sự được chú ý đúng mức, chủ yếu là bố trí cán bộ kiêm nhiệm, mỗi địa phương làm một khác, khá tuỳ tiện
- Nhận thức về CTDT và QLNN về lĩnh vực CTDT của một số Ban, ngành và
địa phương còn chưa đầy đủ, sâu sắc, chưa thấy hết vị trí, vai trò của CTDT nói chung, công tác QLNN về CTDT nói riêng Còn có quan niệm cho rằng, CTDT là nhiệm vụ chung của tất cả các Sở, Ban, ngành của tỉnh, của cả hệ thống chính trị nên chưa thật sự quan tâm kiện toàn bộ máy tổ chức và cán bộ làm CTDT ở địa phương
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm CTDT nói chung, cán bộ, công chức QLNN về CTDT nói riêng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động QLNN của cả hệ thống Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH vùng miền núi và DTTS hiện nay, chúng ta cần đổi mới công tác cán
bộ làm CTDT, trong đó vấn đề có tính then chốt là tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho họ cả về lý luận lẫn kỹ năng, nghiệp vụ, nhất là kiến thức quản lý
hành chính nhà nước, tiếng dân tộc thiểu số, dân tộc học,
Công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ CTDT nói chung, đội ngũ cán
bộ CTDT ở địa phương nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có vai trò quyết
định chất lượng, hiệu quả CTDT và việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì yêu cầu
Trang 11tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để tiến tới xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức làm CTDT ở địa phương đã và đang đặt ra một cách cấp bách hơn bao giờ hết
Thực hiện nghị quyết Trung ương VII, khoá IX của Đảng về CTDT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2004/NĐ - CP ngày 18 tháng 02 năm 2004 về Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm CTDT tộc từ Trung ương đến địa phương Thực hiện nghị định 53/CP, đội ngũ cán bộ làm CTDT ở các địa phương đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; chưa cập nhật thường xuyên nhận thức về CTDT, am hiểu về các dân tộc nhất là các dân tộc thiểu
số
Như vậy, việc đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ CTDT ở địa phương nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về CTDT là hết sức cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm chỉ ra thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng và phân tích thực trạng sử dụng, qua đó đưa ra đánh giá, nhận xét thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ cán bộ làm CTDT ở địa phương Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp tăng cường công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ làm
Bộ
Hội thảo đề tài tại tỉnh Lào Cai do Nhà trường phối hợp với Ban Dân tộc
Trang 12tỉnh tổ chức với một số báo cáo khoa học tham luận cùng với các ý kiến phát biểu của các đại biểu về công tác đào tạo, sử dụng cán bộ CTDT tại địa phương là một nguồn tư liệu hết sức phong phú
Các phiếu điều tra xã hội học đã được xử lý trên phần mềm SPSS Kết quả
cụ thể được chúng tôi thể hiện qua các bảng số liệu định lượng về đội ngũ, trình
độ, đào tạo, sử dụng… cán bộ CTDT ở địa phương hiện nay (xem phụ lục số liệu
điều tra ở cuối báo cáo này)
Các thông tin thu được từ phiếu điều tra xã hội học mang tính định lượng kết hợp với thông tin định tính thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ, viên chức hoặc phỏng vấn bằng các phương tiện hiện đại, thư điện tử, điện thoại cùng các báo cáo chuyên đề đã giúp chúng tôi hình thành báo cáo tổng hợp
Phương pháp kế thừa:
Đề tài thu thập tài liệu, công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đã công
bố ở trong và ngoài nước Đặc biệt là các công trình nghiên cứu, kết quả điều tra,
đánh giá về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm CTDT được thực hiện
do Uỷ ban Dân tộc, trường Cán bộ dân tộc, Viện Dân tộc và các địa phương Đặc biệt chúng tôi khai thác kỹ các thông tin như chính sách, tình hình thực hiện chính sách, các chương trình, dự án liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số trên mạng Internet, nhất là trang tin của Uỷ ban Dân tộc, phục vụ cho đề tài
Phương pháp chuyên gia:
Để thu thập ý kiến, chủ nhiệm đề tài đã mời các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan tham gia viết chuyên đề (Viện Dân tộc, Viện Dân tộc học, Trường Cán bộ dân tộc, các Ban Dân tộc tỉnh) Đồng thời, cũng tổ chức phản biện các báo cáo chuyên đề và báo cáo tổng hợp của đề tài nhằm hoàn thiện nội dung báo cáo
5 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích, đề tài hướng đến một số nội dung cơ bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đào tạo, sử dụng cán bộ CTDT ở
Trang 13CTDT luôn có vị trí quan trọng trong các thời kỳ, giai đoạn lịch sử của cách mạng nước ta Thời kỳ giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, công tác vận động cách mạng trong vùng dân tộc thiểu số là quan trọng bậc nhất; bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ đi lên CNXH, CTDT có vị trí hàng đầu trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước ta; đến thời kỳ đổi mới, CTDT hướng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là miền núi vùng cao, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn CTDT là nhiệm vụ của toàn
bộ hệ thống chính trị
1.2 Khái niệm về đào tạo
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức tác động vào con người nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ xảo, thái
độ để hoàn thiện nhân cách cho cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể làm việc một cách có năng suất và hiệu quả Đào tạo được xem như một quá trình làm cho con người trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định
Đào tạo nguồn nhân lực nói chung được thực hiện cho mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong các loại trường hiện có, là một trong những nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực Chương trình đào tạo nguồn nhân lực bao gồm: giáo dục và đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và sự giải
Trang 14phóng con người Những nhân tố này gắn bó và tác động lẫn nhau trong đó giáo dục, đào tạo là cơ sở của tất cả các nhân tố khác, là cơ sở cho sự phát triển bền vững
Hiện nay, quá trình đào tạo được tiến hành chủ yếu trong các cơ sở đào tạo như Học viện, Trường, Trung tâm với thời gian học khác nhau cho mỗi trình độ cần
được đào tạo Cuối khoá học, người học được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ theo chuẩn mực nhất định
Đào tạo cán bộ có tính đặc thù so với khái niệm đào tạo trong sự nghiệp giáo dục nguồn nhân lực nói chung Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ giới hạn trong phạm
vi điều chỉnh của pháp lệnh cán bộ công chức (nay là Luật Công chức) và một số văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm trang bị thêm kiến thức mới mà có thể trước đó người cán bộ chưa biết hoặc đã biết nhưng chưa thật nhuần nhuyễn Chẳng hạn việc đào tạo cán sự, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp trong hệ thống ngạch bậc hiện nay
Đào tạo cán bộ là quá trình truyền thụ kiến thức mới một cách có hệ thống
để người cán bộ nâng cao trình độ chuyên môn và các nghiệp vụ liên quan
Trên thực tế, giữa công tác đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân và công tác đào tạo cán bộ trong hệ thống chính trị luôn có mối quan hệ tương hỗ Người công dân muốn trở thành công chức phải có bằng cấp nhất định Như vậy, trước khi trở thành cán bộ, công dân đã trải qua một quá trình đào tạo cơ bản ở đây có hai vấn đề cần được nhấn mạnh:
Thứ nhất: Không nên hiểu đào tạo cán bộ chỉ diễn ra trong hệ thống công
chức nghĩa là trước đó họ không được hoặc không cần đào tạo gì
Thứ hai: Cần thấy được vai trò quan trọng của giáo dục quốc dân, tác động
trực tiếp, sâu rộng đến các chuyên ngành khác nhau trong hệ thống đào tạo cán bộ
Cũng cần nhắc đến khái niệm Đào tạo lại: đây cũng chính là một dạng của
đào tạo, là quá trình tạo cho người lao động (Đã được đào tạo) có cơ hội được học tập, được đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực chuyên môn một cách cơ bản, có hệ thống cả về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo lẫn thái độ tình cảm nhằm mục đích giúp họ
có trình độ tay nghề cao hơn hoặc thay đổi nghề (công việc phù hợp) Quá trình nâng cao năng lực cho cán bộ làm CTDT thông qua đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng Hiện nay, cán bộ làm CTDT được đào tạo lại chưa nhiều, thời gian đào tạo lại cũng khá dài và thêm nhiều lý do như bận công tác, điều kiện kinh tế chưa cho phép
1.3 Khái niệm về bồi dưỡng
Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất cho người lao động
Trang 15Theo Unesco: Bồi dưỡng với nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao nhận thức hoặc kỹ năng của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp Như vậy: Bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng nhằm tăng cường về năng lực và phẩm chất cho lao
động
Trong giáo dục, đào tạo theo nghĩa rộng, bồi dưỡng được hiểu là một dạng
đào tạo đặc biệt, về bản chất bồi dưỡng là con đường của đào tạo Thực chất đối tượng của bồi dưỡng đa số là cán bộ đương nhiệm Cụ thể: Bồi dưỡng là hoạt động cập nhật kiến thức mới, kiến thức còn thiếu, củng cố kiến thức cũ góp phần tạo nên hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động tác nghiệp, thực hiện công vụ của công chức nhằm đạt hiệu quả cao Nội dung của chương trình bồi dưỡng chủ yếu là nghiệp vụ chuyên môn nhằm phục vụ tốt hơn công việc của công chức Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn thường xuyên được thực hiện vì nó đáp ứng được sự thay đổi của môi trường công việc Người được bồi dưỡng có cơ hội nâng cao tay nghề chuyên môn và mở rộng kỹ năng khác
Chương trình bồi dưỡng cho cán bộ CTDT chủ yếu là các nghiệp vụ CTDT, kiến thức về dân tộc, chính sách dân tộc Các nội dung bồi dưỡng đáp ứng được nhu cầu hoạt động của cán bộ vì thực tế công việc luôn thay đổi phức tạp Ngoài ra, cán bộ CTDT còn được trang bị một số loại kiến thức bổ trợ khác (tin học, pháp luật, dân tộc học )
Với mục đích là bổ sung kiến thức nên thời gian bồi dưỡng thường ngắn, một tuần hoặc vài tháng Bồi dưỡng cho cán bộ CTDT là biện pháp hết sức cần thiết, vừa mang tính cấp bách vì cần trang bị kiến thức để công chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ trước mắt; vừa lâu dài vì thực tiễn công tác luôn có những diễn biến mới phức tạp, khoa học công nghệ thay đổi nhanh chóng Người cán bộ cần cập nhật kiến thức để đáp ứng tốt yêu cầu công việc
Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên thực tế giữ vai trò trang bị, cập nhật những kiến thức có trước của cán bộ Một số cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của
Đảng và Nhà nước hiện nay gồm có: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia, các trường đào tạo nghiệp vụ của Bộ, ngành, đoàn thể; một số trường Đại học và các trường Chính trị Tỉnh
Nội hàm của khái niệm đào tạo, bồi dưỡng về CTDT cho cán bộ làm CTDT trong đề tài này được xác định là các hoạt động, đào tạo nghiệp vụ CTDT và các nghiệp vụ khác như: chính trị, quản lý hành chính, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ trong hệ thống cơ quan làm CTDT ở địa phương (không nói về đào tạo cho đối
Trang 16tượng cán bộ ở cấp Trung ương); trong đó, việc đào tạo cho cán bộ dân tộc, cán bộ làm CTDT ở cấp cơ sở vùng dân tộc và miền núi được đặc biệt chú trọng
Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi sẽ chủ yếu đề cập đến nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ dân tộc
1.4 Khái niệm về cán bộ làm CTDT ở địa phương
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VII khoá IX, CTDT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, vì vậy đối tượng đào tạo, bồi dưỡng hiện nay của Trường Cán
bộ dân tộc gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc hệ thống cơ quan làm CTDT từ Trung
ương tới địa phương (Uỷ ban Dân tộc ở Trung ương; Ban Dân tộc các tỉnh; Phòng Dân tộc các huyện; cán bộ chuyên trách ở cơ sở);
- Cán bộ ở các Bộ, ngành có liên quan;
- Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số;
- Cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số;
- Cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị
Như vậy, cán bộ làm CTDT ở địa phương trong báo cáo này được hiểu gồm: + Cán bộ trong các cơ quan CTDT cấp tỉnh, huyện;
+ Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số;
+ Cán bộ cơ sở vùng dân tộc thiểu số;
+ Cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị địa phương
2 Cơ sở khoa học của đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương
Cơ sở khoa học của việc đào tạo cán bộ làm CTDT nói chung, cán bộ CTDT
ở địa phương nói riêng là luận cứ lý luận, thực tiễn và căn cứ pháp lý để xác định mô hình đào tạo, xây dựng chương trình, nội dung đào tạo đội ngũ cán bộ làm CTDT có trình độ đáp ứng yêu cầu CTDT của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Cơ sở khoa học gồm cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý
2.1 Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập một cách toàn diện đến dân tộc, vấn đề dân tộc và đề ra các giải pháp giải quyết triệt để vấn đề dân tộc với luận điểm: chỉ có giai cấp vô sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề dân tộc
Cương lĩnh dân tộc của Lênin bao gồm 3 quan điểm cơ bản:
- Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc,
- Thực hiện quyền dân tộc tự quyết,
- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Thực hiện cương lĩnh dân tộc của Lênin là 1 nguyên tắc nhất quán, lâu dài
Trang 17trong chính sách dân tộc của các Đảng Cộng sản Xa rời nguyên tắc đó sẽ dẫn đến sai lầm trong công tác dân tộc và sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường (như trường hợp thực hiện cách mạng văn hoá của Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm 60 của thế kỷ XX)
ở đây, vấn đề là cần kết hợp hài hoà mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn
đề giai cấp trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa Các nhà Kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra mối quan hệ này trong tiến trình cách mạng Theo Mác và
ăng ghen, lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động, do đó thống nhất với lợi ích dân tộc Quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội là quá độ từ một xã hội có bóc lột giai cấp, có áp bức dân tộc lên một xã hội hoàn toàn tự do, bình đẳng, hữu nghị giữa người với người, bình
đẳng giữa các dân tộc
Lênin, một mặt nhấn mạnh: vấn đề dân tộc là một vấn đề bộ phận phụ thuộc vào vấn đề giai cấp, vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa ở đây, ông phê phán xu hướng tuyệt đối hoá vấn đề dân tộc, đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp và gọi đó là thái độ biến vấn đề dân tộc thành một “bái vật” Nhưng mặt khác, Lênin khẳng định, vấn đề dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ góp phần có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa Do đó, Ông kiên quyết đấu tranh chống xu hướng coi nhẹ vấn đề dân tộc, chỉ thấy vấn đề giai cấp mà không thấy vấn đề dân tộc và gọi đó là “thái độ hư vô dân tộc”
Thực tiễn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng ta qua các thời kỳ đã cho thấy, vấn đề dân tộc có quan hệ gắn bó với vấn đề giai cấp, nhưng cũng có tính
độc lập tương đối Giải quyết tốt vấn đề dân tộc sẽ có tác động tích cực đến việc giải quyết vấn đề giai cấp, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong tiến trình cách mạng là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút thành 4 luận điểm cơ bản về dân tộc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc: Việt Nam là quốc gia thống nhất của nhiều dân tộc; trong điều kiện của một nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa; trong đó, theo Người: Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; chủ nghĩa xã hội là để bảo vệ thành quả của cách mạng dân tộc dân chủ và thực hiện
Trang 18mục tiêu dân giàu, nước mạnh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc
và CTDT được Đảng ta coi là cơ sở lý luận để nghiên cứu, định ra chính sách dân tộc và xác định nhiệm vụ của CTDT ở mỗi giai đoạn cách mạng
Cơ sở lý luận của việc xác định mô hình, xây dựng chương trình đào tạo đối với một ngành học, một lĩnh vực công tác là những tri thức nhằm trang bị nhân sinh quan, thế giới quan cho người được đào tạo về lĩnh vực hoạt động chuyên môn, về công việc mình sẽ làm sau này Tri thức này rất cần thiết và bổ ích cho người học, giúp họ làm các thao tác cụ thể, giúp cho những người có năng lực hoàn thành công việc trong các lĩnh vực công tác nói chung, CTDT nói riêng
Cơ sở lý luận để xác định mô hình và xây dựng nội dung đào tạo cán bộ làm CTDT hiện nay ở nước ta là lý luận về vấn đề dân tộc, CTDT và chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhà nước Việt Nam
Các tri thức nêu trên sẽ giúp người học hiểu được vấn đề dân tộc, CTDT và việc giải quyết các vấn đề đó một cách sáng tạo của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở vận dụng sáng tạo các nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp ở Việt Nam như thế nào và đã đạt
được những thành công to lớn ra sao
2.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn về vấn đề dân tộc, CTDT ở nước ta có vai trò rất quan trọng
và thiết thực trong việc xác định mô hình và xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về CTDT
Cơ sở thực tiễn về vấn đề dân tộc ở Việt Nam là kiến thức bắt buộc đối với những người làm CTDT Không có hiểu biết về tình hình các dân tộc Việt Nam;
đặc điểm của các dân tộc ở Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước; đặc
điểm các dân tộc Việt Nam dưới chế độ thực dân, đế quốc trong sự thống trị, xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ và mới thời kỳ đế quốc chủ nghĩa với những vấn đề
đặt ra trong sự nghiệp cách mạng thời đại Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo… thì không thể hiểu được bản chất của CTDT, nội dung CTDT tộc hiện nay
Thực tiễn vấn đề dân tộc ở Việt Nam là thực tiễn hình thành và phát triển của các khối cộng đồng người, của mối quan hệ tộc người xuất hiện rất sớm trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và được nâng cao, phát huy trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam Thực tiễn vấn đề dân tộc ở Việt Nam có những nội dung khác với
Trang 19các quốc gia khác trên thế giới là các thành phần tộc người sớm hội tụ dưới một ngọn cờ độc lập dân tộc với sự lãnh đạo điều hành của một nhà nước thống nhất từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên (nhà nước Văn Lang - Âu Lạc) Đặc điểm lịch sử
đó đã tạo nên cốt cách của các thành phần dân tộc Việt Nam mà các nhà khoa học thường gọi là “bản lĩnh, bản sắc dân tộc” - yếu tố tạo nên sức mạnh kỳ diệu trong những trang sử chống ngoại xâm, chống đồng hoá dân tộc
Thực tiễn vấn đề dân tộc ở Việt Nam còn là ở chỗ, nước ta là một quốc gia
đa tộc người Quá trình “khai thiên lập địa” không ngừng mở rộng lãnh thổ từ Âu Lạc đến Việt Nam cũng bao hàm vào các nhà nước, các cư dân không đồng nhất về ngôn ngữ, phong tục, tập quán Sự phát triển của các mối quan hệ dân tộc có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Do nằm ở vị trí ngã ba đường từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc mà phần lãnh thổ Việt Nam thường xuyên chứng kiến và tiếp nhận các luồng di dân Bắc - Nam, Đông- Tây Quá trình đó diễn biến qua hàng nghìn năm và cho đến nay chưa phải đã chấm dứt Kết quả vận động có tính chất lịch sử như vậy đã để lại bức tranh phân bố tộc người - cư dân rất phức tạp
ở Việt Nam, các khu vực đồng bằng và trung du, nơi cư trú chủ yếu của người Kinh, vấn đề ngôn ngữ không có gì phải bàn luận Nhưng các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên quan hệ tộc người bao giờ cũng được phản ánh thông qua thực trạng sử dụng ngôn ngữ Trên thực tế, tiếng Tày - Nùng là ngôn ngữ khu vực Đông Bắc, tiếng Thái là ngôn ngữ của khu vực Tây Bắc Đối với Tây Nguyên
do sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các tộc người không lớn, số lượng thành viên của các tộc người tương đối đồng đều nên việc duy trì ngôn ngữ tộc người là khá bền vững
ở Đông Bắc, trong quan hệ ngôn ngữ chưa có hiện tượng “thắng, bại” rõ ràng nghĩa là chưa có hiện tượng ngôn ngữ khu vực chiến thắng hoàn toàn một ngôn ngữ khác Thực tế này là do mối tương quan tộc người quy định Nếu một tộc người với số lượng thành viên quá ít, lại cư trú xen kẽ với những tộc người lớn hơn,
bị chi phối bởi các quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá thì xu hướng hoà nhập hay bị hoà nhập là khó cưỡng lại Ngược lại, cũng có tình trạng, do cộng cư lâu đời lại rất gần nhau về văn hoá và ngôn ngữ mà người Tày, người Nùng lại hiểu nhau đến mức có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ của tộc người nọ hoặc ngôn ngữ của tộc người kia; trong khi đó giữa các nhóm Nùng với nhau lại có hiện tượng “ngôn ngữ bất
đồng”
Trang 20ở Đông Bắc, tiếng Việt cũng được biết đến sớm, được sử dụng trong một không gian rộng lớn, cả dưới góc độ địa lý, cả trong lĩnh vực buôn bán và các mối quan hệ xã hội Khu vực này đã hình thành các chợ từ lâu, có nhiều thị xã thị trấn lớn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Về phương diện quan hệ tộc người, Đông Bắc được coi là vùng “mở” điển hình vì Đông Bắc có những ưu thế hơn hẳn: có giao thông thuận tiện giúp cho việc đi lại trao đổi giữa các địa phương
và các cư dân thuận tiện, dễ dàng hơn Sự tiếp xúc thường xuyên của người Kinh với các tộc người thiểu số đã giúp cho tiếng Việt xác lập được vị trí sớm và có vai trò xác định sớm
ở Tây Bắc, tiếng Thái trước đây được coi là ngôn ngữ phổ thông của khu vực Trong quan hệ tộc người, các chúa đất Thái đã từng là chủ đất và các nhóm cư dân Môn - Khơme trong đại bộ phận các trường hợp đã biến thành lệ nông Quan
hệ tộc người và quan hệ giai cấp, giai tầng đã lồng ghép, xoắn xuýt vào nhau; và từ mối quan hệ với một bộ phận quý tộc Thái đã mở rộng ra thành quan hệ Thái - Xá
mà một bên là những người thống trị, một bên là những kẻ bị thống trị Mặc cảm này đã hằn sâu vào đầu óc của nhiều nhóm cư dân và đến nay chưa phải đã được xoá sạch
Quá trình hiện đại hoá với sự du nhập lối sống công nghiệp lên các vùng thiểu số miền núi nước ta đã tác động không nhỏ đến các quá trình tộc người Nếu quan sát, riêng về phương diện ngôn ngữ, con đường tiếp cận và tiếp nhận ngôn ngữ phổ thông có quy luật chung của nó Sự phát triển kinh tế - xã hội tất phải hình thành các thị trường trao đổi, kích thích sự lưu thông giữa các vùng, các tộc người khác nhau Quá trình này gắn liền với tốc độ đô thị hoá, với sự hình thành các thị trấn, thị xã các điểm cư dân với một lối sống hoàn toàn khác với lối sống của các xã hội nông nghiệp truyền thống, về căn bản là dựa trên cơ sở của nền sản xuất tiểu nông tự cấp tự túc Quan hệ giữa con người với con người giờ đây chủ yếu là quan
hệ kinh tế với một lối sống mang tính chất thị dân Đại diện cho thành phần này về mặt tộc người chủ yếu lại là người Kinh Từ các chợ nhỏ lẻ đến các cơ sở buôn bán lớn ở miền núi hầu như đều do người Kinh điều hành hoàn toàn Ngôn ngữ giao dịch ở đây chính là tiếng Việt, là ngôn ngữ phổ thông
Đặc trưng sinh hoạt - văn hoá là một trong ba tiêu chí để xác định thành phần tộc người Nhưng sự giao lưu và ảnh hưởng văn hoá giữa các cư dân vốn đã
có từ rất lâu đời Với một quốc gia đa tộc người lại cư trú xen kẽ điển hình như Việt Nam thì việc bóc tách các lớp, các thành phần văn hoá tộc người một cách rành mạch là việc làm hết sức khó khăn
Phần lớn các nhà sử học và dân tộc học Việt Nam cho rằng đồng bằng và
Trang 21trung du Bắc Bộ là địa bàn hình thành và bảo lưu bền vững các truyền thống văn hoá của người Kinh Bên cạnh đó còn có một loại ý kiến khác cho rằng đồng bằng trung du Bắc Bộ là khu vực có sự tiếp xúc văn hoá giữa các cư dân có nguồn gốc thuộc tộc người khác nhau từ đã lâu đời Sự giao lưu Việt - Hán thì đã quá rõ ràng nhưng còn cả sự giao lưu Việt - Tày, Việt - Thái, Việt - Chăm từ thời kỳ huyền sử cho đến các thời đại phong kiến sau này
Vấn đề nguồn gốc lịch sử các dân tộc cũng là một thực tiễn có ý nghĩa lớn trong công tác dân tộc và đào tạo, bồi dưỡng về công tác dân tộc
Theo bản danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được nhà nước ta ban hành vào ngày 02/3/1979 thì hiện nay ở Việt Nam có 54 dân tộc (Ethnie) Căn cứ vào sự phân loại ngôn ngữ tộc người, các dân tộc ít người ở nước ta được xếp vào 3 ngữ hệ chính sau đây:
- Ngữ hệ Nam á gồm 4 nhóm: Việt - Mường, Môn - Khmer, Hmông - Dao
Nhóm Việt - Mường là nhóm dân cư đông nhất nước ta, bên cạnh người Việt
(dân tộc chiếm đa số) còn có các dân tộc ít người khác như: Mường, Chứt, Thổ
Tổ tiên của người Việt - Mường là người Lạc Việt, một chủ nhân của văn hoá Đông Sơn hay rộng hơn là văn hoá sông Hồng
Quá trình phân li cư dân Tiền Việt - Mường thành hai dân tộc Việt, Mường xảy ra khá dài, chủ yếu trong thời kì Bắc thuộc và kết thúc vào thế kỷ thứ X, XI, khi người Việt dành được độc lập dân tộc, và người Mường trở thành một dân tộc thiểu số Tên gọi Mường hiện nay được thừa nhận như là tộc danh, với hai nhóm
địa phương là Mọi Bi và Ao Tá Trong buổi đầu dựng nước, người Chứt nằm trong khối Lạc Việt, và có thể người Chứt tách ra khỏi khối Tiền Việt - Mường thành một dân tộc riêng rẽ cùng một lúc với người Mường tách khỏi khối Tiền Việt - Mường Trước đây người Chứt (Bao gồm các nhóm: Sách, Rục, Arem) sinh sống ở vùng Quảng Trạch (Quảng Bình) Nhưng sau này, do chiến tranh và thuế khóa nặng nề nên cách đây chừng 3 - 4 đời (chừng 100 năm), họ phải lên nương náu ở vùng rừng núi phía tây như hiện nay Dân tộc Thổ được hình thành không lâu từ sự cố kết nhiều nhóm khác nhau như Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng, Cuối, Kẹo, Mọn Địa bàn cư trú của người Thổ chủ yếu ở tỉnh Nghệ An Trong các nhóm của người Thổ, có
Trang 22một bộ phận được hình thành từ những thành viên của cộng đồng Tiền Việt - Mường như người Tày Poọng, Đan Lai, Li Hà, có bộ phận là của người Việt như Kẹo (Kinh) hoặc một bộ phận của người Mường như người Mọn Ngoài ra, còn nhóm người gốc Thái sống gần gũi với người Thổ nên đã hoà nhập vào cộng đồng dân cư dưới tác động của quá trình đồng hoá
Nhóm Môn - Khmer có địa bàn phân bố khá rộng từ Mianmar, Lào,
Campuchia đến Việt Nam ở Việt Nam số cư dân nói ngôn ngữ Môn Khmer không nhiều, nhưng đây là nhóm chiếm gần nửa số dân tộc (21/54) Lịch sử hình thành các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer rất phức tạp Các nhà khoa học
đều cho rằng cư dân Môn - Khmer là những dân cư bản địa đầu tiên lập nghiệp trên phía bắc của bán đảo Đông Dương Trong quá trình định cư, tổ tiên của họ đã xây dựng lên những nhà nước cường thịnh Nhưng các đợt di dân từ phương bắc tràn xuống đã thu hẹp dần lãnh thổ cư trú của họ và làm suy yếu các nhà nước này Đến cuối thiên niên kỷ thứ I, đầu thiên niên kỷ thứ II sau công nguyên, các quốc gia cổ
đại của cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer suy yếu và phân bố dân cư bị đảo lộn Một bộ phận bị tiêu diệt do các cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các quốc gia với nhau; một bộ phân khác bị đồng hoá hoặc bị hoà nhập vào các cộng đồng khác Phần còn lại phân hoá ra thành các tộc người hoặc trở thành những nhóm địa phương sinh sống xen kẽ với những tộc người khác Quá trình cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer phân tán trên nhiều nước thuộc bán đảo Đông Dương Do đó, dẫn
đến một thực tế là sự phát triển của các cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer hết sức
đa dạng, không đồng đều, phụ thuộc vào vị trí của họ trong từng quốc gia
Trong quá trình cư trú xen kẽ trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer chịu tác động của nhiều yếu tố làm thay đổi về thành phần dân tộc,
về địa bàn cư trú, về biến động dân số Không có tộc người nào nói ngôn ngữ Môn
- Khmer lại không di chuyển địa bàn cư trú do nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, sự di chuyển này không lớn, không vượt ra khỏi địa bàn cư trú truyền thống của họ Địa bàn cư trú của cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer phân bố ở Tây Bắc, Trường Sơn - Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Tây Bắc trước đây có tên chung là người Xá Nhưng đây không phải là khối thống nhất mà bao gồm nhiều dân tộc riêng biệt Đó là các dân tộc Kháng, Xinh mun, Khơ mú Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các dân tộc Kháng, Xinh mun, Mảng là những cư dân đã cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, một bộ phận của các dân tộc này cư trú ở bên Lào Người Khơ
Mú có số lượng dân cư đông đảo nhất của nhóm Môn - Khmer ở phía Bắc Việt Nam; trước đây cư trú ở Lào, nhưng do nhiều biến động của lịch sử, họ di cư đến
Trang 23Việt Nam không lâu và cư trú chủ yếu ở biên giới Việt - Lào Dân tộc Kháng đã cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam Khi người Thái di cư từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc đến vùng này (từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ XIV), đã thấy người Kháng cư trú
ở đây Người Ơđu trước đây có tên gọi là Tày Hạt, cư trú trên một vùng rộng lớn
dọc sông Nậm Nơn và Nậm Mô ở Việt Nam, họ cư trú chủ yếu ở huyện Tương Dương thuộc tỉnh Nghệ An Do nhiều biến động lịch sử xảy ra trong vùng cư trú của người Ơ đu, buộc họ phải di cư đến những vùng khác hay hoà vào với những cư dân mới đến, làm cho dân số ngày một giảm Đại bộ phận người Xinh mun cư trú lâu đời ở Tây Bắc, một bộ phận khác mới di cư từ Lào sang cách đây không lâu Vùng Nậm Ban là quê hương của người Mảng Sau này, do biến động lịch sử họ di cư đến vùng khác sống xen kẽ với người Thái, Hmômg và chịu ảnh hưởng qua lại
về kinh tế, văn hoá, xã hội
Vùng núi Bắc Trường Sơn thuộc các tỉnh Bình - Trị - Thiên và Quảng Nam -
Đà Nẵng là địa bàn cư trú của một nhóm các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam á Đó là
dân tộc Bru - Vân Kiều cư trú ở Quảng Trị, Thừa Thiên; Tà Ôi cư trú ở Quảng Trị
và Cờ Tu cư trú ở Quảng Nam - Đà Nẵng Địa bàn cư trú chủ yếu là vùng Trung Lào Sau những biến động lịch sử xảy ra hàng thế kỉ họ đã phải di cư đi nơi khác Các nhà khoa học cho rằng tiếng Cờ Tu, Bru - Vân Kiều, Tà Ôi khá thống nhất, chúng hợp thành một nhóm độc lập trong nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer
Vùng Nam Trường Sơn - Tây Nguyên là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thuộc nhóm Môn - Khmer Trước hết phải kể đến dân tộc Ba Na Tuy hiện nay còn
ba nhóm địa phương là Rơ ngao, Giơ lâng và Krem nhưng nhìn chung dân tộc Ba
Na sớm có ý thức thống nhất về cộng đồng dân tộc
Dân tộc Xơ đăng cư trú chủ yếu ở tỉnh Kon Tum; ngoài ra, còn cư trú ở các
tỉnh: Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), Bình Định Dân tộc Xơ đăng có nhiều nhóm Về quá trình di dân của người Xơ đăng chưa có những tư liệu thuyết phục, nhưng các nhà khoa học cho rằng đây là một trong những cư dân Môn - Khmer có mặt sớm nhất ở vùng bắc Tây Nguyên Huyền thoại về nguồn gốc cho thấy các nhóm Ba Na Bắc (bao gồm: Ba Na, Xơ đăng) gần gũi với các cư dân Hmông - Dao và một số nhóm Tạng - Miến, chứng tỏ từ xa xưa, họ có thể cư trú về phía bắc, do các đợt xung đột với các dân tộc láng giềng, lãnh thổ cư trú của họ đã bị thu hẹp lại Dân tộc Cơ ho cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, ngoài ra còn có một bộ phận cư trú ở Bình Thuận, Khánh Hoà Dân tộc Cơ ho bao gồm nhiều nhóm có trình độ kinh tế, xã hội khác nhau Dân tộc Hrê có địa bàn cư trú chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi, với các tên gọi khác nhau Người Hrê coi miền Tây Bình Định là vùng đất mà tổ tiên
họ khai phá từ xa xưa Dân tộc Mnông cư trú ở Đắc Lắc, Lâm Đồng, Sông Bé Một
Trang 24bộ phận khác cư trú ở Campuchia Do sự cư trú xen kẽ và phân tán, sự giao lưu văn hoá giữa các vùng, đã phân chia cư dân Mnông ra thành nhiều nhóm địa phương Tuy nhiên, các nhóm này đều tự nhận một tên gọi chung là Mnông, mặc dù tồn tại nhiều phương ngữ Mnông là một trong những dân tộc gắn bó mật thiết với xứ sở cao nguyên miền Trung Việt Nam Xtiêng là một dân tộc cư trú lâu đời ở các tỉnh nam Tây Nguyên như Lâm Đồng, Đông Nai, Tây Ninh, nhưng chủ yếu ở tỉnh Sông
Bé với hai nhóm Bù Lơ và Bù Đek Dân tộc Mạ tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng và
Đồng Nai; là một trong số những dân tộc bản địa ở miền Nam Tây Nguyên Tuy có nhiều nhóm địa phương, nhưng đây là một cộng đồng người thống nhất, có tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và một ý thức chung về tộc người Địa bàn Quảng Ngãi, Quảng Nam - Đà Nẵng là nơi cư trú của dân tộc Co Dân tộc Giẻ - Triêng ở Lào, họ di cư sang Việt Nam cách đây hai, ba thế kỉ Vùng tây nam và đông nam
tỉnh Đồng Nai là địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc Chơ ro - là một trong những
dân tộc bản địa miền Nam Đông Dương Trước khi có mặt trên địa bàn cư trú như hiện nay, người Chơ ro đã từng phân bố chủ yếu ở Bà Rịa, Long Khánh Đó là vùng núi thấp, nằm ở phía đông nam của tỉnh Đồng Nai Kon Tum là địa bàn cư trú của hai dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, nhưng lại có số lượng dân cư rất ít so với các dân tộc khác ở Việt Nam: Brâu và Rơ măm Tổ tiên của người Brâu ở Nam Lào và ở vùng đông bắc Campuchia Người Brâu di cư đến Việt Nam khoảng 4-5 đời Trong các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, thì dân tộc Khmer có số lượng dân cư đông đảo nhất, địa bàn cư trú khá rộng, bao gồm các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tập trung đông đảo nhất tại hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Đây là dân tộc bản địa sinh sống lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long Người Khmer cùng với các cộng đồng dân cư khác (người Việt, người Hoa, Người Chăm) đã khai phá đồng bằng sông Cửu Long - một trong những đồng bằng phì nhiêu và quan trọng nhất ở nước ta
Nhóm Tày - Thái cư trú chủ yếu ở các tỉnh phía bắc Việt Nam và thường có
số lượng dân cư tương đối đông đảo so với các dân tộc khác Dân tộc Thái đóng vai trò hạt nhân cơ bản trong quá trình hình thành cơ cấu dân cư và văn hoá vùng Tây Bắc, còn nhóm Tày - Nùng đóng vai trò chủ đạo ở vùng Việt Bắc cũ Người Thái sinh sống chủ yếu ở Tây Bắc Việt Nam Ngoài địa bàn trên, người Thái còn có mặt
ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Ngoài hai nhóm chính là Thái Trắng và Thái
Đen, còn một ngành khác bao gồm nhiều nhóm phức tạp cư trú ở Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Nhóm Thái Trắng là con cháu người Bạch Y đã cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam Đến thế kỉ thứ II sau công nguyên, họ đã chiếm được
ưu thế ở dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu và dần phát triển thế lực ở các
Trang 25thế kỉ sau Người Thái Đen đến Việt Nam khoảng thế kỉ XI – XII Nhóm Thái Mộc Châu từ Lào di cư sang Việt Nam khoảng thế kỉ XIV, chịu ảnh hưởng của hai ngành Thái Trắng và Thái Đen Nhóm này tiếp tục di cư xuống Thanh Hoá và ngược lên Sơn La
ở vùng Lai Châu, Thanh Hoá có hai dân tộc gần gũi với người Thái là người
Lào và Lự Người Lào ở Việt Nam thuộc nhóm Lào Bốc (Lào Cạn) hay Lào Nọi
(Lào Nhỏ), sinh sống chủ yếu ở dọc biên giới Việt - Lào, tập trung đông đảo ở khắp các huyện của tỉnh Lai Châu Người Lự có mặt ở Tây Bắc sớm hơn người Thái, ít nhất vào đầu thiên niên kỉ thứ II sau công nguyên Trước đây họ chiếm cứ một vùng rộng lớn hơn địa bàn cư trú ngày nay Nhưng sau do sự có mặt của người Thái làm cho người Lự phân ra thành nhiều nhóm phân tán đi khắp nơi Địa bàn cư trú của họ hiện nay thu hẹp ở vùng Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu) Người Tày cổ là
tổ tiên của người Tày và người Nùng hiện nay, là một nhóm của Bách Việt sống xen kẽ và gần gũi với người Lạc Việt Như vậy, Tày, Nùng, là những dân cư bản
địa, sinh sống lâu đời ở Việt Nam Cho đến thế kỉ thứ XI - XII bộ phận Tày - Nùng vẫn chưa tách ra, họ vốn là một cộng đồng thống nhất Bộ phận người Nùng di cư
đến Việt Nam cách đây chừng 3- 4 trăm năm, nhiều nhất là thời Thái Bình Thiên Quốc Dân tộc Giáy sinh sống chủ yếu ở Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lai Châu; người Bố Y sinh sống ở Hà Giang, Lào Cai Người Bố Y và người Giáy thuộc tộc người Bố Y ở Trung Quốc di cư sang Việt Nam khoảng thế kỉ XVII - XVIII Tộc người Sán Chay có quá trình hình thành phức tạp ở Trung Quốc họ cư trú tại ba tỉnh: Nam Hà, Quảng Đông và Quảng Tây, là một bộ phận của người Choang cổ Sau đó chia thành nhiều nhóm di cư xuống phía Nam, một nhóm đi qua vùng Quảng Đông, bỏ tiếng mẹ đẻ, nói một thổ ngữ, đó là người Sán Chỉ, một nhóm qua vùng Quảng Tây, giữ tiếng mẹ đẻ, đó là người Cao Lan Hai nhóm này có mặt ở Việt Nam vào các thời điểm khác nhau Họ cộng cư với nhau ở miền Trung du Bắc
bộ cách đây khoảng 400 năm Tuy họ nói hai ngôn ngữ khác nhau, nhưng có nhiều nét tương đồng trong văn hoá xã hội Cho nên các nhà nghiên cứu đã xếp hai nhóm này là một với tên gọi là Sán Chay hoặc Cao Lan - Sán Chỉ
Nhóm Hmông - Dao: Vấn đề địa bàn sinh tụ, quá trình thiên di và phân tán
của cư dân Hmông- Dao cho đến nay vẫn chưa giải quyết, chỉ biết là đây là những dân tộc sinh sống lâu đời ở khu vực sông Dương Tử, miền Giang Tô (Trung Quốc) Quá trình lui dần xuống phía nam là quá trình đấu tranh đầy nước mắt và xương máu của tổ tiên người Hmông- Dao chống lại sự đàn áp đồng hoá của chủ nghĩa
Đại Hán tộc Người Dao có nhiều ngành, một số ngành sang Việt Nam rất sớm Dân tộc Dao cư trú ở một khu vực rộng lớn của các tỉnh phía Bắc Đợt đầu tiên
Trang 26người Dao vào Việt Nam có thể từ thế kỉ XIII Từ đó cho đến những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, liên tục có các đợt di cư của người Dao vào Việt Nam
Người Hmông đến Việt Nam vào thế kỉ thứ XVIII - XIX Họ cư trú xen kẽ với các
dân tộc khác Địa bàn cư trú của người Hmông rộng, từ các tỉnh phía Bắc vào tới Nghệ An Dân tộc Pà Thẻn cư trú chủ yếu ở Tuyên Quang, mới di cư sang Việt Nam cách nay khoảng 200 năm qua đường Móng Cái, Thái Nguyên
Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Malayô - Pôlinêxia):
Vấn đề nguồn gốc và địa bàn cư trú đầu tiên của cư dân Nam Đảo còn có những ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, những cư dân nói ngôn ngữ Nam Đảo
di cư từ thế giới đảo vào đất liền ý kiến thứ hai cho rằng, cư dân Nam Đảo được hình thành từ miền Đông Nam Trung Quốc Do sự phát triển sản xuất và dân số tăng, do sự bành trướng của người Hán, đã dẫn đến việc di cư xuống phía Nam của
tổ tiên người Nam Đảo theo các đường khác nhau Bộ phận vào bờ biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã hợp nhất vào người Việt Bộ phận đổ bộ vào miền Trung chính là
tổ tiên cư dân Nam Đảo ở Việt Nam ở đây, họ hỗn cư với tổ tiên cư dân Môn - Khmer Sự ảnh hưởng qua lại của hai ngôn ngữ này là rất rõ ràng Tuy có những ý kiến khác nhau, nhưng có điều chắc chắn là các cư dân đến sau đã cư trú hỗn hợp với cư dân Môn - Khmer từ rất xưa, đã hỗn huyết và hoà nhập ngôn ngữ với nhau
Dân tộc Chăm có trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cao hơn các dân tộc khác, là dân tộc đã có một nhà nước tồn tại khá lâu dài, đã đạt được những thành tựu rực rỡ về văn hoá, ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn có nhiều dân tộc cư trú Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân khác nhau, lãnh thổ của Vương quốc Chămpa ngày một thu hẹp lại, để rồi cuối cùng suy vong một Nhà nước Chămpa và người Chăm trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Địa bàn cư trú của người Chăm hiện nay rất rộng Ngoài địa bàn chính là hai tỉnh Ninh Thuận và BìnhThuận, Người Chăm còn cư trú ở các tỉnh miền Tây Nam
Bộ, miền Đông Nam Bộ và cả thành phố Hồ Chí Minh Tổ tiên của hai dân tộc Êđê
và Gia rai di cư từ ven biển miền Trung lên chinh phục và khai phá miền cao nguyên Đắc Lắc và Plâycu Sự di chuyển lên miền núi của họ đã chia cắt khối dân cư ngành Ba na thuộc ngôn ngữ Môn - Khmer vốn là cư dân bản địa thành hai bộ phận Bắc và Nam Dân tộc Ê đê cư trú ở Đắc Lắc, Gia Lai, Khánh Hoà, Phú Yên Dân tộc Gia rai có số lượng dân cư đông nhất trong các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam
Đảo ở Việt Nam; cư trú chủ yếu là các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc Hai dân tộc Ê đê và Gia rai chịu ảnh hưởng của dân tộc Chămpa Trong lịch sử của người Gia rai có nói đến danh xưng Thuỷ Xá, Hoả Xá, như là những dấu hiệu của nhà nước sơ kì Còn thiếu những tư liệu để xác định vấn đề này Dân tộc Gaglai và
Trang 27Churu được nhiều tác giả cho rằng được tách ra từ khối Chăm Người Gaglai cư trú
ở Ninh Thuận, Khánh Hoà, Bình Thuận, Lâm Đồng; người Churu cư trú chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng
Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán - Tạng:
Các cư dân nói ngôn ngữ Hán - Tạng thường được chia thành hai nhóm nhỏ
Đó là nhóm ngôn ngữ Tạng- Miến bao gồm các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống và SiLa Còn nhóm ngôn ngữ Hán (Hoa) bao gồm các dân tộc Hoa, Sán
Dìu, Ngái
Các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến sinh sống chủ yếu trên vùng núi
các tỉnh phía Bắc Dân tộc Hà Nhì cư trú ở Lai Châu, Lào Cai Trước đây tổ tiên của họ sinh sống ở phía Nam Trung Quốc Bộ phận di cư đến Lai Châu cách nay khoảng 300 năm, còn bộ phận di cư đến Lào Cai muộn hơn khoảng trên 150 năm Dân tộc La Hủ trước khi di cư đến Việt Nam cũng sinh sống ở miền Nam Trung Quốc; đến Việt Nam chừng 150 năm, cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè (Lai Châu) Người La Hủ cùng với người Hà Nhì đều từ huyện Kim Bình và Lộc Xuân (Vân Nam Trung Quốc) di cư đến Việt Nam Dân tộc Cống cư trú chủ yếu ở Lai Châu, ven biên giới Việt - Lào và Việt - Trung Dân tộc Sila sinh sống ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu Hai dân tộc này di cư từ Thượng Lào sang Dân tộc Lô Lô cư trú trên dải đất dọc biên giới Việt - Trung, vốn là một bộ lạc trong nhóm Ô Man, cư trú ở vùng Tứ Xuyên, Vân Nam - Trung Quốc, di cư sang Việt Nam rất sớm, nhưng đông nhất là vào đời nhà Minh, do không chịu được ách thống trị tàn nhẫn của chính quyền phong kiến, họ đã đứng lên đấu tranh nhưng không thành công Một bộ phận đã chạy sang Việt Nam vào thế kỉ XV Dân tộc Phù Lá cũng thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở Lào Cai, Lai Châu và Sơn La Họ có mặt ở Việt Nam rất sớm với các tên gọi khác nhau
Các cư dân nói ngôn ngữ Tạng - Miến có địa bàn cư trú xa xưa thuộc khu vực Tây Bắc Trung Quốc Họ di cư đến Việt Nam vào các thời điểm khác nhau, theo từng nhóm, từng đợt Địa bàn cư trú của các dân tộc Tạng - Miến không chỉ giới hạn ở Việt Nam, mà còn ở Trung Quốc
Cư dân thuộc ngôn ngữ Hán (Hoa) đã di cư đến Việt Nam từ lâu, nhất là thời
kỳ Bắc thuộc và kéo dài đến nửa đầu thế kỉ XX Thời Bắc thuộc những người đến Việt Nam là những quan lại, những kẻ bị lưu đày, những thương gia Những lớp cư dân Hoa đầu tiên đến Việt Nam đã hoà huyết với những cư dân bản địa Sang thời kì Việt Nam giành được độc lập sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, người Hoa vẫn tiếp tục di cư với nhiều lý do khác nhau Khi phong kiến Hán tộc bị thất bại trước quân Mãn Thanh và những cuộc khởi nghĩa sau đó lần lượt bị đàn áp thì các đợt di
Trang 28dân lại tăng lên Có một bộ phận đã vượt biển đến các thương cảng và đô thị của Việt Nam thời bấy giờ như Phố Hiến, Kẻ Chợ, Hội An Đặc biệt vào nửa sau thế kỉ XVII, có các đợt di cư của người Hoa do Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch dẫn
đầu đã đến vùng đất Nam Bộ Người Hoa đã cùng với các dân tộc khác khai phá vùng đất mới của Việt Nam Nhưng đại bộ phận lớp cư dân Hoa di cư sang Việt Nam giai đoạn này đã hoà nhập với các cư dân bản địa Dân tộc Hoa hiện nay cư trú ở hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ cũng như các thành phố lớn khác Do quá trình di cư không đồng loạt nên cộng đồng người Hoa cũng không được thuần nhất và tuy cộng cư với người Việt và các dân tộc khác nhưng người Hoa vẫn lưu giữ được những nét văn hoá truyền thống mang sắc thái từng nhóm địa phương Dân tộc Ngái cư trú ở Quảng Ninh, Lạng Sơn, Đồng Nai Trước khi di cư sang việt Nam, người Ngái cư trú ở Quảng Đông, Trung Quốc Năm 1954
có một bộ phận người Ngái di cư vào Nam Người Ngái là một cộng đồng không thống nhất Đó là những người Hoa phương Nam do sự hoà huyết từ lâu giữa người Hán và người địa phương Dân tộc Sán Dìu sang Việt Nam vào khoảng cuối triều Minh, cách nay chừng 300 năm, cư trú suốt một dải đất dài từ tả ngạn sông Hồng
đổ về phía đông và tập trung tại một số huyện ở Bắc Giang (Hà Bắc), Thái Nguyên (Bắc Thái), Vĩnh Phú, Tuyên Quang, bao quanh dãy Tam Đảo Do sống xen kẽ với người Sán Chay và các cư dân xung quanh nên ở họ đang có hiện tượng đa ngữ, đa văn hoá
Ngoài các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ đã nêu trên, ở Việt Nam còn có
4 dân tộc mà sự phân loại ngôn ngữ hiện nay chưa có sự thống nhất Đó là các dân tộc: Cơ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha Một số nhà nghiên cứu xếp họ vào nhóm Kađai thuộc ngữ hệ Nam á Dân tộc Cơ Lao cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang; di cư
đến Việt Nam các đây khoảng 150 - 200 năm, đợt di cư cuối cùng của họ chấm dứt cách đây từ 60 đến 80 năm Dân tộc La Chí cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang, là cư dân bản địa, có mặt lâu đời trên vùng biên giới Việt - Trung Hai dân tộc La Ha và
Pu Péo trước đây được xếp vào nhóm Tày - Thái, nhưng gần đây được xếp vào ngữ
hệ Nam á Dân tộc La Ha cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La Tổ tiên người La Ha sớm có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam Vào thế kỉ XI - XIII, khi ngành Thái Đen thiên di đến vùng đất này thì tổ tiên người La Ha đã cư trú ở nhiều nơi Ngôn ngữ
La Ha có nhiều yếu tố Môn - Khmer, Tày - Thái, Nam Đảo
Sự đa dạng về thành phần tộc người, sự đan xen trong đặc điểm cư trú đương nhiên là có căn nguyên lịch sử của nó Do vị trí địa lý của đất nước mà từ rất lâu
đời mảnh đất Việt Nam đã nằm trong khu vực hình thành con người hiện đại Homosapiens Muộn hơn nó là địa bàn đón nhận nhiều luồng di dân: từ núi xuống,
Trang 29từ biển vào, từ Nam lên, từ Tây và Bắc qua Mặt khác các cuộc bùng nổ dân số trong lịch sử ở vùng Tây Nam Trung Quốc đã tạo ra các luồng di dân lớn Sau đó là
sự dồn nén thường xuyên của các thế lực phong kiến phương Bắc đã tạo nên các
đợt di cư, khi thì lẻ tẻ, lúc thì ồ ạt Kết quả là khu vực Đông Dương, trong đó có Việt Nam trở thành địa bàn tiếp nhận thường xuyên các luồng di dân, làm cho bộ mặt phân bố dân cư ở đây vốn đã phức tạp càng phức tạp thêm Điều này góp phần
lý giải tại sao với một diện tích cỡ trung bình (330.000 km2) mà đất nước ta có đến
54 dân tộc với hàng trăm nhóm địa phương thuộc nhiều hệ ngôn ngữ khác nhau
Cư trú xen kẽ thường dẫn đến hai khuynh hướng đối lập trong quan hệ giữa các tộc người:
- Đoàn kết - đùm bọc - che chở - có thể nói đây là sự phát triển thường xuyên, lành mạnh dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng và Bác Hồ với tư tưởng đại
đoàn kết dân tộc Tất nhiên, việc xác lập được khuynh hướng này còn là kết quả khách quan của sự tác động nhiều chiều của các mối quan hệ lịch sử - xã hội giữa các tộc người ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Loại hình cư trú xen kẽ như
đã nói khiến cho các cư dân không có được lãnh thổ riêng mà chỉ có lãnh thổ quốc gia chung Trong điều kiện như vậy thì tính “ích kỷ tộc người” khó lòng mà có chỗ
đứng vì nó bị chi phối rất mạnh bởi tính thống nhất, không thể chia cắt của lãnh thổ quốc gia Đó là chưa kể đến trên lãnh thổ quốc gia đã sớm có một nhà nước thống nhất
- Hiềm khích - xích mích - xung đột luôn có cơ hội bột phát bùng nổ Trong lịch sử sự xung đột khi thì mang tính cục bộ, địa phương, khi thì phải có sự can thiệp của chính quyền trung ương, đã đủ để cho chúng ta thường xuyên phải canh chừng với khuynh hướng thứ hai này
Các tộc người thiểu số ở các vùng miền núi nước ta bao đời nay đã xứng
đáng với vị trí “phên dậu” trong việc bảo vệ biên cương của Tổ quốc Để cho những người dân biên giới trong bất kỳ tình huống nào cũng giữ vững lập trường công dân của mình thì nhất quyết chúng ta phải hoàn toàn tin tưởng ở tình cảm yêu quê hương, đất nước và ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia của họ Nhà nước cần phải có chính sách đầu tư thích đáng để xây dựng các địa bàn này thực sự trở thành các pháo đài bất khả xâm phạm, như vậy chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm, ngay cả khi có những thế lực nào đó lợi dụng quan hệ dân tộc để xâm phạm chủ quyền quốc gia của chúng ta Hiện nay, có một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc ở các vùng: Vùng dân tộc Khơme, Vùng dân tộc Chăm, Vùng dân tộc Hmông, Vùng dân tộc Thái, Vùng các dân tộc Tây nguyên và Vùng dân tộc Hoa
Trang 30Cơ sở thực tiễn còn bao hàm nội dung về CTDT - CTDT của Nhà nước kiểu
mới ra đời từ năm 1945, với sự khởi đầu từ Nha Dân tộc thiểu số từ năm 1946
Nội dung CTDT được biểu hiện rất sinh động gắn với đặc điểm, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ Thực tiễn CTDT được biểu hiện qua việc thành lập các tổ chức, với chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực CTDT và tham mưu cho Trung ương Đảng và Chính phủ về CTDT
Một trong những nội dung hoạt động của CTDT là việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc Chính sách dân tộc là kế hoạch và sách lược cụ thể trong từng giai đoạn, nhiệm vụ cách mạng nhằm tác động vào các dân tộc thiểu số tạo điều kiện để các dân tộc phát triển hoà nhập vào sự phát triển chung của quốc gia và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng các dân tộc Việc xây dựng chính sách dân tộc cũng phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định Đó là việc quán triệt các quan điểm cơ bản, các nguyên tắc (bình đẳng, đoàn kết, tương trợ) của Đảng và Nhà nước ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, các nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với CTDT trong từng thời kỳ cách mạng để hoạch định chính sách
Chính sách dân tộc ở nước ta mang nội dung và đặc điểm gắn với từng thời kỳ: Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền (1930-1945); thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp bảo vệ độc lập dân tộc (1945-1954); thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ và tay sai ở miền Nam tiến
tới thống nhất nước nhà (1954-1975); thời kỳ sau khi nước nhà thống nhất đến
trước thời kỳ đổi mới (1975-1985); thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay Chính sách dân tộc từng thời kỳ nêu trên có nội dung cụ thể và phản ánh tính đặc thù trong từng giai đoạn cách mạng
2.3 Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý là một trong những cơ sở quan trọng trong việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo về CTDT Đây cũng là một trong những kiến thức cần trang bị cho những người làm CTDT, nhất là những người làm lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực CTDT, chính sách dân tộc
Các văn bản pháp quy về vấn đề dân tộc, CTDT, chính sách dân tộc là một trong những cơ sở không thể thiếu để những người làm CTDT dựa trên các văn bản
đó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ QLNN và tham mưu cho Đảng, Nhà nước
về vấn đề dân tộc, CTDT trong các giai đoạn cách mạng Các văn bản pháp quy về vấn đề dân tộc, CTDT thể hiện quan điểm, chủ trương, chính sách mang tính pháp
lý cao, là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách dân tộc trong từng giai đoạn
Trang 31cách mạng Chúng ta có thể điểm ra ở đây các văn bản đó: Văn kiện Đảng các kỳ
đại hội, Hiến pháp, các bộ luật liên quan đến CTDT, các điều luật trong các bộ luật (hôn nhân và gia đình, dân sự…) có liên quan đến CTDT, các Chỉ thị, Thông tư, Quyết định, Nghị quyết… của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Chính phủ, Uỷ ban Dân tộc, các Bộ, ngành liên quan…, các loại văn bản pháp quy khác do Trung
ương hoặc địa phương ban hành theo thẩm quyền về CTDT
II Thực trạng và đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm ctdt ở địa phương
Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm CTDT ở
địa phương là một định hướng đúng đắn, thiết thực và mang tính chiến lược của cơ quan CTDT nói riêng và của Đảng, Nhà nước nói chung Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nhằm đưa ra một hệ thống các nội dung đào tạo đáp ứng yêu cầu cho cán bộ có đủ năng lực, nhận thức và hoạt động trong lĩnh vực CTDT Kiến thức của nội dung đào tạo, bồi dưỡng có tính giáo dục, định hướng cho người
được đào tạo về lý luận cũng như phương pháp hoạt động chuyên môn trong thực tiễn để làm công tác tư vấn, tham mưu thực hiện chính sách dân tộc, QLNN về lĩnh vực CTDT góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển toàn diện vùng dân tộc
1 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm CTDT ở
đến mức độ phù hợp của chuyên ngành được đào tạo với nhiệm vụ đang đảm nhiệm Thực tế cho thấy, trong cơ quan CTDT địa phương, cán bộ nữ luôn có số lượng thấp hơn nam, đặc biệt là ở những vị trí lãnh đạo, quản lý Điều này không chỉ có ở những ngành đặc thù như xây dựng hay kinh tế mà ở cả các ngành khoa học xã hội, ngành CTDT cũng không nằm ngoài thực tế đó Qua điều tra cho thấy cơ cấu giới tính trong đội ngũ cán bộ làm CTDT ở các địa phương còn nhiều bất cập (xem bảng 1)
Bảng 1: Cơ cấu giới tính của cán bộ CTDT ở địa phương
Trang 32- 40 Độ tuổi từ 41 đến 45 chiếm 12,8%; độ tuổi từ 46 đến 55 chiếm 28,4%; đặc
biệt độ tuổi từ 56 đến 60 chỉ có 1% tổng Sự tăng cường về số lượng và trẻ hoá đội
ngũ cán bộ đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương, tạo đà và động lực cho sự phát triển Hiệu quả hoạt động quản lý về lĩnh vực CTDT cũng được nâng lên với việc kết hợp sức trẻ, tri thức mới với kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ cũ, đã lớn tuổi
- Thành phần dân tộc
Đồng thời với sự trẻ hoá là sự gia tăng của cán bộ người dân tộc thiểu số Theo điều tra sơ bộ về số lượng và chất lượng cán bộ, công chức làm CTDT tại các tỉnh có tổ chức, cơ quan làm CTDT địa phương thì trong tổng số 421 công chức làm CTDT cấp tỉnh có 128 công chức là người dân tộc thiểu số chiếm 30%, trong
đó công chức lãnh đạo chiếm 12,4% Một số tỉnh có công chức là người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao như: Quảng Nam, Bắc Kạn, Thái Nguyên (trên 20%), đặc biệt Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng, công chức người dân tộc thiểu số chiếm đến 93,3% nhưng lại không có cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo Một số Ban Dân tộc tỉnh không có người dân tộc thiểu số công tác, như các tỉnh vùng Đông Nam Bộ: Tây Ninh, Long An, Bình Dương Đây có thể xem là điểm hạn chế trong việc sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan CTDT vùng Đông Nam Bộ
Tỷ lệ 30% đã chứng minh rằng, việc sử dụng công chức là người dân tộc thiểu số đã được quan tâm hơn, một mặt bảo đảm được tỷ lệ hợp lý về thành phần các dân tộc, mặt khác thể hiện tính đặc thù riêng của CTDT cấp tỉnh Tỉnh nào có
đông đồng bào dân tộc sinh sống thì ở đó cơ quan làm CTDT cấp tỉnh được tăng cường với đội ngũ công chức là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao
Sự đa dạng về thành phần dân tộc của đội ngũ cán bộ CTDT là người dân tộc thiểu số (xem bảng 2) góp phần làm cho bản thân đội ngũ cán bộ làm CTDT thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu về các dân tộc thiểu số đồng thời cũng góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng và vận động đồng bào thực hiện chính sách của Đảng và
Trang 33- Trình độ chuyên môn đ∙ được đào tạo
So với trước đây, chất lượng đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương đã được nâng cao rõ rệt Đa số cán bộ đều có trình độ cao đẳng, đại học Theo báo cáo của
Ban dân tộc các tỉnh, trình độ chung của đội ngũ như sau:
Bảng 3: Trình độ chuyên môn đã được đào tạo
Trang 34- Chuyên ngành đ∙ được đào tạo
Song song với trình độ chuyên môn khá cao là chuyên ngành đào tạo của đội ngũ cán bộ CTDT nói chung, cán bộ CTDT ở các địa phương nói riêng rất đa dạng (xem bảng 4) Từ các ngành về nông, lâm nghiệp, quản lý kinh tế, dân tộc học cho
đến chuyên ngành sư phạm, y khoa, xây dựng… Trong đó một số chuyên ngành có
số lượng cán bộ, công chức chiếm tỷ lệ cao là:
Nông lâm nghiệp là 23,9%;
Khối khoa học xã hội nhân văn chiếm 15,6%;
Chuyên ngành kinh tế chiếm tỷ lệ là 14,7%;
Kỹ thuật, công nghệ, xây dựng 8,2%;
Sư phạm chiếm 5,5%, tương đương là ngành quản lý nhà nước với 5,5%
Bảng 4: Chuyên ngành đã được đào tạo của cán bộ CTDT các địa phương
Trang 35cao, chuyên ngành phong phú là nhịp cầu nối giữa chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc thiểu số Họ là người truyền tải, phổ biến, hướng dẫn đồng bào thực hiện tốt chủ trương, chính sách cũng như giúp
đồng bào dân tộc thiểu số áp dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần
1 2 Thực trạng trình độ của đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương
- Trình độ lý luận chính trị
Đào tạo trình độ lý luận chính trị nhằm cập nhật đường lối chủ trương của
Đảng, Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ có lập trường chính trị vững vàng, thái
độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt Lý luận chính trị có tác động chi phối trực tiếp nhận thức và quán triệt thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cán bộ
Đối với cán bộ làm CTDT phải được đào tạo về trình độ lý luận chính trị theo yêu cầu của từng ngạch bậc đối với từng chức danh cụ thể Qua khảo sát 109 cán bộ, công chức làm CTDT ở địa phương có thể thấy một vài điểm sau:
Bảng 5: Số lượng khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đã tham gia
lý luận chính trị trên tổng số cán bộ công chức của các cơ quan làm CTDT là chưa cao, nếu không muốn nói là thấp Cơ quan làm CTDT cấp tỉnh, cấp huyện có tỷ lệ cán bộ được đào tạo về lý luận chính trị: năm 2004 chỉ có 6 cán bộ được tham gia
đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, năm 2005 có 6 cán bộ, năm 2006 có 6 cán bộ, năm 2007 có 7 cán bộ tham gia, 6 tháng đầu năm 2008 mới có 1 cán bộ tham gia bồi dưỡng tập huấn Từ năm 2004 đến tháng 7/2008, cán bộ làm công tác dân tộc ở
địa phương được tham gia bồi dưỡng, đào tạo về trình độ lý luận chính trị là 23 cán
bộ trong tổng số 109 người trả lời phỏng vấn (trong đó có 1 người tham gia 3 khoá) Có thể dẫn ra một ví dụ về vấn đề này, Ban dân tộc tỉnh Lào Cai có 34 cán
bộ, công chức, trong đó số người có trình độ đại học là 27, chỉ có 7 người có trình
Trang 36độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp Như vậy, trình độ văn hóa cao nhưng chỉ có 04 cán
bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp, 01 cử nhân và 01 trung cấp, rõ ràng chưa
có sự tương ứng thích hợp giữa trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị của cán bộ trong cơ quan QLNN về CTDT
- Trình độ quản lý hành chính nhà nước
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính Nhà nước nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng của cán bộ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm CTDT ở địa phương không chỉ trang bị cho họ những kiến thức về kinh
tế thị trường, vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết kinh tế mà còn đào tạo, bồi dưỡng cho họ nội dung QLNN về lĩnh vực CTDT; làm cho họ hiểu rõ được tính đặc thù, sự khác biệt của QLNN về CTDT với hoạt động QLNN về các lĩnh vực khác Những yêu cầu đặt ra cho hoạt động QLNN về lĩnh vực CTDT trong việc xây dựng, hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách, chương trình dự án ở vùng dân tộc thiểu
số
Bảng 6: Số khóa đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính đã tham gia
Số khoá đào tạo Người tham dự Tỷ lệ %
Số liệu trên cho thấy, đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương đa số chưa
được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý hành chính và trình độ lý luận chính trị, nếu có
Trang 37tác dân tộc còn hạn chế Do vậy, các Ban Dân tộc cấp tỉnh cần có kế hoạch đào tạo
để số công chức này được tham gia học các lớp về chính trị, kiến thức chung về QLNN để phục vụ cho công tác của cơ quan
Bảng 7: Số khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đã tham gia
Số khóa đào tạo Người tham dự Tỷ lệ %
đến 25,7% cán bộ đã tham gia được 2 khoá (xem bảng 7)
Nhưng theo kết quả phân tích một số báo cáo thống kê của cơ quan làm CTDT cấp tỉnh thì tỷ lệ công chức làm CTDT được trang bị nghiệp vụ CTDT còn chiếm tỷ lệ rất thấp (15%) Một số cơ quan làm CTDT cấp tỉnh rất quan tâm đến việc trang bị cho công chức của mình về nghiệp vụ CTDT như: Ban Dân tộc Thanh Hoá, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, Ban Dân tộc tỉnh Hà Giang Còn các tỉnh khác, phần lớn công chức có nghiệp vụ CTDT là công chức lãnh đạo, số công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ được trang bị kiến thức nghiệp vụ CTDT là rất hạn chế Hiện nay, do Trường Cán bộ Dân tộc mới thành lập nên việc tổ chức các khoá
đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ CTDT còn chưa đáp ứng yêu cầu Đây là một kiến thức rất quan trọng đối với công chức làm CTDT cần phải được trang bị càng sớm càng tốt
Trang 38- Các loại hình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khác
Bảng 8: Số lượng các loại hình đào tạo, bồi dưỡng khác đã tham gia
Số khóa đào tạo Người tham gia Tỷ lệ %
1.3 Vài nét về đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương khi triển khai NĐ
số 13 và NĐ số 14
- Về số lượng cơ quan làm CTDT địa phương
Theo báo cáo chưa đầy đủ của 46 cơ quan CTDT ở địa phương khi tổ chức triển khai NĐ 13 và NĐ 14 thì tổng số cơ quan làm CTDT ở địa phương là 45 Trong đó:
địa phương
Về chất lượng:
- Công chức, viên chức có trình độ sơ cấp chiếm 3,2%;
- Trung cấp: 15,7%;
Trang 39- Đại học 7,1%, Thạc sỹ: 1,4% Qua tỷ lệ trên cho ta thấy về trình độ chuyên môn đã được đào tạo còn thấp, nhất là trình độ đại học, thạc sĩ
- Trình độ QLNN chiếm tỷ lệ 51,1% Tỷ lệ này đạt trung bình, thời gian tới cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý nhà nước cho công chức, viên chức, phấn đấu tỷ lệ CC, VC có trình độ QLNN trong các năm tiếp theo đạt tỷ lệ 100%
- Trình độ vi tính đạt 66,6%, tỷ lệ này thể hiện Lãnh đạo các Ban Dân tộc đã chú trọng và quan tâm đến tin học hóa trong QLNN về CTDT
- Tiếng dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 34,3% Đây là tỷ lệ thấp vì để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào DTTS
để họ hiểu, thông suốt và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thì vấn đề quan trọng nhất là CC, VC làm CTDT phải biết tiếng DTTS mà địa bàn được phân công phụ trách Do vậy, trong các năm tiếp theo phải tăng cường công tác đào tạo tiếng DTTS để từng CC, VC làm CTDT ở địa phương biết nói tiếng DTTS Đây là công việc rất quan trọng đối với từng CC, VC
- Về nghiệp vụ CTDT chiếm tỷ lệ 28,6% Tỷ lệ này là thấp, trong thời gian tới cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ CTDT cho CC, VC để họ nắm vững những nội dung cơ bản, chủ yếu nhất về nghiệp vụ CTDT và áp dụng những kiến thức đã được học tập vào thực tiễn công tác ở địa phương mình góp phần phát triển kinh tế - xã hội, y tế, giáo dục vùng DTTS
Trình độ lý luận chính trị
- Trình độ sơ cấp chiếm 17,1%;
- Trình độ trung cấp chiếm 14,6%;
- Trình độ cao cấp chiếm 26,1%;
Với các tỷ lệ trên nhìn chung là thấp Vì vậy, trong thời gian tới cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận cho CC, VC thông qua các hình thức phù hợp, bảo đảm tỷ lệ hài hòa giữa các loại trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao cấp, …) trong đó chú ý đào tạo để tăng tỷ lệ trung cấp đạt 40 - 45%, cao cấp tỷ lệ từ 30 - 35%, nhằm kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn vì muốn làm tốt công tác dân tộc từng CC, VC phải có đầy đủ kiến thức tổng hợp: lý luận, thực tiễn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm từng CC, VC làm CTDT vừa hồng vừa chuyên góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
1.4 Thực trạng sử dụng cán bộ, công chức làm CTDT ở địa phương
Đội ngũ cán bộ làm CTDT ở địa phương ngày càng trẻ hoá và có trình độ chuyên môn cao, chuyên ngành đào tạo phong phú là yếu tố tích cực cho cơ quan CTDT cấp tỉnh, huyện Đồng thời, đây là một đặc điểm khác biệt của đội ngũ cán
Trang 40bộ trong hệ thống cơ quan làm CTDT so với các ngành khác Tính đa dạng của các chuyên ngành trong đội ngũ cán bộ không chỉ ở cấp Trung ương mà ở các Ban Dân tộc tỉnh và Phòng Dân tộc huyện cũng rất rõ Số liệu thống kê của đề tài cho thấy ở cấp tỉnh và huyện đội ngũ cán bộ đều có trình độ chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có một số lĩnh vực chiếm tỷ lệ cao như: Nông, lâm nghiệp, sư phạm, kinh tế, kế toán, luật, kỹ thuật, Với sự đa dạng như vậy nên có những khó khăn trong việc thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện nhiệm vụ QLNN
về CTDT So sánh 2 bảng số liệu 4 và 9, có thể thấy sự không tương đồng khá lớn
Đặc biệt nhiệm vụ hành chính chiếm đến 30,3% khối lượng công việc trong khi chỉ
có 1,8% cán bộ, công chức có trình độ trung cấp hành chính và 1,8% quản trị văn phòng, nhiệm vụ quản lý chính sách chiếm 34,9% trong khi chuyên ngành công chức được đào tạo về QLNN chỉ có 5,5% Các nhiệm vụ khác công chức đang đảm nhận cũng có tỷ lệ rất chênh lệch so với chuyên ngành đã được đào tạo Qua bảng
số liệu chỉ thấy một sự tương ứng duy nhất giữa tỷ lệ chuyên ngành kế toán, tài chính (6,4%) và nhiệm vụ quản lý, theo dõi ngân sách (5,5%) Rõ ràng có khoảng cách khác biệt tương đối giữa chuyên ngành công chức được đào tạo và nhiệm vụ hiện nay đang đảm nhận (xem bảng 9 và 10)
Bảng 9: Nhiệm vụ đang đảm nhiệm
Nhiệm vụ đang đảm nhiệm Số lượng Tỷ lệ %