1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Trạng Và Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Cà Phê Việt Nam.docx

48 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Cà Phê Việt Nam
Tác giả Khúc Thị Thanh Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Văn Khôi
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 233,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 1Chuyên đề thực tập tốt nghiệp PGS TS Phạm Văn Khôi LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong những năm qua, ngành cà phê có những bước phát triển nhanh c[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm qua, ngành cà phê có những bước phát triển nhanh

cả về diện tích năng suất, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu Năm 2007 xuấtkhẩu đạt trên 1,2 triệu tấn kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD năm 2008mặc dầu chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới xong vẫn xuất khẩuđược 954 nghìn tấn kim ngạch 1,95 tỷ USD giảm 22,4% về lượng nhưng vẫntăng 2,1% về giá trị so với cùng kì năm 2007 Tính trung bình cả năm 2008giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt 2044 USD/tấn tăng 31% so với năm

2007 trong đó mức lên đỉnh điêm là 2240 USD/tấn trong tháng 7 và tháng8/2008 Đến năm 2009 xuất khẩu đạt 1.73 tỷ USD giảm so với năm 2008 mặc

dù năm 2009 được nhận định là sẽ có những bước phát triển sau khủng hoảngkinh tế Ngành cà phê đã tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập góp phần cảithiện đời sống của người lao động đặc biệt là đồng bào các dân tộc TâyNguyên

Song thực tế kết quả đạt được của ngành cà phê chưa tương xứng vớitiềm năng và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro thiếu bền vững Mặc dù có những lợi thếnhất định về tài nguyên thiên nhiên ( đất, nước, khí hậu ) và lao động đặcbiệt là sự thống trị về cà phê Robusta trên thị trường thế giới, song năng lựccạnh tranh của cà phê Việt Nam chưa cao, khả năng chống đỡ tác đông của thịtrường còn yếu, trong đó yếu tố chất lượng sản phẩm đang là cản trở chínhkhiến xuất khẩu cà phê Việt Nam chưa hiệu quả

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, những thách thức trong thờigian tới, chuyên đề hướng tới việc đề xuất các cơ chế chính sách nhằm pháttriển sản xuất cà phê bền vững, tăng tỷ lệ chế biến sâu và giá trị gia tăng, mởrộng thị trưởng cả xuất khẩu và nội địa từng bước khẳng định thương hiệu vàkhả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường

Xuất phát từ thực trạng trên, tôi lực chọn: “ Thực trạng và các giải

pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu cà phê” làm đề tài thực tập

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tình hình xuất khẩu cà phê trong các năm 1980- 2009, và quý 1 năm2010

Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê Việt Nam trong thờigian qua và trong thời gian sắp tới

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin qua điều tra xã hội học, các đề tài, cácbáo cáo khoa học…

- phương pháp thống kê toán

- phương pháp đối chiếu so sánh

- phương pháp chuyên gia

- phương pháp phân tích tổng hợp

5 Nội dung chuyên đề:

Trang 3

Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả

xuất khẩu cà phê

1 Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu

1.1 Khái niệm xuất khẩu

Xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho người nước ngoài trên cơ sở lấy tiền tệ

làm phương tiện thanh toán Đó là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa( hữu hình hoặc vô hình ) Sản xuất ngày càng phát triển khả năng sản xuấtngày càng vượt ra khỏi nhu cầu tiêu dùng của một quốc gia do đó hoạt độngtrao đổi hàng hóa giữa các quốc gia là tất yếu và ngày càng mở rộng với nhiềuhình thức diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngày các lĩnh vực củanền kinh tế

- Hình thức tái xuất khẩu: hình thức xuất khẩu ra nước ngoài những hànghóa trước đây đã nhập khẩu

- Hình thức chuyển khẩu: là hình thức tái xuất khẩu, hàng hóa nước xuấtkhẩu chuyển trực tiếp sang nước nhập khẩu, nước tái suất trả tiền cho nướcxuất khẩu và thu của nước nhập khẩu

- Hình thức xuất khẩu tại chỗ: là hình thức doanh nghiệp bán hàng chongười nước ngoài ngay trên lãnh thổ nước ta

1.3 Những nội dung cơ bản của tổ chức hoạt động xuất khẩu

1.3.1 Nội dung của hoạt động xuất khẩu

Bước 1: Thực hiện nghiên cứu tiếp cận thị trường

Do cạnh tranh quốc tế ngày càng cao và môi trường kinh doanh quốc tếrất phúc tạp thì trước khi quyết định xuất khẩu mặt hàng gì, nhà sản xuất cầnphải tiến hành nghiên cứu tìm hiệu thị trường: tìm hiểu thông tin về người tiêu

Trang 4

dùng, nhu cầu của họ, yêu cầu về loại hàng hóa đó, tập tục thói quen tiêu dùngcủa khách hàng, môi trường pháp luật… Tìm hiểu các đối thủ cạnh trạnh đểlựa chọn thị trường xuất khẩu phù hợp

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập và xử lý các thông tin nhằmgiúp người xuất khẩu ra quyết định đúng đắn và lợi thế nhất, đồng thời hoạchđịnh chính sách maketing phù hợp

Trong bước này nhà xuất khẩu cần đạt được các mục đích sau

- Nắm vững thị trường nước ngoài như: dung lượng thị trường, tập quán,thị hiếu tiêu dùng, các kênh tiêu thụ,sự biến động về giá cả, hệ thống pháp luậtđiều chỉnh thương mại

- Nhận biết được vị trí của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường nướcngoài cũng như nhu cầu khách hàng và loại hàng hóa xuất khẩu đó

- Lựa chọn khách hàng

Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu và tiếp cận thị trường qua báo đài,internet, các cơ quan xúc tiến thương mại tư vấn, hội chợ triển lãm, quan sátthực tế

Kết quả nghiên cứu và tiếp cận thị trường là nhà xuất khấu sẽ chọnđược mặt hàng xuất khẩu và thị trường xuất khẩu

Bước 2: Lập phương án kinh doanh

Sau khi lựa chọn được mặt hàng, thị trường nhà xuất khẩu cần lập ra kếhoạch kinh doanh, thời gian xuất khẩu, đối tác xuất khẩu ; đánh giá sơ lược vềhiệu quả kinh doanh những khó khăn và thách thức khi xuất khẩu mặt hàng đósang thị trường đó và đưa ra các phương án giải quyết sơ bộ

Bước 3: Giao dịch đàm phán và kí kết hợp đồng xuất khẩu

Sau khi chọn đối tác thì nhà xuất khẩu phát giao dịch,đàm phán với đốitác về thời gian xuất khẩu, mặt hàng, hình thức vận chuyển, phương thứcthanh toán để đi đến kí kết hợp đồng

Có thể đàm phán giao dịch theo các cách sau:

Trang 5

thông tin khi cần thiết Còn với những hợp đồng giá thị lớn thì người ta dùngcách đàm phán trực tiếp.

Bước 4: Thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Hai bên làm các thủ tục để tiến hành xuất khẩu: xin giấy phép xuất khẩu,chuẩn bị nguồn hàng, kiểm tra chất lượng hàng hóa, thuê tàu lưu cước, muabảo hiểm (bảo hiểm vận tải, bảo hiểm xã hội) làm thủ tục hải quan giao nhậnhàng với tàu, làm thủ tục thanh toán

Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có xảy ra tranh chấp thì các bên

sẽ tiến hành khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo điều khoản đã ký kết

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ yếu sau:

* Yếu tố kinh tế

Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuấtkhẩu Vì muốn xuất khẩu được thì phải có người tiêu dùng hay sức mua, màsức mua này lại ảnh hưởng bới các thông tin kinh tế như thu nhập, chi phí sinhhoạt , lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một quốc gia Một yếu tố cơ bản đượcphán ánh kích thước của thị trường tiềm năng đó là dân số, quan trọng hơn là

so sánh tốc độ tăng GNP với tốc độ tăng dân số để dự đoán khả năng mở rộngthị trường nước ngoài còn phải chú ý tới mức phân phối theo tuổi, mật độ và

sự phân bố ở quốc gia đó, đặc tính phân phối thu nhập

Tùy thuộc vào trình độ phát triển của quốc gia mà hoạt động xuất khẩuphát triển mạnh hay không Những quốc gia mà nền kinh tế chỉ đáp ứng nhucầu của người dân để tồn tại thì cơ hội cho hoạt động xuất khẩu của các công

ty thì ít Còn những quốc gia thường xuyên xuất khẩu nguyên liệu thô, có nềnkinh tế nông nghiêp hay đang công nghiệp sẽ tạo điều kiện triển vọng, mở ronhiều thời cơ cho các công ty kinh doanh quốc tế Do vậy nhưng nhà xuấtkhẩu nào có thể dự đoán được tình hình thị trường quốc tế sẽ giúp họ giảmđược những chi phí không đáng có và lường được những biến động kinh tế

* Môi trường văn hóa – xã hội

Đây là môi trường hình thành các niềm tin cơ bản, các giá trị và nhữngtiêu chuẩn; là nơi xác định mối quan hệ giữa người với người Do đó nhữngđặc tính văn hóa ăn sâu vào tính cách con người cụ thể ngay từ lúc lớn lên.Nên nó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh quốc tế ở những khía cạnhsau:

- Tính bền vững của những giá trị văn hóa cối lõi: người dân trong bất

cứ một xã hội nào cũng lưu giữ một số giá trị và niềm tin, chúng mang tínhbất di, bất dịch khá cao Do đó các nhà xuất khẩu khi xuất khẩu phải chọn các

Trang 6

mặt hàng phù hợp với họ, phải thích nghi hóa Còn để tiêu chuẩn hóa thì đòihỏi rất cao về mặt sản phẩm cũng như tài chính của công ty để thay đổi họ.

- Các tiểu văn hóa và sự chuyển biến trong các giá trị văn hóa thứ cấp:Tùy từng nơi mà có thể theo tôn giáo, phật giáo… những ngôn ngữ khác nhautrong cùng một quốc gia sẽ dẫn tới những bản sắc văn hóa của từng dân tộc vànhững phong tục tập quán khác nhau Mặc dù các giá trị văn hóa cốt lõi là khábền vững, những biến đổi văn hóa cũng cần xảy ra rất khác nhau ở mỗi nước

Do đó nhà xuất khẩu phải đoán những thay đổi sẽ xảy ra để chọn những tiểuvăn hóa làm thị trường trọng điểm của mình

* Môi trường chính trị pháp luật

Môi trường này có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn mặt hàng và thịtrường xuất khẩu Nếu nhà xuất khẩu sang một nước có môi trường chính trị

ổn định thì thuận lợi hơn rất nhiều khi xuất khẩu sang một thị trường chính trịđầy bất ổn Khi chính trị biến động thì nhà xuất khẩu sang thị trường đó gặprất nhiều rủi ro có thể về vận chuyển, thanh toán Vì vậy các nhà xuất khẩuthường chọn thị trường có môi trường chính trị ổn định

Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuấtkhẩu nên nhà xuất khẩu phải quan tâm không chỉ là pháp luật ở nước mình màcòn pháp luật ở nược định xuất khẩu đến Như pháp luật quy định những mặt hàng nào được và không được xuất khẩu và có những quy định gì về vệ sinh antoàn không những mặt hàng nào xin giấy phép môi trường pháp lý có ổn địnhkhông, thuận lợi không

Đặc biệt là định hướng xuất khẩu của chính phủ và công cụ quản lý xuấtkhẩu của nhà nước Nhà xuất khẩu cần phải nghiên cứu yếu tố này, vì nó ảnhhưởng trực tiếp đến lợi ích của xuất khẩu Nhà xuất khẩu sẽ biết được mặthàng nào ưu tiên hay không được ưu tiên Những mặt hàng nào nằm trongđịnh hướng xuất khẩu sẽ được chính phủ tao điều kiện thuận lợi hơn haynhững thị trường nào mà chính phủ đang coi là thị trường cần phát triển, mởrộng thì sẽ có những ưu đãi đặc biệt thông qua công cụ quản lý xuất khẩu củanhà nước Các công cụ biện pháp mà các nước thường sử dụng

- Thuế xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vi hàng hóa xuấ

khẩu của mỗi quốc gia Do vậy loại thuế này tác động rất lớn đến giá cả củahàng hóa xuất khảu và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nhập khẩu Vì thế mà các doanh nghiệp cần quan tâm đến loại thuế này Thuế quan là một công cụ quan trọng mà các chính phủ dùng để khuyếnkhích hay hạn chế nhập khẩu hay xuất khẩu

- Công cụ phi thuế quan

Trang 7

Cũng giống như công cụ thuế quan, công cụ phi thuế quan cũng là mộttrong những công cụ quan trọng mà chính phủ dùng để khuyển khích hay hạnchế xuất khẩu, nhập khẩu.

+ Hạn ngạch

Là những quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hànghay nhóm hàng được pháp xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường trongthời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép

Công cụ này gây ảnh hưởng rất lớn đên hoạt động xuất khẩu của nhàxuất khẩu Vì nước xuất khẩu đưa ra số lượng hàng hóa được xuất khẩu haynước nhập khẩu đưa ra hạn ngạch nhập khẩu thì đều làm hạn chế hàng hóaxuất khẩu

+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện

Là biện pháp hạn chế xuất khẩu mà theo đó một quốc gia nhập khẩu đòihỏi quốc gia xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện nếu không sẽ bịtrả đũa

+ Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật

Đây là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh đo lường an toàn lao động,bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường sinh thái Tronggiai đoạn hiện nay khi các rào cản thương mại đang dần bị xóa bỏ thì công cụnày đang được nhiều quốc gia khai thác để bảo vệ cho nền sản xuất của nướcmình Vì vậy các nhà xuất khẩu cần phải có những thông tin đầy đủ về các quyđịnh này đảm bảo chất lượng

+ Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng các công cụ khác như trợ cấp xuấtkhẩu, tỷ giá hối đoái, áp dụng các biện pháp chống phá giá

Tất cả những điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải quan tâm để hạn chếhay tránh những rủi ro đang tiếc xảy ra Đây là một trong những yếu tố mà nhàxuất khẩu cần đặc biệt quan tâm ngay từ khi lựa chọn mặt hàng, thị trườngxuất khẩu

* Yếu tố cạnh tranh

Trong giai đoạn hiện nay các quốc gia đều tiến hành mở cửa để hộ nhậpkinh tế quốc tế Và thương mại tự do đang ngày càng phát triển, các rào cảnthương mại ngày càng giảm Do các hiệp định song phương, đa phương nêntạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa nước ngoài tràn vào Vì vậy nhà xuấtkhẩu sang một nước sẽ gặp không ít các đối thủ cạnh tranh, các đối thủ có thế

là các tập đoàn kinh tế lớn đa quốc gia xuyên quốc gia có khả năng cạnh tranhrất cao Các nhà xuất khẩu nếu không xem xét các yếu tố cạnh tranh, các đối

Trang 8

thủ cạnh tranh và khả năng mình có thì rất khó có thể xâm nhập vào thị trường

đó một cách suôn sẻ

1.3.3 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất cà phê của việt nam

* Việt nam có nhiều lợi thế để sản xuất và xuất khẩu cà phê

- Về đất đai: diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam tuy hạn chế nhưng

về chất lượng đất là tương đối tốt Hầu hết lớp đất canh tác dày, kết cấu đất tơixốp chất dinh dưỡng trong đất cao cho phép phát triển cây trông đa dạng trong

đó có cà phê Loại đất thích hợp nhất cho cây cà phê phát triển là đất đỏ bazan

ở Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ có chất mùn và tỷ lệ khoáng vật cao,tơi xốp, dễ thoát nước Sau đất đỏ bazan là đất đỏ vàng đất xám và đất đen cũng rất thích hợp cho cây cà phê phát triển, loại đất này được phân bố khắpnơi trên toàn quốc Chính vì vậy, chúng ta có điều kiện rất thuận lợi về đất đai

để giúp cho cây cà phê được phát triển tốt

- Về khí hậu: nước ta có vị trí trải dài qua 15 vĩ độ, nằm trong vùng khí

hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhiệt độ cao lượng mưa lớn độ

ẩm không khí cao bức xạ lớn… thuộc vùng đất thích hợp để phatst riển cây càphê Nước ta có 2 loại cà phê được trồng phổ biến là cà phê Robusta và cà phêArabica Miền địa lý khí hậu phía nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thíchhợp với cà phê Robusta miền khi hậu phía Bắc có mùa động lạnh và có mưaphùn thích hợp với cà phê Arabica Đó là vùng chủ yếu quy hoạch phát triển

cà phê Arabica của Việt Nam

Môi trường sinh thái ở Việt Nam khá phù hợp cho việc phát triển cây càphê Điều kiện tự nhiên ưu đãi đối với vùng Tây Nguyên và Đông Nam bộ chophép phát triển cây cà phê Điều kiện tự nhiên ưu đãi đối với vùng Tây nguyên

và Đông Nam bộ cho phép phát triển cây cà phê theo hướng tập trung chuyênmôn hóa, thâm canh tạo ra các vùng cà phê đảm bảo số lượng và chất lượngsản phẩm,đảm bảo cho các xuất khẩu tiêu dùng Đồng thơi sự phân bố đất đaitrải dọc theo chiều dài đất nước cho phép phát triển cây cà phê trên phạm virộng mặc dù mức độ thâm canh chưa cao nhưng năng suất đã đạt mức đáng kể

- Về lao động: Việt Nam là nước với trên 75% lao động làm việc trong

các lĩnh vực nông nghiệp Đây chính là lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu càphê của Việt Nam Hàng năm số lao động này được bổ sung thêm 1 triệungười bước vào độ tuổi lao động Bên cạnh vấn đề giải quyết sức ép và giảiquyết việc làm thì đây chính là lợi thế về nguồn nhân lực Việt Nam Chúng taluôn có một lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ với chất lượng cao được đánh

Trang 9

giá tương đối cao so với nền nông nghiệp kém phát triển Lợi thế này rất cókhả năng đảm bảo sự phát triển xuất khẩu cà phê trong thời gian tới.

* Lợi ích của sản xuất và xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam

Việc sản xuất và xuất khẩu cà phê mang lại những lợi ích lớn lao chonước ta về nhiều mặt kinh tế xã hội, môi trường cụ thể:

- Về kinh tế: ở nước ta ngành cà phê đã đem lại một nguồn thu lớn, giá trị

xuất khẩu cà phê thường chiếm gần 10% kim ngạch xuất khẩu hàng năm vàkim ngach xuất khẩu cà phê được xếp thứ 9 trong danh mục các hàng hóa xuấtkhẩu của Việt Nam Niên vụ năm 2008/09 cả nước xuất khẩu 875,485 tấn đạt926,999,887 USD Giá trị xuất khẩu cà phê đã góp phần quan trọng và sự tăngtrưởng cao của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây Hơn nữa càphê là một trong những mặt hàng nông sản mà các doanh nghiệp Viêt Nam cóthể thâm nhập vào thị trường của các nước phát triển như Hoa Kỳ, khác vớicác mặt hàng nông sản khác như gạo, tiêu, điều … Việc thâm nhập vào thịtrường mới chỉ dừng chân ở các nước đang phát triển

- Về mặt xã hội: sản xuất cà phê thực sự đóng góp vai trò quan trọng

trong việc xây dựng và phát triển nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sốngnhân dân, xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận dân cư

Với tổng diện tích trồng đạt trên 500,000 ha và sản lượng 10 triêu baomỗi năm cà phê hiện nay được xếp sau gạo trong danh mục hàng nông sảnxuất khẩu của Việt Nam Để đạt được sản lượng cao như vậy ngành cà phê củaViệt Nam thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình, với trên 600.000 lao động đặcbiệt vào 3 tháng thu hoạch, con số này có thể lên tới 700.000 hoặc 800.000 laođộng Như vậy số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1,83% tổng lao độngtrên toàn quốc nói chung và 2,93 % tổng lao động trong ngành nông nghiệpnói riêng

Việc phát triển sản xuất cà phê ở nước ta trong những năm qua một mặtvừa khai thác hiệu quả các lợi thế về điều kiện tự nhiên mặt khác nó giải quyếtviệc làm cho hàng trăm nghìn lao động trong nước Người lao động có việclàm và thu nhập tương đối ổn định nên đơi sống của họ được cải thiện đáng

kể Trên cơ sở đó ổn định được tình hình an ninh chính trị xã hội

- Về môi trường; việc quy hoạch trồng các giống cây cà phê đã cải thiện

phần nào môi trường sống của người dân việt Nam đặc biệt là vùng TâyNguyên và Đông Nam Bộ ý thức bảo vệ cây trồng và môi trường sinh thái củangười dân được nâng cao, tập quán du canh dư cư đốt rừng làm rẫy của đồngbào một số dân tộc giảm nhanh

2 Hiệu quả và nâng cao hiệu quả cúa xuất khẩu

2.1 Khái niệm hiệu quả và nâng cao hiệu quả xuất khẩu

Trang 10

- Khái niệm hiệu quả

Hiệu quả là tổng hợp các lợi ích kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, anninh quốc phòng được tạo ra Các lợi ích này được xác định trong mối quan hệ

so sánh giữa các kết quả do đầu tư tạo ra với chi phí bỏ ra để đạt được kết quảđó

- Khái niệm nâng cao hiệu quả xuất khẩu: Tổng thể các biện pháp củahoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và Nhà nước nhằm tăng hiệu quả củaxuất khẩu được gọi là nâng cao hiệu quả xuất khẩu

2.2 Đánh giá hiệu quả và nâng cao hiệu quả xuất khẩu

- Đánh giá hiệu quả xuất khẩu: đánh giá hiệu quả xuất khẩu dựa trên giábình quân xuất khẩu, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, và thị trường xuất khẩu.Dựa trên các điều kiện về kinh tế xã hội vốn có, chất lượng sản phẩm trongnước và quốc tế, các điều kiện về thị trường xuất khẩu, khả năng xuất khẩu củasản phẩm trong nước để so sánh kết quả đạt được với những tiềm lực sẵn có

để thấy được hiệu quả xuất khẩu Ngoài ra cần có sự so sánh giữa tính hìnhxuất khẩu của sản phẩm trong nước, với các sản phẩm cùng loại của nướcngoài để thấy được những điểm còn thua kém, hoặc những mặt làm tốt hơn

- Đánh giá nâng cao hiệu quả xuất khẩu

+ Phương pháp đánh giá: So sánh sự gia tăng của hiệu quả do tác độngcủa các biện pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu Dựa trên những biện pháp đãđược áp dụng trong thực tiễn, và những kết quả đã đạt được, so sánh giữa chiphí phải bỏ ra và kết qủa đạt được để thấy được hiệu quả của việc thay đổi đóđến đâu Có rất nhiều các biện pháp được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả củaxuất khẩu, đó có thể là các giải pháp của chính phủ như thay đổi các chínhsách như chính sách về thuế nhập khẩu, chính sách ưu đãi vay vốn Nhữngchính sách đều trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến ngân sách của nhà nước.Đối với các doanh nghiệp, sự thay đổi có thể là việc đầu tư vốn vào mua sắmcác máy móc chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm việc đầu tư này sẽảnh hưởng đến vốn của công ty, việc so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả làviệc tăng sản lượng xuất khẩu,sản phẩm có chất lượng cao hơn, có khả năngcạnh tranh

Việc đánh giá cũng không hoàn toàn dựa trên doanh thu và chi phí màcòn những giá trị khác như giải quyết công ăn việc làm cho người dân (tácđộng về mặt xã hội), tạo dựng vị thế của đất nước trên thị trường quốc tế, tạođiều kiện để nước đó có cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực …

+ Các chỉ tiêu đánh giá: sản lượng xuất khẩu ra tăng khi chỉnh phủ ápdụng các chính sách hỗ trợ, chất lượng sản phẩm được nâng cao khi các doanhnghiệp áp dụng máy móc thiết bị mới, chất lượng sản phẩm xuất khẩu, giá cả

Trang 11

xuất khẩu khi có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp– hiệphội- nhà nước.

Trang 12

Phần 2 Thực trạng xuất khẩu cà phê ở Việt Nam

1 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam những năm đổi mới 1.1 Thực trạng sản xuất cà phê Việt Nam trong những năm đổi mới

Cà phê Việt Nam chỉ phát triển mạnh sau ngày giải phóng miền namnăm 1975 và được chia làm 2 giai đoạn

- Giai đoạn từ 1975 đến 1990 tức trước thời kỳ đổi mới Nhà nước đã coitrọng phát triển cây cà phê tuy hiên chủ yếu phát triển trong các doanh nghiệpnhà nước thông qua vốn đầu tư ngân sách, thông qua hiệp định hớp tác vớicộng hòa dân chủ Đức, Liên Xô, Tiệp Khắc, Bungari… Diện tích, năng xuất

và sản lượng cà phê tăng nhanh nhất trong giai đoạn 1985-1990, diện tích

1990 tăng 2,7 lần và sản lượng tăng gần 8 lần so với năm 1985

- Giai đoạn 1990 đến nay, với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thànhphần, cây cà phê đã phát triển mạnh mẽ, nhảy vọt về diện tích, năng xuất vàsản lượng , đặc biệt là khu vực tư nhân và hộ gia đình Hiện cả nước có 516ngàn ha sản lượng năm 2009 đạt 959.4 ngàn tấn

- Địa bàn trồng cà phê Việt Nam chủ yếu ở Tây Nguyên và một phần ởvùng Đông Nam Bộ ( hiện nay Tây Nguyên 440 ngàn ha chiếm 85%)

- Cơ cấu thành phần tham gia sản xuất cà phê đã có nhiều thay đổi, khuvực sản xuất tư nhân và hộ gia đình ngày càng phát triển Năm 1980 phần lớndiện tích và phê là của nông trường quốc doanh (66,0%), tỷ lệ đó chỉ còn 29%năm 1990,xuống 17% năm 1995 và 15% năm 1997 Sản lượng cà phê trongkhu vực cũng thay đổi tương ứng

- Phần lớn cà phê là cà phê vối, cả nước mới có khoảng 20000 ha cà phêchè, mới được trồng ở các tỉnh miền núi phía bắc, khu bốn cũ theo dự án vayvốn AFD của Pháp, sản lượng đến nay mới có khoảng 4000 tấn

Trang 13

Bảng 1 Diễn biến diện tích năng suất và sản lượng cà phê

Việt Nam giai đoạn 1980-2009

Năm

Tổng diệntích gieotrồng(1000ha)

Diện tíchkinh doanh(1000ha)

Năng suấtTạ/ha

Nguồn: niên giám thống kê của tổng cục thống kê

1.2 Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Việt Nam

Sản xuất cà phê Việt Nam chủ yếu cho xuất khẩu, sản lượng cà phê hànghóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất cao, hàng năm tỷ suất sản phẩm hàng hóachiếm trên 94% sản phẩm cà phê xuất khẩu tăng nhanh năm 1990 cả nướcxuất khẩu 65 ngàn tấn đến năm 1995 đã tăng lên 248 ngàn tấn và lên 669,785ngàn tấn vào năm 2000 Như vậy sau 10 năm sản lượng cà phê xuất khẩu tănghơn 10 lần Giá cả xuất khẩu diễn biến phức tạp giá cao nhất năm 1995 đạt

2401 USD/tấn đến năm 1999 giảm còn 1213 USD/tấn đến năm 2000 tiếp tụcgiảm xuống còn 715 USD/tấn

Trang 14

1.2.1 Hình thức xuất khẩu

- Hình thức xuất khẩu gián tiếp qua trung gian được thực hiện trong giaiđoạn đầu của quá trình cải cách và mở cửa kinh tế Lúc đó, do còn thiếu kinhnghiệm trên thị trường cạnh tranh quốc tế , cà phê Việt Nam chưa có được uytín trên thị trường các nhà xuất khẩu cà phê buộc phải xuất khẩu gián tiệpthông qua nước thứ 3, chủ yếu là Singapore

- Hính thức xuất khẩu trực tiếp đến các nước tiêu thụ cà phê: Khi cà phêviệt Nam từng bước khẳng định được vị trí của mình trên thị trường thế giới

Để tránh bị ép về giá xuất khẩu, mở rộng thị trường được sự hỗ trợ của nhànước, các nhà xuất khẩu cà phê đã tăng cường quan hệ trực tiếp với các nhànhập khẩu của các nước có tiêu thụ cà phê lớn trên thế giới

1.2.2 Hệ thống tổ chức xuất khẩu cà phê của Việt Nam

- Thời kỳ trước năm 1998 (trước nghị định 57/CP) thực hiện chính sáchquy định đầu mới xuất khẩu cà phê, chỉ có những doanh nghiệp đủ điều kiệnnhất định đã thực hiện xuất khẩu năm trước được một số lượng cà phê nào đómới được phép làm công tác xuất khẩu cà phê

- Từ sau năm 1997 cùng với việc đổi mới cơ chế chính sách quản lý kinh

tế giảm bớt các thủ tục hành chính xin cho Để khuyển khích xuất khẩu nhànước cho thực hiện cơ chế quản lý mới, bỏ quy định về đầu mối xuất khẩu càphê Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham giaxuất khẩu cà phê Hiện nay cả nước có khoảng hơn 100 đơn vị

1.2.3 Thị trường xuất khẩu

- Trong thập niên 80, các nước Đông Âu, Singapore, Hông kong, Pháp,Thụy Sĩ … là những khách hàng thường xuyên của Việt nam trong đóSingapore là nước nhập khẩu cà phê của Việt Nam nhiều nhất

- Trong những năm đầu thập niên 90 thị trường chủ yếu vấn là Singaporechiếm khoảng 50% Đây là trạm trung chuyển cà phê xuất khẩu của Việt Namsang các nước thứ 3 mà Việt Nam không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp.Càng ngày thi trường cà phê càng được mở rộng, năm 1995 cà phê Việt Nam

đã xuất khẩu sang 35 năm đến năm 2000 là 44 nước đến năm 2004 là 59nước trên thế giới đến năm 2009 là trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ

1.2.4 Các cơ chế chính sách đối với xuất khẩu cà phê

Các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế đều cơ quyền kinh doanhxuất khẩu cà phê, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền xuất khẩu

và nhận ủy thác xuất khẩu sản phẩm không do mình sản xuất ra

- Thực hiên thưởng xuất khẩu, thực hiện thưởng tìm được trị trường mớiđổi tượng xét thưởng bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 15

- Hỗ trợ lãi xuất vay ngân hàng cho doanh nghiệp xuất khẩu mua hàngtheo giá sàn được quy định ; Hỗ trợ lãi suất vay ngắn hạn mua dự trữ chờ xuấtkhẩu hoặc thu mua chế biến theo sự chỉ đạo của chính phủ.

1.2.5 Sản phẩm xuất khẩu

A, sản xuất

Hiện nay cả nước có khoảng 520.000 ha cà phê ( riêng Tây Nguyênchiếm 90% diện tích ) năng suất trung bình từ 17-20 tạ /ha đạt sản lượng trêndưới 1 triệu tấn nhân /năm Cà phê nước ta có năng suất cao gấp 1,5 lần so với

cà phê các nước trên thế giới tuy nhiên vẫn còn một vài vấn đề ảnh hưởng đếnxuất khẩu cà phê Việt Nam

- Chất lượng vườn cà phê không cao: khoảng 70% diện tích cà phê ở TâyNguyên và Đông Nam Bộ được trồng bằng cây thực sinh Một tỷ lệ không nhỏdiện tích cà phê già cỗi và thoái hóa do hậu quả của việc thâm canh quá mức,nhất là vườn cà phê ở tỉnh Đắc lắc

- Sản xuất thiếu bền vững như bón phân tưới nước thuốc bảo vệ thực vậtquá mức, không chú ý đầu tư cây che bong Cho đến nay chỉ có 8 đơn vị diệntích với diện tích 9032 ha, sản lượng 41500 tấn có chứng chỉ phù hợp với bộnguyên tắc cung của cộng đồng cà phê (4c) ;15 đơn vị diện tích đạt 12665 ha,sản lượng 36435 tấn có chứng chỉ UTZ certified ; chưa có quy trình GAPtrong sản xuất cà phê Một trở ngại là do điện tích cà phê phân tán nhỏ lẻ ở hộdân nên khó triển khai áp dụng các chương trình xuất khẩu bền vững

- Thu hái cà phê phổ biến theo kiểu tuốt cành ảnh hưởng nghiêm trọngđến chất lượng cà phê nguyên nhân chính dẫn đến tình trang này là: (1) ngườidân chưa thực sự ý thức được tầm quan trọng của việc thu hái, (2) khó khăn vềlao động vào mùa thu hoạch và (3) an ninh tại các vườn cà phê vào mùa thuhoạch không tốt, dẫn đến tâm lý (xanh nhà hơn già đồng)

Giống cà phê có vài trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả sản xuất tuy nhiên cơ cấu giống cà phê hiện nay của nước tacòn nhiều hạn chế cà phê vối chiếm khoảng 92% cà phê chè đạt trên 31 nghin

ha chiếm 6%( trong đó giống cà phê Catimor đạt 29 nghìn ha, còn các giốngmới khác như Moka, catura, Bourbon ) cà phê mít đạt gần 5 nghìn ha diện tích

cà phê cả nước Cà phê chè ( Arabica) chỉ được trồng ở một số vùng sinh tháiđặc thù ở độ cao 600m tập trung ở Lâm Đồng và một số tiểu vùng khác nhưhuyện Krong Năng, M’Drak tỉnh Đắc Lắc, huyện R’lấp tỉnh Đắc Nông

Do diện tích cà phê tăng nhanh, chưa quy hoạch, công tác chuẩn bị vườnươm nhân nhanh giống tốt không theo kịp với tiến độ trồng mới vì vậy, hầuhết diện tích cà phê hiện nay ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ được trồng bằngcây thực sinh 65-75% diện tích là yếu tố hạn chế hiệu quả đầu tư thâm canh vàảnh hưởng đến chất lượng cà phê Kỹ thuật trồng cây cà phê ghép giống chọn

Trang 16

lọc được xem là tiến bộ kỹ thuật quan trọng để vườn cà phê đạt năng suất cao

tăng cường khả năng chống bệnh gỉ sắt tuy nhiên diện tích cà phê ghép dã

bước vào kinh doanh hiện nay mới chiếm khoảng 1,7% diện tích cà phê ở Tây

Nguyên

Biểu đồ 1 Sản lượng nhóm cà phê từ năm 2004-2009

B, Chế biến

Trong 2 năm 2007-2008 kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt gần 2 tỷ USD

song chủ yếu nhờ biến động tăng của giá cà phê trên thị trường, sự gia tăng giá

trị do cải thiện chất lượng không đáng kể

- có hơn 80% sản lượng cà phê thóc được được sơ chế theo phương pháp

khô từ các hộ nông dân trong điều kiện thiếu sân phơi máy sấy ( phơi cà phê

quả chất đống từ 4-5 ngày, chưa đạt độ ẩm đã đem ra xay xát dẫn đến nhân cà

phê bị tróc vỏ lụa, hạt bị vỡ biến dạng

- Giai đoạn tái chế phân loại cà phê nhân: cả nước hiện nay cso hơn 100

cơ sở chế biến quy mô công nghiệp với công suất từ 5000 đến 60000 tấn

nhân/năm đáp ứng đủ nhu cầu chế biến mỗi năm khoảng 1 triệu tấn nhân Đa

số các công ty áp dụng phương pháp chế biên khô với trình độ công nghệ nhất

là ở khâu phân loại chưa cao, khu vực cà phê nhân dân hầu hết sơ chế bằng

may có công suất nhỏ từ 300-500kg/giờ

cà phê tự nhiên Robusta

Trang 17

- Về cà phê rang xay do nhu cầu nội đia không lớn nên ngoài cơ sở chếbiến của vinacafe có công suất 2000 tấn/năm trong phạm vi cả nước có chừng

1000 cơ sở rang xay nhỏ với công suất thiết kế 30kg/ngày

- Về chế biến sâu cà phê: ở nước ta có 17 cơ sở công nghiệp ( vinacafeBiên Hòa, Nestle, Thái Hòa, Olam Việt Nam, Trung Nguyên, Nescafe … ) vàhơn 10.000 hộ rang xay nhỏ, hàng năm sản xuất trên 10.000 tấn cà phê bột và

cà phê hòa tan

Nhận xét

- Công nghệ chế biến hiện này chưa tương xứng với sản lượng cà phêđang tăng nhanh Khoảng 80% sản lượng chế biến tại các hộ gia đình bằngcác thiết bị nhỏ cũ kĩ Hê thống kho chứa, sân phơi thiếu và không đảm bảoyêu cầu kỹ thuật

- Công nghệ chế biến lạc hậu chỉ có một số ít cơ sở có năng lực, đã nhậpmột số dây truyền thiết bị chế biến cà phê nhân, cà phê sang xay có công nghệđạt trình độ khu vực

C, Chất lượng

- Chất lượng cà phê vối nước ta được khách hàng đánh giá cao Có thểphấn đầu để trên 40% cà phê loại 1 để xuất khẩu (hiện trung bình đạt 15-17%).Song trên thực tế chất lượng cà phê vối xuất khẩu của Việt Nam lai không thểhiện được những chỉ tiêu trên, thấp hơn cà phê Uganda và Indonexia về chấtlượng và hương vị

- Cà phê chè đang trông là giống catimor, chất lượng và hương vị tựnhiên không bằng giống bourbon, typical, Moka … mới tham gia thị trườngxuất khẩu 3-4 năm lại đây, bước đầu đã được thị trường chấp nhận

D, Tiêu thụ

Hơn 90% sản lượng cà phê nhân Việt Nam xuất khẩu Năm 2009 cà phêcủa nước ta được xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, giảm34.5% thị trường so với năm 2007 Thị trường nội địa chiếm tỷ trọng nhỏ.Khối lượng xuất khẩu 1.059.506 tấn đạt kim ngạch xuất khẩu 2.111.187.051USD đây là một năm xuất khẩu cao cả về khối lượng và giá trị Các thị trườnglớn vốn là những thị trường quen thuộc Thị trường lớn nhất vẫn là Đức vớikhối lượng 136.023 tấn, sau đó là Mỹ 106.393 tấn 10 nước đứng đầu là Đức,

Mỹ, Bỉ,Ý, Tây Ban Nha Nhật Bản, Hàn Quốc, UK, Thụy Sĩ và Pháp, Tổngkhối lượng nhập khẩu của 10 nước này là 681.289 tấn chiếm 64,30% Giá trịđạt 1.353.701.625 USD chiếm tỷ trọng 64,12%

Nếu tính 20 nước hàng đầu thì tổng khối lượng là 768.361 tấn chiếm thịphần là 75,52%giá trị đạt 1609.916.049 USD chiếm tỷ trọng 76,25%

Trang 18

Trong 20 thị trường hàng đầu này sau các nước Đức, Mỹ còn lại phầnđông các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu,ngoài ra đang chú ý là có 2thị trường lớn ở Châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc Các nước ASEAN cũng làthị trường lớn là Singgapore, Malaysia, Philipines, hai thị trường tiềm nănghứa hẹn nhất là Nga và Trung Quốc cũng có những tăng trưởng khả quan trongviệc tiêu dùng cà phê Việt Nam.

Tính đến hết tháng 3/2010, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt

345 nghìn tấn, giảm 22% so với cùng kỳ năm trước, trị giá là 483 triệu USD,giảm 27,8%, tương ứng giảm 186 triệu USD; trong đó, phần trị giá giảm dolượng giảm là 147 triệu USD và phần trị giá giảm do giá giảm là 39 triệu USD.Như vậy, lượng và trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong trong quýI/2010 đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ 3 năm trở lại đây

Biểu đồ 2: Thống kê khối lượng, đơn giá và trị giá cà phê xuất khẩu của

Việt Nam theo quý trong giai đoạn 2007 - quý I/2010

Hiện nay Đức và Hoa Kỳ là hai thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam

Trang 19

Các doanh nghiệp xuât khẩu cà phê Việt Nam

Đến năm 2009 cả nước có 168 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê,trong đó có 23 doanh nghiệp thuộc 3 tổng công ty lớn, có 14 doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài Tính riêng 10 đơn vị (có các tổng công ty và công ty)

xuất khẩu hàng đầu thì các doanh nghiệp này đã xuất khẩu 647728,31 tấnchiếm 61,13% tổng khối lượng xuất khẩu của cả nước với trị giá 1378200401USD chiếm 65,28% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước

Bảng 3 Danh sách 10 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cà phê hàng

nhập khẩu cà phê Tây

Nguyên

163.551.984 333.847.852 2,04

Cty xuất nhập khẩu cà

phê Đắc Lắc 4.344.276 9.067.403 2,09vinacafehn 1.117.640 2.234.765 2,00Cty đầu tư cà phê và 994.245 2.442.469 2,46

Trang 20

Hoa Lam Dong

XNK Intimex tại Tây

Trang 21

10 Trung tâm kinh doanh

xuất nhâp khẩu 27.258.844 51.092.868 1,87Tổng 620.678.770 1.252.748.127

So với toàn ngành (%) 65.65 66,89%

Trong những tháng đầu năm nay sản lượng cà phê cũng đạt những con

số rất cao,ước tính có 1 nữa sản lượng cà phê được xuất khẩu Có thể là do tâm

lý người sản xuất muốn tránh rủi ro giá lại tụt xuống quá thâp.Hiệp hội cà phê

ca cao Việt Nam đã đạt vấn đề nông dân cần giữ lại cà phê giảm tốc độ bánđầu vụ, tăng lượng cung ra thị trường gây nên hiện tượng tự mình tạo áp lựclên giá cả thị trường Có thể thấy giá cả có những diễn biến khá phức tạp khó

dự đoán và giá cà phê lâu nay có xu hưởng giảm nhưng dù sao cũng có thểnhận định rằng thị trường hiện nay cán cân cung cầu là khá ổn định Dù sảnlượng của Braxin vụ 08-09 có đạt mức cao nhưng cái viễn cảnh của sự giảmmức sản xuất trong thời gian tới và lượng cà phê dự trữ thấp sẽ là những yếu tốduy trì giá cà phê ở thế chắc chắn Nó chịu tác động của luồng bán hàng rahiện nay

1.3 Những vấn đề cần quan tâm của ngành cà phê Việt Nam

1.3.1 Đảm bảo toàn ngành có một diện tích và sản lượng cà phê ổn định

Với gần nửa triệu ha cà phê hàng năm sản xuất ra khoảng 900.000 tấn( 15 triệu bao) Đây là một việc làm không dễ vì một bộ phận khá lớn cà phênước ta đi vào tuổi già cỗi năng suất giảm cần được phục hồi hoặc trồng thaythế Việc này cần sự trợ giúp của chính phủ hoặc dựa vào quỹ cà phê màngành cà phê có thể tổ chức với sự hỗ trợ cả các ngành tài chính ngânhàng.Chính phủ Ấn Độ đã tài trợ cho ngành cà phê trồng thay thế các vườn

cà phê già cỗi với một khoảng ngân sách 1 tỷ rupies Ấn Độ ( 1USD = 48,96Rupies ấn độ ) trong kế hoạch 5 năm (2007-2012)

Diện tích trồng thay thế trong kế hoạch này là 40.000 ha Một nông dân

có đến 2 ha đất trông cà phê nhận được trợ cấp bằng 40% giá thành trồng lại.Nếu có từ 2-10 ha hoặc trên 10 ha sẽ được trợ cấp tương ứng 30% và 25% giáthành trồng lại Giá thành trông lại 1 ha cà phê Arabica dự tính hết 100.000rubies Ấn Độ và trồng lại 1 ha cà phê vối hết 70.000 Rupies Tính ra tiền ViệtNam trông lại 1 ha cà phê Arabica hết khoảng 35 triệu đồng và một ha cà phêRobusta hết khoảng 25 triệu đồng

Trang 22

Nếu diện tích đất tái canh cà phê không còn đủ cho cà phê Robustachúng ta có thể nên mở rộng diện tích cà phê Arabica Hiện nay còn nhiềuvùng thích hợp cho cà phê Arabica phát triển cho năng suất cao và chất lượngtôt.

Bảng 4 Số liệu xuất khẩu cà phê Việt Nam 2009

1.3.2 Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm

Quan tâm đầy đủ vấn đề vệ sinh– an toàn thực phẩm, mở rộng diện tíchsản xuất cà phê có chứng chỉ và cà phê 4C

Ủy ban Codex alinentarius đã đưa ra bản đề nghị bước 3 về bộ quy tắcthực hành nhằm ngăn ngừa và giảm sự nhiễm Ochratoxyn A trong cà phê vàđược thông qua vào tháng 4/2009

Bộ y tế nhật bản đã có thông báo số 197 B.E 2543.2000 về cà phê quyđịnh tiêu chuẩn chất lượng cho cà phê chế biến

Promar Nhật Bản cũng giới thiệu kết quả điều tra về sản xuất cà phê sửdụng các nông hóa trong sản xuất từ năm 2005 ở 24 quốc gia sản xuất cà phêtrong đó có Việt Nam

Các văn bản trên cho thấy mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam vẫn yêntâm rằng sản phẩm của mình không có vấn đề gì đáng lo ngại trong việc tiêuthụ nhưng chúng ta không thể không nhận thấy một điều là người tiêu dùngcàng ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Có 2 chỉtiêu cần được đặc biệt quan tâm là độ ẩm cà phê phải được giữ ở mức thấp hơn12.5% và giảm lượng tạp chất đến mức thấp nhất và không quá 0.5%

Trang 23

Với cà phê Robusta nếu được hái chin và chế biến theo phương pháp ướthoặc nửa ướt vẫn có thể cho sản phẩm có chất lượng cao và bán với giá tốt Ví

dụ công ty TNHH một thành viên cà phê Thắng Lợi Đắc Lắc, với loại cà phênhư thế đã xuất khẩu.636,47 tấn với giá bình quân 2.230,2 USD/tân sản phẩm

so với giá bình quân toàn ngành đạt 1.992,6 USD/tấn cao hơn 12%

1.3.3 Cần xây dựng mạng lưới thông tin đầy đủ

Kịp thời là cơ sở cho thấy các nhà sản xuất và kinh doanh ra quyết địnhchính xác, tránh thua thiệt Có thể nói đây là một khó khăn lớn của ngành vàrất cần sự quan tâm hỗ trợ của các cơ quan nhà nước về mặt tổ chức, trang bị

và nhất là năng lực phân tích thông tin, đánh giá đúng xu thế diễn biến của thịtrường

Đặc biệt là với những năm như năm vừa qua, tình hình giá cả trên thịtrường thế giới có những diễn biến thất thường rất khó cho các nhà xuất khẩuphán đoán và có quyết định đúng khi mua vào, bán ra dễ bị tổn thất

1.3.4 Phát triển thị trường tiêu thụ cà phê trong nước

Việt Nam là nước có sản lượng cà phê lớn thứ hai trên thế giới chỉ sauBraxin Hàng năm chúng ta làm ra tới 1 triệu tấn cà phê nhân Tuy nhiên vềtiêu dùng cà phê, hàng năm của chúng ta chỉ tiêu dùng trong nước chừng938.000 bao ( bao 60kg) tức là khoảng 56000 tấn, chiếm chưa đầy 6% sảnlượng cà phê hàng năm Trong các nước sản xuất cà phê Việt Nam xếp vàohàng thứ 8 sau 7 nước Braxin, Mexico, Indonexia, Ethiopia,Colombia, India

và Philipines Nếu tính lượng tiêu dùng bình quân đầu người hàng năm củaViệt Nam chỉ có 0,64 Kg xếp thứ 19 trong các nước sản xuất cà phê RiêngBraxin là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới nhưng lượng tiêu dùng trongnước hàng năm đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Hoa Kỳ Mỗi năm nước này làm ra35-40 triệu bao cà phê nhưng họ đã tiêu thụ nội địa đến gần 17 triệu bao, tức làtrên 40% lượng làm ra Lượng tiêu dùng cà phê tính trên đầu người hàng nămcủa Braxin cũng đứng đầu trong các nước sản xuất cà phê là 5,29 kg vượt quaHoa Kỳ chỉ có 4,13 kg có thể thấy việc mở rộng thị trường tiêu thụ cà phêtrong nước ở Việt Nam là hoàn toàn có nhiều khả năng mặc dù người ViệtNam có truyền thống uống trà lâu đời

Để phát triển thị trường tiêu thụ cà phê trong nước, nhất là thời kỳkhủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn thế giới, việc mở rộng thị trườngtrong nước là một hướng đi cần thiết, chúng ta cần có sự hỗ trợ của nhà nướcthông qua chương trình xúc tiến thương mại nội địa với việc sử dụng nguồntài chính kích cầu của chính phủ

1.3.5 Tăng cường sản xuất cà phê giá trị gia tăng

Mở rộng sản xuất cà phê giá trị gia tăng đóng góp phần tăng giá trị xuấtkhẩu và phục vụ cho thị trường trong nước

Trang 24

Không ít người cho rằng chúng ta xuất khẩu cà phê nhân sống là mộtcách làm kém hiệu quả vì mặt hàng cà phê Việt Nam chỉ là nguyên liệu “ thô”.Nói như vậy có phàn nào không chính xác vì các nước tiêu dùng cà phê cần

có nguyên liệu cho công nghiệp rang xay của họ với những nhà máy lớn cósẵn từ lâu và sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng với thói quen

sử dụng lâu đời Chúng ta khó mang sản phẩm chế biến của ta áp đặt chongười tiêu dùng như thế

Nhưng nói chúng ta chưa quan tâm đến sản xuất xuất khẩu cà phê chếbiến có giá trị gia tăng cũng là chưa có lý vì sản phẩm của ta có thể thâm nhậptừng bước vào các thị trường mới và có tiềm năng ở đó việc uống cà phê mớiđược phát triển và có khả năng phát triển nhanh, mạnh do sự tăng trưởng củanền kinh tế Mặt khác mở rộng sản xuất cà phê chế biến cũng là nhằm phục vụnhu cầu tiêu dùng cà phê trong nước đang ngày càng tăng

ở nước ta người lớn tuổi thường uống cà phê rang xay qua bộ lọc Cònlớp trẻ hiện nay có thị hướng uống cà phê hòa tan, cà phê đường sữa 3 trong 1

Do đó để phục vụ cho số người uống này việc nâng cao sản lượng cà phê chếbiến là hướng đi cần thiết Tất nhiên với cà phê chế biến để uống ngay vấn đề

vệ sinh an toàn thực phẩm lại càng được đặt ra ngặt nghèo hơn vì ở đây chúng

ta thường sử dụng các loại hóa chất làm chất phụ gia hương lieu cần đượckiểm tra và xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm chặt chẽ

1.3.6 Xây dựng chỉ dẫn địa lý, quảng bá thương hiệu cà phê

Trong thời gian qua ngành cà phê Việt Nam cũng đã bước đầu quantâm đến việc xây dựng thương hiệu của ngành hàng, xây dựng chỉ dẫn địa lýcho cà phê Buôn Ma Thuột Tuy nhiên trong chương trình xúc tiến thương mạinhiều doanh nghiệp còn chưa quan tâm đến những vấn đề này Với một ngành

cà phê phát triển mạnh như ở Việt Nam càng cần quan tâm đến xây dựng chỉdẫn địa lý cho cà phê

Chỉ dẫn địa lý cho biết một sản phẩm có nguồn gốc ở một mảnh đất địa

lý, một vùng một miền đặc biệt, nơi đó chất lượng, danh tiếng hay các đặctrưng khác của sản phẩm được xác định cơ bản từ nguồn gốc địa lý Nói cáchkhác khái niệm chỉ dẫn địa lý được dùng để phân biệt một sản phẩm có mộtnguồn gốc địa lý đặc biệt và có những nét đặc biệt nổi bật dựa vào vùng địa lýđó

Ở Việt Nam chúng ta thường nói đến gạo tám thơm Hải Hậu, bưởiĐoan Hùng, bưởi Năm Roi … và cà phê chúng ta có thuwownghieeuj cà phêBuôn Ma Thuột, chỉ dẫn địa lý đối với cà phê Vối Buôn Ma Thuột Caonguyên Buôn Ma Thuột và các vùng phụ cận có độ cao trên mặt nước biển từ450-700mm với một lớp đất đỏ bazan tầng dày có độ phì nhiêu thiên nhiêncao, tính chất vật lý lý tưởng cho cà phê sinh trưởng Cà phê ở đây được ngườitiêu dùng ưu chuộng và đánh giá cao Nhân cà phê có kích cỡ trên sang

Ngày đăng: 20/06/2023, 14:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w