Microsoft Word 6657 doc 1 Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ Bé n«ng nghiÖp vµ PTNT ViÖn khoa häc n«ng nghiÖp viÖt nam ViÖn b¶o vÖ thôc vËt B¸o c¸o tæng kÕt Dù ¸n s¶n xuÊt thö nghiÖm Tªn Dù ¸n S¶n xuÊt thö nghi[.]
Trang 1
Bé khoa häc vµ c«ng nghÖ Bé n«ng nghiÖp vµ PTNT
ViÖn khoa häc n«ng nghiÖp viÖt nam
ViÖn b¶o vÖ thôc vËt
6657
15/11/2007
Hµ Néi, 2007
Trang 2danh sách tác giả của đề tài KH & CN cấp nhà nước
( Danh sách các cá nhân đã đóng góp sáng tạo chủ yếu cho Dự án sản xuất thử nghiệm
được sắp xếp theo thứ tự đã thỏa thuận )
3 Thời gian thực hiện: 1/2005-8/2007
4 Cơ quan chủ trì: Viện Bảo Vệ Thực Vật
5 Bộ chủ quản: Bộ Nông Nghiệp &PTNT
Trang 3- Ban Chủ nhiệm chương trình KC-04.DA.10
- Lãnh đạo Viện Bảo Vệ Thực Vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
- Các nhà Khoa học trong và ngoài Viện
- Các doanh nghiệp đặc biệt là Công ty TNHH ADC và Công ty ENASA V iẹt Nam
- Các Chi Cục BVTV Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng
Ninh, Hà Nam, đồng Tháp, Đồng Nai Long An,…
- Các Huyện và các Xã ở nhiều tỉnh trong cả nước
Đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Dự án, đặc biệt là việc hoàn thiện được công nghệ sản xuất và ứng dụng trên diện rộng các chế phẩm thảo mộc trừ ốc bươu vàng hại lúa trong 3 năm qua
Trang 42 Thuộc Chương trình: "Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh học"
3 Chủ nhiệm Dù ¸n: TS Nguyễn Trường Thành
4 Cơ quan chủ trì Dù ¸n: Viện Bảo vệ thực vật, Viện Khoa học nông nghiệp Việt
Nam
5 Thời gian thực hiện (BĐ-KT): 2005 - 6/2007
6 Tổng kinh phí thực hiện Dù ¸n: Trong đó, kinh phí từ NSNN: 1.100 triệu đồng
7 Tình hình thực hiện Dù ¸n so với Hợp đồng
7.1/ Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc
Dù ¸n đã hoàn thành đầy đủ các khối lượng công việc được giao bao gồm những công việc chính như:
+ Hoàn thiện quy trình sản xuất 2 chế phẩm thuốc thảo mộc trừ ốc bươu vàng CE-02 và CB-03 đạt hiệu quả phòng trừ cao và an toàn với môi trường
+ Hoàn thiện quy trình sử dụng 2 chế phẩm thảo mộc trên đồng lúa nước ta + Đào tạo cán bộ kỹ thuật đủ sức chỉ đạo sản xuất 2 chế phẩm với khối lượng lớn
+ Tập huấn cho nông dân sử dụng các chế phẩm trên đồng ruộng đạt hiệu quả cao phòng trừ ốc bươu vàng và an toàn với môi trường
Trang 5+ Sản xuất 200 tấn chế phẩm và cung ứng cho sản xuất thông qua hai Công ty TNHH ADC và Công ty CP ENASA Việt Nam (trong đó có 10 tấn xuất khẩu sang Đài Loan)
7.2/ Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN
Các sản phẩm KHCN mà Dù ¸n tạo ra đã đáp ứng được các yêu cầu khoa học và các chỉ tiêu c¬ bản như: Có được quy trình sản xuất ổn định về chất lượng sản phẩm (với hiệu quả phòng từ OBV cao, an toàn với môi trường, có thể bảo quản trong thời gian khá dài (trên 2 năm) Có quy trình sử dụng các chế phẩm thảo mộc trừ OBV tiện lợi
và hiệu quả cho nông dân Đã đào tạo được đội ngũ cán bộ kỹ thuật đủ sức sản xuất thuốc thảo mộc trên quy mô lớn với chất lượng ổn định Đã đào tạo được 1 thạc sỹ đạt loại giỏi về nghiên cứu thuốc thảo mộc trừ OBV Sản xuất ®−îc 200 tÊn thuốc thảo
mộc trừ OBV với hiệu quả phòng trừ cao trên 80%, giá thành không cao hơn thuèc
hoá học có hiệu lực tương đương Hai loại thuốc đã được đăng ký đặc cách sử dụng ở Việt Nam, góp phần phục vụ cho sản xuất lúa ở nước ta và xuất khẩu bước đầu thành công sang Đài Loan
7.3/ Về tiến độ thực hiện
Dù ¸n đã được thực hiện đúng tiến độ đề ra: kế hoạch ban đầu từ tháng 1/2005 đến tháng 12/ 2006 Song do quyết định mới của nhà nước, Dù ¸n được cấp kinh phí chậm hơn và kết thúc tháng 6/ 2007 theo đúng quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ
8 Về những đóng góp mới của Dù ¸n:
Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được công bố trên các ấn phẩm trong
và ngoài nước đến thời điểm kết thúc Dù ¸n, Dù ¸n có những điểm mới sau đây:
Trang 68.1/ Về giải pháp khoa học - công nghệ
+ Đã hoàn thiện được công nghệ gia công ổn định thuốc thảo mộc trừ OBV trên cơ
sở các nguyên liệu thảo mộc ở nước ta Giải pháp phối hợp một số nguồn nguyên liệu thảo mộc một cách hợp lý và lựa chọn chất phụ gia và tăng hiệu đã giúp cho chế phẩm
có nhiều ưu điểm nổi bật mà chưa có chế phẩm thảo mộc nào trừ OBV có được ở nước ta cho đến nay Thuốc có hiệu quả ổn đinh, bảo quản được trên 2 năm, ít độc với môi trường, tiện lợi trong sử dụng, giá thành chấp nhận được (tương đương thuốc hoá học có cùng hiệu lực phòng từ OBV) So với các nước, thuốc thảo mộc được sản xuất như trên có lượng sử dụng ít hơn 2-4 lần/ đơn vị diện tích so với các nước có thuốc thảo mộc tương tự trừ OBV
+ Giải pháp về sử dụng các chế phẩm thảo mộc trừ OBV trên đồng ruộng đảm bảo tính khả thi cao, tiện lợi và an toàn Thuốc có thể sử dụng trong mọi kiểu hình canh tác lúa như lúa sạ, lúa cấy, trước và sau khi gieo trồng đều cho hiệu quả cao
8.2/ Về phương pháp nghiên cứu
Một số các phương pháp nghiên cứu tạo dạng thuốc đã được hoàn thiện và phát triển, đặc biệt về công nghệ tạo dạng bột rắc hỗn hợp sao cho thuốc đảm bảo các yêu cầu lý hoá và hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và môi trường
Phương pháp nghiên cứu và công nghệ tạo dạng chế phẩm đã được đăng ký bảo
hộ bản quyền sáng chế với 2 chế phẩm thảo mộc trừ OBV là TICTACK 13.2 BR và BOURBO 8.3 BR tại Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam (Công bố từ năm 2006 và đang đợi công nhận chính thức)
8.3/ Những đóng góp mới khác
+ Bổ sung vào danh mục hai thuốc thảo mộc mới được phép sử dụng rộng rãi ở nước
ta từ 7/ 2006
Trang 7+ Tăng thu nhập cho nông dân trồng nguyên liệu các vùng Trung du miền núi phía Bắc và miền Trung, góp thêm động lực cho nông dân trồng rừng bằng cây nguyên liệu ( tăng hàng chục nghìn ha trong 3 năm qua)
+ Góp phần giảm ô nhiễm môi trường nhất là cá và các động vật thuỷ sinh vùng trồng lúa
CHỦ NHIỆM Dù ¸N
(Họ, tên và chữ ký)
Nguyễn Trường Thành
Trang 8Bảng tổng hợp danh mục sản phẩm khoa học công nghệ
01 quy trình đạt chỉ tiêu kinh tế –
01 quy trình đạt chỉ tiêu kinh tế –
ổn định
01 quy trình đạt chỉ tiêu kinh tế –
ổn định
01 quy trình đạt chỉ tiêu kinh tế –
6 Sản xuất chế phẩm thảo
mộc CB-03 80 tấn
Đủ số l−ợng và đảm bảo chất l−ợng yêu cầu
Điện Biên
Đã triển khai 13.600 ha tại 7 tỉnh với 4 Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật, 5 Trạm BVTV và 6 Hợp Tác Xã Diện tích còn lai 6.400ha, Công ty TNHH ADC và Công
ty ENASA VIETNAM
đã nhập hàng để triển khai tại các tỉnh phía Nam trong vụ Đông – Xuân 2007-2008
68
Trang 94 1 2 Về hiện trạng sản xuất thuốc thảo mộc trên thê giới 19
5 1 3 Nghiên cứu và công nghệ sản xuất thuốc thảo mộc trừ OBV
8 2 2 Phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm 33
9 2 2 1 Phương pháp xác định hàm lượng hoạt chất trong chế
10 2.2.2 Đánh giá độ độc của chế phẩm với động vật máu nóng 33
11 2 2 3 Đánh giá hiệu lực của chế phẩm với ốc bươu vàng 35
12 2 2 4 Đánh giá độ độc của chế phẩm với cá và động vật thuỷ
13 2 2 5 Phương pháp đánh giá độ ổn định của chế phẩm 35
14
2 2 6 Phương pháp xác định sự tối ưu hoá thời điểm thu hái, tỷ
lệ thành phần nguyên liệu, phụ gia, độ mịn nguyên liệu, thời gian
và nhiệt độ sấy nguyên liệu:
35
16 3 1 Hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm 37
17 3.1 1 Xác định hàm lượng Saponozit trong một số nguyên liệu 37
18 3 1 2 Xác định thời điểm thu hái sản phẩm để có hàm lượng 38
Trang 10chất độc cao nhất
19 3 1 3 Xác định tỷ lệ thành phần các nguyên liệu tham gia chế
23 3 1 7 Hoàn thiện kỹ thuật phối trộn sản phẩm nguyên liệu và
24 3 1 8 Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm trên đồng ruộng ở
25 3 1 9 Đánh giá độ độc của chế phẩm với động vật máu nóng 56
26 3 1 10 Đánh giá độ an toàn của chế phẩm đối với động vật
27 3 1 11 Xây dựng quy trình đánh giá hiệu quả của sản phẩm 63
28 3 2 Hoàn thiện kỹ thuật sử dụng chế phẩm phòng trừ OBV trên
29 3 2 1 Xác định liều lượng sử dụng chế phẩm thảo mộc trừ OBV
trong các kiểu hình canh tác (sạ khô, sạ ướt, lúa cấy) 64
30 3 2 2 Sử dụng chế phẩm thảo mộc trừ OBV trong điều kiện ao
31 3 2 3 Phân tích dư lượng của chế phẩm trong đất, nước 66
Trang 1132 3 2 4 Quy tr×nh sö dông chÕ phÈm th¶o méc CE-02 vµ CB-03
33 3 2 5 Kü thuËt øng dông trªn diÖn réng vµ hiÖu qu¶ sö dông 73
Trang 12danh mục các bảng
1 Hàm lượng của Sponozit trong một số nguồn nguyên liệu 37
2 Tỷ lệ saponozit trong một số loại hạt ở các thời điểm thu hái khác
3 Các tỷ lệ nguyên liệu trong các chế phẩm thử nghiệm 41
4 Hiệu lực của 2 chế phẩm thuốc CE- 02 và CB-03
5 Đánh giá và chọn lọc chất bảo quản thuốc thảo mộc
6 ảnh hưởng của kích thước hạt đến phản ứng của ốc bươu
7 ảnh hưởng của kích thước hạt đến hiệu lực trừ ốc bươu vàng 48
8 Đánh giá hiệu quả của cách sấy nguyên liệu 49
9 Hiệu lực của chế phẩm thảo mộc đối với ốc bươu vàng hại
10 Hiệu lực của các dạng chế phẩm đối với OBV trong điều
11
Hiệu lực của các dạng chế phẩm đối với OBV trong điều
12 Độ độc cấp tính của chế phẩm thảo mộc đối với chuột 57
13 ảnh hưởng của thuốc thảo mộc CE-02 & CB-03 đối với cá 62
Trang 13danh mục các hình
1 Cấu trúc của Nicotine trong cây thuốc lá trừ OBV 20
2 Cấu trúc của 1 saponin glycoside trong nhiều cây họ chè 21
3 Phân tích Saponin bằng sắc ký lỏng cao áp 22
5 Cấu trúc Azadirachtin - hoạt chất trừ OBV từ lá và hạt Neem 23
6 Cấu trúcRotenon-hoạt chất trừ OBV từ rễ cây Derris elliptica 24
7 Cây ngải đắng Artemisia absinthium chứa absinthine và
8 Nhựa cây trúc đào (Nerium indicum) rất độc với OBV 26
9 Cây Ximenia americana dùng làm thuốc thảo mộc trừ OBV 27
10 Cây Detarium microcarpum dùng làm thuốc thảo mộc trừ OBV 27
11 Cây Polygonum limbatum làm thuốc thảo mộc trừ OBV 28
12 Thuốc thảo mộc CE-02 trừ OBV và hiệu quả trên đồng ruộng 31
13 Lược đồ phân tích hàm lượng hoạt chất trong nguyên liệu và chế
14 Sắc ký lỏng cao áp HPLC phân tích hàm lượng hoạt chất độc trong
16 Sơ đồ tổng thể nghiền và phối trộn nguyên liệu 51
17 Hệ thống sản xuất chế phẩm thảo mộc CE-02 &CB-03 53
18 Phương pháp nuôi nhân chuột làm thí nghiệm 57
19 Xác định LD50 bằng phương pháp bơm dung dịch thuốc vào
20 Kiểm tra tỷ lệ chuột sống, chết sau khi thử thuốc 58
Trang 1421 Thuốc thảo mộc không gây độc với ếch 60
24 Hiệu quả sử dụng thuốc TICTACK 13.2 BR trên lúa cấy 64
25 Hiệu quả sử dụng thuốc TICTACK 13.2 BR trước khi cấy 65
26 Hiệu quả của thuốc CE-02 và CB-03 tại Bắc Giang (2006) 68
27 Hiệu quả của thuốc CE-02 và CB-03 tại Đồng Nai (2006) 69
28 Rắc thuốc thảo mộc CE-02 trừ OBV tại Lạng Sơn và thăm quan hiệu
32 Sản xuất chế phẩm CE-02 & CB-03 xuất khẩu đi Đài Loan 77
33 Tập huấn cho nông dân sử dụng thuốc thảo môc 78
Một số Chữ viết tắt và ký hiệu
OBV: ốc bươu vàng
BVTV: Bảo vệ thực vật
CE-02: Tên một chế phẩm thảo mộc trong quá trình nghiên cứu
TICTACK 13.2 BR: Tên thương mại của thuốc CE-02 khi đăng ký sử dụng ở Việt
Nam
CB-03: Tên một chế phẩm thảo mộc trong quá trình nghiên cứu
BUORBO 8.3 BR: Tên thương mại của thuốc CB-03 khi đăng ký sử dụng ở Việt Nam
Trang 15I mở đầu
ốc bươu vàng (Pomacea spp.) bắt nguồn từ Nam Mỹ và đã du nhập vào châu á
trên 20 năm nay và dù chúng có những sử dụng có ích nhất định ở đâu đó cho con người ( sử dụng chế biến làm thức ăn cho người vật nuôi, sử dụng làm phân bón, làm
"thiên địch của cỏ dại, ) song gần đây nhất loài động vật nhuyễn thể này vẫn được các Hội nghị quốc tế xác định là một trong 100 loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm nhất trên thế giới và không được di chuyển chúng đến vùng chúng chưa xuất hiện với bất
kỳ lý do nào (Hội nghị APEC về quản lý ốc bươu vàng, Đài Loan, 2004; The Global Invasive Species Programme, 2004) Không những chúng có độ dẻo sinh thái cao, sinh sản cực kỳ nhanh chóng, xâm lấn dễ dàng qua đường dẫn nước mà chúng còn phá hại lúa đến mức mà nhiều nước trồng lúa đã coi chúng là một trong số các dịch hại quan trọng và khó phòng trừ nhất
Cho đến nay, sau hàng chục năm nghiên cứu, các nước trên thế giới vẫn mới chỉ dừng lại ở 3 hoạt chất hoá học phòng trừ chủ yếu đối với ốc bươu vàng là Endosulfan, Metaldehyde, Niclosamide Endosulfan giá thành rẻ song là thuốc nhóm clo hữu cơ, rất độc với cá và môi trường và cũng đã bị cấm từ mấy năm qua ở nước ta và nhiều nước khác Niclosamide cũng rất độc với cá, còn Metaldehyde ít độc với cá song hiệu lực không ổn định khi nhiệt độ giảm thấp hoặc mức nước không ổn định
Trong các năm 2002-2003, Viện Bảo vệ thực vật được giao thực hiện đề tài " Nghiên cứu ảnh hưởng của sinh vật lạ (ốc bươu vàng) đến môi trường sinh thái và giải pháp phòng trừ" Kết quả đề tài được Bộ Nông nghiệp và PTNT nghiệm thu và đánh giá xuất sắc năm 2004 bao gồm cả việc tạo ra chế phẩm thảo mộc CE-02 và CB-03 từ nguồn nguyên liệu trong nước Trên cơ sở đó, Bộ Khoa học Công nghệ đã đồng ý để Viện thực hiện Dự án "Sản xuất thử nghiệm trên diện rộng chế phẩm thảo mộc phòng trừ ốc bươu vàng hại lúa" với mục tiêu: Hoàn thiện cộng nghệ sản xuất, bảo quản và
sử dụng chế phẩm thảo mộc bảo vệ thực vật trừ ốc bươu vàng trên qui mô rộng phục
vụ sản xuất lúa bền vững
Trang 161 Hoàn thiện công nghệ sản xuất hai chế phẩm thảo mộc CE-02 và CB-03
- Phân tích hàm lượng hoạt chất trừ ốc bươu vàng trong từng loại nguyên liệu
- Xác định thời điểm tối ưu thu hái quả làm nguyên liệu sản xuất thuốc
- Xác định một số thông số kỹ thuật trong sản xuất chế phẩm đạt hiệu quả kỹ thuật và kinh tế cao (thành phần từng nguyên liệu, độ mịn của từng nguyên liệu, nhiệt độ và thời gian sấy nguyên liệu, loại và hàm lượng chất bảo quản)
- Xác định kỹ thuật phối liệu gồm các nguyên liệu thành phần và phụ gia
- Đánh giá hiệu lực của các chế phẩm trong các điều kiện sinh thái khác nhau (chủ yếu là nhiệt độ)
- Đánh giá độ độc của các chế phẩm với động vật máu nóng (chuột bạch) và một số
động vật thuỷ sinh trong phòng thí nghiệm
- Xác định quy trình kỹ thuật đánh giá hiệu quả của chế phẩm
2 Hoàn thiện quy trình sử dụng các chế phẩm thảo mộc trên phòng trừ ốc bươu vàng
- Xác định liều lượng sử dụng của các chế phẩm trong điều kiện sạ khô, sạ ướt, lúa cấy
- Đánh giá hiệu quả trừ ốc bươu vàng của các chế phẩm trừ ốc bươu vàng trong ao, hồ
- Đánh giá độ an toàn của chế phẩm đối với cá (đặc biệt trong mô hình lúa - cá) và dư lượng của chế phẩm trong đất, nước sau khi sử dụng
- Hoàn thiện quy trình sử dụng các chế phẩm thảo mộc trên phòng trừ ốc bươu vàng trên diện rộng và đánh giá hiệu quả chung của chúng ở nước ta
3 Đào tạo, tập huấn
- Đào tạo công nhân kỹ thuật sản xuất chế phẩm
- Tập huấn cho nông dân vùng nguyên liệu và nông dân sử dụng thuốc thảo mộc phòng trừ ốc bươu vàng
Trang 171 tổng quan
1 1 ốc bươu vàng (OBV) - có còn là dịch hại nguy hiểm nữa không?
OBV một sinh vật ngoại lai ăn khoẻ mau lớn và có sức sinh sản rất nhanh (một con cái đẻ trung bình 2 lần trong 1 tháng, mỗi lần đẻ có thể đạt 500 trứng trong vòng một tuần, 2 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng, có thể sống tới 4- 6 năm) Chúng sống ở nhiều nơi có nước như ao, đầm lầy, đầm sen, kênh mương nước, ruộng lúa, OBV sống nhờ hệ thống hô hấp hình cánh tay, vừa thở được bằng mang dưới nước, vừa thở
được bằng phổi trong không khí nên chúng chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt như nước bị ô nhiễm, tù đọng thiếu ôxy OBV có thể vùi mình trong bùn đất mùa khô và
“ngủ hè” trong 6 tháng, đợi đến khi có nước bò dần lên sinh sống, gây hại Chúng có
thể chịu đựng được mật độ rất cao (có thể nuôi tới 1000 con/ m2) OBV có thể ăn và gây hại trên hàng loạt cây trồng như tảo, bèo, cỏ dại, lúa, các cây thân mềm lá chứa nhiều nước Chúng còn ăn cả các chất hữu cơ đang phân giải, trứng và ốc con của loài
ốc khác và được ví như một máy nghiền vì có thể ăn liên tục 24 giờ một ngày (James
A D., 2002) Đồng thời, OBV còn được xác định là ký chủ trung gian truyền bệnh
phổi (Lungworm – Angiostronggylus cantonensis) từ chuột sang người (Rosamond
Naylor, 1994 và BOIESA, 2001, USA)
OBV di chuyển rất dễ dàng và nhanh chóng qua con đường nước (sông, kênh mương, nước ngập tràn, ) Chính vì vậy, hiện nay OBV là một dịch hại nguy hiểm và khó phòng trừ ở các vùng trồng lúa châu á (Viện Nghiên cứu lúa Philippin, 2001) Chẳng hạn, những đợt nước lũ về hàng năm vào các tháng 9-10 đã làm OBV lây lan và gây hại lúa gieo thẳng nghiêm trọng nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vào các tháng 11-12
Gần đây, ở trong nước và trên thế giới, một số tác giả cho rằng cần đánh giá lại tác hại của OBV, nhất là sau khi chúng được sử dụng cho một số mục đích của con người như chế biến làm thức ăn chăn nuôi cá, ba ba, rùa và phân bón chất lượng cao
Theo Geoff Baker (2000), OBV có tên khoa học là Pomacea sp là một loài
thuộc nhóm ốc lớn có nguồn gốc từ Nam Mỹ Chúng sống trong các vùng đầm lầy
Trang 18nam Brazin, vùng biên giới với Achentina và Paraguay OBV được du nhập vào bang Florida rồi lan sang các bang khác của Mỹ Từ chỗ OBV được đưa vào Đài Loan năm
1981, mới đầu là động vật vệ sinh trong bể nuôi cá, về sau do phát triển và sinh sản rất nhanh, lại là món ăn giàu Protein nên nó được nuôi hàng loạt làm thực phẩm theo các chương trình của chính phủ Đài Loan và Philippine Chẳng bao lâu, chúng xâm nhập theo các kênh dẫn nước và lan rộng khắp các nước này như một dịch chính hại lúa, nhất là khi người tiêu dùng không ưa thích dùng nó làm thực phẩm và chúng bị bỏ rơi vào hệ sinh thái Và khung cảnh này nhắc lại ở nhiều nước trong những năm 1980-
1990 như Nhật, Ghinê, Hawai, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc Đã có dấu hiệu OBV đã xuất hiện ở Australia ( BOIESA, Mỹ, 4/2001) Hiện nay OBV được IUCN xác định là một trong 100 loài sinh vật ngoại lai (Invasive Alien Species) nguy hiểm nhất Hàng năm 1,2 – 1,6 triệu ha (trong tổng số 3 triệu ha) lúa nước của Philippin bị nhiễm OBV, chúng gây nên tổn thất năng suất từ 1 đến 40% ở các vùng này Các nước Đài Loan, Nhật, Philippin hàng năm phải chi hàng triệu USD để phòng trừ loại dịch hại này Đài Loan là nước nhập OBV sớm nhất châu á, có nhiều kinh nghiệm phòng trừ loài dịch hại này, có tài trợ liên tục của Chính phủ trong nhiều năm song diện tích lúa phải xử lý hàng năm vẫn chiểm tỷ lệ rất cao (trên dưới 100 nghìn ha trong nửa triệu ha lúa được gieo trồng) (Cheng, E.Y., 2004) Hiện nay, OBV vẫn là hạn chế sinh học chủ yếu trong tất cả các vùng trồng lúa ở Philippine (Joshi, R.C,, 2004)
OBV được nhập vào nước ta từ năm 1986 với vài cặp nuôi trong bể xi măng rồi năm 1998 được nhập bằng nhiều cách khác nhau như một nguồn thực phẩm cung cấp cho người và động vật nuôi Nhiều hộ nông dân phát triển OBV theo khuynh hướng này Đặc biệt, năm 1992, hai công ty phía Nam liên doanh với Đài Loan nuôi OBV trên diện tích 23 ha và cũng từ đó, loài động vật này đã xâm nhiễm vào hệ sinh thái và với điều kiện sinh thái phù hợp, chúng đã phát triển nhanh chóng và trở thành dịch hại trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa và rau muống (Cục BVTV, 1998)
Kết quả dự án “Phòng trừ tổng hợp ốc bươu vàng trên lúa ở Việt Nam”
Trang 19nước đã bị nhiễm OBV 109 nghìn ha lúa; 3,5 nghìn ha rau muống; 15 km2 ao hồ, 4
km2 sông rạch đã bị nhiễm OBV năm 1997 OBV được xác định là loài sinh vật ngoại lai và tháng 5 năm 1998 được Chính phủ ta xác định như là dịch hại kiểm dịch cây
trồng nhóm III: ”Các dịch hại nguy hiểm có khả năng gây hại nghiêm trọng ở Việt
Nam” Đến tháng 11 năm 2000, trước hiện trạng OBV với tính thích nghi rất cao và mức phổ biến rộng rãi của chúng trong hệ sinh thái, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã xác
định OBV không phải là đối tượng kiểm dịch thực vật song vẫn là một trong các dịch hại nguy hiểm cho sản xuất lúa ở nước ta Những năm gần đây, OBV vẫn là một trong
số các dịch hại lúa quan trọng nhất và phòng trừ tốn kém nhất đối với nông dân trồng lúa sạ phía Nam - vựa lúa lớn nhất ở nước ta Diện tích bị nhiễm cần phòng trừ hàng năm lên tới 100 - 300 nghìn ha Đặc biệt, với hệ thống kênh dẫn nước hoạt động liên tục trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, với thảm thực vật tự nhiên phong phú, OBV
dễ dàng xâm nhập ruộng lúa nhiều đợt và nông dân có khi phải phòng trừ chúng nhiều lần trong vụ Hội nghị chuyên đề về OBV vùng APEC năm 2004 đã khẳng điịnh, OBV vẫn là một trong các dịch hại lúa nguy hiểm nhất và không được di chuyển chúng đến những vùng mới (Hội nghị APEC về quản lý OBV, 9/2004, Đài Loan)
Hiện nay, có thể nói OBV là một trong những dịch hại khó phòng trừ nhất và vẫn đang đe doạ sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng trồng lúa nước Nhiều biện pháp phòng trừ OBV đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng như: nhặt và phá huỷ ốc và trứng ốc bằng tay, sử dụng vịt và cá để diệt ốc con và trứng ốc, sử dụng các cây chứa chất độc trừ OBV, làm bẫy lá dẫn dụ, đào bẫy trên kênh dẫn nước vào ruộng, làm phên chắn ốc và trứng đầu mương nước, sử dụng phân bón thích hợp, điều tiết nước ruộng,
đốt gốc rạ sau thu hoạch Nông dân Đài Loan đã dùng bột nghiền bánh hạt cây độc kết hợp với các biện pháp sinh học khác để phòng trừ OBV như sử dụng vịt Bắc Kinh, cá da trơn Catfish Một số vùng ở Malaysia đã sử dụng thành công cây độc và nước mặn để phòng trừ OBV Ngoài cá và vịt, biện pháp sử dụng kẻ thù tự nhiên khác cho
đến nay cũng chưa có hiệu quả vì con người hầu như cũng chưa biết được gì về kẻ thù
tự nhiên của loài ốc này ở nơi bản xứ Nam Mỹ (Geoff Baker, 2000) ở nước ta, chúng
Trang 20tại Hà Nội và Đồng Tháp, song vai trò điều hoà số lượng ốc của chúng không có ý
nghĩa Một số thuốc hoá học đã được sử dụng rộng đề trừ OBV như Metaldehyde,
Niclosamide, Chlorothalonil, CuSO 4 (Viện nghiên cứu lúa Philippine) Tuy nhiên,
việc sử dụng ồ ạt nhiều loại thuốc hoá học đã dẫn đến ảnh hưởng của chúng tới các
động vật thuỷ sinh làm nghèo đi sự đa dạng sinh học, nhất là cá, động vật là mồi cho các loài chim và ngay cả chính các loài ốc hến và các loài thân mềm nói chung có vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hoá vôi, làm giảm sức sinh sản và sức sống của nhiều loài chim
Tuy nhiên, việc nghiên cứu phòng trừ OBV trong điều kiện Việt Nam cần được phát triển, đặc biệt sau hơn 15 năm chúng trở thành một thành viên không mong muốn trong hệ sinh thái của nước ta Điều quan trọng lúc này không phải và không thể loại
bỏ chúng ra khỏi hệ sinh thái mà làm thế nào để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng có hại của chúng và sử dụng chúng vì lợi ích con người Một trong các biện pháp phòng trừ OBV có hiệu quả cao về môi trường là việc sử dụng các vật liệu thực vật tạo chế phẩm
thảo mộc để phòng trừ chúng
Trang 211 2 Về hiện trạng sản xuất thuốc thảo mộc trừ OBV trên thê giới
Có thể nói trên thế giới, nông dân vẫn ưa chuộng phòng trừ dịch hại nói chung
và OBV nói riêng bằng hoá chất BVTV vì tác dụng nhanh, hiệu quả cao, thường rẻ tiền hơn thuốc sinh học - thảo mộc Con số 2,5% về tỷ lệ giá trị thuốc sinh học trong tổng số thuốc BVTV được sử dụng trên thế giới năm 2006 đã minh chứng cho điều này (Thakore Y., 2006)
Theo Prakash A và Rao J (1997) trên thế giới có 1079 chế phẩm thảo mộc BVTV trong đó có 13 chế phẩm phòng trừ các loại ốc gây hại cây trồng Theo Stephen O D (1990) nhiều Saponin thực vật độc cao với OBV và nhóm chất Cyanogenic glucosides giúp một số cây họ đậu chống chịu với nhóm ốc sên hại cây
Tác giả Gabriele Stoll (2000) đã liệt kê các công thức chế biến thuốc thảo mộc
trừ OBV gồm có rễ cây thuốc cá (Derris elliptica), hạt và lá neem (Azadirachta
indica), lá Trúc đào (Nerium indicum), hạt chè (Camellia oleifera), hạt cây Croton tiglium,
Tại Malaysia, sản phẩm bột hạt chè chứa tới 5,2 - 7,2 % Saponins được sử dụng trừ OBV với liều lượng khá cao 51 kg/ha, còn sản phẩm bột lá khô của cây Sisal dại chứa tới 10,2% saponin được dùng với liều lượng thấp hơn là 45 kg/ ha (Teo S S., 2004)
Tại Đài Loan, cả bột thuốc lá và hạt chè đều được sử dụng trừ OBV có hiệu quả Tuy nhiên, các chế phẩm nói trên đều độc cao với cá và một điều rất quan trọng là chất lượng sản phẩm hay hiệu quả phòng trừ của chúng với OBV phụ thuộc nhiều vào giống cây, điều kiện bảo quản, (Cheng E Y và Kao C H., 2004)
Tại Phillipine, một nước trồng lúa chịu thảm hoạ sớm nhất từ việc du nhập OBV, bên cạnh 3 hoá chất Metaldehde, Niclosamide, Chlorothalonil, hỗn hợp của tanins, glycosydes, sterols và flavonoids được đăng ký sử dụng trừ OBV (Cuaterno, W R., 2004) và thuốc thảo mộc được khuyến cáo là biện pháp đầu tiên được đề xuất cho việc phòng trừ phi hoá học đối với OBV
Trang 22Tại Inđônêxia, 4 loại thuốc thảo mộc là Saponin, Rerax (Sapindinus
rerak),Tobacco, hạt Pinang (Areca catechu) được thử nghiệm và hai loại đầu cho hiệu
quả khá cao với OBV (trên 80%)
Việc tìm kiếm thuốc thảo mộc trừ OBV song an toàn với cá cũng được chú trọng Các nhà nghiên cứu của Trường Đại học Wale Cardiff đã tìm được loại dịch chiết từ thảo mộc độc với OBV song không độc với các loài không phải đối tượng phòng trừ
Các cây độc này được cung cấp từ Nigeria gồm Ximenia americana, Detarium
microcarpum, Polygonum limbatum (I.D Bowen, 2002)
Hình 1 Cấu trúc của Nicotine trong cây thuốc lá trừ OBV
Trang 23H×nh 2 C©y së (Camellia sasanqua) vµ cÊu tróc cña 1 saponin glycoside trong
nhiÒu c©y hä chÌ
Trang 24H×nh 3 Ph©n tÝch Saponin b»ng s¾c ký láng cao ¸p
H×nh 4 C©y Sesal chøa 10.2% Saponin trõ OBV
Trang 25H×nh 5 C©y Neem (Azadirachta indica) vµ
cÊu tróc Azadirachtin - ho¹t chÊt trõ OBV tõ l¸ vµ h¹t Neem
Trang 26H×nh 6 C©y thuèc c¸ (Derris sp.) vµ
cÊu tróc Rotenon - ho¹t chÊt trõ OBV tõ rÔ c©y nµy
Trang 27Hình 7 Cây ngải đắng Artemisia absinthium chứa absinthine và anabsinthine
trừ OBV
Trang 28Hình 8 Cây trúc đào (Nerium indicum) có nhựa (chứa Oleandrin)
rất độc với OBV
Trang 29Hình 9 Cây Ximenia americana dùng làm thuốc thảo mộc trừ OBV
Hình 10 Cây Detarium microcarpum dùng làm thuốc thảo mộc trừ OBV
Tuy có nhiều tác giả đề cập đến thuốc thảo mộc trừ OBV song nhìn chung họ mới khuyến cáo các chế phẩm đ−ợc xử lý đơn giản nh− sử dụng dịch chiết hoặc nghiền phối trộn một số bộ phân cây độc
Trang 30Gần đây, khá nhiều Công ty hoặc các viện nghiên cứu ở Trung Quốc có sản xuất thuốc thảo mộc trừ OBV có hoạt chất Saponin Hiện có tới 18 thuốc trừ OBV có hoạt chất Saponin chủ yếu được sản xuất từ Trung Quốc song với lượng dùng rất cao (30-50 kg/ha) (Danh mục Thuốc BVTV đăng ký ở Việt Nam tháng 4/2007) Tuy nhiên, các thuốc này là đơn chất (Saponin), độc cao với cá và chỉ được sử dụng nơi không gần với nơi nuôi cá Trong việc trừ " cá dữ" trong các ao tnuôi tôm, hiện nay người sản xuất cũng sử dụng nhiều chế phẩm chứa Saponin (bên cạnh chế phẩm
truyền thống là Rotenone trong rễ cây Derris spp.)
Hình 11 Cây Polygonum limbatum làm thuốc thảo mộc trừ OBV
Trang 311 3 Nghiên cứu và công nghệ sản xuất thuốc thảo mộc trừ OBV ở trong nước
Trong nước, vấn đề thử nghiệm và chọn lọc nguồn thực vật làm thuốc thảo mộc được tiến hành từ những năm 90 thế kỷ trước
Báo cáo tổng kết đề tài:" Nghiên cứu các biện pháp sinh học, hoá học và thảo mộc
để phòng trừ ốc bươu vàng ở Việt Nam" do Cục Bảo vệ thực vật chủ trì (1996) cho thấy: Thuốc Organic M rắc 10-20 kg/ha chỉ cho hiệu lực 26-73% sau 7 ngày xử lý Rễ
cây Derris (40-60 kg/ha), hạt củ đậu (40-60 kg/ ha), Proneem (10-20 kg/ha) đều đạt hiệu lực trừ OBV rất thấp (dưới 7% sau xử lý 3-7 ngày) Nếu tăng lượng rễ cây Derris
hoặc hạt củ đậu lên 80 kg/ha, hiệu lực trừ OBV đạt 7-29% sau 7 ngày song cá chết 100% chỉ sau 1 ngày xử lý
Lê Đức Đồng (1997) đã thử nghiệm thuốc sau:
+ Rotex 5% (Rotenone) với lượng rất lớn 30 kg/ha: sau 5 ngày xử lý đạt hiệu quả 73,3% song cá chết 100% sau xử lý 1 ngày
+ Các thuốc khác như rễ Derris (250kg/ha), lá xoan tươi (500 kg/ha), lá xoan khô
(150 kg/ha), quả xoan tươi (150 kg/ ha), quả xoan khô (20 kg/ha) bột hạt củ đậu (30 kg/ha) được xử lý đều cho hiệu quả rất thấp với OBV (chỉ đạt dưới hiệu lực 25% sau 7
ngày xử lý) trong khi đó công thức dùng rễ Derris và bột hạt củ đậu cá chết 100% sau
1 ngày xử lý
Được sự quan tâm của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Viện Bảo Vệ Thực Vật đã tập trung đầu tư nghiên cứu theo hướng sử dụng các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên trong đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của sinh vật lạ (ốc bươu vàng) tới môi trường sinh thái và giải pháp phòng trừ" Qua nhiều thí nghiệm phân tích, thăm dò cũng như kế thừa và phát huy các kết quả đã đạt được trước đây, bước đầu đề tài đã tìm ra các sản phẩm thảo mộc trừ OBV rất có hiệu quả và phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam
40 loại chế phẩm được tạo ra và thử hiệu lực trừ OBV Kết quả cho thấy hầu
hết đều có hiệu lực nhưng ở mức độ khác nhau Đặc biệt có 15 loại có hiệu lực cao từ
50% trở lên như: Cây Thàn mát, cây Mác vắt, cây Sở, cây Cau, cây Sui Đa số các
Trang 32sản phẩm có hiệu lực cao đều tác dụng nhanh trong 3 ngày đầu Các hoạt chất trong chế phẩm trừ OBV ít có khả năng tồn tại lâu dài trong môi trường Đây là điều kiện thuận lợi cho việc dùng các sản phẩm này trong việc sản xuất các nông sản sạch phục
vụ cho con người
Từ những kết quả thí nghiệm đã nêu trên, chúng tôi tiến hành chọn lọc và hỗn hợp tạo ra các dạng sản phẩm Qua nhiều thí nghiệm thăm dò trong chậu vại, thí nghiệm ô nhỏ, thí nghiệm ngoài đồng ruộng, đề tài tạo được ra 2 dạng bột rắc với tên
trong đề tài là CE - 02 và CB - 03
Các sản phẩm này đã được thử nghiệm ở một số điều kiện sản xuất lúa khác nhau
và trên các đối tượng sẵn có trên đồng lúa nhằm đánh giá về độc tính cũng như hiệu lực của chế phẩm Đánh giá trong diện hẹp cho thấy các chế phẩm này có hiệu lực trừ OBV trên 80%, ít độc với cá và động vật thuỷ sinh Nguyên liệu tạo các chế phẩm trên
có thể khai thác ở nước ta đủ đáp ứng cho yêu cầu sản xuất lớn (Nguyễn Trường Thành và Nguyễn Thị Me, 2005)
Sau khi được Bộ Nông nghiệp và PTNT nghiệm thu và công nhân là tiến bộ kỹ thuật, Viện Bảo vệ thực vật đã đề nghị và được Bộ Khoa học và công nghệ cho phép thực hiện Dự án "Sản xuất thử nghiệm trên diện rộng chế phẩm thảo mộc trừ ốc bươu vàng hại lúa" (2005-2007)
Trang 33
Hình 12 Thuốc thảo mộc CE-02 trừ OBV và hiệu quả trên đồng ruộng
(Viện Bảo vệ thực vật, 2003)
Trang 34II vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2 1 Vật liệu và công cụ nghiên cứu:
• Vật liệu nghiên cứu :
* Các nguyên liệu thảo mộc như hạt trẩu, bã trẩu, hạt sở, bã sở, hạt thàn mát, hạt chè, có sẵn ở trong nước ta (chủ yếu vùng núi phía Bắc và Trung du Bắc Bộ, Trung Bộ)
* Các hoá chất phục vụ phân tích hàm lượng và dư lượng hoạt chất trong nguyên liệu và chế phẩm như Methanol (CH3OH), Aceton (CH3COCH3) Chloroform (CHCl3), nước cất loại ion, Na2SO4 khan,
* Các loại chuột bạch phục vụ thí nghiệm xác định LD50 của chế phẩm
* Một số loại cá, tôm, cua tiêu chuẩn đánh giá độ độc của thuốc đến động vật thuỷ sinh
• Công cụ nghiên cứu:
* Hệ thống máy phân tích hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm:
Máy sắc ký lỏng cao áp HPLC 1100 với detector DAD (Diode Array)
Máy rung siêu âm Máy nghiền mẫu Máy khuấy Agitator Máy cất quay chân không (Evaporator) Các dụng cụ thuỷ tinh như bình chiết, bình tam giác, bình cầu Giấy lọc No2 và máy hút chân không
* Hệ thống máy móc gia công thuốc thảo mộc bao gồm
Máy nghiền công suất 1 tấn/ ngày Máy phối trộn vật liệu công suất 1 tấn/ ngày Máy sấy nhiệt độ thấp (theo nguyên lý thổi gió và ngưng tụ hơi nước)
Máy đóng gói định lượng 1 kg
Trang 35Máy đo độ ẩm
2 2 Phương pháp nghiên cứu, thực nghiệm
Để hoàn thiện công nghệ sản xuất hai chế phẩm thảo mộc CE-02 và CB-03 chúng tôi
đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm chính sau:
2 2 1 Phương pháp xác định hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm và nguyên liệu:
Sử dụng kỹ thuật xác định hoạt chất trong nguyên liệu có hiệu lực trừ ốc bươu vàng: phối hợp phương pháp tách chiết nhanh bằng cồn metylic và ête rồi cô bằng sấy
ở nhiệt độ 500C với phương pháp sử dụng sắc ký lỏng cao áp: chiết bằng hỗn hợp dung môi, làm sạch bằng cột tách và xác định hàm lượng bằng máy sắc ký lỏng cao áp (HPLC) với detetor DAD như ở hình 13
2 2 2 Đánh giá độ độc của chế phẩm đối với động vật máu nóng
Đánh giá độ độc đối với chuột bạch theo phương pháp xác định LD50 là liều gây chết trung bình 50% cá thể chuột khi thuốc xâm nhập qua đường miệng (theo phương pháp của NIAST, 2003):
• Thử nghiệm cho thuốc xâm nhập vào đường miệng các liều thuốc bằng cách trộn vào thức ăn hoặc hoà loãng dùng xilanh bơm cưỡng bức vào thực quản của chuột bạch
• Hiệu đính tỷ lệ chuột chết theo công thức Abbott và tính Probit theo tỷ lệ chuột chết để xác định LD50 theo chương trình tính của Finney
Trang 36
Hình 13 L−ợc đồ phân tích hàm l−ợng hoạt chất trong nguyên liệu và chế phẩm
Nguyên liệu (chế phẩm)
Lấy mẫu đại diện 5-10g
Nghiền mẫu bằng máy nghiền 28000 vòng/phút
Cho dung môi CH3OH vào bột nguyên liệu theo tỷ lệ 1g nguyên liệu/ 8mL dung môi và cho
vào máy lắc 1 h
Pha loãng 1000 lần và xác định hàm l−ợng trên máy sắc ký lỏng cao áp HPLC/ DAD
Lọc qua giấy lọc No2 có sử dụng
máy hút chân không
Pha loãng 1000 lần và xác định hàm l−ợng trên máy sắc ký lỏng cao áp HPLC/ DAD (có chất chuẩn của các hoạt chất cần quan tâm)
Hệ dung môi: H2O: MeOH= 80:20
Trang 372 2 3 Đánh giá hiệu lực của chế phẩm với ốc bươu vàng
Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng và trên đồng ruộng (diện hẹp, diện rộng) theo quy phạm hiện hành của Bộ Nông nghiệp và PTNT Chú ý đến điều kiện thí nghiệm hiệu quả thuốc theo đất đai, mực nước, nhiệt độ
2 2 4 Đánh giá độ độc của chế phẩm với cá và động vật thuỷ sinh
Dựa theo phương pháp đánh giá nhanh mức độ gây chết của thuốc đến cá, tôm, cua trong phòng và trong điều kiện đồng ruộng ở liều khuyến cáo được Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Một chế phẩm không độc cho sinh vật có ích ở thí nghiệm trong phòng coi như không độc ngoài đồng ruộng (IOBC, 1992)
Trang 38Hình 14 Sắc ký lỏng cao áp HPLC phân tích hàm l−ợng hoạt chất độc trong chế phẩm
Trang 39III Kết quả và thảo luận
3 1 Hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm
3 1 1 Xác định hàm lượng Saponozit trong một số nguyên liệu
Saponozit là một nhóm các Glycoside có trong một số cây trồng và được đặc trưng bởi tính chất như xà phòng, tạo bọt trong dung dịch nước Khi bị thuỷ phân, các glycozide tạo ra triterpene và steroid sapogenin Saponozit có sức căng bề mặt thấp hơn dung dịch nước và tạo nên các chất phân tán dạng keo trong nước Một số saponozit glycozide có thể kích thích các màng nhầy và phá huỷ tế bào máu của động vật như OBV
Sử dụng phương pháp phân tích đã nêu ở phần 2.2.1, chúng tôi đã xác định hàm lượng của Saponozit trong một số nguyên liệu có sẵn ở nước ta như sau:
Bảng 1 Hàm lượng của Sponozit trong một số nguồn nguyên liệu
(Phòng phân tích, Viện Bảo vệ thực vật, 2005)
Hàm lượng Saponozit tổng số
Trang 40Tác giả Teo S S (2004) cho biết hàm lượng Saponin trong bã chè sau khi đã
ép dầu là 5,2 - 7,2%, tương đương hoặc cao hơn một chút so với kết quả ở trong bảng
1 (4,4 - 7,8%) Tác giả này cũng cho biết, thuốc thảo mộc dựa vào hạt chè phải dùng tới 51 kg/ ha mới có hiệu quả Với khối lượng sử dụng lớn như vậy khâu vận chuyển thuốc trở nên tốn kém hơn song điều quan trọng là khi đó hàm lượng của Saponin trong nước sẽ khá cao và rất dễ gây chết cá (mực nước 5cm hàm lượng Saponin sẽ là 6ppm, trong khi đó với hàm lượng 10 ppm cá sẽ chết ngay sau vài giờ )
Theo kết quả trên, việc sử dụng bã hạt sở hoặc bã hạt chè như là các sản phẩm phụ của công đoạn ép dầu sẽ vừa kinh tế vừa có hiệu quả cao Điều may mắn là khi ép dầu, gần như toàn bộ saponozit nằm lại trong bã, không gây độc cho dầu và bảo tồn hàm lượng chất độc trong bã sở và chè
3 1 2 Xác định thời điểm thu hái sản phẩm để có hàm lượng chất độc cao nhất
Đây là một việc rất có ý nghĩa vì qua phân tích bằng máy sắc kí lỏng cho thấy, hàm lượng chất độc với OBV trong sản phẩm biến động lớn Nếu không xác định tốt thời điểm thu hái, chất lượng chất độc trong hạt cây không cao, hiệu lực trừ OBV của chế phẩm không ổn định Đó cũng là một điểm yếu thường thấy của thuốc sinh học - thảo mộc mà chúng ta cần phải khắc phục
Saponozit là những heterozit thiên nhiên, chúng được phân bố trong nhiều bộ phận khác nhau của cây, có loại chỉ phân bố trong lá hoặc trong thân rễ nhưng cũng có loại lại phân bố trong quả như: bồ kết, sở, thàn mát, trẩu…Về mặt lượng, tỷ lệ saponozit thay đổi theo theo từng loài và theo các thời gian khác nhau Muốn biết rõ hàm lượng của saponozit có trong các loại hạt trên khi nào thì đạt cao nhất, việc xác
định thời gian thu hái rất quan trọng cho kế hoạch thu mua nguyên liệu để sản xuất chế phẩm trừ ốc bươu vàng hại lúa
+ Xác định hàm lượng saponozit khi quả già nhưng chưa nứt vỏ
+ Xác định hàm lượng saponozit khi quả nứt vỏ 30%
+ Xác định hàm lượng saponozit khi quả nứt vỏ >50%