1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ThS: Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

97 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thu Thủy
Người hướng dẫn TS. Phạm Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (7)
    • 1.1 Khái niệm về Công nghiệp hỗ trợ (7)
      • 1.1.1. Khái niệm (7)
      • 1.1.2. Đặc điểm của ngành Công nghiệp hỗ trợ (10)
      • 1.1.3 Các hình thức công nghiệp hỗ trợ hiện nay và các cấp hỗ trợ (13)
      • 1.1.4 Các phương thức sản xuất trong công nghiệp hỗ trợ (14)
    • 1.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới công nghiệp hỗ trợ (16)
      • 1.2.1. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ (16)
      • 1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ (19)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA NHẬT BẢN (24)
    • 2.1. Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản (24)
      • 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản (24)
      • 2.1.2 Đặc điểm chính của ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản (29)
    • 2.2. Công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản trong một số nghành công nghiệp chính (41)
      • 2.2.1 Công nghiệp hỗ trợ ô tô (42)
      • 2.2.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử (50)
      • 2.2.3 Công nghiệp hỗ trợ dệt may (56)
    • 2.3. Đánh giá về công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản (61)
      • 2.3.1. Ưu điểm (61)
      • 2.3.2. Nhược điểm (62)
    • 3.1 Từ góc độ chính phủ (67)
      • 3.1.1 Tạo chính sách pháp luật ổn định khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ (67)
      • 3.1.2 Đẩy nhanh quá trình sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (69)
      • 3.1.3 Nâng cao tầm quan trọng của doanh nghiệp FDI trong việc phát triển (71)
      • 3.1.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ, tăng cường sự kết nối giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp (72)
      • 3.1.5 Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hỗ trợ (73)
      • 3.1.6 Phát triển nguồn nhân lực (74)
      • 3.1.7 Tăng cường hợp tác, liên kết quốc tế trong phát triển CNHT (0)
    • 3.2 Từ góc độ các ngành công nghiệp (76)
      • 3.2.1 Phối hợp tốt với chính phủ để thiết lập và hoạch định chính sách công nghiệp hợp lý (77)
      • 3.2.2 Góp phần tạo lập cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ tại địa phương (77)
      • 3.2.3 Đầu tư cho công nghiệp hỗ trợ tại địa phương (77)
      • 3.2.4 Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại (78)
    • 3.3 Từ phía các doanh nghiệp (79)
      • 3.3.1 Tăng cường đầu tư vào đổi mới sản phẩm và công nghệ sản xuất, quy chuẩn hóa qui trình sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế (79)
      • 3.3.2 Cần có cơ chế quản lý sản xuất đồng bộ trong quản lý sản xuất (80)
      • 3.3.3 Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại (80)
      • 3.3.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (81)
  • KẾT LUẬN (83)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NGUYỄN THU THỦY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC[.]

TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Khái niệm về Công nghiệp hỗ trợ

Thuật ngữ CNHT xuất hiện khi xã hội có sự phân công lao động cao, với các công đoạn sản xuất chuyên môn hóa và thực hiện bởi các doanh nghiệp khác nhau Mặc dù được sử dụng rộng rãi, định nghĩa về CNHT vẫn chưa rõ ràng và đồng nhất Khái niệm này được hiểu và tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội và mục tiêu chiến lược công nghiệp của từng quốc gia, dẫn đến sự khác biệt trong cách định nghĩa giữa các nước.

Trong các văn bản cấp quốc gia hiện tại, có ba cách thể hiện chính thức định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ nhƣ sau:

Theo định nghĩa của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) trong chương trình hành động phát triển CNHT Châu Á năm 1993, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là các ngành cung cấp nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn cho các ngành công nghiệp lắp ráp như ô tô, điện và điện tử Tương tự, Phòng Năng lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 đã định nghĩa CNHT là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và quy trình cần thiết để chế tạo sản phẩm trước khi đến tay ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng Mặc dù khái niệm này rất tổng quát, Phòng Năng lượng Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào mục tiêu tiết kiệm năng lượng, do đó, CNHT theo quan điểm của họ bao gồm các ngành tiêu tốn nhiều năng lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn và đúc.

Theo định nghĩa của Văn phòng Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ Thái Lan (BSID), công nghiệp hỗ trợ (CNHT) bao gồm các ngành cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản Trong đó, các lĩnh vực cơ khí, máy móc, linh kiện ô tô, điện và điện tử được coi là những ngành CNHT quan trọng.

Hội đồng Đầu tư Thái Lan phân loại các ngành công nghiệp sản xuất thành phẩm thành ba bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện và phụ kiện, cùng với các ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Năm sản phẩm chính của ngành CNHT bao gồm gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt.

Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) có thể được hiểu từ góc độ chuỗi giá trị, bao gồm ba dạng doanh nghiệp khác nhau Các định nghĩa hiện tại chủ yếu tập trung vào ngành, nhưng việc tiếp cận từ khía cạnh doanh nghiệp sẽ mang lại cái nhìn toàn diện hơn về CNHT.

- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài (import)

- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nước ngoài ở thị trường trong nước (foreign suppliers)

Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nội địa ở Việt Nam đang phát triển trong bối cảnh công nghiệp hỗ trợ còn mới mẻ Trước đổi mới, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu mang tính tự cung tự cấp và chịu ảnh hưởng của tư duy giáo điều về độc lập tự chủ, dẫn đến việc chưa hình thành được ngành công nghiệp hỗ trợ Giai đoạn tiếp theo chứng kiến sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhưng lại thiếu chọn lọc, tạo ra nhiều cơ sở gia công và lắp ráp với nguyên liệu và linh kiện chủ yếu nhập khẩu.

Thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” lần đầu tiên được đề cập tại Việt Nam vào năm 2003 trong Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản, một văn kiện quan trọng được thủ tướng Phan Văn Khải và thủ tướng Koizumi thống nhất thực hiện Kế hoạch hành động triển khai sáng kiến này bao gồm 44 hạng mục lớn, với mục tiêu đầu tiên là phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Năm 2006, Diễn đàn phát triển Việt Nam đã định nghĩa CNHT là nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung gian như linh kiện, phụ tùng và công cụ cho ngành lắp ráp và chế biến Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào trong các văn bản pháp quy cho ngành CNHT tại Việt Nam Ngành này được hiểu là một ngành công nghiệp hỗ trợ lắp ráp sản phẩm cuối cùng thông qua việc cung cấp các bộ phận, chi tiết hoặc sản phẩm hàng hóa trung gian khác.

Khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” (CNHT) thường được hiểu là ngành công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm phụ trợ cho các ngành công nghiệp chính Các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện này được gọi là doanh nghiệp CNHT Theo định nghĩa của Diễn đàn phát triển Việt Nam năm 2006, CNHT được xem là hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến.

Hình 1.1: Ngành công nghiệp hỗ trợ, gồm linh kiện và chế biến

Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam của Kyoshiro Ichikawa, tư vấn đầu tư cao cấp từ Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp này Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ để thu hút đầu tư nước ngoài Đồng thời, báo cáo cũng chỉ ra những thách thức mà ngành công nghiệp phụ trợ đang phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với cấu trúc và khái niệm cơ bản được thể hiện rõ qua hình 1.1 CNHT cần được xem như một cơ sở công nghiệp hoạt động hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp khác.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ LINH PHỤ KIỆN ĐIỆN ỐC VÍT LÒ XO

DẬP MÁY MÓC CÁN THÉP XỬ LÝ NHIỆT ĐÚC CÁN ÉP

Nguyên liệu thô đóng vai trò quan trọng trong nhiều ngành lắp ráp, không chỉ đơn thuần là việc thu thập linh kiện sản xuất không liên quan Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) không chỉ sản xuất linh kiện mà còn hỗ trợ quá trình sản xuất các bộ phận nhựa và kim loại cho các lĩnh vực như sản xuất mô tô, ô tô, điện tử và đóng tàu.

Hình 1.2: Ngành CNHT trên cơ sở có thể cung cấp đầu vào chung cho các ngành lắp ráp

Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam của Kyoshiro Ichikawa, tư vấn đầu tư cao cấp từ Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp này Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ để thu hút đầu tư nước ngoài Đồng thời, báo cáo cũng chỉ ra những thách thức mà ngành công nghiệp phụ trợ đang phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Trong nhiều văn bản, thuật ngữ "công nghiệp phụ trợ" thường được sử dụng thay cho "CNHT" Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ này đều có nguồn gốc từ tiếng Anh là "supporting industry", nên về bản chất, chúng có ý nghĩa tương đương Do đó, trong luận văn này, chúng tôi sẽ thống nhất sử dụng thuật ngữ "Công nghiệp hỗ trợ".

1.1.2 Đặc điểm của ngành Công nghiệp hỗ trợ

1.1.2.1 Có hiệu quả tăng dần theo quy mô

Hiệu quả tăng dần theo qui mô chỉ ra rằng khi đầu vào tăng theo một tỉ lệ nhất định, đầu ra sẽ tăng với tỉ lệ cao hơn Các ngành công nghiệp hỗ trợ như tạo khuôn mẫu, gia công kim loại và ép nhựa yêu cầu vốn đầu tư lớn cho máy móc đắt tiền Đặc biệt, những máy móc này không thể chia nhỏ, nghĩa là không thể mua từng phần riêng lẻ Khi đã đầu tư lắp đặt hệ thống máy móc, doanh nghiệp sẽ tận dụng được hiệu quả sản xuất cao hơn.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

NGÀNH MÔ TÔ NGÀNH Ô TÔ

NGÀNH ĐIỆN TỬ (ÂM THANH,

TV, BÁN DẪN…) NGÀNH ĐIỆN ( GIA DỤNG)

Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới công nghiệp hỗ trợ

1.2.1 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

1.2.1.1 Giúp tăng giá trị sản xuất của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu

Mỗi sản phẩm đều mang giá trị từ một chuỗi mắt xích kết nối, tạo nên giá trị cuối cùng Ngày nay, các mắt xích này đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, với sản phẩm có thể xuất phát từ một địa phương nhưng vẫn mang giá trị toàn cầu nhờ sự hội nhập của nền kinh tế khu vực và thế giới Chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các công đoạn được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau, tối ưu hóa hiệu quả và giảm chi phí.

Trong chuỗi giá trị toàn cầu, các học giả cho rằng quy trình tạo ra giá trị gia tăng trong một ngành công nghiệp được phân chia thành ba khu vực chính.

 Khu vực thƣợng nguồn (up-stream) bao gồm các hoạt động nghiên cứu, triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận, kinh kiện

 Khu vực trung nguồn (mid-stream) là công đoạn lắp ráp gia công

 Khu vực hạ nguồn (down-stream) bao gồm hoạt động khai thác thị trường, tiếp thị và xây dựng mạng lưới lưu thông, chiến lược, thương hiệu

Giá trị tăng thêm ở khu vực thượng nguồn và hạ nguồn rất cao, trong khi khu vực trung nguồn lại tương đối thấp Theo điều tra của tổ chức Jetro tại các cơ sở lắp ráp cơ khí của nhà đầu tư Nhật Bản ở Đông Nam Á, chi phí linh kiện phụ tùng chiếm 70-90% giá thành sản phẩm, trong khi chi phí nhân công chỉ khoảng 10%.

Các quốc gia có nền công nghiệp phát triển chủ yếu tập trung vào khâu thượng nguồn và hạ nguồn Họ kiểm soát khâu thượng nguồn và phát triển mạnh khâu hạ nguồn, trong khi chuyển dịch khâu trung nguồn sang các nước đang phát triển Kết quả là, những quốc gia này nắm giữ phần lớn giá trị gia tăng của sản phẩm, trong khi các nước gia công và lắp ráp chỉ nhận được một khoản tiền công nhỏ do giá lao động thấp.

Để các nước có nền công nghiệp đang phát triển gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị toàn cầu, họ cần không chỉ tập trung vào sản xuất lắp ráp mà còn mở rộng khu vực “trung nguồn” và “hạ nguồn” Việc tiến về phía “thượng nguồn” thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ là một hướng ưu tiên quan trọng, giúp nâng cao vị thế của ngành công nghiệp quốc gia.

1.2.1.2 Thúc đẩy quá trình hiện đại hoá công nghiệp của một quốc gia

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là yếu tố then chốt để xây dựng một hệ thống sản xuất công nghiệp hiệu quả và nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong lĩnh vực này CNHT giúp doanh nghiệp không cần thực hiện toàn bộ quy trình sản xuất, từ nguyên vật liệu đến sản phẩm hoàn chỉnh, qua đó tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa, đầu tư vào máy móc và cải tiến công nghệ Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn cắt giảm chi phí sản xuất Hơn nữa, CNHT là nền tảng cho sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp nội địa như ô tô, dệt may, điện tử và đóng tàu Sự phát triển này cũng tạo ra nhiều việc làm mới và nâng cao trình độ lao động, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại và tăng cường sức cạnh tranh với các quốc gia có nguồn lao động giá rẻ.

1.2.1.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng công nghiệp xuất khẩu, giảm nhập siêu

Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu phụ thuộc vào ba yếu tố chính: chi phí, chất lượng và thời gian thực hiện đơn hàng Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong nước giúp giảm chi phí sản xuất và thời gian giao hàng cho các doanh nghiệp lắp ráp Chi phí sản xuất bao gồm nguyên vật liệu, nhân công, sản xuất và logistics, trong đó chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ lệ lớn nhất Nếu CNHT không phát triển, các công ty lắp ráp sẽ phải nhập khẩu linh kiện, dẫn đến chi phí vận chuyển và rủi ro thời gian, làm tăng giá thành sản xuất và giảm chất lượng hàng hóa Kết quả là khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu bị suy giảm.

Việc nhập khẩu linh phụ kiện làm gia tăng tỉ lệ nhập siêu cho nền kinh tế, đặc biệt ở những quốc gia có ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) kém phát triển Những quốc gia này thường phải nhập khẩu một lượng lớn linh kiện để phục vụ cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước Phát triển CNHT không chỉ cải tiến công nghệ mà còn giúp doanh nghiệp có thể mua sắm nguyên liệu ngay trong thị trường nội địa, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu.

1.2.1.4 Đón nhận chuyển giao công nghệ và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Phát triển CNHT không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp FDI mà còn cho các doanh nghiệp phụ trợ Các nhà lắp ráp FDI có thể giảm chi phí vận chuyển và lưu kho liên quan đến nhập khẩu, trong khi các nhà cung cấp nội địa có cơ hội nâng cao sản lượng sản xuất và tiếp thu công nghệ tiên tiến thông qua hợp tác với các nhà lắp ráp FDI.

Nhu cầu về sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) từ các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực gia công và lắp ráp rất lớn, với mỗi chiếc ô tô cần từ 20.000 đến 30.000 linh kiện khác nhau Ngay cả các tập đoàn lớn cũng không thể tự sản xuất tất cả các linh kiện do rủi ro cao, nên họ chỉ tập trung vào những khâu quan trọng và sử dụng linh kiện từ các doanh nghiệp vệ tinh Nếu CNHT không phát triển, các nhà cung cấp sẽ không đáp ứng được nhu cầu của các nhà lắp ráp, dẫn đến việc phải nhập khẩu linh kiện Sự yếu kém của ngành CNHT là yếu tố hạn chế sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường và làm giảm sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp FDI.

Các công ty đa quốc gia khi xem xét mở rộng đầu tư sản xuất tại một quốc gia không chỉ đánh giá nguồn nhân lực mà còn cả tình hình công nghiệp hỗ trợ (CNHT) tại đó Sự phát triển của CNHT làm cho quốc gia trở nên hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư, vì họ có thể tận dụng nguồn linh phụ kiện và đầu vào sản xuất trong nước, giảm thiểu việc nhập khẩu Điều này cho phép các MNCs xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn và giảm giá thành sản xuất trong môi trường có CNHT phát triển.

1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ

Dung lượng thị trường lớn là yếu tố quan trọng đối với ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT), vì ngành này yêu cầu lượng đặt hàng tối thiểu lớn để tham gia CNHT thường cần đầu tư vốn nhiều hơn so với ngành lắp ráp, vốn phụ thuộc vào lao động Một nhà sản xuất linh phụ kiện ô tô cho rằng, với dung lượng thị trường lớn, CNHT có thể phát triển tự nhiên ngay cả khi không có chính sách hỗ trợ CNHT có đặc điểm là hiệu quả tăng dần theo quy mô, với sản phẩm là các linh kiện, phụ tùng máy móc khó làm thủ công Khi doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm tinh xảo và phức tạp, chi phí cố định trên mỗi sản phẩm sẽ giảm khi sản xuất nhiều, giúp bù đắp chi phí đầu tư ban đầu nhanh chóng Do đó, các nhà sản xuất linh phụ kiện cần đảm bảo dung lượng thị trường đủ lớn hoặc có triển vọng lớn trong tương lai trước khi quyết định đầu tư, vì quy mô cầu lớn sẽ thúc đẩy sự phát triển của CNHT.

Trong bối cảnh thị trường nội địa hạn chế, ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) vẫn có thể phát triển thông qua việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu Các nhà cung cấp linh kiện có thể xuất khẩu trực tiếp hoặc cung cấp cho các nhà lắp ráp nội địa có khả năng xuất khẩu sản phẩm cuối cùng Để xuất khẩu linh kiện, tính cạnh tranh quốc tế của sản phẩm là yếu tố quan trọng Các linh kiện cần đạt được tính cạnh tranh về chi phí, khai thác lợi thế lao động rẻ và cần cù Ngoài ra, chi phí nguyên liệu và linh kiện phải thấp, với thuế suất bằng 0% hoặc rất thấp Sản phẩm cũng cần có kích thước nhỏ gọn và giá trị cao, cùng với hệ thống logistics hoàn thiện để giảm thiểu chi phí và thời gian vận chuyển Cuối cùng, linh kiện xuất khẩu nên có hàm lượng lao động cao và không yêu cầu quy định nghiêm ngặt về thời gian giao hàng.

1.2.2.2 Kênh thông tin dành cho công nghiệp hỗ trợ

Kênh thông tin hiệu quả giúp kết nối các nhà lắp ráp với doanh nghiệp hỗ trợ, cho phép họ nắm bắt nhu cầu, số lượng và chất lượng sản phẩm Đồng thời, doanh nghiệp lắp ráp có thể xác định các nhà cung cấp tiềm năng để hợp tác Kênh thông tin cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn cần thiết để đầu tư vào máy móc và trang thiết bị, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh Hiện nay, mạng lưới thông tin không chỉ giới hạn trong nước mà còn mở rộng ra khu vực và quốc tế.

Kênh thông tin hiệu quả giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng trong việc hoạch định chính sách cho ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Sự tham gia của các công ty chủ chốt, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI, là cần thiết để đảm bảo chính sách phù hợp với thực tiễn Nếu không có các kênh thông tin để trao đổi giữa doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách, chính sách sẽ không đạt được hiệu quả và không thúc đẩy sự phát triển của CNHT.

1.2.2.3 Tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn dành cho các sản phẩm CNHT

THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA NHẬT BẢN

Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản:

Công nghiệp hỗ trợ tại Nhật Bản đã hình thành từ lâu, đồng hành cùng quá trình công nghiệp hóa Nó đã biến đổi theo thời gian, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tác động đến môi trường kinh doanh và mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ.

Vào những năm 40-50 của thế kỷ 20, khái niệm công nghiệp hỗ trợ ở Nhật Bản chưa rõ ràng, thường được gọi là “thầu phụ” để chỉ các doanh nghiệp nhỏ hoạt động theo hợp đồng với các công ty lớn Các doanh nghiệp lớn thường có hệ thống các nhà cung cấp nhỏ hơn cung cấp nguyên vật liệu và phụ tùng cho sản xuất Mô hình công nghiệp hỗ trợ sơ khai này phản ánh sự mất cân đối về năng lực áp đặt giá giữa các công ty lớn và nhỏ, với các công ty lớn áp đặt giá cho các nhà cung cấp nhỏ Mô hình thầu phụ cơ bản này thường thấy trong các doanh nghiệp điện tử và ô tô của Nhật Bản.

Mô hình này bao gồm 4 phân tầng, với tầng trên cùng là các doanh nghiệp lớn, bao gồm những công ty lắp ráp thiết bị điện tử và ô tô, cùng với các nhà sản xuất linh phụ kiện hoàn chỉnh Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện ô tô là các công ty đa quốc gia có quy mô vốn lớn hơn cả các doanh nghiệp lắp ráp ô tô Các công ty sản xuất thiết bị điện tử lớn thường cung cấp linh kiện cho các nhà lắp ráp xe hơi, và giao dịch giữa các doanh nghiệp ở phân tầng trên cùng không được coi là hoạt động nhận thầu.

Phân tầng thứ hai bao gồm các doanh nghiệp lớn và vừa chuyên lắp ráp linh phụ kiện, cung cấp cho các doanh nghiệp ở phân tầng thứ nhất Các doanh nghiệp này có ba đặc điểm chung.

* Khả năng khác biệt hoá công nghệ không thể bị bắt chước bởi công ty khác

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc hợp tác với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là trong việc thu thập và lắp ráp linh phụ kiện từ các doanh nghiệp nhỏ hơn Nhờ khả năng quản lý chất lượng và giao hàng hiệu quả, các doanh nghiệp này giúp giảm tổng chi phí sản xuất Các doanh nghiệp lớn, như Toyota, hưởng lợi từ mối quan hệ này bằng cách tiết kiệm chi phí quản lý liên quan đến việc giám sát và hợp tác với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cụ thể, Toyota có mối quan hệ gián tiếp với hơn 30.000 doanh nghiệp và giao dịch trực tiếp với hàng trăm doanh nghiệp khác.

Các doanh nghiệp lớn có khả năng thiết kế linh kiện sản phẩm phức tạp, cung cấp cho các doanh nghiệp ở phân tầng thứ hai Những doanh nghiệp này tự thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật và trong một số trường hợp, họ hợp tác với các doanh nghiệp ở phân tầng thứ nhất để phát triển sản phẩm mới.

Hình 2.1: Mô hình công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Nguồn: ADBI Working Paper Series – SME in Japan: Surviving the long – term recession

Các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ở phân tầng thứ ba, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung vào việc sản xuất linh phụ kiện và thực hiện các quy trình sản xuất chuyên biệt.

Phân tầng thứ 4 bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ, chủ yếu là những doanh nghiệp gia đình, thực hiện các quy trình đơn giản và có quy mô hoạt động thấp.

Việc sử dụng các nhà thầu phụ của các công ty lớn nhằm giảm đầu tư vốn cố định bằng cách chuyển giao cho các nhà thầu phụ, tận dụng sự chênh lệch giá lao động giữa công ty lớn và nhỏ Điều này giúp giảm chi phí thu mua và chuyển bớt ảnh hưởng của suy thoái tạm thời cho các nhà cung cấp Tuy nhiên, áp lực từ việc này khiến các nhà cung cấp phải cắt giảm chi phí và đảm bảo chất lượng hàng hóa, trong khi họ lại mất đi khách hàng Do đó, động lực sản xuất của các nhà cung cấp thường thấp hơn so với các nhà cung cấp trong mô hình phân tầng của doanh nghiệp, bất kể mức độ phân cấp hay sự tự chủ của họ.

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lớn và nhà cung cấp tại Nhật Bản đã trở nên phức tạp hơn, với bốn đặc điểm chính Thứ nhất, quan hệ thường lâu dài và bền vững, nhưng việc đổi mới sản phẩm chỉ là cơ hội để đàm phán lại hợp đồng Thứ hai, các hợp đồng thầu phụ không có tính hệ thống và thường khác biệt tùy theo loại sản phẩm Thứ ba, mối quan hệ dựa trên nguyên tắc hợp đồng, với hợp đồng cơ bản được ký trong giai đoạn phát triển và hợp đồng chi tiết hơn khi sản phẩm vào giai đoạn sản xuất Cuối cùng, mối quan hệ này có tính chất đổi mới và hợp tác trong phân chia lợi nhuận, với các công ty lớn yêu cầu sự linh hoạt từ nhà cung cấp và thường chia sẻ lợi ích từ việc đổi mới sản phẩm.

Vào thời điểm hiện tại, thầu phụ tại Nhật Bản đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm sự phụ thuộc hoàn toàn vào nhà thầu chính, bị áp đặt các điều kiện bất lợi và chậm thanh toán, mặc dù có luật chống trì hoãn thanh toán (Luật số 102 năm 1956) Tuy nhiên, từ những năm 70-80, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, nhận thức về vai trò của các nhà thầu phụ đã thay đổi Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thầu phụ, hay công nghiệp hỗ trợ, trở thành một phần quan trọng trong hệ thống kinh tế Nhật Bản, với sự hỗ trợ tài chính và nghiên cứu phát triển từ các doanh nghiệp lớn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh Luật Cơ bản về các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã được sửa đổi căn bản vào năm 1999.

Vào những năm 80, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản gặp khó khăn khi đồng Yên tăng giá đột ngột sau Hiệp định Plaza, từ 240 Yên/USD vào tháng 9/1985 lên 160 Yên/USD vào tháng 4/1986, ảnh hưởng nghiêm trọng đến xuất khẩu Sự tăng giá này buộc các doanh nghiệp Nhật Bản phải giảm xuất khẩu và chuyển cơ sở sản xuất sang các nước có chi phí nhân công thấp hơn Tuy nhiên, các doanh nghiệp Nhật Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ Nhật Bản do thiếu nhà cung cấp tại các nước đang phát triển, bao gồm cả ASEAN 4 Do đó, Nhật Bản đã chính thức sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” trong Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985 để chỉ sự thiếu hụt ngành công nghiệp này tại các nước.

1987 và Chương trình Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ Châu Á năm 1993

Trong giai đoạn mới của công nghiệp hỗ trợ Nhật Bản, việc nhập khẩu linh kiện từ các nhà thầu Nhật Bản tại nước ngoài đã làm tăng tầm quan trọng của các nhà cung cấp ở phân tầng cao Các doanh nghiệp liên quan đến phân phối bộ phận sản xuất gốc đã chứng kiến sự chuyển mình, khi nhiều nhà thầu phụ trước đây đã trở thành doanh nghiệp độc lập, tương tự như các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) cung cấp linh kiện cho các doanh nghiệp lớn Trong khi đó, một số nhà thầu phụ nhỏ vẫn duy trì phương thức hoạt động cũ Năm 1966, khoảng 35% trong tổng số SME tự nhận là nhà thầu phụ.

Từ năm 1981, tỷ lệ thầu phụ trong các ngành công nghiệp đã cao ở mức 66%, với hơn 80% trong số đó thuộc về ngành ô tô, dệt may, điện tử và sản xuất máy móc Tuy nhiên, đến năm 1998, tỷ lệ này đã giảm đáng kể xuống còn 48%, trong đó ngành công nghiệp ô tô ghi nhận tỷ lệ thầu phụ dưới 70%.

Việc di chuyển nguồn lực đã làm tăng tầm quan trọng của mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp đầu mối, trong khi các nhà cung cấp ở phân tầng dưới lại linh hoạt và có thể thay thế Khi nhận đơn hàng lớn, chỉ những nhà cung cấp có khả năng nâng cấp công nghệ và năng suất mới có thể đáp ứng Sự phụ thuộc vào nhà cung cấp đầu mối cho linh kiện quan trọng đã khiến doanh nghiệp xem xét việc tự sản xuất các linh phụ kiện chiến lược Doanh nghiệp cùng ngành thường liên kết để tạo thành liên minh sản xuất, nhằm tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian nghiên cứu phát triển sản phẩm và giảm sự phụ thuộc vào nhà cung cấp Xu hướng này cũng được phản ánh trong thực tế kinh tế Nhật Bản những năm 1980, khi các doanh nghiệp áp dụng lý thuyết Kim cương của Michael E Porter để xây dựng các cụm công nghiệp hiệu quả Đến cuối năm 1996, Nhật Bản đã có 537 cụm công nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ lẫn nhau hoặc tập trung quanh các doanh nghiệp lớn và các trường đại học Hai mô hình cụm công nghiệp đang được áp dụng tại Nhật là mô hình konbinato và mô hình supra national, với Nhật Bản đóng vai trò then chốt trong khu vực Đông Á.

2.1.2 Đặc điểm chính của ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

2.1.2.1 Doanh nghiệp hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ nhưng có tính cạnh tranh cao

Công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản trong một số nghành công nghiệp chính

Tại Nhật Bản, ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, giúp các ngành công nghiệp chính hoạt động hiệu quả Bài viết này sẽ tập trung vào nghiên cứu công nghiệp hỗ trợ trong ba lĩnh vực chủ yếu: công nghiệp sản xuất ô tô, công nghiệp điện tử và công nghiệp dệt may.

2.2.1 Công nghiệp hỗ trợ ô tô

Ngành công nghiệp ô tô là một trong những lĩnh vực lâu đời và quan trọng nhất tại Nhật Bản, đồng thời gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất ô tô Để sản xuất một chiếc ô tô hoàn chỉnh, cần khoảng từ 20.000 đến 30.000 linh phụ kiện khác nhau Các vật liệu và phụ kiện chính trong ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất ô tô đóng vai trò thiết yếu trong quá trình này.

- Sắt tấm : dùng cho các linh kiện động cơ ví dụ nhƣ khối xi lanh

- Thép thường: gầm ô tô, khung xe, bánh xe

- Thép đặc biệt: hộp số, trục xe, tay quay, thiết bị bơm xăng

- Đồng: bảng điện, bộ tản nhiệt, cáp điện

- Chì, thiếc, kẽm: vật liệu hàn, lớp sơn ngoài thân xe, pin

- Nhôm: các linh kiện động cơ nhƣ piston , đầu xi lanh; bánh xe, khung gầm ô tô

- Kim loại quý: các linh kiện tản nhiệt

- Các vật liệu không chứa sắt khác: nhƣ nam châm

- Chất dẻo nhân tạo: bánh lái, bộ phận chống va đập, tấm tản nhiệt, các linh kiện phần thân xe

- Kính: kính cửa sổ, gương, đèn pha

- Cao su: lốp xe, các phần nối, bộ phận chống rung

- Gốm: ổ điện, các linh kiện điện tử, cảm biến, các linh kiện tản nhiệt

- Dệt may: Ghế ngồi, đai an toàn, lớp lót phía trong xe

- Cao su: Ghế ngồi, các lớp đệm làm kín

- Giấy: bộ phận lọc xăng

- Gỗ: sàn để đồ, nội thất trong xe

- Sơn: Sơn trang trí và sơn chống bám bụi

- Hóa chất: hóa chất chống đông, dầu động cơ, dầu nhớt, dầu phanh

- Dầu mỡ: dùng bôi trơn, giảm nhiệt…

- Các linh kiện máy ví dụ nhƣ bơm xăng

- Các linh kiện điện : cảm biến, ECU…

- Điều hòa không khí, lọc không khí

- Bộ khởi động, công tơ mét

- Radio, catset, đầu đọc DVD

- Các thiết bị an toàn : thiết bị chống khóa phanh, túi phanh…

Ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô bao gồm nhiều sản phẩm đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như hóa chất, điện tử và dệt may Do đó, không một nhà sản xuất ô tô nào có thể tự mình hoàn thiện một chiếc xe mà không cần sự hỗ trợ từ các ngành công nghiệp này.

Trên toàn nước Nhật, gần 40 nhà máy sản xuất linh kiện ô tô của các hãng lớn như Toyota, Daihatsu, Nissan, và Honda tập trung chủ yếu tại Aichi và Shizuoka Ngoài ra, còn nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất linh kiện ô tô khác, cung cấp cho các nhà lắp ráp trong nước và quốc tế Chẳng hạn, công ty Kitanihon Seiki Co., Ltd sản xuất 12 triệu vòng bi mỗi năm, phục vụ cho các nhà sản xuất trong nước và 35 đối tác quốc tế, chủ yếu tại Mỹ và Châu Âu Công ty Torc Seimitsu Kogyo Co., Ltd chuyên cung cấp phụ kiện chính xác với công nghệ tiên tiến, trong khi Nambu Co., Ltd là nhà sản xuất hàng đầu thế giới về các loại xylanh đặc biệt cho ô tô.

Hình 2.11: Phân bố nhà máy lắp ráp và sản xuất linh kiện ô tô Nhật Bản

Trong mười năm qua, ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô của Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu, với hệ thống doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện ô tô rộng khắp Ngành này không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ô tô trong nước mà còn xuất khẩu linh phụ kiện với giá trị lên tới hơn 3000 tỷ Yên vào năm 2008 Các thị trường nhập khẩu linh kiện ô tô từ Nhật Bản trải rộng trên nhiều châu lục, bao gồm Bắc Mỹ (Mỹ và Canada), Trung Quốc, EU, Nga, và Đông Á (Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippines), với các sản phẩm chủ yếu là động cơ và bộ phận truyền động.

Bảng 2.1: Giá trị linh kiện ô tô xuất khẩu, nhập khẩu của Nhật Bản

EXP by FOB ( đơn vị 100 triệu Yên)

% thay đổi so với năm trước

IMP theo CIF (đơn vị 100 triệu Yên)

% thay đổi so với năm trước

Giá trị nhập khẩu linh kiện ô tô của Nhật Bản đang có xu hướng tăng, với mỗi năm cao hơn năm trước, mặc dù năm 2008 có sự giảm tương đối do suy thoái kinh tế toàn cầu Xu hướng này cho thấy các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đang mở rộng hoạt động sản xuất và lắp ráp ra ngoài lãnh thổ Nhật Bản, đồng thời tăng cường xuất khẩu vào các thị trường nội địa và nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài để giảm chi phí và rút ngắn thời gian lắp ráp Hiện nay, các nhà sản xuất Nhật Bản đang mở rộng tại các thị trường như Mỹ, Châu Âu, Nam Á và Trung Quốc, thiết lập các nhà máy sản xuất linh kiện và phụ kiện bên cạnh các nhà máy lắp ráp ô tô Các chi tiết đơn giản như bánh xe và săm lốp có thể được mua từ các nhà sản xuất nội địa, trong khi các linh kiện quan trọng vẫn được nhập khẩu từ Nhật hoặc sản xuất tại các nhà máy của Nhật Bản ở nước ngoài.

Bảng 2.2: Một số nhà máy linh phụ kiện của các công ty Nhật Bản tại một vài nước trên thế giới

Nhà sản xuất Tên công ty Sản phẩm sản lượng/ năm(x1000) nhân công

ISUZU DMAX, LTD Động cơ Điezen 200 1221

West Virginia, Inc Động cơ và bộ phận truyền động 1098

Nissan Nissan North America Inc Động cơ 939

Hino Hino Motor Manufacturing U.S.A, Inc linh kiện ô tô cho Toyota 650

Honda of America Manufacturing Inc Động cơ và các linh kiện thuộc hệ thống điều khiển 1150 2800

Trung Quốc Daihatsu Faw Daihatsu Body Parts Co., Ltd thân xe (cho xe SIENA) 30 152

Tianjin FAW Toyota Engine Co., Ltd Động cơ 1863

Tianjin Fengjin Auto parts Co., Ltd Trục xe, và các chi tiết khác biệt hóa 762

Tianjin Toyota Forging Co.,Ltd Các linh kiện nén 237

Tianjin Jinfeng Auto Parts Co., Ltd thiết bị lái, bàn đạp 413

Guangqi Toyota Engine Co.,Ltd Động cơ, trục phân phối, tay quay 1157

Toyota FAW(Tianjin) Dies Co.,Ltd Stamping Dies 220

Hino Shanghai Hino Engine Co., Ltd Động cơ 20 260

Mazda Changan Ford Mazda Engine Co.,Ltd Động cơ 350 1406

Engine Manufacturing Co.,Ltd Động cơ và các bộ phận truyền động

Manufacturing Co.,Ltd Động cơ và các bộ phận truyền động Ấn Độ Suzuki Suzuki Power Train India Limited Động cơ diesel 1.3 lít và bộ phận truyền động 1420

Toyota Toyota Kiroskar Auto Parts Private

Limited Trục xe và các bộ phận truyền động 3785

Isuzu P.T.Mesin Isuzu Indonexia Động cơ diesel và các chi tiết liên quan 50 175

P.T Asian Isuzu Castin Centre các chi tiết rèn 6.6 tấn 362

Mitsubishi Krama Yudha Motor and

Manufacturing Động cơ, thân xe

Isuzu Engine Manufacturing Co.,Ltd Động cơ Diesel 180 1172

Thai International Die Making Co., Ltd Forging of press molds, press processing 689

IT Forging (Thailand) Co., Ltd Các chi tiết rèn 263

Toyota Toyota Auto Body Thailand Co.,Ltd stamped parts

Hino Hino Motors Manufacturing (thailand)

Co.,Ltd linh kiện và phụ tùng cho Toyota 1400

Mitsubishi MMTH Engine company Limited Động cơ

Yamaha International Casting Co.,Ltd Linh kiện ô tô, xe máy 882

Trung Quốc và Mỹ là hai thị trường quan trọng cho các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản trong việc nhập khẩu linh kiện Tại Mỹ, giá trị linh kiện mà các công ty Nhật Bản mua từ các nhà sản xuất nội địa đã tăng từ 28,31 tỷ USD lên 49,97 tỷ USD vào năm 2007 Tuy nhiên, vào năm 2008, giá trị nhập khẩu linh kiện từ Mỹ đã giảm mạnh do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu sản xuất ô tô và giảm nhu cầu nhập khẩu linh kiện.

Hình 2.12 : Giá trị nhập khẩu linh kiện từ Mỹ của Nhật Bản 1998 -2008

Nguồn: Japan Automobile Manufacturing Association

Trung Quốc, cùng với Mỹ, là thị trường quan trọng cho các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản nhập khẩu linh kiện Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nổi lên như một thị trường sản xuất linh kiện ô tô tiềm năng nhờ vào nguồn tài nguyên dồi dào, lực lượng lao động lớn và giá lao động thấp Các sản phẩm linh kiện ô tô của Trung Quốc có giá cả cạnh tranh, thu hút nhiều doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ô tô, bao gồm cả các công ty Nhật Bản Năm 2008, giá trị linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc vào Nhật Bản đạt khoảng 489,64 triệu đô la Mỹ, nhưng trong bốn tháng đầu năm 2009, giá trị này giảm mạnh 53,1% xuống còn 260 triệu đô la Mỹ do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế.

2.2.1.3 Mối liên hệ giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính

Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản, từ những ngày đầu cho đến nay Mô hình keiretsu truyền thống đã hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp chính và doanh nghiệp hỗ trợ, tạo ra một hệ thống sản xuất hiệu quả với chuỗi cung cấp "just-in-time delivery" Các doanh nghiệp hỗ trợ không chỉ đáp ứng kịp thời nhu cầu của các công ty lớn mà còn xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế Họ liên tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, bao gồm công nghệ tiết kiệm nguyên liệu và bảo vệ môi trường, góp phần tạo ra những sản phẩm ô tô mang thương hiệu Nhật Bản nổi tiếng toàn cầu.

Trước sự biến động của thời gian và các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh doanh, hạn chế nhập khẩu, và khủng hoảng kinh tế, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản đang thay đổi, hình thành các quan hệ mới Từ những năm 1970, các doanh nghiệp này đã chuyển dịch nguồn lực ra nước ngoài để thâm nhập thị trường, phát triển thông qua liên doanh và đầu tư trực tiếp tại nhiều khu vực như Mỹ, Canada, Trung Quốc, và Châu Âu Sự chuyển đổi này không chỉ giúp tận dụng lợi thế nhân công và tài nguyên địa phương mà còn thay đổi cách tiếp cận nguồn linh kiện Thay vì nhập khẩu hoàn toàn từ Nhật Bản, các doanh nghiệp đã áp dụng mô hình “Just-in-time delivery” và chuyển sang phương thức sản xuất linh hoạt, chỉ nhập khẩu những linh kiện quan trọng từ Nhật Bản, trong khi các linh kiện đơn giản được mua theo chiến lược “global best purchasing” Điều này giúp cắt giảm chi phí, giảm số lượng linh kiện và tăng cường sản xuất các mẫu chung, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm mới ra thị trường Từ năm 1995, thời gian đưa mẫu xe mới ra thị trường của các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản đã giảm xuống còn 30 tháng, và đến năm 2000, thời gian này đã được rút ngắn còn 15 tháng.

Công ty Toyota của Nhật Bản đã thành công trong việc áp dụng mô hình "Ô tô Nhật Bản với giá cả Trung Quốc", giúp cắt giảm chi phí sản xuất lên tới 30%.

[1] chi phí linh phụ kiện xe trong chương trình cắt giảm chi phí mang tên

Trong bối cảnh cạnh tranh với các liên minh ô tô hàng đầu như Daimler Chrysler, Toyota đã triển khai chiến lược CCC21 nhằm cắt giảm chi phí, đặc biệt là trong lĩnh vực phụ kiện Cụ thể, số lượng mẫu hệ thống điều hòa không khí của Denso cung cấp cho Toyota đã giảm từ 27 xuống còn 4, giúp tiết kiệm 28% chi phí Nhiều doanh nghiệp ô tô khác cũng áp dụng các chiến lược tương tự để giảm chi phí linh phụ kiện Các công ty Nhật Bản đang tích cực tìm kiếm nhà cung cấp ngoài các nguồn truyền thống với tiêu chí giá cả cạnh tranh, tạo cơ hội cho các nhà cung cấp nước ngoài và không thuộc keiretsu Điều này đặt ra áp lực lớn lên các doanh nghiệp hỗ trợ sản xuất ô tô Nhật Bản, buộc họ phải đổi mới dây chuyền sản xuất và tăng cường nghiên cứu phát triển để cung cấp sản phẩm công nghệ cao với giá cả hợp lý, nhằm duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng.

2.2.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử:

2.2.2.1 Sản phẩm và thị trường

Ngành công nghiệp hỗ trợ điện tử của Nhật Bản, đứng thứ hai sau ngành công nghiệp ô tô, có lịch sử phát triển lâu dài Từ năm 1991, ngành sản xuất linh kiện điện tử đã đạt giá trị hàng hóa 8,8 nghìn tỷ Yên, chiếm 37% sản lượng toàn cầu, vượt Mỹ 5%, Tây Âu 19% và các nền kinh tế mới 24% Điều này đã góp phần quan trọng giúp Nhật Bản trở thành quốc gia hàng đầu trong sản xuất và xuất khẩu điện tử Các sản phẩm chính của ngành công nghiệp này được phân loại rõ ràng.

- Active components – các linh kiện chính: dây điện, các đầu bán dẫn, và các mạch tích hợp

- Passive components – Các linh kiện phụ: tụ điện, điện trở, cảm điện

- Các linh kiện điện tử khác: các linh kiện cơ khí (mechanical part), các linh kiện nghe nhìn (audio part)

Các công ty sản xuất linh kiện điện tử Nhật Bản, mặc dù nhỏ bé, đã khẳng định vị thế độc tôn trong nhiều lĩnh vực nhờ vào đầu tư nghiên cứu và phát triển cùng công nghệ hiện đại Chẳng hạn, Nidec sản xuất gần 75% mô tơ ổ đĩa cứng máy tính, trong khi TEL cung cấp 80% vật liệu khắc axit cho màn hình LCD Shin-Etsu chiếm 50% thị phần chất tạo nền ảnh, bên cạnh các nhà sản xuất khác như Covalent, NSG, AGC và Tosoh Murata, nổi bật với sản xuất tụ điện cho điện thoại di động và máy tính cá nhân, chiếm 40% thị trường toàn cầu Mặc dù mỗi tụ điện chỉ có giá khoảng 20 xu, nhưng mỗi điện thoại cần 100 hạt và mỗi máy tính cá nhân cần 1000 hạt, cho thấy lợi nhuận của Murata có thể tương đương với 50% tổng giá trị của một ngân hàng đầu tư Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của các chi tiết nhỏ trong quy trình sản xuất hàng loạt và vai trò của các doanh nghiệp hỗ trợ ngành điện tử đối với nền kinh tế Nhật Bản.

Hình 2.13: Giá trị sản xuất phụ kiện và thiết bị điện tử năm 2008 – 09/2009 của Nhật Bản

Nguồn: Japan Electronic and Information Technology Industries Association

Giá trị sản xuất phụ kiện và linh kiện điện tử của Nhật Bản trong giai đoạn cuối năm 2008 và đầu năm 2009 có xu hướng giảm, với mức sản xuất tháng 09/2009 chỉ đạt 76% so với tháng 09/2008 Sự suy giảm này phản ánh những khó khăn mà các doanh nghiệp hỗ trợ điện tử Nhật Bản phải đối mặt do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ cuối năm 2007 Ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản gặp áp lực cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp ở nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc và Hàn Quốc, nhờ vào giá thành thấp hơn Để đối phó với tình hình này, các doanh nghiệp hỗ trợ Nhật Bản đang chuyển hướng tập trung vào nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghệ cao như công nghệ LCD và mạch tích hợp.

Đánh giá về công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản

Khi nhận định về công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản, người ta có thể nhận thấy có một số ƣu điểm nổi bật

Nhật Bản đã xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ đồng bộ và hiệu quả, nhận thức rõ vai trò quan trọng của nó trong quá trình công nghiệp hóa Chính phủ Nhật Bản đã triển khai các chính sách pháp luật, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật một cách nhất quán và linh hoạt, từ đó phát triển một nền công nghiệp hỗ trợ vững chắc, tạo đà cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chính.

Công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản dựa trên công nghệ tiên tiến và hoạt động nghiên cứu phát triển liên tục Đây là yếu tố không thể tách rời trong hoạt động của các doanh nghiệp hỗ trợ, giúp Nhật Bản dẫn đầu trong lĩnh vực này Nhờ đầu tư đúng mức cho nghiên cứu và phát triển, các doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất sản phẩm trên dây chuyền hiện đại, đáp ứng yêu cầu cao về độ chính xác và tinh tế, từ đó nâng cao giá trị thị trường của sản phẩm.

Yếu tố con người, bao gồm cả quản lý và nhân công, được coi trọng trong các doanh nghiệp Nhật Bản Chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng quyết định giá trị sản phẩm và ảnh hưởng đến quá trình đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất.

Mặc dù ngành công nghiệp hỗ trợ tại Nhật Bản đã phát triển, nhưng vẫn còn một số vấn đề cần được cải thiện.

Trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô rất nhỏ với chỉ 5-10 lao động, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như giá xăng dầu tăng, sự biến động của đồng Yên, và khủng hoảng kinh tế toàn cầu Những yếu tố này tạo ra áp lực lớn lên hoạt động kinh doanh, khiến việc tiếp cận nguồn vốn để đổi mới sản xuất trở nên khó khăn Sự cạnh tranh từ các nền kinh tế mới nổi với sản phẩm chất lượng và giá cả cạnh tranh cũng làm gia tăng thách thức cho các doanh nghiệp nhỏ Kết quả là, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Nhật Bản phá sản đã gia tăng trong những năm gần đây, và mối quan hệ giữa doanh nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp chính cũng đang thay đổi do tác động của toàn cầu hóa, với nhiều doanh nghiệp hỗ trợ phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm của mình.

Con người đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của ngành công nghiệp hỗ trợ Nhật Bản, nhưng cũng chính họ đang tạo ra những rào cản cho sự phát triển của ngành này Cơ cấu dân số đang xấu đi với sự gia tăng của người già, dẫn đến việc lực lượng lao động có tay nghề trong các doanh nghiệp hỗ trợ cũng đang già đi Đồng thời, số lượng lao động trẻ tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ giảm do thanh niên hiện nay có xu hướng chọn các lĩnh vực mới như du lịch và dịch vụ Nhiều bạn trẻ không muốn tiếp tục sự nghiệp gia đình trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ mà thay vào đó tìm kiếm công việc tại các công ty lớn với thu nhập cao và ổn định Điều này sẽ ngày càng gây khó khăn cho việc duy trì và phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản trong tương lai.

Ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế và công nghiệp nước này, mặc dù vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục Thành tựu của ngành này đến từ sự kết hợp của nhiều yếu tố như môi trường chính sách, sự hỗ trợ của chính phủ, hoạt động nghiên cứu và phát triển, đầu tư vào máy móc thiết bị, và yếu tố con người Những kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản là bài học quý giá cho Việt Nam trong việc xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ vững chắc.

CHƯƠNG III: PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT

NAM TỪ KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

Công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam vẫn còn mới mẻ và yếu kém, mặc dù đã thu hút sự quan tâm từ doanh nghiệp và nhà đầu tư Theo Hội thảo quốc gia về “Chương trình hành động phát triển công nghiệp hỗ trợ” năm 2008, nhiều ngành công nghiệp lớn vẫn phải nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất Ngành dệt may, mặc dù mang về hàng tỷ đô la từ xuất khẩu, nhưng phần lớn ngoại tệ lại được sử dụng để nhập khẩu nguyên liệu và phụ kiện cho sản xuất.

Sau hơn hai mươi năm phát triển công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam vẫn yếu kém, không đủ khả năng sản xuất những sản phẩm cơ bản như ốc vít Câu chuyện này được minh chứng qua trải nghiệm của công ty Fujitsu vào năm 2003, khi họ không thể tìm được một nhà cung cấp trong nước cho sản phẩm này Mặc dù đã có nhiều nỗ lực bàn bạc và tìm giải pháp trong suốt hơn một thập kỷ, tình hình vẫn chưa có tiến triển đáng kể Đại sứ Nhật Bản Mitsuo Sakaba, khi nhậm chức vào đầu năm 2008, đã bày tỏ sự "sốc mạnh" trước thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ, cho rằng tỷ lệ cung ứng hàng hóa cho các doanh nghiệp Nhật Bản còn rất thấp và phần lớn linh kiện phải nhập khẩu Ông nhấn mạnh rằng còn rất nhiều việc cần làm để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Sự cần thiết phải phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam là rất quan trọng để tạo nền tảng cho sự phát triển của nền công nghiệp và kinh tế trong tương lai Chủ đề này đang được thảo luận sôi nổi trong các hội thảo từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia Một trong những giải pháp hiệu quả là học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã thành công trong lĩnh vực này, với Nhật Bản là một ví dụ điển hình mà Việt Nam có thể rút ra những bài học quý giá.

* Định hướng cho sự phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam đến 2020

Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam, do đó cần xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và bối cảnh toàn cầu Việt Nam nên tham gia tích cực vào mạng lưới sản xuất khu vực, trở thành mắt xích chủ chốt, thay vì tự sản xuất độc lập Chất lượng mạng lưới sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của Việt Nam, với các nước láng giềng vừa là đối tác sản xuất, vừa là đối thủ cạnh tranh Việt Nam cần chuyển mình từ sản xuất lắp ráp đơn giản sang một đối tác không thể thay thế trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Để đạt được điều này, cần có Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, phát triển có chọn lọc dựa trên tiềm năng và lợi thế so sánh, gắn với mục tiêu nội địa hóa sản phẩm công nghiệp chủ lực và tham gia vào dây chuyền sản xuất quốc tế của các tập đoàn đa quốc gia.

Cụ thể, Quy hoạch phát triển CNHT giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định rõ định hướng phát triển CNHT của Chính phủ như sau:

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững cho các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đến năm 2020.

Thứ hai, phát triển CNHT trong xu thế hội nhập phải gắn với phân công hợp tác quốc tế và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) tại Việt Nam cần dựa trên tiềm năng và lợi thế so sánh của đất nước, kết hợp với công nghệ tiên tiến có tính cạnh tranh quốc tế Mục tiêu là nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm công nghiệp xuất khẩu và trở thành một phần trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) với nhu cầu lớn và công nghệ không cao là cần thiết cho Việt Nam, đặc biệt là trong sản xuất bao bì, nhãn mác và linh kiện nhựa, kim khí Mặc dù có hoài nghi về giá trị của công nghệ thấp, nhưng việc phát triển các ngành này thực sự nâng cao năng lực công nghiệp Công nghệ trong CNHT có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác, như điện tử, ô tô và máy công nghiệp Sản phẩm cuối cùng có thể thay đổi nhanh chóng, nhưng linh kiện nhựa và kim khí vẫn luôn cần thiết Hơn nữa, sản xuất linh kiện này không hoàn toàn là công nghệ thấp; nó đòi hỏi tay nghề cao và công nghệ sản xuất tương đối phức tạp Một khiếm khuyết nhỏ có thể ảnh hưởng đến tính năng của sản phẩm, do đó, tay nghề trong sản xuất và bảo trì công cụ cũng rất quan trọng để giảm chi phí và rút ngắn thời gian thực hiện đơn hàng Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước phát triển khác hiện có năng lực cao trong lĩnh vực này.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cần tập trung vào việc tối đa hóa năng lực đầu tư từ các thành phần kinh tế, đặc biệt là các công ty và tập đoàn đa quốc gia Điều này bao gồm đầu tư chiều sâu và đổi mới công nghệ hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất cho các cơ sở sản xuất nguyên, phụ liệu có nhu cầu lớn và trình độ công nghệ phức tạp Các doanh nghiệp này chủ yếu sản xuất phụ tùng, bộ phận và linh kiện phức tạp cho ngành công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử dân dụng, vải sợi cao cấp và các phụ liệu cho ngành may mặc, giày dép Đồng thời, cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư vào các ngành CNHT có tiềm năng lớn và yêu cầu đầu tư cao.

Từ góc độ chính phủ

3.1.1 Tạo chính sách pháp luật ổn định khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ

Sự thay đổi không thể dự báo trong chính sách của Việt Nam đã trở thành một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này cản trở đáng kể quá trình đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam Sự bất ổn trong chính sách thường thể hiện qua ba dạng cơ bản.

- Thiếu sự trao đổi với các doanh nghiệp

- Mục đích của chính sách mơ hồ

- Việc thực hiện diễn ra bất ngờ

Chính phủ đã gặp nhiều chỉ trích khi áp dụng hạn ngạch nhập khẩu linh kiện xe máy năm 2003, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà lắp ráp và cung cấp linh phụ kiện tại Việt Nam Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô đã tạo ra sự lộn xộn và làm nản lòng các nhà đầu tư Quyết định cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng từ ngày 01.05.2006, nhằm phục vụ cho việc gia nhập WTO, không thuyết phục được các nhà sản xuất và lắp ráp ô tô, dẫn đến nhiều dây chuyền sản xuất bị ngừng hoạt động Để cải thiện tình hình và tạo sự ổn định trong khung pháp lý về công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản trong việc xây dựng chính sách công nghiệp hỗ trợ.

Xây dựng tầm nhìn dài hạn với định hướng chung là cần thiết để chính phủ và các ban liên quan phát triển các chương trình hành động cụ thể, linh hoạt điều chỉnh theo tình hình thực tế nhưng vẫn giữ vững tầm nhìn đã định Việt Nam đã có tầm nhìn dài hạn cho hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào năm 2020, nhưng cần sớm xây dựng lộ trình cụ thể cho quá trình này Đối với công nghiệp hỗ trợ, mặc dù đã có định hướng phát triển đến 2010 và tầm nhìn đến 2020, nội dung vẫn còn sơ sài và chưa rõ ràng về cách thức thúc đẩy các ngành công nghiệp như ô tô, xe máy, điện tử, dệt may Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, để cạnh tranh và tồn tại, chính phủ cần xác định rõ các mục tiêu khả thi và triển khai kế hoạch hành động phù hợp mà không vi phạm các cam kết quốc tế.

+ Cải tiến quy trình tổ chức hoạch định chính sách:

Việc thiết kế và thực hiện chiến lược cần sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và phối hợp liên bộ để đảm bảo hiệu quả Chính sách cần có sự góp ý từ các nhà tài trợ để tăng tính thực tiễn Tại Việt Nam, quy trình ra quyết định thường do một ban của Chính phủ thực hiện, trong khi ở Nhật, các công ty chủ động đưa ra quyết định và Chính phủ chỉ hỗ trợ các dịch vụ bổ trợ Hơn nữa, cần tăng cường hợp tác liên bộ trong ngành công nghiệp hỗ trợ để tránh tình trạng chồng chéo và quan liêu hiện nay.

3.1.2 Đẩy nhanh quá trình sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước:

Tính đến cuối năm 2008, Việt Nam đã sắp xếp 5.414 trong tổng số khoảng 6.200 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó có 3.836 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, chiếm 70,8% tổng số doanh nghiệp đã sắp xếp Theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, giai đoạn 2007-2010, cả nước cần sắp xếp 1.553 DNNN, với 950 doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa Đến cuối năm 2008, cả nước còn 1.192 DNNN, và mục tiêu của Chính phủ là chỉ giữ lại 700-800 DNNN sau năm 2010.

Trong năm 2007, chỉ có 271 trong số 550 doanh nghiệp được sắp xếp theo kế hoạch, trong đó có 116 doanh nghiệp cổ phần hóa (CPH) Năm 2008, con số này giảm xuống còn 119 doanh nghiệp, với 74/262 doanh nghiệp đạt kế hoạch CPH Điều này cho thấy cổ phần hóa doanh nghiệp vẫn là thách thức lớn đối với chính phủ trong những năm tới Các doanh nghiệp nhà nước, hoạt động lâu năm dưới sự bảo hộ, thường gặp khó khăn trong việc thích ứng với thị trường, với nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Để nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm gánh nặng cho chính phủ, cần tiếp tục cổ phần hóa theo hướng phát triển các doanh nghiệp lớn thành tập đoàn, giải thể các doanh nghiệp kém hiệu quả, và sắp xếp lại các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lãi để hỗ trợ cho các ngành nghề liên quan.

- Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các ngành công nghiệp hỗ trợ

Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp hỗ trợ Để thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, chính phủ cần chú trọng phát triển các doanh nghiệp SME, đồng thời áp dụng chính sách ưu tiên cho cả doanh nghiệp mới và doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này Các doanh nghiệp SME tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ được ưu tiên trong việc xét duyệt hồ sơ, hưởng ưu đãi giảm thuế và lãi suất tín dụng ngân hàng.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 460.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có khoảng 10.000 doanh nghiệp FDI, đóng góp trên 40% GDP và thu hút hơn 50% lực lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp Để thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp này, đặc biệt trong ngành công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam đã ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP về chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghị định này đưa ra các quy định về trợ giúp tài chính, mặt bằng sản xuất, đổi mới công nghệ và xúc tiến mở rộng thị trường Đến nay, 11 địa phương đã thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, với tổng số tiền bảo lãnh lên tới 6.686 tỷ đồng Chính phủ Việt Nam đang tích cực thực hiện các quy định về ưu đãi lãi suất và thuế, cho thấy sự quan tâm đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong ngành công nghiệp hỗ trợ Để nâng cao vai trò của các SME trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, cần đẩy nhanh việc áp dụng Nghị định 56 vào thực tiễn.

3.1.3 Nâng cao tầm quan trọng của doanh nghiệp FDI trong việc phát triển

Khi nguồn vốn trong nước còn hạn chế, nguồn vốn đầu tư nước ngoài trở nên rất quan trọng cho sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam Để khắc phục tình trạng thiếu vốn, Việt Nam cần tận dụng nguồn vốn từ nước ngoài Việc thu hút các nhà đầu tư FDI không chỉ giúp gia tăng vốn mà còn mang lại công nghệ và khả năng quản lý tiên tiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ Sự chuyển giao công nghệ có ba loại.

Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp (intra-firm transfer) đề cập đến quá trình chuyển giao giữa công ty đa quốc gia (MNC) và các công ty con của họ tại nước ngoài, cụ thể là các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

* Chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước hoạt động trong cùng ngành

Chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp (vertical inter-firm transfer) là quá trình trong đó doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh cho các doanh nghiệp địa phương, đặc biệt là trong sản xuất sản phẩm trung gian như phụ tùng và linh kiện xe máy Điều này cũng bao gồm việc các doanh nghiệp trong nước sử dụng sản phẩm từ doanh nghiệp FDI, chẳng hạn như nguyên liệu nhựa, để sản xuất các sản phẩm cuối cùng như đồ dùng trong nhà.

Công nghệ chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước tạo ra hiệu quả lan toả lớn, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển Việt Nam cần thúc đẩy các chính sách nhằm tăng cường hiệu quả này, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp FDI thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ và khuyến khích việc áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước.

Việt Nam cần thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ thông qua việc kết nối giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Ban đầu, các chi tiết phức tạp sẽ được giao cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sau đó chuyển giao cho doanh nghiệp nội địa Các chi tiết dễ gia công sẽ do doanh nghiệp trong nước đảm nhận, giúp họ phát huy hiệu quả và tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài Việt Nam cần xác định rõ các chi tiết và công nghệ cần thu hút đầu tư, lập dự án và tích cực kêu gọi đầu tư từ các doanh nghiệp FDI, cũng như xây dựng khu công nghiệp dành riêng cho ngành công nghiệp phụ trợ Cần hoạch định chiến lược thu hút các nhà cung cấp linh kiện FDI từ những lĩnh vực và khu vực cụ thể, đồng thời xây dựng các khu công nghiệp với thiết kế đặc biệt để thu hút các nhà cung cấp này Cuối cùng, cần xúc tiến các hoạt động tiếp thị FDI dựa trên chiến lược đã chuẩn bị và các địa điểm cần thu hút đầu tư.

3.1.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ, tăng cường sự kết nối giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp

Nhu cầu về cơ sở dữ liệu trong ngành công nghiệp hỗ trợ đang gia tăng, gắn liền với sự phát triển của quản lý chuỗi cung cấp Các tập đoàn lớn Nhật Bản, như Toyota, đã áp dụng chuỗi cung cấp nhằm tăng cường nội địa hóa linh kiện, từ đó giảm chi phí logistics và sản xuất Tỷ lệ nội địa hóa trung bình của Nhật tại ASEAN 4 đã tăng từ 41.9% năm 1998 lên 51.8% năm 2003 Tại Việt Nam, xu hướng này cũng đang nổi lên, khi các nhà đầu tư không chỉ tìm kiếm lợi ích từ giá lao động rẻ mà còn nỗ lực tăng cường thu mua nguyên phụ liệu từ doanh nghiệp nội địa để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Các nhà lắp ráp hiện đang gặp khó khăn trong việc tăng cường tỷ lệ nội địa hóa do việc tìm kiếm nhà cung cấp trong nước không dễ dàng Cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn quá sơ sài, khiến doanh nghiệp Nhật Bản phải gặp gỡ hàng trăm công ty mới tìm được đối tác phù hợp, gây tốn kém thời gian và chi phí Thiếu thông tin đã cản trở hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp, buộc nhiều công ty Nhật phải dựa vào danh bạ điện thoại và mối quan hệ cá nhân để tìm kiếm đối tác Do đó, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ là rất cần thiết để giảm chi phí tìm kiếm nhà cung cấp tiềm năng.

Từ góc độ các ngành công nghiệp

Để phát triển công nghiệp hỗ trợ, kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy sự thành công của ngành này không chỉ phụ thuộc vào vai trò của chính phủ mà còn vào sự đóng góp quan trọng của các ngành công nghiệp cụ thể Để thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ trong tương lai, các bộ, ban, ngành của Việt Nam, đặc biệt là Bộ Công thương, cần thực hiện những hành động thiết thực.

3.2.1 Phối hợp tốt với chính phủ để thiết lập và hoạch định chính sách công nghiệp hợp lý

Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển công nghệ dài hạn, nhưng cần phối hợp chặt chẽ với các ban ngành địa phương để xây dựng các chương trình hành động cụ thể cho từng ngành Các ngành cụ thể cần tham mưu cho chính phủ trong quyết định về công nghiệp hỗ trợ, đồng thời tổ chức các chuyến thăm doanh nghiệp để lắng nghe và hiểu rõ những vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải Qua đó, phản hồi từ doanh nghiệp sẽ giúp chính phủ điều chỉnh kịp thời các chính sách và quy định, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế.

3.2.2 Góp phần tạo lập cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ tại địa phương

Phần lớn các cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ tại Nhật Bản được xây dựng bởi các chính quyền địa phương, như cơ sở dữ liệu Okaya Tại một số thành phố lớn ở Việt Nam, các phòng Thương mại và Công nghiệp đang tích cực thúc đẩy thương mại và đầu tư Trong tương lai, các cơ quan và tổ chức địa phương cần phát triển cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ để giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin đầy đủ và cập nhật, đồng thời nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần cải thiện tình hình kinh tế và xã hội tại địa phương.

3.2.3 Đầu tư cho công nghiệp hỗ trợ tại địa phương

Chính phủ đang thực hiện chính sách đầu tư có định hướng, vì vậy các cơ quan ban ngành địa phương cần có hành động cụ thể để thúc đẩy đầu tư cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việc đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng đường xá, cung cấp điện, nước, và mặt bằng khu công nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hoạt động hiệu quả hơn.

Tại một số địa phương, nếu chưa đủ điều kiện tự đầu tư, các ngành có thể kêu gọi đầu tư từ doanh nghiệp thông qua các ưu đãi như miễn thuế thuê đất trong 5-10 năm cho các doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hoặc giảm thuế thu nhập trong 10 năm cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với công nghệ tiên tiến Sự hỗ trợ tích cực từ chính quyền địa phương sẽ khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào phát triển công nghiệp hỗ trợ.

3.2.4 Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại

Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy xúc tiến thương mại đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp hỗ trợ Hoạt động này không chỉ diễn ra thường xuyên tại các doanh nghiệp hỗ trợ Nhật Bản mà còn là một phần quan trọng trong chiến lược của MITI Nhận thức được tầm quan trọng của xúc tiến thương mại, Cục xúc tiến thương mại Bộ Công thương Việt Nam đã hợp tác với Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) để tổ chức ba triển lãm công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Nhật Bản đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao tỷ lệ nội địa hóa Điều này giúp họ tìm kiếm nhà cung cấp sản phẩm và bán thành phẩm đáng tin cậy, chất lượng cao với giá cả hợp lý.

Triển lãm không chỉ tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI Nhật Bản và doanh nghiệp Việt Nam, mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh cho khu vực Đồng thời, sự kiện này khuyến khích các công ty FDI tích cực sử dụng sản phẩm hỗ trợ do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất.

Trong thời gian tới, các ngành công nghiệp chủ chốt như cơ khí, đóng tàu, dệt may, sản xuất ô tô, xe máy, và điện – điện tử cần chủ động tăng cường giao lưu và học hỏi từ các tổ chức quốc tế Việc thường xuyên tổ chức hội chợ và đưa doanh nghiệp tham gia các sự kiện quốc tế về linh phụ kiện và thương mại sẽ giúp giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại.

Từ phía các doanh nghiệp

Dựa trên kinh nghiệm từ Nhật Bản, doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc phát triển công nghiệp hỗ trợ Để đạt được thành công, các doanh nghiệp cần thực hiện đồng bộ một số biện pháp quan trọng.

3.3.1 Tăng cường đầu tư vào đổi mới sản phẩm và công nghệ sản xuất, quy chuẩn hóa qui trình sản xuất đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế

Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, việc dựa vào chi phí nhân công thấp không còn là yếu tố cạnh tranh hiệu quả Doanh nghiệp cần nhận thức rằng đổi mới sản phẩm và công nghệ sản xuất là yếu tố sống còn Nhật Bản là một ví dụ điển hình với tốc độ đổi mới công nghệ và sản phẩm nhanh chóng, hiệu quả Các doanh nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên, hiện tại, rất ít doanh nghiệp Việt Nam có bộ phận nghiên cứu và phát triển, dẫn đến sản phẩm ít đổi mới và chất lượng không ổn định Ông Sachio Kagayama từ công ty Cannon Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng linh phụ kiện không đồng nhất qua các lần sản xuất, cho thấy thách thức trong việc duy trì chất lượng sản phẩm.

Ông Yuichi Bamba, Đại diện Văn phòng JETRO tại Hà Nội, nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần áp dụng mô hình sản xuất tích hợp để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tập trung vào sản phẩm chất lượng cao thay vì sản xuất đại trà như Trung Quốc Để đạt được điều này, việc tổ chức quản lý sản xuất theo tiêu chuẩn 5S là rất quan trọng, bao gồm các bước Chỉnh lý, Chỉnh đốn, Đánh sạch, Sạch sẽ và Giáo dục Mặc dù 5S đã được áp dụng tại Việt Nam, nhưng việc thực hiện còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng nhà máy bẩn và dụng cụ không được sắp xếp hợp lý Hơn nữa, việc bảo trì máy móc thiết bị chưa được chú trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác trong sản xuất các sản phẩm công nghệ cao.

3.3.2 Cần có cơ chế quản lý sản xuất đồng bộ trong quản lý sản xuất

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang thiếu cơ chế đồng bộ trong quản lý sản xuất, bao gồm quản lý chất lượng và quy trình sản xuất Nguyên nhân có thể do Việt Nam phát triển từ xuất phát điểm thấp, dẫn đến kiến thức về kỹ năng quản lý sản xuất còn hạn chế Nhiều người quản lý chỉ nắm vững các khái niệm mà chưa biết cách triển khai và áp dụng Việc không thể thực hiện đồng bộ các khâu quản lý sản xuất đang cản trở sự nâng cao năng suất và chất lượng.

3.3.3 Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại

Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện tại Việt Nam hiện nay chỉ tập trung vào sản xuất mà không chú trọng đến thương mại và quảng bá sản phẩm, dẫn đến việc phó mặc cho nhu cầu thị trường Để cải thiện tình hình, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại bằng cách xây dựng website giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm, tham gia hội chợ trong nước và quốc tế, tìm kiếm đối tác qua thư mời và quảng cáo trực tiếp, cũng như tham gia các hiệp hội ngành nghề để tăng cường cơ hội quảng bá và tiếp cận thông tin về khách hàng tiềm năng.

3.3.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Nhân lực là yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp hỗ trợ và hiện đang cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp này tại Việt Nam Để tối ưu hóa tiềm năng nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp phù hợp.

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ, doanh nghiệp cần đa dạng hóa các hình thức và phương thức tuyển dụng lao động Tùy thuộc vào tình hình sản xuất, doanh nghiệp có thể lựa chọn tuyển dụng lao động làm việc toàn thời gian, bán thời gian, hoặc theo hợp đồng ngắn hạn và dài hạn Các kênh tuyển dụng cũng cần linh hoạt, bao gồm tổ chức tuyển dụng trực tiếp, quảng cáo trên các tạp chí chuyên ngành như Báo Lao Động và Hà Nội Mới, sử dụng các website tìm kiếm việc làm như VietnamWork, hoặc hợp tác với các công ty chuyên săn tìm nhân tài để thu hút người có năng lực từ các doanh nghiệp khác.

Nâng cao kỹ năng và trình độ nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp Đối với cán bộ quản lý, doanh nghiệp có thể tổ chức đào tạo nâng cao trình độ trong nước hoặc tham gia các chương trình hợp tác với chính phủ để gửi cán bộ đi học ở nước ngoài, với mức hỗ trợ lên đến 50% chi phí đào tạo Đối với người lao động, việc tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, đào tạo thực tế và các hội thi tay nghề, cùng với chính sách khen thưởng cho công nhân có trình độ, sẽ giúp nâng cao tay nghề và duy trì sự gắn bó lâu dài của họ với doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp cần thực hiện các chương trình liên kết với cơ sở đào tạo để chuẩn bị lực lượng lao động kế cận Việc tổ chức các chương trình hướng nghiệp tại các cơ sở đào tạo giúp học sinh, sinh viên có cái nhìn rõ ràng hơn về tương lai nghề nghiệp Thông qua các chương trình này, doanh nghiệp có cơ hội tuyển dụng lao động được đào tạo phù hợp với nhu cầu công việc, đồng thời giảm thiểu chi phí tuyển dụng qua các công ty môi giới trung gian.

Các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ được đề xuất cho chính phủ, các bộ ngành và doanh nghiệp dựa trên kinh nghiệm thực tế của Nhật Bản có mối quan hệ tương hỗ và bổ sung cho nhau Việc thực hiện các giải pháp này cần được tiến hành đồng bộ ở từng cấp độ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên để đạt được kết quả tốt nhất.

Ngày đăng: 20/06/2023, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A "China Price" For Toyota - http://www.businessweek.com/magazine/content/05_08/b3921062.htm 2. ADBI Working Paper Series – SME in Japan: Surviving the long – termrecession Sách, tạp chí
Tiêu đề: SME in Japan: Surviving the long – term recession
Nhà XB: ADBI Working Paper Series
4. Bài trình bày của Naohiko Yokoshima về Support program for SME IP activity in Japan trong diễn đàn của WIPO về Sở hữu trí tuệ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 13.09.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Support program for SME IP activity in Japan
Tác giả: Naohiko Yokoshima
Nhà XB: WIPO
Năm: 2007
5. Bài phát biểu của Osamu Tsukahara – JASME trong hội nghị Quốc tế lần thứ 4 về Regional Finance in Recent Period and the way forward ngày18.01.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của Osamu Tsukahara
Tác giả: Osamu Tsukahara
Nhà XB: JASME
Năm: 2008
6. Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt nam - KYOSHIRO ICHIKAWA (Tƣ vấn Đầu tƣ Cao cấp,Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt nam
Tác giả: KYOSHIRO ICHIKAWA
Nhà XB: Tƣ vấn Đầu tƣ Cao cấp
7. China`s Auto-parts Industry Rebounds at Home Despite Lower Exports - 2 0 0 9 / 1 0 / 0 8 -http://www.cens.com/cens/html/en/news/news_inner_29701.html 8. Công nghiệp IC Nhật Bản tái cấu trúc và tổ chức - 03.02.2009 -http://smt.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China's Auto-parts Industry Rebounds at Home Despite Lower Exports
Tác giả: CENS
Nhà XB: CENS.com
Năm: 2009
13. Fukunari Kimura - Subcontracting and the Performance of Small and Medium Firms in Japan –Page 2 Structural tranformation , Flying – Gesse stype and Industrial Cluster: Theoretical Sách, tạp chí
Tiêu đề: Subcontracting and the Performance of Small and Medium Firms in Japan
Tác giả: Fukunari Kimura
14. Japan Electronic Industry - http://www.wtec.org/loyola/ep/c1s3.htm 15. Japan Electronic and Information Technology Industries Association 16. Japan Chemical Fiber Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan Electronic Industry
Tác giả: Japan Electronic and Information Technology Industries Association, Japan Chemical Fiber Association
17. Kỷ yếu hội thảo “ Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Kinh nghiệm của Nhật Bản và một số nước Châu Á” – Trường đại học Ngoại Thương – VJCC tháng 10.09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Kinh nghiệm của Nhật Bản và một số nước Châu Á
18. Kỷ yếu hội nghị “Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong ngành công nghiệp hỗ trợ và sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” – Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam + các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản – ngày 20.01.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị “Hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trong ngành công nghiệp hỗ trợ và sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Tác giả: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản
Năm: 2010
19. Ngành công nghệ Nhật Bản còn giữ đƣợc ngôi bá chủ? – 21/12/2009 - http://www.infotv.vn/xuat-nhap-khau/tin-tuc/34162-xuat-khau-may-tinh-va-dien-tu-dat-at-kim-ngach-2185-trieu-usd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành công nghệ Nhật Bản còn giữ đƣợc ngôi bá chủ
Năm: 2009
20. ThS. Vũ Ngọc Anh – Khái niệm Công nghiệp phụ trợ - http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=5153&cap=4&id=5161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm Công nghiệp phụ trợ
Tác giả: ThS. Vũ Ngọc Anh
21. Terutomo Ozawa - Implications of Japan Postwar’s Experience -2003 22. World Bank Institute 2001 - The Advantages of Outsourcing in term ofInformation Management – November 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implications of Japan Postwar’s Experience
Tác giả: Terutomo Ozawa
Nhà XB: World Bank Institute
Năm: 2003
24. Yasuo Uchihara - New Age for Japan Manufacturing SME: from keiretsu to Gobal chain value Sách, tạp chí
Tiêu đề: New Age for Japan Manufacturing SME: from keiretsu to Gobal chain value
Tác giả: Yasuo Uchihara
9. Cong_nghiep_ho_tro_cua_viet_nam_yeu_kem_va_so_khai-3-121168.html - http://www.tin247.com/ Link
11. Eo-Uot-Cong-Nghiep-Phu-Tro.html - http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Kinh-Te/ Link
10. Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) - Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam – Tập 1- 2007 Khác
1600653313/khai_mac_trien_lam_cong_nghiep_ho_tro_viet_nam_nhat_ban.html Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w