Quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Quân Đội (i) BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI NGUYỄN THỊ MINH HẰNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI LUẬN V[.]
Khái niệm về lãi suất
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về lãi suất:
Khi vay tín dụng, người vay không chỉ trả lại vốn gốc mà còn phải trả thêm một khoản lãi suất, phản ánh giá trị thời gian của tiền tệ và bù đắp chi phí cơ hội Lãi suất được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với số vốn gốc vay ban đầu.
Theo C Mác, lãi suất là phần giá trị thặng dư mà người đi vay tạo ra và trả cho người cho vay trong quá trình chu chuyển vốn tín dụng Lãi suất được xác định bằng tỷ lệ giữa tổng lợi tức thu được từ vốn cho vay trong một năm so với số vốn cho vay.
Lãi suất có thể được hiểu là chi phí cho việc sử dụng vốn vay, được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền vay mà người đi vay phải trả cho chủ sở hữu Điều này diễn ra để đổi lấy quyền sử dụng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Phân loại lãi suất
1.1.2.1 Phân theo loại hình tín dụng
- Lãi suất tín dụng thương mại được áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
Lãi suất tín dụng ngân hàng là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các đối tượng như doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức kinh tế và cá nhân Lãi suất này bao gồm các thành phần như lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay và lãi suất chiết khấu.
Lãi suất chỉ đạo do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng cho thị trường tiền tệ bao gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và lãi suất tái chiết khấu Các ngân hàng trung ương thường thiết lập một cặp lãi suất tái cấp vốn để tạo ra khung lãi suất chỉ đạo, nhằm kiểm soát và điều tiết sự biến động của lãi suất trên thị trường, đặc biệt là các mức lãi suất ngắn hạn.
- Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau vay trên thị trường tiền tệ
1.1.2.2 Phân loại theo giá trị thực của lãi suất
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được xác định dựa trên giá trị danh nghĩa của tiền tệ tại thời điểm nghiên cứu, mà chưa tính đến tỷ lệ lạm phát.
Lãi suất thực tế là lãi suất đã được điều chỉnh để phản ánh chính xác những biến động của lạm phát, tức là lãi suất đã loại trừ tỷ lệ lạm phát.
Quan hệ giữa lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa, lạm phát được biểu diễn như sau: i r = i – п
1.1.2.3 Phân loại theo bản chất của hợp đồng tài chính
Lãi suất cố định là loại lãi suất được giữ nguyên trong suốt thời gian vay, mang lại ưu điểm là các bên có thể dự đoán chính xác số tiền lãi phải trả Tuy nhiên, nhược điểm của lãi suất này là người vay bị ràng buộc vào mức lãi suất đã thỏa thuận, bất chấp sự biến động của lãi suất thị trường Loại lãi suất này thường được áp dụng khi lãi suất thị trường tương đối ổn định.
Lãi suất thả nổi là loại lãi suất có khả năng thay đổi dựa trên lãi suất tham chiếu hoặc chỉ số lạm phát Loại lãi suất này thường được áp dụng trong các tình huống mà lãi suất có sự biến động lớn, khiến việc dự đoán chiều hướng và mức độ biến động trở nên khó khăn.
1.1.2.4 Phân loại theo cách đo lường lãi suất
Lãi suất đơn là lãi suất được tính một lần trên số vốn gốc trong suốt thời gian vay Loại lãi suất này thường áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn, với hình thức trả nợ một lần khi đến hạn Công thức tính lãi suất đơn rất đơn giản và dễ hiểu.
Lãi suất kép là lãi suất tính đến việc tái đầu tư lợi tức trong thời gian sử dụng tiền vay Nó áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán, trong đó lãi suất của kỳ trước được cộng vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
Lãi suất hoàn vốn là lãi suất giúp cân bằng giá trị hiện tại của số tiền nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hiện tại của khoản đầu tư đó Trong đó, i là lãi suất danh nghĩa.
Ir : lãi suất thực tế п : tỉ lệ lạm phát
I : số tiền lãi i : Lãi suất
Co : vốn gốc n : số thời kì gửi vốn
C : Số tiền thu được theo lãi gộp sau n kì
Co : số vốn gốc ban đầu i : lãi suất đơn n : số kì gửi vốn
Lãi suất hoàn vốn được xác định dựa trên khái niệm giá trị hiện tại, tức là giá trị quy về hiện tại của các khoản thu nhập dự kiến nhận được trong tương lai.
Vai trò của lãi suất đối với nền kinh tế
1.1.3.1 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Lãi suất biến động ảnh hưởng đến đầu tư, tiêu dùng và tiết kiệm, từ đó tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô Khi lãi suất tăng cao, người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn, dẫn đến việc hạn chế đầu tư và tiêu dùng, làm giảm tổng cầu, sản lượng và giá cả, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng và nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối và kích thích sử dụng vốn hiệu quả Đối với các dự án có mức độ rủi ro tương đương, dự án có lãi suất cao hơn thường thu hút vốn nhanh chóng và nhiều hơn Ngược lại, những dự án có rủi ro cao hơn cần phải trả lãi suất cao hơn để thu hút được nguồn vốn Do đó, việc áp dụng các mức lãi suất khác nhau giúp phân luồng vốn theo mục đích mong muốn.
Một nguyên tắc quan trọng trong tín dụng là người vay phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn Điều này khuyến khích người sử dụng vốn tối ưu hóa hiệu quả, thúc đẩy sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập Họ không chỉ cần bù đắp chi phí mà còn phải đạt được lợi nhuận để có khả năng trả lãi.
1.1.3.3 Lãi suất là công cụ kích thích lợi ích vật chất
Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm Khi lãi suất tăng, người tiêu dùng có xu hướng giảm chi tiêu hiện tại và tăng cường tiết kiệm để có khả năng vay mượn cao hơn trong tương lai, và ngược lại.
1.1.3.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế
Trong giai đoạn phát triển kinh tế, lãi suất thường tăng do nhu cầu tín dụng gia tăng, với tốc độ tăng cầu tín dụng vượt trội hơn so với cung tín dụng Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, lãi suất có xu hướng giảm Những biến động này được thể hiện qua đường cong lãi suất, cho phép chúng ta nhận diện xu hướng lãi suất và đánh giá tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.
1.1.3.5 Lãi suất là công cụ thực hiện CSTT quốc gia
PV : Giá trị hiện tại
FV : Các khoản thu nhập trong tương lai i : Lãi suất hoàn vốn n : Số kỳ hạn thanh toán
Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô, trở thành công cụ thiết yếu cho chính sách tiền tệ quốc gia Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và thị trường tài chính chưa phát triển, lãi suất được sử dụng như một công cụ trực tiếp để tác động đến các mục tiêu trung gian, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.
Trong bối cảnh thị trường phát triển, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng lãi suất như một công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ (CSTT), bao gồm lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất trên thị trường mở Những thay đổi về lãi suất thị trường sẽ ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô, từ đó giúp đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT.
RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI…
Khái niệm rủi ro lãi suất
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro lãi suất
Rủi ro có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau từ các nhà kinh tế và doanh nhân Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến nhất là xem rủi ro như các khoản thiệt hại tài chính, đồng thời mô tả sự biến động của tỷ suất sinh lời của một tài sản.
Theo Timothy W.Koch (Bank Management 1995 - University of South Carolina):
Rủi ro lãi suất đề cập đến khả năng thay đổi thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng do biến động của mức lãi suất.
According to Thomas P.Fitch in the Dictionary of Banking Terms (1997, Barron's Educational Series Inc), "interest rate risk is the risk that changes in market interest rates will lead to a decrease in the value of income-generating assets."
Rủi ro lãi suất, theo Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2004), là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt do những biến động bất lợi về lãi suất Việc chấp nhận rủi ro này là một phần thiết yếu trong hoạt động ngân hàng, có thể mang lại lợi nhuận và tạo ra giá trị cho cổ đông.
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro phát sinh từ sự biến động của lãi suất thị trường, ảnh hưởng đến thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng Sự thay đổi này có thể đến từ nhiều yếu tố liên quan đến lãi suất, gây ra nguy cơ cho các tổ chức tài chính.
1.2.1.2 Nguyên nhân của rủi ro lãi suất a) Sự không phù hợp về kỳ hạn, tính thanh khoản và quy mô của tài sản so với kỳ hạn, tính thanh khoản và quy mô của nợ
(i) Sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản và nợ
Sự không cân xứng về kỳ hạn xảy ra khi tài sản của ngân hàng có thời gian đáo hạn dài hơn hoặc ngắn hơn so với tài sản nợ Nguyên nhân của tình trạng này có thể đến từ nhiều yếu tố khác nhau.
Khách hàng có nhu cầu đa dạng khi gửi và vay tiền Người gửi tiền thường ưa chuộng kỳ hạn ngắn để bảo vệ trước những chi tiêu bất ngờ hoặc khi lãi suất có xu hướng tăng Ngược lại, người vay tiền lại cần thời gian dài để sử dụng vốn vay cho đầu tư sản xuất và sinh lời.
Ngân hàng không yêu cầu khách hàng phải tuân thủ thời hạn trong hợp đồng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách vay có thể trả nợ khi có khả năng tài chính Đồng thời, khách hàng gửi tiền cũng có thể rút tiền trước hạn trong trường hợp cần thiết.
Các ngân hàng thường duy trì kỳ hạn của tài sản có lớn hơn tài sản nợ nhằm tối đa hóa lợi nhuận Họ huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp và cho vay dài hạn với lãi suất cao, từ đó đạt được lợi nhuận tối ưu.
(ii) Sự biến động của lãi suất thị trường
Lãi suất hay giá cả của các khoản tín dụng được xác định tại mức cân bằng giữa lượng cung và cầu quỹ cho vay (thể hiện trong hình 1.1)
Hình 1.1 Cân bằng cung cầu quỹ cho vay trên thị trường b) Ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong huy động vốn và cho vay
Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay và đầu tư với lãi suất biến đổi Khi lãi suất giảm, ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro lãi suất do chi phí lãi không thay đổi trong khi thu nhập lãi giảm, dẫn đến lợi nhuận giảm.
Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay với lãi suất cố định có thể gặp rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường tăng, dẫn đến chi phí lãi tăng trong khi thu nhập lãi không thay đổi, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng (Williamson 2008, 14) Hơn nữa, sự không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động và việc sử dụng nguồn vốn cũng là một vấn đề cần lưu ý.
Quy mô vốn cho vay Đường cầu quỹ cho vay Đường cung quỹ cho vay
Ngân hàng gặp khó khăn trong việc cân đối giữa huy động vốn đầu vào và sử dụng vốn đầu ra, dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn chưa cao Khi lãi suất thị trường biến động theo chiều hướng xấu, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Sự thay đổi của lãi suất thị trường thường không theo dự kiến của ngân hàng, gây ra rủi ro trong hoạt động tài chính.
Lãi suất trên thị trường được hình thành dựa trên các nguyên tắc nhất định và luôn biến động, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc dự đoán chính xác mức độ thay đổi Những biến động không lường trước của lãi suất tạo ra rủi ro lãi suất cho ngân hàng Do đó, việc dự báo sự biến động lãi suất có ảnh hưởng lớn đến chiến lược hoạt động của ngân hàng.
Nếu ngân hàng có giá trị Tài sản nhạy cảm với lãi suất lớn hơn giá trị Nợ nhạy cảm với lãi suất, khi lãi suất thị trường tăng, thu nhập từ lãi sẽ tăng nhanh hơn chi lãi, dẫn đến chênh lệch lãi suất tăng và lợi nhuận ngân hàng tăng Ngược lại, khi lãi suất giảm, thu nhập từ lãi sẽ giảm nhanh hơn chi lãi, làm giảm chênh lệch lãi suất và thu nhập của ngân hàng.
Phân loại rủi ro lãi suất
Biến động lãi suất gây ra hai loại rủi ro chính cho các ngân hàng: rủi ro về thu nhập và rủi ro giảm giá trị tài sản.
- Rủi ro về thu nhập: là khả năng suy giảm thu nhập lãi ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động Bao gồm:
+ Rủi ro định giá lại (rủi ro tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có)
Tài sản có: Thu nhập lãi ròng = Thu nhập lãi – chi phí lãi
Rủi ro tái tài trợ tài sản nợ khi ngân hàng duy trì kỳ hạn tài sản có lớn hơn kỳ hạn tài sản nợ
Hình 1.2 Kỳ hạn tài sản có lớn hơn kỳ hạn tài sản nợ
Giả sử ngân hàng huy động vốn với lãi suất 8%/năm, kỳ hạn 1 năm để đầu tư cho một dự án kỳ hạn 2 năm với lãi suất 9%/năm
Lợi nhuận của ngân hàng trong năm đầu tiên đạt 1% khi lãi suất thị trường là 9% và chi phí huy động là 8% Nếu lãi suất thị trường không thay đổi sang năm thứ hai, ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì lợi nhuận 1% Tuy nhiên, nếu lãi suất thị trường tăng lên 11% trong năm thứ hai, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm xuống -2% Điều này cho thấy ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất khi kỳ hạn tài sản có lớn hơn kỳ hạn tài sản nợ trong bối cảnh lãi suất thị trường tăng.
Rủi ro tái đầu tư tài sản có khi ngân hàng duy trì kỳ hạn của tài sản nợ lớn hơn kỳ hạn của tài sản có
Hình 1.3 Kỳ hạn tài sản nợ lớn hơn kỳ hạn tài sản có
Giả sử ngân hàng huy động vốn với lãi suất 8%/năm, kỳ hạn 2 năm để đầu tư dự án kỳ hạn 1 năm có lãi suất 9%/năm
Lợi nhuận của ngân hàng trong năm đầu tiên đạt 1% Tuy nhiên, nếu sang năm thứ hai ngân hàng chỉ cho vay với lãi suất 7%/năm, lợi nhuận sẽ giảm xuống -1% (tính từ 7% - 8%) Điều này cho thấy rằng, khi ngân hàng duy trì kỳ hạn của tài sản nợ lớn hơn tài sản có, họ sẽ phải đối mặt với rủi ro khi lãi suất thị trường giảm.
Rủi ro cơ bản là rủi ro phát sinh từ sự không hoàn hảo trong việc định giá lại các khoản mục tài chính, dẫn đến sự khác biệt về mức độ thay đổi lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ, mặc dù chúng có cùng thời hạn định giá lại.
Rủi ro lựa chọn xảy ra khi khách hàng không tuân thủ cam kết về kỳ hạn ban đầu Chẳng hạn, khi lãi suất thị trường tăng, khách hàng thường rút tiền gửi trước hạn để chuyển sang các khoản gửi mới với lãi suất cao hơn Ngược lại, khi lãi suất giảm, họ có xu hướng trả nợ trước hạn các khoản vay dài hạn để vay lại với lãi suất thấp hơn.
Rủi ro giảm giá trị tài sản là khả năng giá trị tài sản ròng của ngân hàng bị suy giảm do biến động lãi suất thị trường.
Rủi ro kỳ hạn là nguy cơ giảm giá trị ròng của ngân hàng do sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.
Giả sử ngân hàng huy động 100 tỷ đồng với kỳ hạn 3 năm để cho vay với kỳ hạn 1 năm Khi lãi suất thị trường tăng từ 9%/năm lên 10%/năm, giá trị tài sản có (A) và tài sản nợ (L) của ngân hàng sẽ có sự biến động Cụ thể, sự thay đổi giá trị tài sản có (ΔA) sẽ phản ánh ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động tài chính của ngân hàng.
Khi lãi suất thị trường tăng, cả tài sản có và tài sản nợ đều giảm giá trị, nhưng mức giảm của các tài sản có kỳ hạn khác nhau Cụ thể, tài sản có kỳ hạn dài giảm giá trị nhiều hơn so với tài sản nợ, dẫn đến việc giá trị ròng của ngân hàng bị giảm.
Rủi ro đường cong lãi suất là mối nguy mà ngân hàng phải đối mặt khi có sự thay đổi về độ dốc và hình dạng của đường cong lãi suất Rủi ro này xảy ra khi những biến động không lường trước của đường cong lãi suất làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng, do lãi suất ở các thời hạn khác nhau thay đổi với mức độ khác nhau.
QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI….…
Khái niệm Quản trị rủi ro lãi suất tại NHTM
Quản trị rủi ro lãi suất là quá trình mà các ngân hàng thiết lập hệ thống quy trình để nhận biết, định lượng, giám sát và kiểm soát tổn thất do biến động lãi suất gây ra đối với thu nhập Mục tiêu chính là hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu của biến động lãi suất, nhằm duy trì mức thu nhập ổn định Để đạt được điều này, ngân hàng cần tập trung vào các bộ phận nhạy cảm với lãi suất trong danh mục tài sản có và tài sản nợ, bao gồm các khoản cho vay, đầu tư và tiền huy động.
1.3.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro lãi suất
Hệ thống ngân hàng được xem là huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia Để nền kinh tế phát triển, hệ thống ngân hàng cần phải vững mạnh Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó rủi ro lãi suất là một trong những nguy hiểm nhất Rủi ro này có thể gây ra biến động giá trị tài sản và thu nhập lãi ròng, dẫn đến mất an toàn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Quản trị rủi ro lãi suất là yếu tố quan trọng giúp ổn định thu nhập và bảo vệ giá trị vốn của ngân hàng Rủi ro lãi suất có thể gây ra biến động khó lường trong thu nhập lãi ròng và giá trị tài sản, làm khó khăn cho việc hoạch định chính sách và mục tiêu kinh doanh Việc quản trị rủi ro lãi suất hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của biến động lãi suất đối với bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Quản trị rủi ro lãi suất là yếu tố quan trọng giúp tăng cường tính an toàn và ổn định trong kinh doanh Mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh là đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững Việc quản trị rủi ro lãi suất hiệu quả không chỉ hạn chế những biến động bất thường mà còn mang lại sự ổn định cho ngân hàng.
Quản trị rủi ro lãi suất là yếu tố quan trọng giúp các ngân hàng thương mại nâng cao lợi thế cạnh tranh Do đó, việc thực hiện quản trị rủi ro lãi suất là cần thiết để giảm thiểu tổn thất do biến động lãi suất, đồng thời tận dụng sự thay đổi này để gia tăng thu nhập cho ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại hiện nay được quản lý bởi ủy ban quản lý tài sản và nợ (ủy ban ALCO), có nhiệm vụ lựa chọn chiến lược đối phó với rủi ro lãi suất và hoạch định các kế hoạch chiến lược cho ngân hàng Ủy ban ALCO định kỳ họp để đưa ra các chiến lược ngắn hạn và dài hạn, đồng thời giải quyết vấn đề thanh khoản và các vấn đề quản lý khác Hỗ trợ cho ủy ban này là các phòng ban chuyên trách quản lý và cân đối vốn, cũng như quản lý rủi ro.
1.3.3 Nội dung quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng thương mại
1.3.3.1 Nhận biết rủi ro lãi suất và dự báo rủi ro lãi suất
Dựa vào bảng cân đối kế toán của ngân hàng qua các thời kỳ và dự báo lãi suất thị trường, có thể xác định rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại.
Sự biến động của lãi suất thị trường có thể được dự đoán dựa trên đường cong lãi suất đã công bố Đường cong lãi suất thể hiện các mức lãi suất chiết khấu (YTM) của các công cụ nợ có thời hạn khác nhau, được xác định từ giá thị trường của các công cụ nợ tại từng thời điểm.
1.3.3.2 Lượng hóa rủi ro lãi suất a Mô hình định giá lại: Đo lường mức độ biến động của thu nhập lãi ròng của ngân hàng trước sự thay đổi của lãi suất thị trường
Phân tích luồng tiền theo nguyên tắc giá trị kế toán giúp xác định sự chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản và lãi suất phải trả cho vốn huy động sau một khoảng thời gian nhất định.
Tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng được phân loại thành hai nhóm: nhóm nhạy cảm với lãi suất và nhóm không nhạy cảm với lãi suất Sự phân loại này dựa trên mức độ biến động của thu nhập (chi phí) lãi khi lãi suất thị trường thay đổi.
Tài sản nhạy cảm lãi suất (RSA) là những tài sản có khả năng được định giá lại khi có sự thay đổi về lãi suất thị trường, bao gồm các khoản cho vay, chứng khoán sắp đáo hạn, các khoản chuẩn bị gia hạn hoặc đến kỳ điều chỉnh lãi suất, cũng như các khoản cho vay với lãi suất thả nổi.
Nợ nhạy cảm lãi suất (RSL) là các nguồn vốn có thể được định giá lại khi lãi suất thị trường thay đổi, bao gồm các khoản tiền gửi sắp đến hạn phải trả, các khoản vay đến kỳ điều chỉnh lãi suất, và những khoản tiền gửi có lãi suất thả nổi.
Sự thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất (Δ net interest income) ΔNII = GAP x Δi (1.1)
Với: Khe hở nhạy cảm với lãi suất
Trong đó: ΔNII: Mức độ thay đổi thu nhập lãi ròng từ lãi suất
GAP: khe hở nhạy cảm với lãi suất Δi: Mức độ thay đổi lãi suất
RSA: Tài sản nhạy cảm lãi suất
RSL: Nợ nhạy cảm lãi suất
Trong mỗi giai đoạn, khi giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm với lãi suất, sẽ tạo ra chênh lệch lãi suất dương Ngược lại, nếu giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm với lãi suất, sẽ hình thành khe hở lãi suất âm.
Khi tài sản và nợ của ngân hàng không đồng nhất, ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi Sự biến động của lãi suất có tác động trực tiếp đến thu nhập lãi ròng của ngân hàng.
Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa GAP, sự thay đổi lãi suất và sự thay đổi thu nhập lãi ròng
Kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất của một số Ngân hàng thương mại tại Việt Nam và bài học rút ra cho Ngân hàng TMCP Quân đội ……………………… 29 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1.3.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất của một số Ngân hàng thương mại tại Việt Nam a) Kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank)
Vietinbank đã thành lập Ủy ban quản lý tài sản và nợ (ALCO) trực thuộc Hội đồng quản trị, với nhiệm vụ đánh giá rủi ro và đưa ra khuyến nghị kịp thời Ủy ban ALCO tập trung vào quản lý rủi ro thị trường, tín dụng và hoạt động, nhằm duy trì sự cân bằng giữa tài sản và nợ Để hiện đại hóa quy trình, Ủy ban sẽ triển khai các hệ thống quản lý tài sản nợ và tài sản có (ALM), định giá điều chuyển vốn nội bộ (FTP), và lập kế hoạch ngân sách cho các đơn vị kinh doanh Ngoài ra, Ủy ban cũng xây dựng chính sách quản lý rủi ro lãi suất và thanh khoản, đồng thời tư vấn cho Ban lãnh đạo về điều hành lãi suất huy động và cho vay.
Vào tháng 3/2006, phòng kế hoạch và hỗ trợ ALCO được thành lập nhằm hỗ trợ ủy ban ALCO trong việc quản lý tài sản-nợ và quản trị rủi ro lãi suất trên toàn hệ thống Do tính phức tạp và đặc điểm riêng của từng loại rủi ro, mỗi loại rủi ro cần được bộ phận chuyên trách quản lý, trong đó bộ phận quản lý rủi ro thị trường đảm nhận việc quản lý rủi ro lãi suất.
Về chính sách quản trị rủi ro lãi suất, Vietinbank thực hiện quản lý rủi ro lãi suất ở cả
2 cấp độ giao dịch và danh mục, trong đó tập trung nhiều hơn vào quản lý rủi ro lãi suất cấp độ giao dịch
- Quản lý rủi ro lãi suất ở cấp độ danh mục
Ngân hàng đang hoàn thiện hệ thống quy chế và quy trình quản lý rủi ro lãi suất theo tiêu chuẩn quốc tế và quy định của Basel II Quản lý rủi ro lãi suất được thực hiện theo nguyên tắc "3 vòng kiểm soát": (i) Vòng 1 là các đơn vị kinh doanh, chịu trách nhiệm nhận diện, đánh giá, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro; (ii) Vòng 2 là các đơn vị Quản lý rủi ro, thiết lập chính sách và giám sát độc lập việc quản lý rủi ro; (iii) Vòng 3 là đơn vị Kiểm toán nội bộ, đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong quản lý rủi ro của hai vòng trước.
+ Ngân hàng đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống phần mềm Quản lý Tài sản Nợ -
ALM (Quản lý tài sản và nợ) đã đạt đến cấp độ giao dịch theo tiêu chuẩn quốc tế, tự động cung cấp các báo cáo chênh lệch kỳ hạn định giá lại theo kỳ hạn danh nghĩa và hành vi ứng xử Ngoài ra, các báo cáo phân tích kịch bản tăng/giảm lãi suất cũng được cung cấp để hỗ trợ công tác quản lý rủi ro lãi suất của ngân hàng.
Ngân hàng điều chỉnh thời hạn định giá lại của khoản vay để phù hợp với kỳ hạn của nguồn vốn, đồng thời kiểm soát chênh lệch kỳ hạn định giá lại trong giới hạn cho phép.
- Quản lý rủi ro lãi suất ở cấp độ giao dịch:
Tất cả hợp đồng tín dụng cần có điều khoản phòng ngừa rủi ro lãi suất để ngân hàng chủ động trước biến động thị trường Lãi suất cho vay phải phản ánh chính xác chi phí huy động vốn thực tế của ngân hàng.
+ Điều hành thông qua công cụ mua bán vốn nội bộ FTP Từ ngày 02 tháng 04 năm
Năm 2011, Vietinbank đã triển khai hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ (FTP) theo thông lệ quốc tế, cho phép mua bán vốn chi tiết đến từng giao dịch Trụ sở chính có khả năng điều chỉnh giá mua bán vốn dựa trên định hướng hoạt động của ngân hàng và diễn biến thị trường, nhằm cung cấp tín hiệu tài chính cho các đơn vị kinh doanh trong việc xác định lãi suất cho vay và huy động cho từng giao dịch.
Vietinbank hiện đang áp dụng mô hình định giá lại để quản lý rủi ro lãi suất trong hệ thống, nhờ vào tính đơn giản và không yêu cầu kỹ thuật phức tạp của mô hình này.
Vietinbank áp dụng các biện pháp nội bảng và ngoại bảng để quản lý rủi ro lãi suất hiệu quả Ngân hàng đã cân đối thời gian giữa cho vay và huy động vốn, chủ động tìm kiếm các dự án phù hợp Vietinbank cũng đa dạng hóa các kỳ hạn gửi tiền như không kỳ hạn, 1 tháng, 2 tháng và các kỳ hạn cho vay tương ứng Hơn nữa, ngân hàng sử dụng các công cụ điều hành lãi suất trong hoạt động cho vay, với nguồn vốn huy động chủ yếu từ các kỳ hạn.
Để giảm thiểu rủi ro lãi suất cho các hợp đồng cho vay trung và dài hạn dưới 12 tháng, Vietinbank áp dụng lãi suất thả nổi, điều chỉnh định kỳ từ 1 đến 3 tháng Tất cả hợp đồng tín dụng đều có điều khoản phòng ngừa rủi ro lãi suất, giúp ngân hàng chủ động trước biến động thị trường Lãi suất cho vay được xác định dựa trên chi phí huy động vốn thực tế của ngân hàng và được điều hành thông qua công cụ giá mua bán vốn nội bộ FTP Ngoài ra, Vietinbank chủ yếu sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất.
Ngân hàng đang xây dựng hệ thống quản lý rủi ro theo chuẩn quốc tế để giảm thiểu rủi ro Uỷ ban Quản lý rủi ro, do HĐQT thành lập, có nhiệm vụ tham mưu cho HĐQT trong việc phê duyệt chính sách và định hướng QLRR, xác định tỷ lệ và mức độ chấp nhận rủi ro, đồng thời báo cáo tình hình rủi ro định kỳ Uỷ ban Quản lý Tài sản Nợ Có (ALCO), do Tổng Giám đốc thành lập, giám sát và quản lý tài sản có và nợ, nhằm tối đa hóa lợi nhuận và quản lý rủi ro thanh khoản HĐQT có thể thành lập các phòng ban QLRR tại Hội sở chính để thực hiện nhiệm vụ QLRR tín dụng, thị trường và hoạt động, dưới sự điều hành của Phó Tổng Giám đốc Các phòng ban này có trách nhiệm tham mưu cho Tổng Giám đốc, soạn thảo văn bản hướng dẫn và giám sát hoạt động QLRR trong toàn ngân hàng.
Ngân hàng đã thiết lập khung quản lý rủi ro lãi suất nhằm đảm bảo biên độ lãi suất hợp lý để bù đắp chi phí vốn cho tất cả các bộ phận hoạt động Khung này đảm bảo rằng khoảng giao động lãi suất nằm trong giới hạn cho phép và phù hợp với chiến lược của ngân hàng Nó dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản: chiến lược đối phó với rủi ro lãi suất, xác định rủi ro lãi suất trong các hoạt động của Vietcombank, khả năng đo lường biên độ lãi suất cho các kỳ hạn khác nhau, hệ thống hạn mức hoạt động rõ ràng và bắt buộc, cùng với hệ thống thông tin cần thiết để báo cáo rủi ro lãi suất một cách kịp thời và chính xác.
Ngân hàng đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất (RRLS) linh hoạt và hiệu quả, bao gồm quy định lãi suất thả nổi trong các hợp đồng cho vay trung và dài hạn, giúp hạn chế RRLS trong bối cảnh thị trường biến động phức tạp như năm 2008 Ngân hàng cũng theo dõi tình hình tài sản có (TSC) và tài sản nợ (TSN) hàng ngày để cân đối nguồn vốn Thêm vào đó, ngân hàng đã sử dụng các công cụ tài chính phái sinh như hoán đổi lãi suất, quyền chọn và lãi suất kỳ hạn để quản lý rủi ro.
Tất cả các phòng ban trong Ngân hàng cần nhận thức rõ ràng về chiến lược RRLS, vì các hoạt động của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập lãi thuần.
1.3.4.2 Bài học rút ra cho Ngân hàng TMCP Quân đội