1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật vè nam bộ

122 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật Vè Nam Bộ
Tác giả Phạm Văn Khoa
Người hướng dẫn ThS. Tăng Tấn Lộc
Trường học Trường đại học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vè là một thể loại văn chương truyền khẩu của văn học dân gian, nếu nói ca dao dùng phô diển tình tứ, tục ngữ để sửa khéo, dạy khôn, thì chắc không ai phủ nhận được rằng vè cũng có giá trị riêng biệt của nó. Chúng ta bỏ qua vè là bỏ đi một phần di sản sáng giá trong kho tàn văn học dân gian của chúng ta, những nhà nghiên cứu trước đây thường chú trọng nghiên cứu văn học dân gian Miền Bắc, còn Miền Nam thì ít được sự quan tâm của các nhà khoa học, nên đây được coi là một vùng đất hoang sơ, màu mở cần được khai phá. Học giả Nguyễn Văn Hầu có nhận xét về vấn đề này trong quyển một, “Văn học Miền Nam lục tỉnh”, “Trong các sách viết về văn học sử Việt xuất bản từ trước, như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quản Hàm, Đại Việt văn học lịch sử của Nguyễn Sĩ Đạo, Việt Nam văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản, cho tới sách Khởi thảo văn học sử Việt Nam của Thanh Lãng xuất bản sau mấy quyển trên, đều không thấy ai bàn xét đến vè” 3, tr.254 Vè hay một số thể loại khác như: ca dao; dân ca; hò là một loại hình nghệ thuật dân gian rất phong phú, giàu có cả về số lượng và thể loại, đã từng một thời rất phổ biến trong sinh hoạt dân gian. Nhưng hiện nay trước sự xâm nhập ồ ạt các dòng văn hóa ngoại lai, đang có nguy cơ nhấn chìm, mai một và nhiều thể loại có thể bị thất truyền, nếu như chúng ta không có ý thức lưu giữ và phát huy. Những gì còn lại trong trí nhớ của tôi về một thời thơ ấu là những câu hò những điệu hát ru của mẹ cùng tôi đi vào giấc ngủ. Không chỉ có những câu hò, điệu hát mà nó còn là những bài đồng dao hát ca, những câu vè, bài vè khi chơi đùa cùng chúng bạn, hay những buỗi chiều ngồi nghe các người lớn tuổi trong xóm kể những câu chuyện, kể vè rất thú vị. Cũng như Vũ Tố Hảo và Hà Châu có nói về sinh hoạt văn hóa trong quyển Tư tưởng tiến bộ triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian. “Kể truyện, kể vè là sinh hoạt văn hóa quen thuộc, phổ biến trong gia đình và xã hội từ bao đời nay, là món ăn tinh thần cần thiết như cơm gạo”. Với tôi mỗi khi nghe đọc vè, hoặc nghe nói vè, tôi cảm thấy một vẻ đẹp hồn nhiên vui vẻ, một ý vị mộc mạc, chân thành, một lời khuyên mát dịu, vè còn biểu lộ cho tôi biết một cách trọn vẹn tâm hồn của người nhà quê, những tâm hồn chất phát thật dễ mến, cùng những tính tình, lề thói trong cuộc sống thường nhật của người dân Nam Bộ. 2. Lịch sử vấn đề Cùng với văn học viết, văn học dân gian là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc, nhưng quan trọng hơn văn học dân gian còn là nơi đã hình thành nên những phép tắt cơ bản của nền văn hóa dân tộc mà về sau văn học viết phải tiếp thu, hoàn thiện và phát huy. Như lời cố nhà thơ Huy Cận phát biểu tại Đại hội văn nghệ dân gian Việt Nam lần III. Qua đó ta thấy tầm quan trọng của văn học dân gian trong cuộc sống cộng đồng dân cư của người Việt ta nói riêng và các dân tộc, quốc gia khác nói chung thế nhưng từ lâu nay do sự chủ quan, ý thức chưa đầy đủ về văn học dân gian của một bộ phận người nên còn nhiều nhận định sai lầm về mảng văn học này, bỏ qua một di sản sáng giá của dân tộc. Đặc biệt là Miền Nam tổ quốc thân yêu của chúng ta, trước đây, các nhà nghiên cứu về văn học dân gian thường chú trọng nghiên cứu ở các vùng, miền có lịch sử “Ngàn năm văn hiến”, còn vùng đất sinh sau đẻ muộn như Miền Nam thường ít được sự quan tâm, chú ý nhiều đến các học giả, các nhà nghiên cứu. Từ đó dẫn đến một thực trạng các đầu sách, các công trình nghiên cứu về văn học dân gian, đặc biệt là về mảng vè Nam Bộ còn rất ít, rất hạn chế so với văn học dân gian vùng, miền khác. Nhận định của Huỳnh Ngọc Trảng trong quyển Vè Nam Bộ, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006. “Nói chung cho đến nay, việc sưu tầm và nghiên cứu về vè Nam Bộ chưa được là bao”. Cũng như học giả Nguyễn Văn Hầu đã viết trong quyển Văn Học Miền Nam lục tỉnh, tập 1, Nxb Trẻ 2012. Cho chúng ta thấy vè có một giá trị riêng biệt của bản thân nó, và một địa vị không kém quan trọng trong văn chương dân gian, “Chúng ta bỏ qua vè là bỏ đi một phần di sản sáng giá trong kho tàng văn học dân gian của ta”. Qua những nhận xét trên của học giả Nguyễn Văn Hầu ta lại càng tin rằng văn học dân gian mà nhất là về thể loại vè cần được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học, nhằm đưa vè trở về một vị trí nhất định vốn có của nó. Nguyễn Văn Hầu còn cho biết thêm “Các nhà viết văn học lớp trước ít ai chú ý đến giá trị văn học của vè. Vè bị khinh bạc như vậy là bởi người ta hiểu lầm, không chịu đặt nó vào đúng địa vị của nó… Vè đời đời vẫn là vè với một vai trò riêng” 3, tr.340

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT VÈ NAM BỘ

PHẠM VĂN KHOA

Hậu Giang, tháng 05 năm 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

TÌM HIỂU NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT VÈ NAM BỘ

Giảng viên hướng dẫn:

Trang 3

Em cũng xin chân thành gửi lời cám ơn đến quý thầy cô Khoa khoa học cơ bản cùng các cán bộ của thư viện Trường Đại học Võ Trường Toản, luôn quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện có thể để giúp em sớm hoàn thành tốt khóa luận này

Sinh viên thực hiện

(Ký và ghi rõ họ tên)

Phạm Văn Khoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Phạm Văn Khoa

Trang 5

MỤC LỤC

trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Giới hạn vấn đề 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Định nghĩa vè 6

1.2 Nguồn gốc và sự phát triển của vè 6

1.3 Một số đặc trưng của vè 8

1.3.1 Vè là thể loại tự sự dân gian bằng vần 8

1.3.2 Vè giàu tính chất trữ tình 10

1.3.3 Vè nổi bật tính thời sự 11

1.3.4 Vè mang tính địa phương 13

1.4 Phân loại 13

1.4.1 Vè thế sự 14

1.4.2 Vè lịch sử 16

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÈ NAM BỘ 18

2.1 Vè kể về muôn vật 18

2.2 Vè thế sự 26

2.3 Vè kể chuyện nước 41

Tiểu kết 52

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT VÈ NAM BỘ 54

3.1 Cách gieo vần 54

3.2 Cách ngắt nhịp 57

3.3 Thể thơ 59

3.4 Kết cấu 60

3.5 Nghệ thuật diễn xướng 61

Tiểu kết 62

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vè là một thể loại văn chương truyền khẩu của văn học dân gian, nếu nói ca dao dùng phô diển tình tứ, tục ngữ để sửa khéo, dạy khôn, thì chắc không ai phủ nhận được rằng vè cũng có giá trị riêng biệt của nó Chúng ta bỏ qua vè là bỏ đi một phần di sản sáng giá trong kho tàn văn học dân gian của chúng ta, những nhà nghiên cứu trước đây thường chú trọng nghiên cứu văn học dân gian Miền Bắc, còn Miền Nam thì ít được sự quan tâm của các nhà khoa học, nên đây được coi là một vùng đất hoang sơ, màu mở cần được khai phá Học giả Nguyễn Văn Hầu có nhận xét về

vấn đề này trong quyển một, “Văn học Miền Nam lục tỉnh”, “Trong các sách viết về văn học sử Việt xuất bản từ trước, như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quản Hàm, Đại Việt văn học lịch sử của Nguyễn Sĩ Đạo, Việt Nam văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản, cho tới sách Khởi thảo văn học sử Việt Nam của Thanh Lãng xuất bản sau mấy quyển trên, đều không thấy ai bàn xét đến vè” [3, tr.254]

Vè hay một số thể loại khác như: ca dao; dân ca; hò là một loại hình nghệ thuật dân gian rất phong phú, giàu có cả về số lượng và thể loại, đã từng một thời rất phổ biến trong sinh hoạt dân gian Nhưng hiện nay trước sự xâm nhập ồ ạt các dòng văn hóa ngoại lai, đang có nguy cơ nhấn chìm, mai một và nhiều thể loại có thể bị thất truyền, nếu như chúng ta không có ý thức lưu giữ và phát huy

Những gì còn lại trong trí nhớ của tôi về một thời thơ ấu là những câu hò những điệu hát ru của mẹ cùng tôi đi vào giấc ngủ Không chỉ có những câu hò, điệu hát mà nó còn là những bài đồng dao hát ca, những câu vè, bài vè khi chơi đùa cùng chúng bạn, hay những buỗi chiều ngồi nghe các người lớn tuổi trong xóm kể những câu chuyện, kể vè rất thú vị Cũng như Vũ Tố Hảo và Hà Châu có nói về

sinh hoạt văn hóa trong quyển Tư tưởng tiến bộ- triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian “Kể truyện, kể vè là sinh hoạt văn hóa quen thuộc, phổ biến trong gia đình và xã hội từ bao đời nay, là món ăn tinh thần cần thiết như cơm gạo” Với tôi mỗi khi nghe đọc vè, hoặc nghe

nói vè, tôi cảm thấy một vẻ đẹp hồn nhiên vui vẻ, một ý vị mộc mạc, chân thành, một lời khuyên mát dịu, vè còn biểu lộ cho tôi biết một cách trọn vẹn tâm hồn của

Trang 7

người nhà quê, những tâm hồn chất phát thật dễ mến, cùng những tính tình, lề thói trong cuộc sống thường nhật của người dân Nam Bộ

2 Lịch sử vấn đề

Cùng với văn học viết, văn học dân gian là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc, nhưng quan trọng hơn văn học dân gian còn là nơi đã hình thành nên những phép tắt cơ bản của nền văn hóa dân tộc mà về sau văn học viết phải tiếp thu, hoàn thiện và phát huy Như lời cố nhà thơ Huy Cận phát biểu tại Đại hội văn nghệ dân gian Việt Nam lần III

Qua đó ta thấy tầm quan trọng của văn học dân gian trong cuộc sống cộng đồng dân cư của người Việt ta nói riêng và các dân tộc, quốc gia khác nói chung thế nhưng từ lâu nay do sự chủ quan, ý thức chưa đầy đủ về văn học dân gian của một

bộ phận người nên còn nhiều nhận định sai lầm về mảng văn học này, bỏ qua một di sản sáng giá của dân tộc Đặc biệt là Miền Nam tổ quốc thân yêu của chúng ta, trước đây, các nhà nghiên cứu về văn học dân gian thường chú trọng nghiên cứu ở

các vùng, miền có lịch sử “Ngàn năm văn hiến”, còn vùng đất sinh sau đẻ muộn

như Miền Nam thường ít được sự quan tâm, chú ý nhiều đến các học giả, các nhà nghiên cứu Từ đó dẫn đến một thực trạng các đầu sách, các công trình nghiên cứu

về văn học dân gian, đặc biệt là về mảng vè Nam Bộ còn rất ít, rất hạn chế so với văn học dân gian vùng, miền khác Nhận định của Huỳnh Ngọc Trảng trong quyển

Vè Nam Bộ, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006 “Nói chung cho đến nay, việc sưu tầm

và nghiên cứu về vè Nam Bộ chưa được là bao”

Cũng như học giả Nguyễn Văn Hầu đã viết trong quyển Văn Học Miền Nam lục tỉnh, tập 1, Nxb Trẻ 2012 Cho chúng ta thấy vè có một giá trị riêng biệt của bản thân nó, và một địa vị không kém quan trọng trong văn chương dân gian, “Chúng ta

bỏ qua vè là bỏ đi một phần di sản sáng giá trong kho tàng văn học dân gian của ta”

Qua những nhận xét trên của học giả Nguyễn Văn Hầu ta lại càng tin rằng văn học dân gian mà nhất là về thể loại vè cần được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học, nhằm đưa vè trở về một vị trí nhất định vốn có của nó Nguyễn Văn

Hầu còn cho biết thêm “Các nhà viết văn học lớp trước ít ai chú ý đến giá trị văn học của vè Vè bị khinh bạc như vậy là bởi người ta hiểu lầm, không chịu đặt nó vào đúng địa vị của nó… Vè đời đời vẫn là vè với một vai trò riêng” [3, tr.340]

Trang 8

Quyển một, Văn học Miền Nam lục Tỉnh của Nguyễn Văn Hầu đã chú trọng

phân giải những bài vè cho thấy cái nội dung, cái hay của một số bài vè để thấy được giá trị của vè trong văn học dân gian cũng giống như các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ… Nhưng tác giả còn bỏ sót một điều chưa xét đến mà điều

ấy làm cho vè trở nên độc đáo và riêng biệt với ca dao, hò, tục ngữ…Đó chính là cách diễn xướng của vè, nghệ thuật của vè là nằm ở chổ diễn xướng và sự diễn xướng ấy làm cho vè khác biệt các thể loại khác Đương nhiên cách diễn xướng ở mỗi vùng miền, từng địa phương lại có cách diễn xướng khác nhau tạo nên nét độc đáo riêng biệt cho vè, như hình thức nói thơ Bạc Liêu hay nói thơ sắc bùa Phú Lễ chẳng hạn

Mà thực sự có các công trình nghiên cứu đi chăng nữa thì cũng ít các tác giả bàn luận đến vè Nam Bộ Có bàn luận thì cũng chưa thật sự đào sâu hay nghiên cứu trên toàn vùng Nam Bộ mà chỉ giới hạn ở việc sưu tầm, điền dã ở một số tỉnh thành nhằm lưu giữ lại những văn hóa tinh thần từ thời buổi sơ khai khi văn học viết chưa xuất hiện hay điều kiện in ấn, lưu trữ còn nhiều hạn chế

Lư Nhất Vũ, Lê Giang và Nguyễn Ngọc Quang có nhận định trong quyển

Nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ, Nxb văn hóa dân tộc, 2011 “Trong loại hình văn nghệ dân gian rất được phổ biến ở Nam Bộ phải nhắc đến hình thức Nói vè [12, tr.14]

Ở đây các tác giả đã cho ta thấy được sự quan trọng của vè trong sinh hoạt dân gian Nam Bộ rất phổ biến, bên cạch đó tác giả còn cho thấy một quan hệ giữa nói vè và nói thơ, nhưng quan trọng hơn các tác giả đã nói tới lối sinh hoạt vè trong dân gian Nam Bộ có vần, có điệu, có nhịp, có phách rõ ràng và thể thì thường bốn chữ và hát như nói Nhưng vẫn chưa thật sự đi sâu vào từng mảng của các thể loại văn học dân gian mà chỉ giới thiệu khái quát qua nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ để cốt lỏi là giới thiệu đến công chúng, đọc giả những người quan tâm ít nhiều đến văn học dân gian mà nhất là về mảng nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ các tác phẩm mà các tác giả đã sưu tầm, điền dã trong dân gian và biên soạn lại

Ngoài ra quyển “Tư tưởng tiến bộ- triết lý nhân sinh thực tiển của nhân dân

và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian” của Vũ Tố Hảo, Hà Châu, Nxb Thời đại, 2012 Cũng có một nhận định qua vè vùng Nam Bộ “Ở Nam Bộ các bài

vè lục bát được kể được lưu truyền trong nhân dân thông qua hình thức nói thơ-

Trang 9

nhất là điệu nói thơ vân tiên, một lối đọc xướng truyện thơ lục bát, đặc biệt phổ biến ở Nam Bộ” [2, tr.209]

Nhưng tác giả chủ yếu chỉ nói về cách diễn xướng vè ở Nam Bộ và chỉ nói qua các vùng miền của cả nước chứ không đào sâu, nghiên cứu ở một vùng miền nào nên vẫn còn có sự hạn chế nhất định khi giới thiệu tới các bạn đọc

Ngoài ra các đầu sách khác cũng có bàn luận ít nhiều tới vè Nam Bộ, nhưng

đa số trong số ấy là những tư liệu sưu tầm, điền dã các văn bản để giới thiệu chứ chưa thật sự nghiên cứu, phân tích cụ thể để thấy cái hay, cái cần để được sự quan tâm bảo tồn, lưu giữ cũng như phục hưng lại nếp sinh hoạt truyền thống đã có lúc rất thịnh hành và phổ biến trong sinh hoạt dân gian Nam Bộ

- Nguyễn Ngọc Quang, Văn học dân gian Châu Đốc, Nxb Dân trí, 2010

- Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Hữu Sơn, Phan thị Đào và Vũ Quang Trọng, Một vài vấn đề về văn học dân gian, (sưu tầm và giới thiệu), Nxb Dân tộc, 2012

- Chu Xuân Diên (Chủ biên), Lê Văn Chưởng, Nguyễn Ngọc Quang, Phan

Thị Yến Tuyết và Phan Xuân Viện, Văn học dân gian Sóc Trăng, Nxb Văn

hóa- thông tin, 2012

- Nhiều tác giả, Tthơ ca dân gian Trà Vinh (chuyên khảo), Nxb Thời đại,

2012

Thấy được những ưu điểm và những hạn chế của các công trình trên, ở đề tài

“Tìm hiễu nội dung và nghệ thuật vè Nam Bộ” này, chúng tôi tiếp tục tiến hành

nghiên cứu về nội dung cũng như nghệ thuật của vè Nam Bộ với hi vọng sẽ khắc phục những nhược điểm mà các công trình trên mắc phải, cho ra đời một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh đảm bảo tính khoa học để phục vụ cho việc nghiên cứu của các công trình có nội dung liên quan sau này

văn hóa ngoại lai

- Thâm nhập khám phá vẻ đẹp các loại hình văn hóa dân gian Nam Bộ cụ thể

là vè Nam Bộ qua cách diễn xướng

Trang 10

- Xây dựng bộ sưu tập văn học dân gian Nam Bộ về vè, làm tư liệu tham khảo

về văn học dân gian Việt Nam nói chung, văn học dân gian Nam Bộ nói

riêng

- Nhận ra vẻ đẹp ngôn ngữ và vẻ đẹp về đời sống tâm tư tình cảm của người

dân sinh sống trên vùng địa bàn văn hóa đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

4 Giới hạn đề tài

Giới hạn đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là những

bài vè được sưu tầm ở vùng đất Nam Bộ (chủ yếu trong quyển Vè Nam Bộ của

Huỳnh Ngọc Trảng, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006)

Giới hạn phạm vi vấn đề: trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi khảo sát những bài vè ở Nam Bộ Những bài vè này ra đời và lưu truyền trong dân gian Nam Bộ Trên cơ sở đó chúng tôi đi sâu vào những nội dung và nghệ thuật đặc sắc, tiêu biểu có ở các bài vè Nam Bộ - đó là nhiệm vụ trọng tâm của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm tập hợp, bổ sung, phân loại mảng Vè Nam Bộ trên cơ sở tiếp thu những ý kiến tiến bộ của những người đi trước Khi thực

hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:

- Phương pháp thống kê: tiến hành tìm kiếm tất cả các tài liệu có liên quan đến

đề tài nghiên cứu sau đó chọn những đề tài có tính chính xác cao để tập trung nghiên cứu Đồng thời khảo sát, phân loại và mô hình hóa

- Phương pháp so sánh: trong quá trình tìm hiểu, phân tích vè Nam Bộ chúng

tôi đối chiếu với các vè các vùng miền khác

- Phương pháp phân tích: trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phân tích

đã giúp đỡ trong việc nghiên cứu đi sâu hơn về các nguyên nhân vấn đề, để

từ đó thấy rõ nội dung, cái hay của nghệ thuật trong các bài vè

- Phương pháp liên ngành: ngoài những phương pháp trên chúng tôi còn sử

dụng phương pháp liên ngành để hỗ trợ trong việc nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân vấn đề, tứ đó thấy rõ nội dung của các bài vè

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Còn trong Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng có giới thiệu: “Trong Đại Nam quốc âm tự vị vè được định nghĩa là “chuyện khen chê đặt có ca vần” và việc sáng tác vè là “Đặt chuyện khen chê có ca vần ấy”” [10, tr.7]

Nguyễn Văn Hầu có nhắc tới bài Một lối văn bình dân của Phan Văn Thiết giảng rộng hơn về vè trong quyển một, Văn học Miền Nam lục Tỉnh “Vì đâu mà có vè? Chẳng chi lạ hơn là gặp sự bất bình trái mắt mà nảy sinh ra thứ văn ấy Trong làng nước có xảy ra việc gì không hạp với thuần phong mĩ tục, không đúng với công

lý bác ái thì trước sau năm ba ngày cũng có một cái vè do cậu đồ, hay ông tú nào nằm nhà đã đặt ra mà truyền vào miệng dân gian Chúng ta có thể nói rằng lối vè

là một cái lợi khí tranh đấu của hạng bình dân trong thời đại quân chủ: uất ức điều

gì mà không giám chán chường kích bác thì nhân dân dùng lối vè mà tìm cách đánh

đổ, dầu không đánh đổ được hẳn thì cũng làm giảm bớt đi được ít nhiều, vì bất cứ ở thời đại nào, những người ra làm việc công mặc dầu oai quyền đến đâu cũng phải kiên sợ cái sức mạnh của “dư luận” cả!” [3, tr.256]

Từ những định nghĩa, giải thích trên ta có thể rút ra được một định nghĩa đầy

đủ hơn về vè Vè là một thể loại tự sự dân gian bằng vần, giàu tính thời sự, phản ánh các sự kiện thực tế trong cuộc sống, đồng thời thể hiện thái độ khen chê dứt khoát của tác giả dân gian đối với sự việc ấy và vè cũng có tác dụng mua vui, để giảng dạy luân lý hoặc cũng để bàn luận

1.2 Nguồn gốc và sự phát triển của vè

Vè là một thuật ngữ văn học dân gian có liên quan tới từ trong “vần vè”, vè

có nghĩa là lời nói có vần, và vè xuất hiện để kể chuyện một cách có vần có nhịp, khi tác giả dân gian thấy kể chuyện bằng văn xuôi chưa đáp ứng đầy đủ được cho việc biểu hiện nội dung của vấn đề muốn nói tới Vè được nhân dân sử dụng như là

Trang 12

một khẩu báo ghi chép, có kèm bình luận về thời sự địa phương, hoặc biến cố lịch

sử, cho đến nay người ta vẫn chưa tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi: vè có từ bao giờ? Có những thể loại văn học dân gian mà sự phát sinh của chúng còn để lại dấu vết, dựa vào đó mà ta có thể khẳng định chắc chắn sự ra đời của nó Nhưng đối với

vè thì rất khó xác định, biết rằng vè rất phát triển thời kỳ cận đại gắn với sự thức tỉnh về quyền tự do dân chủ của phong trào đấu tranh chống áp bức bóc lột của quần chúng nhân dân trong thời kỳ lịch sử này Vè đặc biệt phát triển vào khoảng thể kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX, khi giai cấp phong kiến Việt Nam suy tàn, từ trong làng ngoài xã đến huyện, tỉnh và cả vùng, đâu đâu cũng thấy đầy rẫy những sự xấu

xa phi lý của các tầng lớp thống trị từ nhỏ đến lớn bị phơi bày Nhất là sau khi thực dân Pháp xâm lược, cả dân tộc bước vào một cuộc chiến tranh giành độc lập, tự do,

vè càng phục vụ đắc lực cho thực tế thiêng liêng và sôi động đó Nhưng đó là một thể loại, một khía cạnh nhỏ chưa đủ để xác định được vè có từ bao giờ, vè lịch sử thường chỉ địa điểm, ngày tháng, sự kiện và tên nhân vật đó, nhưng bên cạnh những bài vè lịch sử, thế sự còn có cả một khối lượng đồ sộ các bài vè về cá, chim, hoa quả… Có phải vè xuất hiện từ khi muôn vật phong phú đa dạng Vậy muôn vật phong phú đa dạng từ bao giờ? Không một ai xác định chính xác được, vì thế cho tới nay người ta vẫn chưa đủ căn cứ để xác định được vè có từ bao giờ

Thể loại vè với tính thời sự, tính chiến đấu mạnh mẽ nên rất dễ bắt nhịp vào cuộc sống, nhưng cũng vì thế, vì tính thời sự mà số phận của các bài vè thường ngắn ngủi, các bài vè ra đời chỉ để nói đến một việc, một sự kiện nào đó rồi người ta lại quên ngay khi một sự kiện khác, có người đặt vè cho sự kiện mới hơn, nóng hổi hơn Ngoại trừ một số bài vè thuộc thể loại lịch sử thì còn được nhớ và lưu giữ, thêm một phần là do điều kiện hoàn cảnh nên việc ghi, chép, in ấn không có và từ năm 1945 về sau, hoàn cảnh và điều kiện đổi khác, văn truyền khẩu thiếu cơ duyên phát triển, đường giao thông thuận tiện, phương tiện tuyên truyền nhanh chóng, nếp sống của dân chúng lún vào cơ giới hóa

Ngày nay, việc hội nhập ngày càng phát triển, công nghệ mỗi ngày một tân tiến, một đổi mới, nhu cầu giải trí của nhân dân cũng được nâng lên nên, việc chúng

ta bắt gặp những cảnh sinh hoạt dân gian diễn xướng vè là một điều cực kì hiếm hoi Các em nhỏ ngày nay cũng thế, những trò chơi dân gian, những bài hát đồng

Trang 13

dao vui tai, những bài vè thánh thót cũng không lấy làm hứng thú với các em khi các em có quá nhiều cách giải trí cho lựa chọn của mình

Nếu không có những biện pháp đúng đắn, kịp thời thì vè hay một số thể loại văn học dân gian khác có thể ngày càng bị mai một và mất đi trong tương lai khi xã hội ngày càng văn minh hiện đại, những gì của dân gian sẽ nhường lại cho những gì thuộc về công nghệ hiện đại

1.3 Một số đặc điểm của vè

1.3.1 Vè là thể loại tự sự dân gian bằng vần

Những bài vè có độ ngắn dài của câu chữ khác nhau, mặt nội dung thể hiện của các bài vè cũng khác nhau nhưng điều thể hiện tính truyện trong vè khá rõ, vè

là một thể loại tự sự dân gian nên vè thường có cốt truyện, có những bài vè có cốt truyện đơn giản đến phức tạp, những bài vè đơn giản thì thường kể bâng quơ, đầu cuối không rõ ràng, chỉ có yếu tố hiệp vần lại như vè cá, chim, cây cối có những bài vè có cốt truyện phức tạp, kết cấu chặt chẽ thường là những bài vè về lịch sử,

nói về những người anh hùng nông dân hay anh hùng chống Pháp Ví dụ Vè đánh Nhật Bổn; Vè huyền thoại thằng Mỹ; Vè liệt sĩ Phạm Văn Khiết; Vè anh Hoặt; Vè

người chiến sĩ Tiểu La Thành

Vè còn có nhân vật tự sự, những bài vè lịch sử, xã hội, thì thường nhân vật là nhân vật người kể chuyện và có đoạn nhân vật tách khỏi vè để bình luận, khi thì lại nhập vào nhân vật để kể truyện Tuy vè có nhân vật tự sự, nhưng về việc đi sâu miêu tả tính cách nhân vật chưa có

Nhắc qua anh Hoặt Một người tốt thật Giai cấp bần nông Anh đã hết lòng Tham gia kháng chiến

(Vè anh Hoặt)

Vè có tính chất truyện bởi vậy khiến cho vè thường dài, nhiều tình tiết, những sự kiện được kể một cách cụ thể, chi tiết, chính xác từ tên địa danh đến ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra sự kiện đó Ở đây sự việc, tên người, tên địa điểm, thời gian (thậm chí cả ngày giờ, năm tháng) đều được thuật lại chi tiết, rõ ràng đúng như

Trang 14

trong thực tế Ví dụ: Vè năm 1976, Vè năm 1949, Vè năm Kỷ Sữu, Vè 1948, Vè 25 tháng Tám

Không ai độc ác Bằng tụi thực dân Pháp Tụi thực dân Pháp ở Sóc Trăng Chúng nó cả gan sửa con đường Đại Nghĩa Trong ngày 27 tháng Mười hai dương lịch Kéo dài đến năm 1948…

(Vè 1948)

Bởi tính chất bình dân của vè, lời nói dí dỏm đôi khi hài hước, nhiều tiếng dùng nôm na, còn cốt truyện thì rất gần gũi với tầm nhìn của nhân dân Nên dễ tạo niềm tin và lay động, thuyết phục tình cảm của người nghe Tiếng nói từ trái tim sẽ đến với trái tim, còn tiếng nói từ đầu môi chỉ có thể đến ngoài tai

Thưa các đồng chí, thưa bà con Tui xin kể một chuyện vui Hay cũng đừng khen, dỡ cũng đừng cười

Có một ngày nọ bộ đội về làng Tui thấy súng tôi ham

Tía tôi nói cho thằng này đi bộ đội

Má tui mới đem lòng lo sợ Bắt tui cưới vợ để cầm chân Còn tui nghe nói run lên như cù lét

(Vè anh lính Tây Đô)

Hơn nữa, thông qua nội dung của mỗi bài là thái độ khen chê thẳng thừng của người kể chuyện cho nên vè không bao giờ kể truyện một cách khách quan Chỉ những sự việc được nhân dân khen chê nhiệt liệt hoặc gay gắt thì mới được vè ghi lại Nhân dân chê bai những anh say xỉn, làm biếng, những người đàn bà chửa hoang…Nhân dân căm gét bọn cường hào ác bá, nhân dân than về nạn đói, thuế má nặng nề…Nhân dân đã kích, lên án, tố cáo bọn thực dân phong kiến Nhân dân ca ngợi những anh hùng nông dân, ca ngợi những người dũng cảm đấu tranh chống Pháp

Trang 15

Vè là “báo chí truyền miệng” xuất phát do nhu cầu phản ánh những sự kiện

có tính chất thời sự Vì thế, mà vè đáp ứng được nhu cầu biểu thị một cách kịp thời, công khai, dứt khoát, thái độ khen-chê của tác giả dân gian

Tóm lại vè là một thể loại tự sự dân gian bằng vần bởi vì vè có cốt truyện, có nhân vật tự sự, sử dụng từ ngữ nôm na, bình dân để hiệp vần lại với nhau Thông qua đó tác giả dân gian phản ánh thái độ khen chê về một sự vật, sự việc nào đó trong đời sống

Ở vè hai khâu sáng tác và biểu diễn thường tách rời nhau Có người chỉ biết sáng tác vè mà không hề biết biểu diễn Ngược lại có nghệ nhân chỉ chuyên môn kể

vè mà không hề sáng tác vè Sáng tác hay nhưng biểu diễn tồi thì bài vè chưa tốt và ngược lại biểu diễn tốt mà sáng tác tồi thì không mang lại nội dung nhận thức cho người nghe Vì thế, ta thấy tầm quan trọng của diễn xướng vè, hình ảnh; ngôn ngữ; kết cấu cách trình diễn phải phù hợp với nội dung tính tự sự ấy, sự thể hiện ấy qua cách diễn xướng phải bằng trái tim cảm xúc của người diễn xướng

Bài vè hay kết hợp với cách diễn xướng tốt có thể giúp ta nhận thức đầy đủ hơn về nội dung của bài vè Những bài vè bao giờ cũng mang một bầu nhiệt huyết, thể hiện cả tâm trạng đau buồn hay yêu gét của tác giả, nên ngôn ngữ tự sự của vè không bao giờ là một thứ ngôn ngữ lạnh lùng, khách quan, người nghe vè có thể thấy ngay được thái độ của tác giả, không những chỉ qua những lời phát biểu ý kiến trực tiếp, mà còn qua cả ngôn ngữ giàu cảm xúc, lời tự sự nữa

Về mặt ngôn từ thì vè không là một thứ ngôn ngữ lạnh lùng khách quan nên

nó rất gần với ca dao Có những bài vè ngắn, giàu tính chất trữ tình, thật khó phân biệt với ca dao, cái khác ở chúng chỉ là ở phương thức diễn xướng, một bên là kể truyện còn bên kia là hát

Trang 16

Yếu tố trữ tình dễ dàng nhận thấy ở vè than thân, tuy vè than thân hay vè lịch

sử xã hội đều có nhiều yếu tố trữ tình, nhưng có lẽ trong nhiều loại vè khác nhau thì

vè than thân mang đậm tính chất trữ tình nhất Những lời tự bạch, thể hiện ý thức về thân phận của người nghèo trong những câu vè than thân

Nghèo tanh nghèo hôi, Nghèo lồi mắt cá

Nghèo sả xương mông, Nghèo không gạo nấu

Lầu ba từng lại có võ môn

Nhựt nhựt thường kiểng đổ trống rung,

Xe song mã sướng đà quá sướng…

(Vè Đốc phủ ca I) Khi đọc bài “Vè nghèo” của tác giả dân gian ở Mộc Hóa-Long An Chúng ta

thấy được một bức tranh có đủ cái nghèo của người dân như: nghèo lồi mắt; nghèo

sả xương mông; nghèo tàn nghèo mạt…Qua đó ta còn thấy rõ sự đối nghịch giữa giàu và nghèo trong xã hội đương thời, người thì không có ăn, kẻ thì lại hoang phí

Tóm lại vè mang yếu tố trữ tình bỡi lẽ vè là một thể loại tự sự dân gian bằng vần, không chỉ thể hiện thái độ khen chê mà còn thể hiện sự đáng thương, sự đồng cảm những số phận éo le trong cuộc sống, đặc biệt vè thể hiện tính chất trữ tình của mình ở phương diện diễn xướng Khi diễn xướng vè người nghệ nhân diễn xướng phải bằng cả trái tim mình, phải đặt mình vào nhân vật kể vè để mà kể từ đó thể hiện sự đáng thương, những éo le, trắc trở cuộc sống để nhận được sự đồng cảm từ người nghe vè

1.3.3 Vè nổi bật tính thời sự

Vè kể lại những việc không bình thường, nhỏ thì thu hút sự chú ý của nhân dân ở một địa phương, một xóm, một ấp, một xã, một vùng, lớn thì có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của cả dân tộc Vì vậy vè phản ánh những con người có thật, những việc có thật xảy ra trong đời sống, tuy có lúc tô vẽ cho nhân vật những nét siêu phàm, nhưng đó là dụng ý kể chuyện của tác giả dân gian muốn biểu hiện một cách sắc nét những vấn đề đang hấp dẫn sự chú ý của mọi người

Trang 17

Đề tài mà vè hướng đến là những đề tài hiện tại (đương thời), nhằm phản ánh kịp thời những sự kiện, những biến cố đang diễn ra hoặc vừa mới xảy ra mà tác giả

dân gian đã ít nhiều chứng kiến, như Vè đánh tây; Tội ác giặc Pháp; Vè tố cáo giặc…Những đề tài ấy thường là những sự việc, sự kiện, thông thường trong đời

sống được tác giả dân gian chộp ngay lấy, ghi nhanh lấy, với tất cả những chi tiết cụ thể, riêng biệt, rồi kịp thời truyền đi rộng rãi để bày tỏ thái độ và gây dư luận trong nhân dân chứ không đợi nó lắng xuống

Với tính chất “Người thực việc thực” thể hiện trong những bài vè lấy đề tài ở

các sự kiện thông thường của đời sống, cùng với việc vè phản ánh những sự việc, hiện tượng ở hiện tại, ít chú trọng đến quá khứ Như vậy, một trong những đặc điểm tiêu biểu của vè là tính thời sự

Vè xuất hiện do nhu cầu phản ánh những sự kiện có tính chất thời sự, nên xét

kĩ vè là một thứ khẩu báo của địa phương, cho nên vè rất dễ bị lãng quên Khi một

sự việc, sự kiện mà vè đề cập đến không còn gây được sự chú ý của nhân dân, mà thay vào đó là những sự việc, sự kiện mới thu hút hơn Những bài vè phản ánh những sự việc trong quá khứ thường là những bài vè chỉ tồn tại trong kí ức của những người đặt vè và một số người đã chứng kiến hoặc sống qua thời kì sự việc đã xảy ra trong quá khứ, cho nên những bài vè được giữ lại đến nay với số lượng rất khiêm tốn Trên thực tế cho thấy số lượng vè từng tồn tại trong dân gian của một số địa phương như Nghệ An; An Giang; Sóc Trăng… là rất nhiều

Cũng chính vì tính thời sự, cho nên những bài vè hôm nay mới được truyền tụng, sự kiện hôm nay mới được nhắc đến, thì ngày mai bài vè ấy bị quên đi, sự kiện ấy đã bị lùi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho bài vè khác, sự kiện khác Ra đời trong một hoàn cảnh như vậy, vè chưa đủ thời gian để sửa sang gọt giũa hoàn chỉnh, nên nó vẫn mang nguyên vẹn tính chất thô sơ mộc mạc của thuở ban đầu

Tóm lại vè mang tính chất thời sự bởi vè phản ánh những sự vật, sự việc hằng ngày của địa phương, của đất nước một cách kịp thời để nhân dân trong làng,

xã, trong một đất nước biết tới sự kiện ấy, và do đó mà số lượng những bài vè rất nhiều, nhưng cũng dễ lãng quên do người ta phải nhớ một sự kiện mới và dễ quên

sự kiện cũ

Trang 18

1.3.4 Vè mang tính địa phương

Như đã nói vè mang tính thời sự phản ánh những sự kiện mang tính chất

“Người thực việc thực” chỉ rõ địa điểm, thời gian xảy ra sự kiện mà vè muốn phản

ánh Nên phạm vi những người quan tâm đến sự kiện mà vè phản ánh, làn sóng dư luận mà vè gây ra, mang tính chất địa phương rất rõ Nói chung, vè ghi lại những sự việc được sự quan tâm của nhân dân ở một xã, một huyện, một tỉnh hay một vùng, tuy rằng cũng có những bài ghi lại những sự việc có ý nghĩa toàn quốc Không phải bài vè nào cũng được phổ biến rộng rãi, có loại chỉ phổ biến ở một địa phương nhất

định (chẳng hạn loại Vè sợ vợ, Vè chửa hoang, Vè đào kênh…) Có loại tuy thuật sự

việc địa phương nhưng do tính chất tiêu biểu của sự việc nên có thể phổ biến rộng

rãi hơn ra các địa phương khác (chẳng hạn những bài “vè đi ở”) Và có những bài

vè tuy mới đầu chỉ ghi lại một sự kiện, nói về một nhân vật ở một địa phương, một vùng nhất định nhưng vì sự kiện ấy và nhân vật ấy về sau đã có ít nhiều ảnh hưởng đến toàn quốc, trở thành sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử thì bài vè dần dần được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau trong nước (vè nông dân khởi nghĩa, vè đấu tranh chống Pháp) Dầu sao, một đặc điểm rất tiêu biểu của vè vẫn là tính chất địa phương

Ở tính chất này thì vè thể hiện khá rõ, khi những sự vật, sự việc đi vào vè là những con người thật, những việc có thật, địa điểm, thời gian cũng được vè ghi lại một cách chính xác Vì thế mà vè thường gắn liền với một địa phương nào đó để phán ánh những sự vật, sự việc xảy ra ngay chính địa phương ấy, một phần cũng do phương tiện lưu trữ và truyền thông ngày xưa rất thô sơ và hạn chế, vè không được ghi lại cũng như là tuyên truyền rộng rải nên nó thường bó hẹp ở một không gian nhất định của một địa phương nào đó

1.4 Phân loại

Hiện nay việc phân loại vè đang được giải quyết theo những cách khác nhau, mỗi cách dựa trên những căn cứ nhất định Nhưng thương người ta vẫn dựa vào hai căn cứ là thể loại và đề tài để phân loại phân loại cho vè

Dựa vào thể thơ, người ta phân vè thành các loại: vè lục bát, vè song thất lục bát, vè nói lối, vè hát dặm Dựa vào để tài, nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian nước ta đã phân loại vè thành hai loại chính là vè thế sự và vè lịch sử Chúng tôi tạm lựa chọn cách phân loại theo đề tài để tiện cho việc nghiên cứu

Trang 19

1.4.1 Vè thế sự

Vè thế sự hay còn gọi là vè sinh hoạt là một bộ phận vè hướng về việc phản ánh và thông báo kịp thời, cụ thể những sự việc và biến cố xảy ra trong đời sống hằng ngày của nhân dân như: chuyện đám cưới, đám ma, bắt cầu, đào sông, mất mùa, nạn bão lụt… Nếu toàn bộ kho tàng vè dân gian chỉ được phân làm hai loại vè sinh hoạt và vè thế sự thì phạm vi đề tài của vè sinh hoạt vô cùng rộng lớn và phức

tạp Ngoài những bài vè nói về “thế sự” những sự việc và biến cố xảy ra trong đời

sống hằng ngày của nhân dân, vè sinh hoạt còn bao hàm cả những bài không mang tính thời sự trực tiếp như: vè trái cây, vè chim cá, vè phong cảnh…

Những bài vè kể vật kể việc không mang tính thời sự trực tiếp theo Cao Huy

Đỉnh, là chúng có đặt tính chung “vừa có tính chất nghệ thuật văn học vừa không phải như vậy Tính chất nghệ thuật văn học là ở phần tư tưởng tình cảm (nội dung)

và kết cấu âm điệu, hình ảnh là ngôn ngữ cụ tượng (về mặt hình thức) Tính chất phi nghệ thuật văn học là ở chổ nó làm ra vì mục đích khoa học và triết lý, hay nói đúng hơn vì mục đích đúc kết và truyền thụ một cách trức tiếp những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân; do đó, mà nội dung cách trí thường thức, khoa học thực hành và triết lý thực tiễn cũng chiếm phần cơ bản ở trong bộ phận sáng tác dân gian này” [10, tr.14]

Rõ ràng những bài kể vật là những bài cách trí của dân gian, nhưng qua sự kể

lể, chúng đã giới thiệu những đặc sản của địa phương và do đó, ở mức độ nhất định loại vè này cũng đã hàm chứa lòng tự hào về quê hương trù phú và tình cảm của người dân đối với thiên nhiên, sản vật của vùng đất ấy Trong khi ngfhiên cứu tìm

hiểu vè Nam Bộ cho thấy rằng chức năng “truyền thụ một cách trực tiếp những tri thức, những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân” của Cao Huy Đỉnh không hẳn đã

là chức năng cơ bản, không phải là mục đích chủ yếu cũng không chỉ là những bài

“cách trí dân gian đích thực” Loại vè này còn tồn tại trong dân gian với tư cách là

những bài đồng dao, do đó ngoài những bài học cách trí nó còn là bài hát vui của thiếu niên nhi đồng Những bài vè này mang nhận thức của con người về thế giới tự nhiên và thêm nữa nó là những bài học đơn giản và vui vẻ giúp con người mở rộng hiểu biết về thế giới đó Ninh Viết Giao đã từng ví von kho tàng vè Việt Nam là một

“Bách khoa thư”, trong kho tàng vè Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy những bài

học về địa lý, tìm hiểu những danh lam thắng cảnh của đất nước, những con đường,

Trang 20

ngọn núi, dòng sông, cửa lạch, eo biển… qua những bài vè đường bộ, đường sông, đường thủy:

Bãi Tròn lai láng mênh mang Ngó ra thăm thẳm là ngàn núi Dinh Qua mũi Dinh biển liền chín giải Mũi chỉ mặt trời “vác” lái ra đi (Vè nhật trình hàng hải đi vào)

Ngoài ra những bài vè mang tính chất bông đùa phù hợp với tinh thần tươi trẻ, lạc quan được sáng tác chủ yếu cho thiếu nhi Nó gần với đồng dao, vừa rèn luyện sự nhanh nhạy của tư duy, vừa giúp trẻ thực hiện được những trò chơi vui vẻ

như: Tập tầm vông; Xích đu lơ; Chi chi chành chành; Vè học chữ Nho.v.v

Cửu chín Thập mười Thiên trời Địa đất Nhơn người Phụ cha Mẫu mẹ…

(Vè học chữ Nho)

Hay:

Một con cóc Trên nóc nhà

Sa xuống chết Vật cho chết Vật cho chóc

Bỏ xuống ao…

(Vè mười con cóc)

Còn những chuyện kể về việc làng, chuyện xóm, như đã nói vè có tính chất khẩu báo, do tác giả dân gian sáng tác và truyền tụng rất rộng rãi nhằm phản ánh kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hằng ngày của xóm, ấp, địa phương, dân tộc Những bài vè thường có thái độ khen chê rõ ràng, dứt khoát và mạnh mẽ đối với những đối tượng được phản ánh, nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, theo quan niệm

Trang 21

của nhân dân Ví dụ: Vè chửa hoang; Vè dạy con; Vè say rượu.v.v Vè có thái độ

khen chê dứt khoát và mạnh mẽ đối với những đối tượng phản ảnh, nên khi nghe nói có người đặt vè thì người ta hay hỏi xem kẻ nào là đối tượng đả kích của tác phẩm, chứ ít ai hỏi tới đối tượng được ca ngợi

Trong vè thế sự có một số những bài vè có tính chất tự than rất đặc sắc, đây cũng là những bài vè giàu chất trữ tình nhất trong các loại vè thế sự, vè kể vật, vè lịch sử và cũng là những bài vè hết sức đặc sắc cả về nội dung tâm tình và nghệ thuật bộc lộ nội dung Những bài vè than thân, kể chuyện về chính bản thân của họ,

về thân phận của họ nên luôn có tính chất tâm tình, kể lể, than vãn thể hiện một ý thức đầy đủ về hoàn cảnh, về sự bất công, bất bình đẳng của những con người, những tầng lớp trong đời sống xã hội Và đôi khi nó còn là thái độ phản kháng, phê phán xã hội hoặc những kẻ bề trên:

Tiếng đồn cậu mợ ăn ở dễ lắm thay, Cho con ở mướn cầm cày một năm

Chưa gì lại có tiếng tăm, Trâu lên bờ mạ cậu hăm đánh đòn

Lòng mợ quyết chí bon bon, Cậu hăm đánh đòn mợ chẳng có tha

(Vè ở mướn)

Tóm lại vè thế sự là hệ thống những bài vè kể những chuyện xảy ra nhỏ thì trong làng, trong xã, lớn thì khắp cả nước Nhưng trong vè thế sự còn có một lượng không nhỏ những bài vè không mang lượng thông tin thời sự, phản ánh xã hội đến người nghe mà những bài vè ấy chỉ có mục địch mua vui, để giới thiệu những đặc trưng của địa phương, vùng miền nào đó chứ không phải bàn luận một sự vật, sự việc xảy ra trong cuộc sống

1.4.2 Vè lịch sử

Vè lịch sử là một bộ phận quan trọng của vè dân gian, đó là những bài vè nói

về các sự kiện và nhân vật lịch sử của cả dân tộc hoặc từng địa phương, mà tác giả dân gian là những người đương thời, ít nhiều được chứng kiến phản ánh kịp thời,

trực tiếp Theo Huỳnh Ngọc Trảng: “Đối với vè lịch sử, tác giả dân gian của nó không chỉ là những nhân chứng khách quan mà còn là nhân chứng sốt sắn, là người tham gia vào cuộc đấu tranh chống giai cấp thống trị tàn bạo, chống ngoại xâm

Trang 22

Họ còn gắn hoạt động của mình vào cuộc đấu tranh, tác phẩm của họ là một bộ phận hữu cơ của công luận là vũ khí tinh thần của phong trào đấu tranh dân chủ và

dân tộc" [10, tr.18]

Cũng giống như vè thế sự, vè lịch sử cũng lấy đề tài trong hiện tại nhằm phản ánh kịp thời, trực tiếp những sự kiện, những biến cố đang diễn ra hoặc vừa mới xảy ra mà tác giả dân gian đã ít nhiều được chứng kiến, nhưng nó lại tồn tại trong dân gian lâu hơn vè thế sự, vì sự ảnh hưởng của nó sâu rộng hơn vượt ra khỏi phạm vi địa phương và thời kì sinh thành của chúng Và, vè lịch sử phổ biến sâu rộng, lâu dài trong quần chúng nhân dân cho nên sự tham gia sáng tác tập thể của nhân dân đối với vè lịch sử cũng nhiều hơn và lâu dài hơn so với vè thế sự

Vè lịch sử là loại vè được lưu truyền rộng hơn cả, nó không chỉ ở một địa phương mà còn lan rộng khắp cả nước nhờ có sức sống lâu bền nhất trong các loại

vè Nhưng nhìn chung thì vè lịch sử chính là sự phát triển về sức sống và sự lan truyền của vè thế sự Vì có những bài vè tường thuật sự việc ở địa phương nhưng do tính chất tiêu biểu của sự việc nên có thể phổ biến rộng hơn ra các địa phương khác

Ví dụ: Vè đi ở, Vè chăn trâu, Vè chàng Lía.v.v Vè mới đầu chỉ ghi lại một sự kiện,

nói về nhân vật ở một địa phương, một vùng nhất định nhưng vì sự kiện ấy nhân vật

ấy về sau đã ít nhiều có ảnh hưởng đến toàn quốc, trở thành sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử, thì bài vè dần dần được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau trong nước

Tóm lại, vè lịch sử là những bài vè mà phạm vi ảnh hưởng của chúng không còn nằm trong phạm vi của một làng, một xã mà phạm vi ảnh hưởng của nó đã lang rộng ra toàn quốc Đó là những sự kiện lớn của cả nước hay đôi khi chỉ là những bài

vè mà nội dung của chúng phản ánh “tâm sự chung” mà khi nghe nó dường như ai

cũng bắt gặp hình ảnh của chính mình trong những câu vè ấy

Trang 23

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÈ NAM BỘ

có cái nhìn nhận, cái hiểu đúng về sự vật, hiện tượng vè đang đề cập, phản ánh

Tôi trồng một cây cải trời

Nó ra một là người đời thất kinh Một mình tôi ăn bảy nồi ba

Bộ ván tôi ngủ rộng đà năm gian

(Vè nói 1)

Vè kể về muôn vật lậy đối tượng là các sự vật, đồ vật hay con vật, vè muôn vật giúp người ta, đặc biệt là trẻ nhỏ, nhận biết, ghi nhớ tên gọi, đặc điểm của cỏ cây, chim chóc.v.v của muôn vật trong thế giới tự nhiên Cho nên khi nói về vè đầu tiên người ta thường nhớ ngay tới các bài hát ngắn của trẻ con, chúng đọc chơi cho vui miệng, hoặc chúng hát lên để góp phần sinh động cho những trò đùa Ví dụ:

Trò chơi Bắc kim thang thì:

Bắc kim thang cà rang bì rợ Cột qua kèo là kèo qua cột Chú bán dầu qua cầu mà té Chú bán ếch ở lại làm chi?

Trang 24

Con le le đánh trống thổi kèn Con bìm bịp thổi tò tí te tò te

Mỗi nhóm như vậy thì tùy theo ít hay nhiều người tham gia trò chơi, nhiều người thì chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm ít nhất là ba người và nhiều nhất là năm người Mỗi nhóm như vậy thì mỗi người trong nhóm đều đứng một chân, còn chân kia gác lên chân nhau, tay vỗ nhịp nhàng và cùng hát bài bắc kim thang, cùng nhảy

lò cò và xoay tròn đều, nếu nhóm nào hay thành viên nào làm mất liên kết thì bị thua

Nếu trò chơi là nhảy Ông đi qua, thì:

Ông đi qua

Bà đi lại Chị Cẩm Hồng Trồng cây bông Bông có trái Hái nấu canh Bức dây chanh Trộn gỏi

Số mười hai Lên voi Xuống ngựa

Với trò này thì hai người căn một sợ dây thun, còn những người còn lại lần lược hết người này tới người kia, bỏ chân vào giữa hai cọng dây rồi nhảy ra nhảy

vô, vừa nhảy vừa đọc bài Ông đi qua, hết bài thì nhảy ra Ai mà nhảy ra ngoài cọng

dây thì vào căn dây thế người kia, người kia vào nhảy

Nam bộ là một vùng đất mới, được khai phá và phát triển trên dưới khoảng

300 năm trở lại đây, nhìn chung đây là một vùng đất trẻ so với mảnh đất “nghìn năm văn hiến” Miền Bắc Nam Bộ bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình

Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long

An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Đây là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, và độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta, hệ thống sông ngòi dày đặc có khoảng 4000 kinh rạch, tổng chiều dài

Trang 25

5700 km, một bờ biển kéo dài từ Bà Rịa- Vũng Tàu đến Kiên Giang Nam Bộ được chia thành hai tiểu vùng nhỏ là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh Tây Nam Bộ gồm: Long An, Tiềng Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Địa hình ở mỗi vùng mỗi khác, Đông Nam Bộ với địa hình có độ cao 100m-200m là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ, Tây Nam Bộ có

độ cao trung bình chưa đầy 2m, là vùng đất phù sa mới Đồi núi trong vùng tập trung không nhiều và tập trung ở miền Đông Nam Bộ, như núi Bà Rá (Bình Phước), Núi Chứa Chan (Đồng Nai), núi Bao Quan; núi Thị Vải (Bà Rịa- Vũng Tàu), núi Bà Đen (Tây Ninh).v.v Ở Miền Tây Nam Bộ chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang) Khí hậu đặc trưng của Nam Bộ là nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, vùng tương đối điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4

Khi nói tới Nam Bộ người ta biết nơi đó có đồng bằng sông nước, đó là Tây Nam Bộ một vùng đất thích hợp phát triển nông nghiệp lúa nước, từ bao đời nay trồng lùa nước trở thành một cái nghiệp gắn bó bao đời nay với người dân Nam Bộ, không chỉ riêng người dân Nam Bộ mới biết canh tác lúa nước nhưng ở vùng đất này nỗi tiếng là vựa lúa lớn nhất cả nước hàng năm đóng góp vào tỉ trọng xuất khẩu gạo nước ta đứng nhất, nhì thế giới Muốn có được một mảnh đất ruộng canh tác những con người nơi đây đã sống những ngày lam lũ, đấu tranh với sự khắc nghiệt của tự nhiên để khai phá vùng đất màu mở này Để có một thành quả như ngày hôm nay là biết bao mồ hôi, xương máu của bao thế hệ đi trước, rồi để có được một hạt gạo những con người nơi đây đã phải lao động cần cù, miệt mài qua năm tháng để

có được “hạt ngọc của trời” Tất cả được người dân Nam Bộ kể qua các bài vè như: Vè lúa miền Tây; Vè làm ruộng; Vè các thứ lúa.v.v

Buồn hoài buồn hủy Chính lúa nàng già Không mẹ không cha Tháng ngày than bận

Là lúa nàng Điền

Trang 26

(Vè lúa miền Tây)

Nam Bộ không chỉ nỗi tiếng là vựa lúa lớn nhất cả nước mà còn là nơi thuận lợi cho việc phát triển các cây cây trái, cây công nghiệp lâu năm Nam Bộ được biết đến với những loại trái cây như Bưởi năm roi ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; vú sữa Lò Rèn ở xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; dừa sáp Cầu Kè ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh; xoài cát Hòa Lộc ở xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; mít ruột đỏ miền Tây ở quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

Giống không nên cúng,

Là trái chuối già

Bên tàu đem qua,

Trang 27

Điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, ở Nam Bộ còn biết tới là có hệ thống sông ngòi chằng chịt không chỉ cung cấp một lượng lớn đất phù sa hằng năm

mà còn phục vụ tưới tiêu để phát triển nông nghiệp Vì vậy người Nam Bộ họ còn

tự hào về những rau, củ mà họ đã tạo ra cung cấp cho các chợ đầu mối lớn, không chỉ là vựa lúa của cả nước, với những trái cây ngon nỗi tiếng mà họ còn biết tới bỡi những cánh đồng rau xanh như: rau cải, vấp cá, rau lang… đến những loài mọc hoang nhưng cũng đem lại giá trị dinh dưỡng trong bữa ăn hằng ngày như: rau má; bông điên điển…

Ăn hơi tanh tanh,

Là rau vấp cá

Có cha không mẹ, Rau má mọc bờ

(Vè rau)

Nam Bộ có đường bờ biển kéo dài từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Kiên Giang, hơn 4000 kinh rạch tổng chiều dài các con kênh lên tới 5700km, với sức chảy của dòng nước thì kênh rạch ở Nam Bộ không thể dùng để khai thác thủy điện cho dù số lượng các con sông lên đến hàng ngàn Nhưng ngược lại với địa hình đồng bằng, dòng chảy yếu nên ở đây rất thuận lợi cho việc phát triển khai thác thủy sản, số lượng cũng như loài thủy sản ở đây rất phong phú và đa dạng nào là cá tra; cá sặt;

cá bống; cá thu; cá ngát.v.v hay những loài tôm bạc; tôm càng; tôm gạo.v.v ngoài những loài thủy sản sống trong môi trường nước thì cá cá thể trong quần thể sinh vật nơi đây cũng từ đó mà đa dạng và phóng phú Những lưu dân đầu tiên khi đặt chân lên vùng đất hoang sơ này ngày đầu tiên chắc hẳn rằng họ sẽ rất ngạt nhiên với

một nơi “làm chơi ăn thiệt” ở đâu đâu họ cũng có thể tìm cho mình những thức ăn

từ trong tự nhiên, nhưng không vì thế mà họ khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản này, họ từ việc khai thác để phục vụ cuộc sống mưu sinh đến bảo vệ nguồn tài nguyên ấy không bị khai thác cạn kiệt gây mất cân bằng sinh thái Thay vào đó

họ đã nuôi trồng bên cạnh việc đánh bắt khai thác thủy hải sản, làm cho nguồn lợi thủy sản từ những con kênh, con rạch ngày càng phong phú và đa dạng về số lượng

Vì thế họ rất tự hào về một vùng đất đầy ắp cá tôm và họ đã đặt ra nhiều bài vè để ghi lại, để khoe khoang, tự hào về vùng đất mình đang sống:

Trang 28

Thiệt giống loài người là con cá nược, Lội đi hết được là con cá tra

Cá mới nở ra là cá tai tượng, Hay trận thượng là con cá kình

(Vè cá)

Hay những con cá dưới biển:

Cá nuôi thiên hạ là con cá cơm, Không ăn bằng mồm là con cá ngát

Không ăn mà ú là con cá voi, Hai mắt thòi lòi là cá trao tráo

(Vè cá biển) Hoặc nói về tôm, cá thì:

Bắt người ăn thịt là con tôm hùm

Ăn bụi ở lùm là con tôm cỏ Bắt bỏ vào giỏ là con tôm lương

Gánh đất lấp đường là con tôm đất,

Vô chùa lạy Phật là con tôm tu

là con cá ngát Và ông Rễ cũng ở thành phố Hồ Chí Minh thì: Tánh hay ở bàu là con cá chạch./ Ăn cám ăn bào là con cá sặt./ Ăn bùn ăn cát là con cá kèo./ Da thịt trắng bảnh là con cá thác lác./ Nhỏ tác có râu là con cá chốt

Trang 29

Nhưng tất cả đều là liệt kê các loại cá của địa phương, tự hào về một miền sông nước đầy ắp các loại cá tôm Ở mỗi bài vè có cách đặt vè khác nhau cho từng loại cá cho hợp vần hợp điệu làm nổi bật lên cái riêng biệt ở từng địa phương cũng

là những câu có vần có điệu dễ đọc, dễ nhớ với mỗi con người nơi mà họ đặt vè và cũng làm phong phú hơn cho kho tàn văn học dân gian nói chung và vè nói riêng

Cũng như đã nói thì các quần thể sinh vật ở Nam Bộ rất phong phú và đa

dạng cả về loài và số lượng, đây là một mảnh “đất lành chim đậu” không chỉ đơn

thuần chỉ có cá dưới sông là niềm tự hào của người dân Nam Bộ, mà ở Nam Bộ còn nhiều điều đáng để người dân nơi đây tự hào mỗi khi kể cho người khác xứ về quê hương của mình qua những câu ca, điệu hát và còn qua những câu vè mộc mạc chân chất bình dân nhưng thể hiện sự tự hào của người dân Nam Bộ Dưới sông là cá thì trên bờ chúng ta không thể không nhắc tới các loài động vật Khi nói về động vật, chim muôn ở Nam Bộ người ta không thể không nói về những vườn cò, nhưng khu bảo tồn động vật như: vườn cò Bằng Lăng; trại rắn Đồng Tâm; tràm chim Tháp Mười.v.v ở nơi đó không những có những loài chim chóc, cầm thù đặc trưng như: rắn hổ mây; rắn roi; rắn hổ mang; chim én; trẻo trẹt.v.v được thể hiện trong các bài

vè như: Vè cầm thú; Vè chim chóc; Vè rắn.v.v

Không chỉ kể về những loài vật mang nét đặc trưng riêng (không phải chỉ ở Nam Bộ mơi có nhưng chỉ ở Nam Bộ chúng ta mới thấy nó nhiều) đến những loài vật khác như: ểnh ương; kỳ nhông; kiến.v.v cũng được người dân Nam Bộ khắc

họa chúng qua những câu vè, bài vè với ngôn từ dí dỏm, hài hước, vui tươi như: Vè kiến; Vè thợ nấu.v.v

Bọ hung phá lẩu Sâu rọm xào dừa

Bỏ nghệ bỏ tiệu Cùng là nước mắm

(Vè thợ nấu)

Với tính cách phóng khoáng và sống hòa hợp với thiên nhiên, và một phần nơi đây được sự ưu đải của thiên nhiên nên những con người lưu dân khi vào đây khẩn hoang vùng đất mới đầy rẩy những rủi ro nguy hiểm, những người lưu dân đến đây họ là những con người hoàn cảnh gặp nhau, người thì thân mang trọng tội, người thì quê hương nghèo đói lại bị sự áp bức, bóc lột của các tầng lớp thống trị,

Trang 30

họ không cam chịu số phận đó họ muốn tìm tới một vùng đất mới tự do hơn, hay là những người lính bị đưa đến canh biên ải.v.v Họ là những con người tứ sứ, mỗi người mỗi hoàn cảnh, họ đến đây chỉ với mục đích sinh tồn, tìm một bầu trời tự do Khi đến đây họ chỉ đem cho mình một niềm hi vọng sống, một cuộc sống mới đổi khác và họ đã có được một cuộc sống mới, giữa cảnh hoang vu của vùng đất mới chứa đựng những bí ẩn đầy hiểm nguy, những con người lưu dân họ phải đánh đổi tất cả, kể cả mạng sống của mình để có được một cuộc sống tươi đẹp hơn mà họ đã từng hi vọng, từng muốn xây dựng nó Và từng bước họ đã chinh phục khai phá vùng đất mới này, họ chinh phục bằng cách chung sống hòa hợp với nó, vùng đất hoang vu này chứa đựng nhiều nguy hiểm nhưng chính những nguy hiểm ấy lại nuôi sống chính họ, nơi đây là một vùng đất nhiều thú dữ, nhưng đó cũng chính là nguồn lương thực chủ yếu của họ trong tự nhiên Họ đến đây chỉ có một niềm hi vọng thay đổi cuộc sống thì họ chẳng còn thứ gì, họ phải lao động tìm kiếm những

gì có thể ăn được để chống chọi những tháng ngày lưu dân Vì thế, những con người lưu dân ấy đã tìm tòi, chế tạo và phát hiện những món ăn mà những nguyên liệu có sẳn trong tự nhiên Với những nguyên vật liệu có trong tự nhiên, con người không chỉ biết làm những món ăn sống qua ngày mà còn làm nên những loại bánh mang đặc trưng của vùng miền, là một niềm tự hào về một vùng đất trù phú Tất cả được

thể hiện qua cá bài vè như “Vè bánh” hay “Vè các món ăn”:

Mắm lòng châu Đốc Nem Nướng Thủ Đức Giò chả lai vung (Đồng Tháp) Cần Thơ chuột đồng

Bánh phồng Sa Đéc Gạo thơm Cần Đước

(Vè các món ăn)

Đó là những thổ sản địa phương mà người dân Nam Bộ họ rất tự hào, đứng ở khía cạnh hay góc độ nào thì chúng ta cũng dễ dàng hiểu thấu tấm lòng của người dân Nam Bộ hay ở vùng miền nào khác Khi ta sinh ra và lớn lên trên một mảnh đất nào đó thì ta gọi chúng là quê hương, là những gì thân thuộc, gắn bó với ta từ nhỏ,

ta yêu ta quý nó và đương nhiên ta tự hào về những gì mà chính quê hương nơi ta được sinh ra, lớn lên có được không biết những thứ đó có hơn được vùng miền khác

Trang 31

không nhưng trong sâu thẩm thâm tâm của mỗi người thì cái gì của quê hương mình, gần với mình gắn bó với mình cũng là nhất Không dừng lại ở những sản vật địa phương, ở Nam Bộ đáng chú ý hơn, nổi bật hơn đó là những bài vè nói về các

con sông như: Nhật trình hàng hải đi vào; Vè dọc đường sông; Vè lưu thông đường ghe.v.v

Nó phản ánh những nét sinh hoạt của người dân Nam Bộ khi mà các phương tiện giao thông chưa tiên tiến thì phương tiện giao thông đường thủy là chủ yếu của người dân nơi đây, nên việc mạng lưới sông ngòi chằn chịt, việc giao thương bằng ghe, thuyền là một trong những đặc trưng của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ

Kể từ Chợ Lớn xuống vườn Đường đi nước bước chưa từng nên hư Ruột ngựa thả xuống Ngã Tư

Đường về Rạch Cát cũng như đường này

(Vè lưu thông đường ghe)

2.2 Vè thế sự

Nam Bộ là mảnh đất tập hợp những con người lưu dân, họ đến đây với nhiều

lý do khác nhau, nhiều loại người khác nhau, nhiều sắc tộc, tôn giáo khác nhau Nhưng khi họ di dân vào vùng đất hoang sơ màu mở Nam Bộ này họ lại gắn kết với nhau, cùng nhau chống chọi lại mọi bất lợi của thiên nhiên để cùng nhau khai phá vùng đất mới, họ tập trung lại sống gần nhau lập nên làng, ấp, nên cũng chính vì thế

mà họ càng gần gủi nhau, gắng bó nhau hơn, họ quan tâm, giúp đở lẫn nhau, đoàn kết một lòng để cùng nhau vượt qua gian khó trên vùng đất này

Những người lưu dân vào Nam Bộ thường là không máu mủ, đứng trước cái thiên nhiên xa lạ, không ít ác liệt, con người không thể không dựa vào nhau, tin vào nhau, thực lòng với nhau để cùng nhau tồn tại mưu sinh, trật tự trị an không đặt ra gay gắt Bởi thế, tình thương than tương ái, thực lòng giúp đở lẫn nhau, trọng nghĩa khinh tài, thấy sự bất bình chẳng tha, trọng quan hệ đối xử bạn bè làng xóm, lân gia, lân ấp đã nhanh chóng nãy nở ở những lưu dân đầu tiên vào khai phá miền đất Nam

Bộ Bởi vậy, làng xóm chính là nơi gần gủi thân thuộc, là nơi gắn bó như máu thịt của họ, những vấn đề lớn nhỏ xảy ra trong làng ngoài xóm là những điều quan tâm thường nhật của dân làng Vì vậy, có thể nói, nhóm bài ca này là nhóm tiêu biểu cho thể loại vè, là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của ý thức xã hội – lịch sử trong sự thể

Trang 32

hiện ở thơ ca, nếu nói vè nổi bật ở tính thời sự thì vè kể chuyện làng xóm giàu tính thời sự nhất, nó nảy sinh từ nhu cầu biểu thị một cách kịp thời, công khai tình cảm hay thái độ của dân làng đối với những sự kiện bất thường xảy ra trong làng xóm, tác động mạnh đến nhân sinh quan hay quan điểm đạo đức, tình làng nghĩa xóm truyền thống của nhân dân Khi kể lại khá chính xác, tường tận những chi tiết sự kiện, người thực việc thực, vè kể chuyện làng có sức thuyết phục lớn, gây xúc động hay phẫn nộ đối với người nghe, xới lên dư luận khen chê rõ ràng, dứt khoát, mạnh

mẽ Ví dụ: vè kể những người con dâu có nghĩa, những người con dân bạc tình, về một cô gái chửa hoang, một anh chàng làm biếng.v.v Ví dụ: vè kể về một người phụ nữ làm biếng được kể với rất nhiều chi tiết rất thực, cụ thể

Công việc điếm đàng,

Ăn tray nói chuyện

Chúng đào ông bới cha, Chửi mà tan nát

(Vè làm biếng) Bài vè phê phán một kẻ sống thừa bằng thái độ chê cười, “Miệng luôn ăn trầu/ Tối lại ngủ quên Công việc điếm đàng/ Ăn tray nói chuyện Quơ lấy cái nồi / Đập nhầm cái tách” kết cục của sự lười biếng là sự trừng phạt của người chồng và những con người lẳng lặng làm thinh “Lạy anh một lạy xin tha / Chị em trong nhà

ra can tôi với/ Chị em trong nhà lẳng lặng làm thinh/ Để cho tôi đánh thất kinh cái lười.” Đó là hình ảnh cực tả kết cục của những kẻ lười nhác, cũng chính là bài học

sâu sắc thức tỉnh mọi người về những kẻ không có ý thức sống bằng lao động chân chính Cũng như ở Nam Bộ, Bắc Bộ cũng có một bài vè khắc họa hình ảnh một anh chàng lười nhiều chi tiết cũng chân thực, cụ thể, cha mẹ cho đi học chữ, không học; học cày, không chịu; học buôn, cũng không Cuối cùng:

Cô bác xót xa Kêu cho nắm gạo

Bỏ mồn triệu trạo

Sợ nấu mất công Chết rũ giữa đồng Rồi đời thằng nhác

(Vè chàng lười)

Trang 33

Bài vè cũng phê phán một kẻ sống thừa nhưng cùng với thái độ chê cười đó

là sự thương xót Lời kể dẫn dắt ta đi hết cố gắng này đến cố gắng khác của gia đình

và làng xóm để lôi kéo anh lười trở về với cộng đồng, nhưng kết cục vẫn là cái chết

bi thảm, nhếch nhác, của anh ta, “Chết rủ giữa đồng”

Với tư cách khẩu báo, vè kể chuyện làng vừa có tính truyện vừa có tính chất thông báo tin tức kịp thời, nó thể hiện tình cảm gắn bó và quan tâm sôi nổi của nhân dân đối với sự kiện lớn nhỏ xảy ra trong làng ngoài xóm Cho nên nếu làng có một

cô gái không chồng mà chửa, lập tức sẽ có vè:

Bây giờ tôi chửa nghén mênh mông Biết ai là chồng đặng họ nuôi tôi Bây giờ sanh đẻ ra rồi

Bồng về bà ngoại coi thời giống ai

(Vè chửa hoang)

Mặc dù các nhà đạo đức từng đưa ra biết bao nhiêu điều ngay phải, cốt để khuyên răn con người đi theo khuôn mẫu mà luân lí ngàn xưa đã coi là đúng với mĩ tục, thuần phong Nhưng con người bản sinh là hiện thân của tội lỗi, cho nên biết bao nhiêu hư hèn, đốn mạt cũng xuất phát từ ở con người Để trì níu nhau trở lại chổ

tốt mà “tính bổn thện” hay “Phật tính” sẵn có đã bị xiêu lệch, cũng chính ở con

người, đã có những lưỡi búa, ngọn rìu để đưa lên hăm he, răn phạt nhau Ngoài số các bài thơ trào phúng hữu danh, các truyện tiếu lâm châm biếm làm người ta xám mặt, còn có lắm bài vè ray rứt, xoi mói làm người ta phải lấm lét gục đầu Bên cạch

đó còn có những bài vè đặt ra nhằm giáo huấn, khuyên ngăn con người ta sống sao

cho phải đạo như đạo làm con, đạo vợ chồng.v.v Ví dụ như: Vè mẹ dạy con dạy con; Thạch, Mỹ, Quản Thơ; Vè dạy dâu; Vè dạy trẻ.v.v

Tuy đặt vè để nói mà chơi thôi, nhưng nó là một bản án có khác! Nước sông nào mà gột rửa cho sạch cái vết nhơ mà cả làng, cả xóm người ta bêu ríu, khinh cứu? một người phụ nữ con quan mà lại làm điều nhơ nhớp, lấy trai giết chồng Hay

những bài vè phê phán các tệ nạn xã hội như đánh bài, uống rượu, chơi hụi.v.v như:

Vè đánh bạc; Vè cờ bạc, Vè chơi hụi,Vè đánh bài cào, Vè đánh bài tây, Vè say rượu; Vè uống rượu.v.v

Những thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội ấy được các bài vè thể hiện rất cụ thể

và chi tiết, thông qua những bài vè ấy ngoài việc châm biếm sâu cay nó còn dùng để

Trang 34

giáo huấn, răng đe, cảnh báo cho mọi người biết đó là cái không tốt, không đúng chúng ta không nên vướn vào Tác giả dân gian còn đưa ra những hậu quả hệ lụy của những thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội để làm tăng tính thuyết phục của bài vè ví

dụ như bài “Vè các thiếm đánh bài giờ” bài vè mở đầu bằng giới thiệu về một

người phụ nữ tên X Đây là một mẫu phụ nữ đại diện cho những người thích chơi đánh bạc Cô thông X được tác giả giới thiệu là một người đẹp:

Bề sắc diện ít tay dám sánh, Cuộc trang điểm bao bảnh hơn người

Đặng chồng cưng đặng thiếm thảnh thơi Thiếm nhàn cuộc lên xe xuống ngựa

Từ giới thiệu một người đẹp ít ai sánh bằng, được chồng thương yêu chiều

chuộng rồi bắt đầu sinh tật cờ bạc, mới đầu thì tứ sắc rồi đến bầu tôm, “me, phé, xó

hủ đủ môn” trong cuộc vui chơi cờ bạc ấy người ta quên đi mình là ai, thân phận gì,

người ta chỉ còn tập trung, chú ý đến ván bài, đến việc thắng thua Cũng vì thế mà:

Một hai khi nhiều trai lận cận Thấy đông vậy cũng lấn vào chơi Buông lời ăn nói lả lơi

Thả giọng bày hơi chọc ghẹo Một khi vào ván bài thì “trí mảng lo trong chổ ăn thua” chơi quên cả thân,

cả phận thì nói gì tới giờ giấc Các người chơi chung với thiếm thông X là những toàn vợ quan, vợ lính đến giờ họ phải về cơm nước còn thiếm thông X thì được cái

có sắc đẹp được thầy thông thương yêu chiều chuộng nên không phải làm việc gì

Dù có việc gì thì thiếm cũng khoáng cho bọn người làm trong nhà làm để thiếm được thảnh thơi mà đi cờ bạc, rồi một hệ luy kết quả kéo theo của nạn cờ bạc là thiếm bắc đầu nói dối chồng mình:

Giống cờ bạc dạy người nói trớ Thiếm Thông thường kiếm cớ gạt chồng Mỏi mệt tại ngồi sòng

Lại khai rằng bịnh hoạn

Đó cũng chưa phải là những lời nói dối gây hậu quả quá lớn, tiếp theo những lời nói dối ấy là những món hàng trang sức đắc tiền mà thầy Thông mua cho thiếm, thiếm đem đi bán hay cầm cố để trả nợ cờ bạc hết và thay vào đó là những món

Trang 35

hàng giả tạo và lời nói dối mỗi khi thầy Thông hỏi là “Tôi cất đó” Một khi cũa

trong nhà không còn gì giá trị thì thiếm thông X bắt đầu tìm cách để có tiền một phần trả nợ, một phần là đi gở gạt Trong bài vè thì thiếm thông X chỉ về nhà ba mẹ mình nói những lời điêu ngoa để có ít tiền, trong thực tế thì biết bao nhiêu hệ lụy của nạn trộm cắp, dực dọc.v.v Nhưng mọi chuyện không dừng lại ở việc là dối gạt

người này người khác để có tiền mà thiếm thông X đã không giữ được “Tam tòng

tứ đức” thiếm thông X đã:

Thiếm Thông chừ đã lỡ Bức phong tình, khó trở đường ngay Lúc canh khuya thức giấc bên thầy Thấy chồng nghĩ tấm lòng thảm thiết Rơi nước mắt xót điều trinh tiết

Đâu đến nỗi nhục hình thái quá

Buồn thì học may học vá, Buồn thì học bánh, học thiêu

Buồn xem thơ đặng giải tình nhiều, Buồn đọc truyện lãng khuây đôi lát

Buồn sao lại tập cờ, tập bạc,

Ấy là buồn lại giục buồn thêm Bài vè đã nói rất rõ “Cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà rách nát ra thân ăn mày” Là một tấm gương trước mặt cho những ai đã và đang cờ bạc, vì cờ bạc mà thiếm Thông X đã lừa dối chồng, mượn tiền ba mẹ, và bán rẻ cái “Tam tòng tứ đức”

của một người phụ nữ và chuốt lấy những món nợ ưu phiền

Cờ bạc thì “bán vợ, đợ con” còn rượu chè thì làm cho “tàn gia bại quốc”, uống “bảy, tám cốc chuyện trời coi như chút đỉnh”, khi còn tỉnh thì “Anh em Chòm xóm kẻ thương người vì” còn khi say thì “Đái kia trong gạch, chẳng đi ra ngoài”

Trang 36

Rất nhiều hình ảnh của một bợm rượu suốt ngày say xỉn được tác giả dân gian khắc họa một cách chân thật và cụ thể, nào là nhậu tới nỗi vợ con dìu dắt về nhà, nhậu

xong ngủ bờ, ngủ bụi “Gặp rừng cũng ngủ chớ hề sợ ma”, nhậu rồi “mửa ra một đống tanh hôi / đầy mo mọi vật, ruồi lằn không bâu” Ngôn ngữ vè bình dân gân

gủi, dễ nhớ, có phần hóm hỉnh, vui vẻ, nhưng đằng sau nó là những lời khuyên giáo huần của người đời:

Uống sáu ly ai nói nấy nghe

Uống bảy ly làm xe lội nước, Uống tám ly chân bước, chân quỳ

Uống chín ly con gì mà kể, Uống mười ly khiêng để xuống xuống

(Vè uống rượu)

Như đã nói, những người lưu dân đầu tiên đặt chân lên vùng đất Nam bộ này

họ là những người không máu mủ, ruột thịt, đứng trước sự hùng vỹ của thiên nhiên, những nguy hiểm, khó khắn họ tin tưởng, gắn bó, đoàn kết nhau lại để cùng sinh tồn

và chinh phục thiên nhên Từ đó mối quan hệ giữa con người với con người càng xích lại gần hơn, nên việc họ quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau là không thấy gì là lạ Vời tính cách người Nam Bộ rất phóng khoáng và thẳn thắn, họ không sợ bị mất lòng khi phê phán hay chế trách một việc gì và họ không tiếc những lời ngợi khen với

những việc đúng, việc tốt Được phản ánh qua các bài vè như: Vè nói tính; Vè xóm giềng; Vè lối xóm.v.v

Vừa nói vừa đi là cô Bảy Tiến, Tình hay làm biếng là ông Năm Nam

Làm chuyện lam nham là ông Tám Bộ, Tánh hay giả bộ là Hai Khải

Hay quải bị là thằng Cầu,

Ăn trầu đỏ lòm là bà Tú

(Vè nói tính)

Đôi khi nó còn là những việc bình thường xảy ra xung quanh cuộc sống của

họ như việc làm ruộng, uống rượu, chơi bài, chơi hụi, ăn thịt chó.v.v bằng những ngôn ngữ bình dân, không cầu kỳ, bóng bẩy, nó mang màu sắc cụ thể của hình tượng, rất gần gủi với đời sống thường nhật của quần chúng nhân dân lao động,

Trang 37

ngay trên đồng đất của mình Đó là hơi thở còn mang mùi bùn đất của những người

dân từng một thời mang lưỡi leeng, lưỡi phảng đi mở đất phương Nam

Trời cho mưa xuống Nước nổi đầy đồng

Bớ chú đàn ông

Be bờ gieo mạ (Vè làm ruộng)

Bên cạnh làm ruộng là những việc đi cấy, đi cày, những bài vè tường thuật những biến cố lớn nhỏ trong sinh hoạt làng xóm như vậy đã phát họa một bức tranh quê xưa gồm cả những mảng tối sáng, cả thái độ khen chê, ca ngợi hay phê phán bằng dư luận Nhưng giữa khen và chê thì vè thường nhấn mạnh tính chất đáng chê,

đáng phê phán nhiều hơn, vì thế việc đi cấy giỏi dở cũng được đặt vè để lại như Vè công cấy và Vè Trùm Vạn

Bên cạnh đó các hoạt động khác cũng được vè ghi lại một cách chi tiết, cụ thể và sinh động, tạo nên một bức tranh lao động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

như: Vè chăn vịt; Vè đi biển; Vè đánh lưới; Vè bán bàng; Vè chợ lục Tỉnh.v.v mỗi

bài vè khắc họa một khía cạnh nhỏ của đời sống sinh hoạt của người dân Nam Bộ

Thân tôi coi vịt cực khổ vô hồi, Sáng ra ngồi trông trời mau xế như chúa trông hiền thần Hai cẳng lần lần như Địch Thanh thắng trận,

Quần áo chưa kịp bận như Tào Tháo bị vây

(Vè chăn vịt)

Mở đầu là một sự than than trách phận “Thân tội coi vịt cực khổ vô hồi”

nhưng sau đó là hàng loạt các nhân vật lịch sử nỗi tiếng được so sánh với các hoạt

động chăn vịt, một cách ví von khôi hài “Tay cầm cái cây/ Tề Thiên Cầm thước bản.Chiều về như Phàn Lê Huê nhập trại” “Vè đi biển” thì không ví von các hoạt

động với các nhân vật lịch sử mà là liệt kê những hòn đảo, các địa danh như Hòn Tay; Ghềnh Bà; Ba Chơn; Tà Lơn.v.v

Thuận buồm gió thổi lai rai, Phút đầu đã thấy Hòn Tay, Ghềnh Bà

Buông lèo một đỗi vừa xa,

Trang 38

Đồi mồi nằm nước, dựa kề Ba Chơn

Vui thay một cảnh Tà Lơn,

(Vè đi biển)

Cuộc sống sung túc của người dân Nam Bộ còn được nhận thấy ở việc giao thương mua bán, các chợ mọc lên đông đúc là nơi diễn ra các cuộc trao đổi, mua bán hàng hóa của những người dân ở đây hoặc với những thương lái mua đi bán lại

ở những vùng miền khác Chúng ta nghe điểm qua các chợ ở Nam Bộ:

Cái chợ đầu đàng là Chợ Lớn,

Ba con đường ớn là chợ Sài Gòn

Lắm bà nhiều con là chợ Bình Đông,

Ăn nó no lòng đó là Chợ Gạo

(Vè chợ lục tỉnh)

Bên cạnh những bài vè về lao động sản xuất hàng ngày thì còn có những bài

vè ghi lại những nếp sinh hoạt văn hóa ở Nam Bộ Những bài vè ghi lại cảnh sinh hoạt ngày tết ở Nam Bộ, họ sinh hoạt và vui đón tết như thế nào, các phong tục tập quán cưới hỏi, ma chay ra làm sao tất cả điều được vè kể lại Cảnh sinh hoạt của những phiên chợ tết, ồn ào và tấp nập kẻ mua người bán:

Trang 39

Hai là lễ đáo, Tảo mộ ông bà

(Vè tết)

Các nghi thức lễ nghi cưới xin ma chay thì:

Quả lương tử treo lên cho đẹp, Hai bình bông kết tụi lan sè

Rượu song chưn mua lấy mười ve, Trà đơn tử dung chơi ít cặp

Bộ xưa chú trọng nhất đến Lễ hỏi, các sính lễ nhà trai đem đến nhà gái trong dịp này mang những nét rất riêng của văn hòa Nam Bộ, các sính lễ đều là số chẵn, gồm có: Khay trầu rượu, tiền cưới; Cặp đèn hòa lạp kết hoa; Mâm trầu cau; Mâm bánh; Mâm trái cây; Một con heo sống

Khi còn trẻ con, mọi người sống với gia đình cùng ông bà cha mẹ, lúc thành niên bắt đầu xây dựng sự nghiệp, cưới vợ lấy chồng rồi sinh con đẻ cháu, bỗng thoáng đó đã trở về già có khi vì lão hóa sinh ra bệnh tật, và về lại lòng đất Những chu kỳ ấy không bao giờ thay đổi, có chăng người đó được sống thọ đến bao nhiêu tuổi, chứ chưa ai được hưởng sự trường sinh bất tử cả Vì thế trong phong tục Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng, khi trong gia đình có người thân qua đời, ai cũng buồn thương nhớ, dù người chết có sống đến trăm tuổi đi nữa.Tuy vậy việc sửa soạn lễ tang theo phong tục phương Đông tuy thấy đơn giản, nhưng lại có rất nhiều lễ tục diễn ra đa số còn tồn tại đến ngày nay: Chia gia tài; Chuẩn bị tang lễ; Tẩm liệm nhập quan; Thành phục; Nghi thức tang gia; Động quan, di quan; Hạ huyệt; Ngu tế Còn sau khi chết thì: Mở cửa mả; Cúng thất tuần và chung thất; Tốt khốc; Đại tường và đàm tế; Cải tán

Trang 40

Những bài vè đặt ra nhằm giáo huấn cho con người những điều tốt đẹp, sống sao cho đúng đạo làm người, không chỉ có những bài vè về lao động sản xuất, sinh hoạt, hay là phong tục tập quán mà vè Nam Bộ còn có những bài vè giáo huấn đạo đức con người, rất xác, rất thực tế như vè dạy con, dạy vợ, dạy dâu.v.v tính chất phê phán của vè khi là để xây dựng cộng đồng tốt đẹp, hoàn thiện hơn, khi thì mạnh mẽ như một loại vũ khí sắc bén chĩa về phía bọn cường hòa, lí dịch trong làng Đó là những bài kể chuyện dân làng bị bắt đi phu, vè về lí hào cướp ruộng của dân, hào lí dùng quyền chức của mình, hà lạm của công, tham lam bẩn thỉu, những loại vè này thường khắc họa lại thực trạng xã hội đương thời, tố cáo tội ác của bọn thực dân, phong kiến

Chị này là gái tha la, Chồng con chưa có cửa nhà linh đinh

Chị này là gái lòng trinh, Cho nên ông xã thiệt tình mê sa

Thường ngày, thường bữa thường qua, Nhà việc không nhóm chớ còn chợ sông Tra nhóm thường

(Vè ông xã)

Một thực trạng mèo mỡ, mê gái của các ông quan chức ngày xưa đã được tác giả dân gian ghi lại không chỉ có ông xã mà còn có những người trong bộ máy cai trị của nhà nước phong kiến thực dân xưa Những bài vè thuộc loại này thường liệt

kê ra những thói hư, tật xấu, những việc làm tàn ác, trái với luân thường đạo lý nhằm dè biểu phê phán, lên áng tố cáo và đã kích mạnh mẽ một bộ phận người đi trái lại với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân

Luận bàn phải quấy, Ban ngày cô ấy

Tối lại cô ni, Xấu tốt cần gì

Mình quen thời ghé, Tắm rửa sạch sẽ

(Vè tổng quyền)

Các tầng lớp thống trị Trưởng Thôn, Hương Chức, Tổng Quyền, Thầy Cai.v.v tất cả đều ăn ngon, mặc đẹp làm những chuyện chướng tai gai mắt Còn

Ngày đăng: 20/06/2023, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Xuân Diên (Chủ biên), Lê Văn Chưởng, Nguyễn Ngọc Quang, Phan Thị Yến Tuyết và Phan Xuân Viện (2012), Văn học dân gian Sóc Trăng, Nxb Văn hóa - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Sóc Trăng
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lê Văn Chưởng, Nguyễn Ngọc Quang, Phan Thị Yến Tuyết, Phan Xuân Viện
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2012
2. Vũ Tố Hảo và Hà Châu (2012), Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian
Tác giả: Vũ Tố Hảo, Hà Châu
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
3. Nguyễn Văn Hầu (2012), Văn học Miền Nam lục Tỉnh, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Miền Nam lục Tỉnh
Tác giả: Nguyễn Văn Hầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
4. Lư Hội (2010), Các hình thức diễn xướng dân ca ở Bến Tre, Nxb Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức diễn xướng dân ca ở Bến Tre
Tác giả: Lư Hội
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2010
5. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
6. Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ (1997), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Nhiều tác giả (2012), Thơ ca dân gian Trà Vinh (chuyên khảo), Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca dân gian Trà Vinh (chuyên khảo)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
8. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa và Nguyễn Quang Vinh (2012), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
9. Nguyễn Ngọc Quang (2010), Văn học dân gian Châu Đốc, Nxb Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Châu Đốc
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2010
10. Huỳnh Ngọc Trảng (2006), Vè Nam Bộ, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vè Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2006
11. Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Hữu Sơn, Phan Thị Đào và Vũ Quang Trọng (2012), Một vài vấn đề về văn học dân gian, Nxb Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài vấn đề về văn học dân gian
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Hữu Sơn, Phan Thị Đào, Vũ Quang Trọng
Nhà XB: Nxb Dân tộc
Năm: 2012
12. Lư Nhất Vũ, Lê Giang và Nguyễn Ngọc Quang (2011), Nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ
Tác giả: Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w