Các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc tế; không chỉ là yêu cầu khách quan về mặt kinh tế mà còn là
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
BỘ MÔN: QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ - N03
BÀI LUẬN QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ IMF
NHÓM 6 :
Bùi Hoài Ngọc – 87272 (NT)
Trần Thị Thúy Nga – 87826
Ngô Cẩm Tú – 87263
Hoàng Thanh Tùng – 88770
Nguyễn Hữu Minh – 86994
Trịnh Thị Thảo – 75731 Đào Phan Minh Nhật – 86389 Phạm Việt Hoàng – 86527 Nguyễn Trọng Quí – 86544 Nguyễn Hoàng Diệp Linh – 88638 HẢI PHÒNG – 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I, Tổng quan về Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) 3
1, Đ nh nghĩa ị 3
2, L ch s hình thành và nguyên nhân ra đ i c a IMF ị ử ờ ủ 3
3, M c đích và nguyên tắắc ho t đ ng ụ ạ ộ 4
4, Nguồồn vồắn ho t đ ng: ạ ộ 5
5, C câắu t ch c c a IMF ơ ổ ứ ủ 6
6, Các lo i tn d ng c a IMF: ạ ụ ủ 7
7, nh h Ả ng c a IMF đồắi v i các quồắc gia trên Thêắ gi i ưở ủ ớ ớ 9
II, Liên hệ thực tiễn giữa Việt Nam và Quỹ tiền tệ thế giới IMF 9
1, Quan h c a Vi t Nam và IMF: ệ ủ ệ 9
2, nh h Ả ưở ng c a IMF đồắi v i Vi t Nam: ủ ớ ệ 9
3, Tác đ ng c a IMF đồắi v i phát tri n kinh têắ Vi t Nam: ộ ủ ớ ể ệ 10
4, Ho t đ ng cho vay vồắn c a IMF v i Vi t Nam: ạ ộ ủ ớ ệ 10
5, Ho t đ ng gâồn đây c a IMF và Vi t Nam: ạ ộ ủ ệ 11
III, Ngân hàng thế giới WB (So sánh với IMF) 13
1, Ngân hàng thêắ gi i là gì? ớ 13
2, S khác bi t gi a IMF và Ngân hàng Thêắ gi i ự ệ ữ ớ 14
Trang 3L I M ĐẦẦU Ờ Ở Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính – tín dụng Các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế ra đời là một yêu cầu khách quan trên cơ sở quan hệ ngoại thương và thanh toán quốc tế; không chỉ là yêu cầu khách quan
về mặt kinh tế mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển các mối quan hệ về chính trị, ngoại giao và các quan hệ giữa các nước Trong quá trình phát triển của mỗi đất nước, nhu cầu ổn định cán cân thanh toán quốc tế, nhu cầu về vốn
để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội là rất cấp bách, nhất là đối với các nước đang phát triển Nếu chỉ dựa vào tiềm lực sẵn có của đất nước thì không thể giải quyết những vấn đề này Vì vậy, muốn đưa đất nước phát triển lên tầm quốc tế thì chỉ có một cách duy nhất là hội nhập kinh tế quốc tế Trong
đó, việc gia nhập tổ chức tài chính – tín dụng là rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Do đó, các quốc gia đều có xu hướng gia nhập tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế với mục đích đẩy nhanh tốc độ phát triển của mình bằng cách tìm kiếm sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật từ các nước phát triển khác Trong đó Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chính là một trong những tổ chức tài chính – tín dụng lớn và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Đồng thời các quốc gia nếu nắm rõ được cơ chế hoạt động, biết nắm bắt, tận dụng được chính sách ưu đãi, nguồn vốn mà các tổ chức này mang lại thì sẽ có một nguồn lực lớn để phát triển
Trang 4I, T ng quan vềề Quỹỹ tiềền t quốốc tềố (IMF) ổ ệ
1, Đ nh nghĩaị
Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, viết tắt là IMF) là một tổ chức tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu
2, L ch s hình thành và nguỹền nhân ra đ i c a IMFị ử ờ ủ
Vào năm 1930, khi hoạt động kinh tế ở những nước công nghiệp lớn bị thu hẹp, nhiều nước bắt đầu áp dụng tư tưởng trọng thương nhằm bảo vệ nền kinh tế của họ bằng việc hạn chế nhập khẩu Để khỏi giảm dự trữ vàng, ngoại tệ, một số nước cắt giảm nhập khẩu, một số nước phá giá đồng tiền của họ, và một số nước khác áp đặt các hạn chế đối với tài khoản ngoại tệ của công dân Những biện pháp này có hại đối với chính bản thân các nước đó vì, trên thực tế, mọi nước đều trở nên có lợi nhờ thương mại không hạn chế Thương mại thế giới đã
sa sút nghiêm trọng, khi việc làm và mức sống ở nhiều nước suy giảm
Cùng vào thời điểm đó, đã có nhiều hội nghĩ quốc tế được tổ chức để giải quyết những vấn đề tiền tệ thế giới Tuy nhiên điều đó không có kết quả Những giải pháp bộ phận và mang tính chất thăm dò đã hoàn toàn tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu Điều cần có là một sự hợp tác với quy mô lớn chưa từng có giữa tất cả các quốc gia để xây dựng nên một hệ thống tổ chức tiền tệ cách tên và một tổ chức để điều hành hệ thống này
Năm 1940, hai tư tưởng của Harry Dester White – người Mỹ và Jonh Maynard Keynes – người Anh đã gần như đồng thời đưa dự thảo xây dựng một
tổ chức tiền tệ quốc tế mà hành động của nó được giám sát thường xuyên bởi
Figure 1 Logo c a Quỹỹ tềền t thềế gi i IMF ủ ệ ớ
Trang 5một tổ chức hợp tác Sau nhiều lần thương thuyết, cộng đồng quốc tế chấp nhận một hệ thống tiền tệ mới và một tổ chức để giám sát nó Những thương thuyết
cuối cùng về thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (viết tắt IMF) đã diễn ra ở Bretton Woods, NewHamsphire, Hoa Kỳ vào tháng 7/1944 giữa 44 quốc gia Lúc này
44 quốc gia tham dự đã tìm cách xây dựng khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế và tránh lặp lại tình trạng phá giá tiền tệ cạnh tranh đã góp phần vào cuộc đại suy thoái những năm 1930 Đến 27/12/1945 có 29 nước thành viên tham gia ký kết điều lệ thành lập Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và được hưởng quy chế
cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc Khi đó IMF có 49 thành viên Ngày 8/5/1947, IMF tiến hành cho vay khoản đầu tiên Trụ sở chính của IMF ở Washington D.C và có hai chi nhánh tịa Paris (Pháp) và Geneve (Thụy Sỹ)
Một nước có thể trở thành thành viên của IMF nếu nó sẵn sàng gắn bó, trung thành với các chức năng và nguyên tắc chủ đạo của IMF Từ năm 1945 đến nay số lượng thành viên của IMF lên tới 189 quốc gia Số lượng thành viên tăng đều đặn, không có biến động chứng tỏ uy tín của IMF theo năm tháng là không thay đổi và ngày càng được củng cố
3, M c đích và nguỹền tắốc ho t đ ng ụ ạ ộ
a Mục đích:
Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua một thiết chế thường trực có trách nhiệm cung cấp một bộ máy tư vấn và cộng tác nhằm giải quyết các vấn đề tiền tệ quốc tế
Tạo điều kiện mở rộng và tăng trưởng cân đối hoạt động mẫu dịch quốc tế nhờ đó góp phần vào việc tăng cường và duy trì ở mức cao việc làm, thu nhập thực tế và việc phát triển nguồn lực sản xuất của tất cả các thành viên, coi đó là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế
Tăng cường ổn định ngoại hối nhầm duy trì một cách có trật tự hoạt động giao dịch ngoại hối giữa các thành viên và tránh việc phá giá tiền
tệ để cạnh tranh
Hỗ trợ việc thành lập một hệ thống thanh toán đa phương giữa các nước thành viên và xóa bỏ các hạn chế về ngoại hối gây phương hại tới sự tăng trưởng của mẫu dịch quốc tế
Tạo niềm tin cho các nước thành viên bằng cách cung cấp cho họ nguồn lực dự trữ của quỹ được đảm bảo an toàn và tạo cơ hội cho họ sửa chữa mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế
Rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ cân bằng trong cán cân thanh toán của các nước thành viên
Trang 6b Nguyên tắc hoạt động:
IMF hoạt động theo nguyên tắc phiếu bầu Mỗi nước hội viên góp số vốn ban đầu tương đương 250 phiếu bầu Nếu đóng góp thêm 100.000 SDR thì được cộng thêm một phiếu bầu Nếu rút ra 400.000 SDR thì rút ra một phiếu bầu
4, Nguốền vốốn ho t đ ng:ạ ộ
Quỹ IMF đến từ hai nguồn chính: hạn ngạch và các khoản vay Hạn ngạch là quỹ chung của các quốc gia thành viên, tạo ra hầu hết các quỹ của IMF Quy mô hạn ngạch của mỗi thành viên phụ thuộc vào tầm quan trọng kinh tế và tài chính của nó trên thế giới Các quốc gia có ý nghĩa kinh tế lớn hơn có hạn ngạch lớn hơn Hạn ngạch được tăng lên theo định kỳ như một biện pháp thúc đẩy nguồn lực của IMF dưới hình thức các quyền rút vốn đặc biệt
Nguồn vốn của IMF chủ yếu do các thành viên đóng góp theo cổ phần
Số phiếu trong các cơ quan lãnh đạo được phân phối phù hợp với tỷ lệ góp vốn
Vì vậy, đa số phiếu tập trung vào các nước công nghiệp phát triển nhất
- Vốn đi vay: Để bổ sung vốn hoạt động của mình, IMF có thể đi vay của chính phủ các nước thành viên
- Vốn tích lũy: hàng năm, số lãi ròng thu được từ hoạt động cho vay được IMF bổ sung vào nguồn vốn hoạt động
- Vốn hoạt động: Khi gia nhập IMF, mỗi nước phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là phí hội viên Tuy nhiên, khoản đóng này chỉ được thực hiện khi quỹ có nhu cầu: khi ai cần vay tiền quốc gia đó mới phải đóng Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay bảng Anh thì khi đó IMF mới yêu cầu Anh phải đóng Số tiền này được sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau:
- Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các nước thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính
- Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để phân bố rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên
- Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên
- Với sự đóng góp của các quốc gia hội viên IMF tạo lập được số trữ kim bằng vàng và các loại tiền tệ trên thế giới
Vào năm 1999, tổng vốn IMF là 30 tỷ Dollar Mỹ Các nước thành viên có
cổ phần lớn trong IMF là: Hoa Kỳ (17,46%), Cộng hòa Liên bang Đức (6,11%), Nhật Bản (6,26%), Anh (5,05%), Pháp (5,05%)
Trang 7Đến năm 2018, tổng vốn IMF là 202 tỷ Dollar Mỹ Các nước thành viên
có cổ phần lớn trong IMF là: Hoa Kỳ (18,38%), Cộng hòa Liên Bang Đức (5,7%), Nhật Bản (5,7%), Pháp (5,1%), Anh (5,1%) Mặc dù trên thực tế số tiền
sử dụng được không thể coi là lớn bởi vì các nước thành viên nộp 75% số lệ phí của họ bằng tiền nội địa và hầu hết đồng tiền quốc gia của nhiều nước không phổ biến trong thanh toán quốc tế
5, C câốu t ch c c a IMFơ ổ ứ ủ
Cơ cấu quản trị của IMF bao gồm những bộ phận chính như sau:
Hội đồng thống đốc:
- Đây là cơ quan quyết định tối cao, hội đồng thống đốc bao gồm một thống đốc và một thống đốc thay thế Mỗi quốc gia thành viên sẽ bổ nhiệm hai thống đốc của quốc gia mình Hội đồng sẽ chịu trách nhiệm bầu hoặc bổ nhiệm giám đốc điều hành vào Ban điều hành và thường họp mỗi năm một lần Ngoài ra, Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm chính thức phê duyệt tăng hạn ngạch, kết nạp thành viên mới, rút thành viên bắt buộc nhưng thực tế, nó đã ủy thác hầu hết các quyền hạn của mình cho Ban điều hành của IMF
Ban điều hành:
- Ban điều hành gồm 24 Giám đốc điều hành tạo nên và chịu trách nhiệm quản lý các công việc hàng ngày của IMF Mỗi giám đốc điều hành sẽ đại diện cho tất cả 189 quốc gia thành viên
- Ban này vài lần mỗi tuần sẽ tổ chức họp Thành viên Hội đồng quản trị và khu vực bầu cử được lên kế hoạch để xem xét định kỳ tám năm một lần
Họ sẽ chọn ra người lãnh đạo giữ chức Chủ tịch Ban điều hành, giám đốc điều hành Người này được hỗ trợ bởi một Phó giám đốc điều hành thứ nhất và ba Phó giám đốc điều hành khác
- Ban điều hành bàn luận và cùng nhau giải quyết tất cả các vấn đề từ việc xem xét tình trạng kinh tế của các nước thành viên cho đến các vấn đề về chính sách kinh tế có liên quan đến nền kinh tế toàn cầu
Các ủy ban Bộ trưởng:
- Gồm hai Ủy ban Bộ trưởng: Ủy ban Tiền tệ và Tài chính quốc tế (IMFC-International Monetary and Financial Committee) và Ủy ban Phát triển (Development Committee) Hai ủy ban này sẽ tham vấn cho Hội đồng thống đốc Ủy ban Phát triển sẽ tư vấn về các vấn đề phát triển quan trọng
và về các nguồn tài chính cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế ở các
Trang 8nước đang phát triển gồm 25 thành viên làm việc này Ủy ban Tài chính Quốc tế theo dõi sự phát triển của thanh khoản toàn cầu và chuyển giao các nguồn lực cho các nước đang phát triển gồm có 24 thành viên Ngoài
ra, các thành viên của hai ủy ban cũng tư vấn về các vấn đề thương mại
và môi trường
IMF có khoảng 2600 nhân viên, đứng đầu là Giám đốc điều hành, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội đồng điều hành (hội đồng tự bầu chủ tịch của mình) Theo truyền thống, Giám đốc điều hành là người Châu Âu, nếu không thì cũng phải là người Mỹ Hiện nay, Tổng giám đốc IMF là bà Kristalia Georgieva người Bulgaria nhận chức từ ngày 1/10/2019 Nhân viên của IMF là người của khoảng
120 nước và đa phần là nhà kinh tế học, song cũng có cả các nhà thống kê, bác học, các chuyên gia về tài chính công cộng và thuế khoá, các nhà ngôn ngữ học, nhà văn
và các nhân viên phục vụ Ða số các nhân viên đều hoạt động tại trụ sở nhỏ ở Paris, Geneve, Tokyo, tại trụ sở của Liên hợp quốc ở NewYork hoặc tại các văn phòng của IMF được thành lập tạm thời ở các nước thành viên Khác với các giám đốc chấp hành là những đại diện của từng nước thành viên, các nhân viên của Quỹ chỉ
là nhân viên quốc tế, họ có trách nhiệm thực thi chính sách của IMF chứ không đại diện cho lợi ích của bất cứ quốc gia nào
6, Các lo i tín d ng c a IMF:ạ ụ ủ
IMF là một tổ chức được thành lập nhằm mục đích nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu Từ đó thiết lập tài chính an toàn và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế cũng như đẩy mạnh việc làm, tăng trưởng kinh tế cao
và giảm bớt đói nghèo Xuất phát từ mục đích này IMF cũng đưa ra các loại tín dụng để hỗ trợ các nước thành viên trong việc phát triển kinh tế Cụ thể gồm 7 loại tín dụng như sau:
- Tín dụng thông thường: Loại này yêu cầu nước được vay phải có chương trình điều chỉnh kinh tế ngắn hạn Mức cho vay tối đa là 100% cổ phần của nước đó tại qũy và được vay 4 đợt, mỗi đợt 25% tổng mức vay, thời hạn vay
và trả là 5 năm, thời gian ân hạn là 3 năm và lãi suất từ 6-7,5%/năm
- Tín dụng bổ sung được sử dụng để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán Mức vay có thể từ 100% - 350% cổ phần của nước đó tại quỹ tùy theo mức
độ thiếu hụt Điều kiện vay và trả giống như tín dụng thông thường,
- Tín dụng dài hạn được thực hiện để phục vụ các chương trình điều chỉnh kinh tế trung tâm Nước đi vay phải có chương trình điều chỉnh kinh tế trung hạn và mọi khoản vay phải theo sát với việc thực hiện chương trình theo từng quý, năm Mức vay tối đa là 140% cổ phần tại quỹ, thời hạn vay và trả là 10 năm và thời hạn gia hạn lag 4 năm, mức lãi suất 6 - 7,5%/năm
Trang 9- Tín dụng bù đắp thất thu xuất khẩu áp dụng đối với các nước đang phát triển có đột biến thiếu hụt cán cân thương mại trong năm với mức vay tối đa
là 100% cổ phần của nước đó tại quỹ, các điều kiện khác giống với tín dụng thông thường
- Tín dụng duy trì dự trũ điều hòa có điều kiện giống với tín dụng thông thường được áp dụng khi các nước tham gia các hiệp hội xuất khẩu có sản phẩm xuất khẩu bị giảm giá trên thị trường quốc tế Nguồn tín dụng này bằng nguồn thu xuất khẩu sản phẩm được sử dụng để giữ lại sản phẩm chờ giá trị thị trường tăng lên mới bán
- Vay chuyển tiếp nền kinh tế: Đây là tín dụng mới xuất hiện của IMF để hỗ trợ cho các nước chuyển đổi từ nên kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, theo đó: thời hạn vay 5 năm, thời gian ân hạn 3,25 năm với mức lãi suất theo lãi suất thị trường
- Tín dụng điều chỉnh cơ cấu áp dụng đối với các nước đang phát triển có thu nhập 600USD/ người/ năm có chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế được IMF chấp nhận Mức vay tối đa là 62.5% cổ phần của nước đó tại quỹ và được rút vốn 3 năm Năm thứ nhất được rút 12,5% cổ phần, năm thứ hai được rút 20% cổ phần và năm thứ ba được rút 30% cổ phâng Thời hạn vay
và trả là 10 năm, thời gian ân hạn là 5,5 năm và lãi suất là 0,5%/năm
Bên cạnh đó IMF còn có một só loại tín dụng khác như: tín dụng điều chỉnh
cơ cấu mở rộng,
Các nước thành viên cũng được quyền vay hay quyền rút vốn đối với IMF Các nước có thể sử dụng quyền rút vốn và dự trữ quốc tế của mình để tài trợ cho các khoản thâm hụt cán cân thanh toán Đối với cơ chế quyền rút vốn tại IMF, các nước thành viên cần đảm bảo:
Nếu gặp khó khăn về cán cân thanh toán các nước thành viên có thể rút vốn Tức là mua đồng tiền nước ngoài của IMF bằng đồng tiền của nước mình trong giới hạn bằng 125% hạn mức của mình, trong đó các nước có thể rút 25% đầu tiên bất kì khi nào có nhu cầu
Khi muốn rút một hay cả bốn phần 25% còn lại, các nước phải nhất trí với IMF về một chương trình bao gồm các biện pháp xử lý thâm hụt cán cân thanh toán của mình
Các nước thành viên phải hoàn trả lại phần rút vốn của mình trong khoảng thời gian từ 3 - 5 năm
Liên quan đến quyền rút vốn của các nước thành viên, năm 1970, IMF đã tạo ra một tài sản dự trữ quốc tế gọi là Quyền Rút vốn Đặc biệt (viết tắt là SDR)
Trang 10để tăng thêm mức cung về phương tiện thanh toán quốc tế Quyền này cũng tạo
ra những phương tiện vay nợ bổ sung cho các nước thành viên nghèo của IMF
7, nh hẢ ng c a IMF đốối v i các quốốc gia trền Thềố gi iưở ủ ớ ớ
Khi một quốc gia tham gia vào IMF, thì sẽ được IMF hỗ trợ các nước thành viên thông qua các hoạt động sau:
Dựa trên sự phân tích về xu hướng phát triển kinh tế, và những kinh nghiệm thực tế xuyên quốc gia để đưa ra những lời khuyên về chính sách cho các chính phủ và ngân hàng trung ương
Đưa ra các nguồn vốn cho vay nhằm giúp các quốc gia vượt qua các giai đoạn kinh tế khó khăn
Đào tạo và trợ giúp kĩ thuật nhằm giúp các nước phát triển cải thiện khả năng điều hành nền kinh tế của mình
Thông qua việc theo dõi các nền kinh tế và thị trường riêng lẻ, khu vực và toàn cầu để nghiên cứu, thống kê, dự báo, và phân tích kinh tế là cơ sở để đưa ra các quyết định trong mục tiêu hoạt động
Đưa ra những nguồn vốn không lãi suất và có thời gian đáo hạn dài để giúp các nước phát triển chống lại đói nghèo
II , Liền h th c tiềỹn gi a Vi t Nam và Quỹỹ tiềền t thềố gi i IMF ệ ự ữ ệ ệ ớ
1, Quan h c a Vi t Nam và IMF:ệ ủ ệ
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của IMF sau khi Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các điều kiện do IMF đưa ra Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam tiếp nhận các khoản vay của IMF phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước
Việt Nam Cộng hòa gia nhập IMF vào ngày 21/9/1956 Từ năm 1976, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức kế thừa vị trí hội viên IMF của Việt Nam Cộng hòa Theo Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1990 của Hội đồng Nhà nước, ngân hàng Nhà nước là đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức tiền tệ, tín dụng và ngân hàng quốc tế Tiếp đó, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997 và 2010 cũng quy định ngân hàng Nhà nước là cơ quan đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Trên cơ sở đó, ngân hàng Nhà nước là Cơ quan đại diện cho Chính phủ Việt Nam tại IMF
Hiện nay cổ phần của Việt Nam tại IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) bằng 460,7 triệu SDR, chiếm 0,193% tổng khối lượng cổ phần và có tỷ lệ phiếu bầu là 0,212% tổng số quyền bỏ phiếu Việt Nam thuộc nhóm Đông Nam Á với 13 nước thành viên