Bài tập lớn môn Pháp luật đại cương phần chia thừa kế (Đại học bacj1 khoa thành phố hồ chí minh), Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thừa kế thế vị là một trong những chế định pháp luật phân nhánh từ thừa kế thuộc lĩnh vực dân sự của ngành luật dân sự. Đây là một trong những ngành quy định cách ứng xử về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, pháp nhân, tổ chức khi xảy ra các sự việc tranh chấp nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của con người dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ. Đặc biệt, đối tượng được thừa kế thế vị nhắm đến ở đây là quan hệ tài sản với chủ thể là cháu hoặc chắt của người để lại di sản thừa kế sẽ được thế vô vị trí của người được hưởng thừa kế khi mà người đó bị mất trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thừa kế. Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh chấp quyền thừa kế có thể được xem là một trong những loại án dân sự phổ biến, phức tạp nhất, có những vụ án kéo dài hàng chục năm. Vì thế, thừa kế thế vị có vai trò trong việc phân định rõ ràng, làm chi tiết thêm, xây dựng hoàn thiện về luật thừa kế nói chung cũng như từ đó bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chắt trực tiếp nói riêng. Cụ thể, các cháu, các chắt của người để lại di sản thừa kế chính là ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại hoặc cụ nội, cụ ngoại sẽ được đưa lên hưởng di sản khi mà người được hưởng thừa kế là cha mẹ của chúng bị mất trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thừa kế. Xét dưới góc độ thực tiễn, thừa kế thế vị có ý nghĩa quan trọng và giải quyết việc tranh chấp khi thế trực tiếp cháu, chắt để hưởng di sản thừa kế từ cha mẹ của chúng, góp phần giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng và hiệu quả. Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích một cách toàn diện của những người thân thuộc nhất một cách trực tiếp, tránh tình trạng các cháu, chắt không được hưởng di sản mà di sản lại được cho người khác. Ngoài ra, thừa kế thế vị đã phát huy được đạo lý cũng như truyền thống tốt đẹp của ông bà ta khi chết để lại di sản cho cháu, chắt của mình. Vậy nên, nhóm em quyết định thực hiện việc nghiên cứu đề tài “Bàn về thừa kế thế vị theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015” cho Bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ của đề tài 2
3 Bố cục tổng quát của đề tài: 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 3
1.1 Một số vấn đề lý luận về thừa kế thế vị 3
1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 3
1.1.2 Khái niệm về thừa kế thế vị 5
1.2 Quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị: 6
1.2.1 Điều kiện phát sinh thừa kế thế vị: 6
1.2.2 Chủ thể của quan hệ thừa kế thế vị: 9
1.2.2.1 Cháu được thừa kế thế vị di sản của ông bà: 9
1.2.2.2 Chắt được thừa kế thế vị di sản của các cụ: 11
1.2.3 Những điểm cần lưu ý khi giải quyết thừa kế thế vị: 12
1.3 Ý nghĩa của việc quy định thừa kế thế vị 12
CHƯƠNG II THỪA KẾ THẾ VỊ – TỪ THỰC TIỄN ĐẾN KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 14
2.1 Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con nuôi 14
2.1.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc 14
2.1.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp 15
2.2 Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến yếu tố con riêng 20
2.2.1 Quan điểm của các cấp Tòa án xét xử vụ việc 20
2.2.2 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về tranh chấp 20
Trang 22.3 Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành 22 PHẦN KẾT LUẬN 26 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thừa kế thế vị là một trong những chế định pháp luật phân nhánh từ thừa kế thuộc lĩnh vực dân sự của ngành luật dân sự Đây là một trong những ngành quy định cách ứng xử về quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, pháp nhân, tổ chức khi xảy ra các sự việc tranh chấp nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của con người dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ Đặc biệt, đối tượng được thừa kế thế vị nhắm đến ở đây là quan hệ tài sản với chủ thể là cháu hoặc chắt của người để lại di sản thừa kế sẽ được thế vô vị trí của người được hưởng thừa kế khi mà người đó bị mất trước hoặc cùng thời điểm với người
để lại di sản thừa kế
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh chấp quyền thừa kế có thể được xem là một trong những loại án dân sự phổ biến, phức tạp nhất, có những vụ án kéo dài hàng chục năm Vì thế, thừa kế thế vị có vai trò trong việc phân định rõ ràng, làm chi tiết thêm, xây dựng hoàn thiện về luật thừa kế nói chung cũng như từ đó bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chắt trực tiếp nói riêng Cụ thể, các cháu, các chắt của người để lại di sản thừa kế chính là ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại hoặc cụ nội, cụ ngoại sẽ được đưa lên hưởng di sản khi mà người được hưởng thừa kế là cha mẹ của chúng bị mất trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thừa kế
Xét dưới góc độ thực tiễn, thừa kế thế vị có ý nghĩa quan trọng và giải quyết việc tranh chấp khi thế trực tiếp cháu, chắt để hưởng di sản thừa kế từ cha mẹ của chúng, góp phần giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng và hiệu quả Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích một cách toàn diện của những người thân thuộc nhất một cách trực tiếp, tránh tình trạng các cháu, chắt không được hưởng di sản mà di sản lại được cho người khác Ngoài ra, thừa kế thế vị đã phát huy được đạo lý cũng như truyền thống tốt đẹp của ông bà ta khi chết để lại di sản cho cháu, chắt của mình Vậy nên, nhóm em quyết định thực hiện việc nghiên cứu đề tài “Bàn về thừa kế thế vị theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015” cho Bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương
Trang 42 Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận chung về thừa kế, quyền thừa kế và thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Hai là, phân tích và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành về xác định các điều kiện làm phát sinh thừa kế thế vị, chủ thể của quan hệ thừa kế thế vị và một số loại trừ về thừa kế thế vị
Ba là, làm sáng tỏ ý nghĩa pháp luật trong việc quy định thừa kế thế vị
Bốn là, nhận xét vấn đề từ góc độ thực tiễn, phát hiện những bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự về chế định thừa kế thế vị
3 Bố cục tổng quát của đề tài:
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 1.1 Một số vấn đề lý luận về thừa kế thế vị
1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế
a Khái niệm thừa kế
Dưới góc độ từ điển tiếng Việt, “thừa kế” được hiểu là “hưởng của người chết để lại cho, thừa kế gia sản của cha mẹ”1 hay “thừa kế” còn có thể được hiểu là “được hưởng cái của người chết để lại cho (thường nói về tài sản, của cải)”2 Để có thể hiểu rõ hơn về
“thừa kế”, ta sẽ đi sâu hơn về nghĩa của hai chữ “thừa” và “kế”
“Thừa” ở đây theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là “có hoặc đạt số lượng trên mức cần thiết, trái với thiếu”3 Còn “kế” nếu tách riêng thì lại được hiểu là “ở vị trí liền ngay bên cạnh”4 hoặc “tiếp theo, nối liền theo ngay sau khi hoạt động, một quá trình khác vừa kết thúc”5 Qua đó, ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng “thừa” là phần dư của tài sản của người nào đó sau khi chết để lại và “kế” là cho những người tiếp theo, có quan hệ thân thiết Ghép hai từ này lại về bản chất, “thừa kế” sẽ là phần còn lại của tài sản người
đã mất sẽ được cho những người tiếp theo có mối quan hệ thân thiết, họ hàng, ruột thịt hưởng, phổ biến nhất như con cái được hưởng tài sản, của cải của cha mẹ sau khi cha
mẹ chết Ngoài ra, phạm vi của “thừa kế” trong từ điển tiếng Việt không những bao gồm
cả tài sản, của cải để lại mà còn bao gồm cả những giá trị về tinh thần, truyền thống Xét dưới góc độ từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp thì
“thừa kế” là “sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo quy định của pháp luật”6 Mặt khác, theo điều 649 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định, “thừa kế” theo pháp luật được hiểu là “thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp
1 Hoàng Phê, Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội –
Đà Nẵng, tr.972
2 Từ điển Soha, [http://tratu.soha.vn/], truy cập cuối cùng vào ngày 21/03/2023
3 Hoàng Phê, Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội –
Đà Nẵng, tr.972
4 Hoàng Phê, Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội –
Đà Nẵng, tr.485
5 Từ điển Soha, [http://tratu.soha.vn/], truy cập cuối cùng vào ngày 21/03/2023
6 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa Học Pháp Lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư Pháp, tr 486
Trang 6luật quy định” Thừa kế luôn gắn với sở hữu Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu Về cơ bản, có thể hiểu một cách đầy đủ và toàn diện nhất, thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người có quyền còn sống dựa trên ý chí của chủ thể người chết trong di chúc để lại và theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay Có thể thấy rằng, nếu hiểu theo nghĩa của từ điển Luật học thì khái niệm này chỉ đề cập đến tài sản, không bao gồm thừa kế các giá trị về tinh thần, truyền thống như cách hiểu theo từ điển tiếng Việt, đây chính là điểm khác biệt quan trọng mà chúng ta cần lưu ý
b Khái niệm về quyền thừa kế
Về bản chất, quyền thừa kế có thể được hiểu là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa
kế Xét theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tự Pháp, “quyền thừa kế”
là “quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”7 Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân, được pháp luật thừa nhận, bảo vệ, đã được nêu rõ trong quy định tại điều 32 của Hiến pháp năm 2013: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”
Quyền thừa kể ở đây sẽ dành cho cả hai chủ thể là người để lại di sản thừa kế và người hưởng di sản thừa kế Theo điều 609 Bộ luật dân sự 2015, quyền thừa kế được quy định rằng: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” Từ quy định trên có thể hiểu, quyền thừa kế bao gồm các quyền như sau: quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi mất, quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật đối với người chết và quyền được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật của người được hưởng di sản Có thể thấy rằng, phạm vi đối tượng được hưởng không chỉ là cá nhân được hưởng tài sản mà các tổ chức cũng có thể
7 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa Học Pháp Lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư Pháp, tr 486
Trang 7được hưởng tài sản của người chết để lại nhưng với điều kiện chỉ được hưởng theo di chúc chứ không được hưởng theo pháp luật, còn cá nhân thì có quyền được hưởng theo
cả di chúc và pháp luật
Xét một ví dụ minh họa, ông A có vợ là bà B với tài sản chung là 1,2 tỷ, có con là anh C, chị D và anh C có một đứa con trai là E Ông A chết và để lại di sản thì di sản của ông A sẽ là ½ x 1,2 tỷ = 600 triệu Nếu ông A khi mất không để lại di chúc thì căn
cứ vào pháp luật của Bộ luật dân sự 2015 theo hàng thừa kế thứ nhất với phần được hưởng như nhau, bà B, anh C, chị D mỗi người sẽ được hưởng 1/3 x 600 triệu = 200 triệu Mặt khác, nếu ông A khi mất có để lại di chúc rằng để lại cho E 300 triệu, di sản còn lại chia đều cho B, C và D Như vậy, B, C và D mỗi người sẽ hưởng 1/3 x (600 – 300) = 100 triệu
1.1.2 Khái niệm về thừa kế thế vị
Xét dưới góc độ từ điển tiếng Việt, để hiểu rõ hơn về từ “thừa kế thế vị”, chúng ta
sẽ tách ra và đi sâu hơn về nghĩa của hai chữ “thế” và “vị” Vì đã phân tích từ “thừa kế”
ở trên nên chúng ta sẽ không phân tích hai chữ này nữa Vậy “thế” và “vị” là gì? “Thế”
ở đây theo từ điển tiếng Việt nghĩa là “đưa cái khác vào chỗ của cái hiện đang thiếu để
có thể coi như không còn thiếu nữa”8 Còn “vị” hiểu nôm na theo nghĩa Hán – Việt là
“ngôi vị, vị trí” Như vậy, ghép hai từ này lại, thừa kế thế vị nghĩa là thay thế một ai đó
để được hưởng phần di sản mà đáng lẽ người trước đó được hưởng Cụ thể hơn là các cháu hoặc các chắt được thế vô vị trí của cha mẹ nếu cha mẹ đã chết để hưởng phần di sản của ông bà, các cụ để lại
Trong Bộ luật Dân sự năm 2015, tại điều 652 quy định rằng: “trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” Quy định này chỉ áp dụng đối với phần di sản chia thừa kế theo pháp luật, không áp dụng chia thừa kế theo
di chúc Ngoài ra, có thể thấy rằng thừa kế thế vị không tuân theo quy định của trình tự
8 Hoàng Phê, Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội –
Đà Nẵng, tr 933
Trang 8hàng thừa kế mà theo trình tự nhất định đã được nêu rõ tại điều 652 khi chủ thể được thế
vị đáp ứng đầy đủ các điều kiện Có nghĩa là khi hàng thừa kế đầu tiên được hưởng di sản đã mất trước hoặc cùng lúc với người để lại di sản thì hàng thừa kế thứ hai, thứ ba
sẽ được đưa lên hưởng di sản của những người ở hàng trước đó
Để hiểu rõ hơn về sự khác biệt này, ta xét một ví dụ đơn giản như sau: ông A lấy
vợ là bà B có tài sản chung là 1,2 tỷ Ông A có con với bà B là anh C, chị D Chị D cưới anh E có con là F Năm 2020, chị D mất do bị bệnh nặng Năm 2021, ông A mất do tai nạn giao thông nhưng không để lại di chúc Vậy di sản của ông A sẽ là ½ x 1,2 tỷ = 600 triệu Vậy tài sản của ông A sẽ được chia dựa trên trình tự hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, như vậy người hưởng sẽ là B, C và D Nhưng do D đã mất trước ông A nên F là con của D, hay nói cách khác là cháu của A, sẽ được thế vào vị trí của D để hưởng di sản của ông A khi đáng lẽ ra nếu D còn sống thì sẽ được hưởng theo quy định của thừa kế thế vị Vì thế, B, C và F mỗi người sẽ được hưởng 1/3 x 600 triệu = 200 triệu
Tóm lại, qua các khái niệm và quy định trên, thừa kế thế vị ta hiểu là sự chuyển dịch tài sản từ người để lại di sản thừa kế cho những người thừa kế khác, tuy nhiên nếu con chết trước hoặc chết cùng thì người cháu sẽ được thế vào vị trí, nếu người cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thì chắt sẽ được đưa lên thế vào vị trí để hưởng di sản thừa kế
1.2 Quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị:
1.2.1 Điều kiện phát sinh thừa kế thế vị:
a Điều kiện để được hưởng thừa kế thế vị
Đầu tiên, để xác định đâu là điều kiện dẫn đến phát sinh thừa kế thế vị, ta quy các chủ thể như sau: người để lại di sản thừa kế là “ông, bà”, người được thừa kế di sản là
“cha, mẹ” Dựa vào điều luật trên, ta có thể xác định 4 yếu tố để phát sinh thừa kế thế vị: Một là, người được thừa kế di sản của người để lại di sản bắt buộc phải có con (cháu hoặc chắt thay vào vị trí của cha, mẹ (hoặc ông, bà) để con có thể nhận phần thừa kế thế
vị của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà Vì thừa kế thế vị chỉ xảy ra khi người được hưởng di sản thừa kế (cha, mẹ) chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản (ông, bà) để phần di sản đó được thế vị lại cho
người con (theo Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015)
Trang 9Hai là, người được thừa kế di sản (cha, mẹ) của người để lại di sản thừa kế (ông, bà) phải chết trước hoặc chết cùng một thời điểm mà ông, bà chết thì phần di sản của người thừa kế mới được chuyển tiếp (thừa kế thế vị) cho con (hoặc cháu của người được thừa kế
di sản trong trường hợp con chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha, mẹ) Thừa kế thế vị được hiểu là việc người để lại di sản và con hoặc cháu (người được nhận di sản sau khi người để lại di sản chết) của người đó chết trước hoặc cùng lúc với người để lại di sản thì quyền thừa kế phần di sản đó sẽ được chuyển cho cháu hoặc chắt của người để lại di sản Theo một cách nói khác, thừa kế thế vị có thể hiểu là việc các chủ thể luật định thay thế ai đó để được hưởng phần di sản mà đáng lẽ ra người đó được hưởng theo quy định pháp luật Bổ sung theo Điều luật 680 của Bộ luật Dân sự 2015, việc thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch của nước đó ngay trước khi chết 9
Ba là, người thừa kế thế vị phải là cá nhân còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết, khi đó, người thừa kế thế vị mới có thể được hưởng phần di sản thừa kế thế vị của mình theo Điều 613 của Bộ luật Dân sự 2015
Bốn là, người được thừa kế thế vị không được rơi vào những trường hợp sau theo Khoản 1, Điều 621 của Bộ Luật Dân sự 2015:
i Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó
ii Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
iii Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
iv Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc
lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.không được quyền hưởng di sản và bị truất quyền hưởng di sản
9 Điều 680 Thừa kế - Bộ luật Dân sự 2015, [ https://bom.so/5DlENk], truy cập lần cuối cùng 8/3/2023
Trang 10Điều này có nghĩa là người được thừa kế di sản (cha hoặc mẹ) của người thừa kế thế
vị phải có quyền được hưởng di sản của người để lại di sản (ông hoặc bà)
b Sự khác biệt giữa thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp
Khác biệt so với thừa kế thế vị, thừa kế chuyển tiếp là một khái niệm còn khá mới
mẻ nhưng thường xuyên xuất hiện trong các vụ việc về phân chia di sản thừa kế Tuy không có quy định cụ thể trong điều luật của Bộ luật Dân sự 2015 nhưng khái niệm thừa
kế chuyển tiếp nhấn mạnh việc chuyển tiếp về di sản hoặc quyền thừa kế giữa các hàng thừa kế khi phân chia di sản Giữa thừa kế thế vị và thừa kế có sự khác nhau ở 3 điểm: Theo quy định pháp luật, thừa kế thế vị chỉ phát sinh dựa trên cơ sở thừa kế theo pháp luật chứ không dựa trên thừa kế theo di chúc Trường hợp người được thừa kế theo
di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì phần di chúc đó
vô hiệu và phải thực hiện chia di sản theo pháp luật Ngược lại, thừa kế chuyển tiếp có thể phát sinh dựa trên cơ sở thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Nếu người hưởng
di sản thừa kế (cha hoặc mẹ) từ chối quyền hưởng di sản, không có quyền hưởng di sản hoặc bị truất quyền hưởng di sản, phần di sản đó của ông, bà vẫn có thể được chuyển tiếp cho cháu hưởng (con của cha, mẹ)
Thừa kế thế vị chỉ phát sinh ở hàng thừa kế thứ nhất, trong đó các chủ thể được thừa
kế là vợ, chồng; cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi; con riêng và cha dượng, mẹ kế (có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng) Trong khi đó, thừa kế chuyển tiếp có thể phát sinh có thể phát sinh kể từ hàng thừa kế thứ hai trở đi Lấy ví dụ từ thừa kế chuyển tiếp, các chủ thể được thừa kế chuyển tiếp kể từ hàng thứ hai trở đi gồm: Hàng thừa kế thứ hai (Ông/bà nội hoặc ngoại; Anh/ chị/ em ruột; Cháu ruột gọi người chết là ông bà ngoại, nội), hàng thừa kế thứ ba (Cụ nội hoặc ngoại của người chết; Bác/ chú/ cậu/ cô/ dì ruột của người chết; Cháu ruột của người chết mà người chết là Bác/ chú/ cậu/ cô/ dì ruột; Chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội hoặc ngoại) Ngoài ra, còn có thể phát sinh thêm các hàng thừa kế khác trong gia đình
Thêm vào đó, người được thừa kế ở hàng thứ nhất không nhất thiết phải chết mà thừa kế chuyển tiếp vẫn có thể phát sinh kể cả khi người được thừa kế di sản (cha, mẹ) của người để lại di sản thừa kế (ông, bà) không có quyền hưởng di sản hoặc bị truất quyền hưởng di sản, thậm chí là từ chối thừa kế Khi đó, phần di sản thừa kế vẫn được chuyển tiếp cho hàng thừa kế tiếp theo
Trang 111.2.2 Chủ thể của quan hệ thừa kế thế vị:
1.2.2.1 Cháu được thừa kế thế vị di sản của ông bà:
Chủ thể và phạm vi được thừa kế thế vị đầu tiên là cháu, gọi người để lại di sản là ông hoặc bà Tuy nhiên, các chủ thể còn xác định là có được thừa kế thế vị hay không còn tùy thuộc vào mối quan hệ ruột thịt giữa chủ thể và cha hoặc mẹ của chủ thể Đây cũng là vấn đề gây khó khăn cho ngành luật dân sự trong việc phân chia di sản thừa kế Cháu được quyền hưởng di sản nếu không bị Tòa án hoặc người để lại di sản (ông hoặc bà) truất quyền hưởng di sản Ngoài ra, cháu được xem là có năng lực pháp luật để thừa kế di sản
dù là trẻ thành niên hoặc đã là thành niên nhưng chưa có khả năng lao động
a Mối quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ
Việc con đẻ thừa kế thế vị di sản của ông, bà bắt buộc phải quyết định vào quan hệ huyết thống giữa con và cha, mẹ Vì nằm trong hàng thừa kế thứ nhất, cháu được quyền hưởng hưởng di sản thừa kế di sản của ông, bà trừ khi cháu từ chối, không được quyền nhận hoặc bị truất quyền nhận di sản bởi ông, bà Giữa hai mối quan hệ gia đình nội, ngoại; trong trường hợp cha đẻ chết trước hoặc cùng một thời điểm mà ông, bà nội chết thì con đẻ sẽ thay thế vị trí của cha đẻ hưởng phần di sản thừa kế của cha Tương tự theo
đó, nếu mẹ đẻ chết trước hoặc chết cùng một thời điểm mà ông, bà ngoại chết thì con đẻ
sẽ thay thế vị trí của mẹ đẻ để hưởng phần di sản thừa kế của mẹ Lưu ý trong quy định hưởng thừa kế, cụ thể Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế (bất kể là thừa kế thế
vị hay không) phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản (ông hoặc bà) chết
b Mối quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi
Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được phép thừa kế di sản của nhau và được thừa kế
di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015 10 Theo đó, điều luật được hiểu là con của con nuôi sẽ được thừa kế thế vị di sản của cha nuôi, mẹ nuôi Ở đây có hai trường hợp cần lưu ý đó là con của người con nuôi là con đẻ hoặc con nuôi
10 Điều 653 Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ - Bộ luật Dân sự 2015, [https://bom.so/5DlENk], truy cập lần cuối cùng 8/3/2023
Trang 12Nếu trường hợp là con đẻ thì người con đẻ này và cha, mẹ (con nuôi của ông, bà) có quan
hệ huyết thống trực hệ với nhau Vì thế, dựa trên cơ sở huyết thông, việc thừa kế thế vị là hoàn toàn được chấp thuận
Tuy nhiên nếu trường hợp là con nuôi thì sẽ không hợp lý Bởi vì quy định pháp luật
về thừa kế di sản giữa con nuôi của người con nuôi và cha, mẹ nuôi chưa được đề cập trong bộ luật
Giữa con nuôi của người con nuôi và cha, mẹ nuôi không hề tồn tại mối quan hệ huyết thống hay chăm sóc, nuôi dưỡng (quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng chỉ diễn ra giữa người con nuôi và cha, mẹ nuôi) Do đó, việc phát sinh thừa kế thế vị sẽ bị xem là bất hợp
lý Đây cũng là sự thiếu sót trong điều luật về thừa kế, bộ luật cần được bổ sung quy định
“Trường hợp người con nuôi chết trước hoặc cùng một thời điểm với cha nuôi, mẹ nuôi thì chỉ có con đẻ của người con nuôi đó được thừa kế thế vị di sản của người để lại di sản”
c Mối quan hệ giữa con riêng, bố dượng và mẹ kế
Được phép thừa kế thế vị
Con (Con đẻ)
Con (Con đẻ)
Không được phép thừa kế thế vị
Trang 13Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có diễn ra quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được phép thừa kế di sản của nhau và được thừa kế thế vị theo Điều 652, Bộ luật Dân sự 11 Như vậy để được thừa kế thế vị theo quy định pháp luật, giữa con riêng, bố dượng và mẹ kế phải có mối quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau như cha con, mẹ con Nếu không phát sinh mối quan hệ đó, cha dượng, mẹ kế và con riêng sẽ
không được thừa kế di sản (bao gồm thừa kế thế vị)
Hiện nay, vẫn chưa có một quy định chính thức nào về xác định mối quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc và xác định mối quan hệ đó như thế nào để được phép thừa kế di sản Vì thế, cần có sự bổ sung về nội dung và hướng dẫn làm thế nào để xác định mối quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng vì điều này ảnh hưởng đế quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế, con riêng trong việc hưởng di sản thừa kế
1.2.2.2 Chắt được thừa kế thế vị di sản của các cụ:
Chủ thể tiếp theo được thừa kế thế vị chính là chắt Trong trường hợp nếu cháu chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản (gọi là ông hoặc bà) thì phần
di sản đó sẽ được thế vị cho thế hệ chắt (gọi người để lại di sản là cụ) Do thừa kế thế vị
về cơ bản là giữ gìn, kế thừa phần di sản mà thế hệ trước được thừa kế, thế vị lại cho thế
hệ sau Tuy nhiên, quy định pháp luật về thừa kế thế vị chỉ dừng lại ở thế hệ “chắt”, tức
là chỉ dừng lại ở hàng thừa kế thứ nhất Nếu thế hệ chắt cũng chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản (gọi là cụ) thì phần di sản đó sẽ không được truyền lại cho con của chắt, dẫn đến không bảo toàn, bình đẳng hóa được quyền lợi và nghĩa vụ của thế hệ sau về thừa hưởng di sản thừa kế Do đó, cần có sự bổ sung về quy định thừa
kế thế vị, cụ thể là không giới hạn thế hệ được hưởng thừa kế thế vị
11 Điều 654 – Bộ luật Dân sự 2015, [https://bom.so/5DlENk], truy cập lần cuối cùng 21/3/2023
Con (Con đẻ)
(không còn mối quan hệ hôn nhân)
Mẹ kế/ Cha dượng
Tiếp tục mối quan hệ hôn nhân
với mẹ kế/cha dượng
Trang 141.2.3 Những điểm cần lưu ý khi giải quyết thừa kế thế vị:
Khi giải quyết các vụ án về phân chia tài sản thừa kế thế vị, ta cần lưu ý một số điểm: Như đã nói ở phần trên, thừa kế thế vị chỉ áp dụng đối với phần di sản chia thừa kế theo pháp luật, không áp dụng chia thừa kế theo di chúc Những người thừa kế thế vị được hưởng chung phần di sản của người để lại di sản Thêm vào đó, cháu (người thừa kế thế
vị của ông, bà) phải còn sống vào thời điểm ông, bà chết, nếu trong trường hợp đã thành thai trước khi ông, bà chết thì vẫn được thừa kế thế vị sau khi ông, bà chết
Đối với trường hợp nhiều người được hưởng thừa kế thế vị trong cùng một hàng thừa kế, phần di sản thừa kế khi chia thừa kế theo pháp luật, mỗi người sẽ được hưởng mỗi phần bằng nhau dựa trên Khoản 2, Điều 651 Người thừa kế theo pháp luật của Bộ luật Dân sự 2015 Ví dụ: Ông M chết không để lại di chúc Tổng tài sản của ông M là 400 triệu đồng Gia đình ông gồm vợ, cha mẹ đẻ và 2 đứa con Khi đó, tài sản của ông M sẽ được chia đều cho 5 người, mỗi người nhận được di sản tương đương 80 triệu đồng
1.3 Ý nghĩa của việc quy định thừa kế thế vị
Thừa kế thế vị có ý nghĩa to lớn trong các chế định pháp luật hay trong bất kỳ chế
độ xã hội có giai cấp nào, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền công dân
Do đó thừa kế thế vị đóng một vai trò không thể thiếu được đối với đời sống mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội Sự thừa kế, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là một quy luật khách quan, nhưng các quan hệ thừa kế ở mỗi chế độ xã hội được giải quyết như thế nào là do chủ quan con người quyết định Quyền sở hữu cá nhân là cơ sở khách quan của việc thừa kế Vì vậy quyền thừa kế trong điều kiện của nước ta hiện nay được thể hiện như một phương tiện để củng cố sở hữu của công dân cũng cố quan hệ hôn nhân và gia đình bảo vệ lợi ích của những người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động
Pháp luật của nước ta bảo vệ những lợi ích cơ bản của mỗi người lao động trên cơ
sở bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội góp phần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến để lại tạo môi trường pháp lý thuận lợi làm cho nhân dân lao động yên tâm sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm xem gia đình là tế bào của xã hội, phải đảm bảo quyền lợi chính dáng của mỗi thành viên và sự ổn định của từng gia đình Mặc khác thông qua quyền thừa kế giáo dục tính thần trách nhiệm của mỗi thành viên đối với gia định Do do xác định được