1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

một số phương hướng giảng dạy văn thuyết minh trong chương trình ngữvăn

31 721 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Phương Hướng Giảng Dạy Văn Thuyết Minh Trong Chương Trình Ngữ Văn
Tác giả Nguyễn Thị Hương
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Na Sang
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bản sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2008 - 2009 đến 2009 - 2010
Thành phố Na Sang
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 520,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO MƯỜNG CHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NA SANG BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8 Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8 Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương. Chức danh và đơn vị công tác: Giáo viên Trường trung học cơ sở Na Sang.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO MƯỜNG CHÀ

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NA SANG

 

BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương

Trang 2

BẢN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

 

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương.

Chức danh và đơn vị công tác: Giáo viên Trường trung học cơ sở Na Sang Thời gian thực hiện: Năm học 2008 - 2009 đến năm học 2009 - 2010 Nơi thực hiện: Trường trung học cơ sở Na Sang.

Trang 3

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY VĂN THUYẾT MINH

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong mấy chục năm qua, khoa học kĩ thuật tiên tiến Nhiều vấn đề cầntrang bị cho người lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội và nâng cao chấtlượng cuộc sống cá nhân Có những tri thức không còn thích hợp, thậm chí đã lỗi thờicần được loại bỏ Nội dung và phương pháp giáo dục trong nhà trường, trong đó bậcTHCS cần được xem xét, điều chỉnh Từ năm 1997, những đổi mới đồng bộ về giáodục THCS và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn lại sách giáo khoa các mônhọc theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động của học sinh đã đặt ra yêu cầu cấp thiết vềđổi mới phương pháp giáo dục Cùng với các bộ sách giáo khoa của các khối lớp khác,sách giáo khoa Ngữ văn 8 được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp ba phân môn Văn– Tiếng Việt – Tập làm văn theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của ngườihọc Sự tuân thủ hai nguyên tắc trên này đã tạo nên những tiền đề thuận lợi cho việcvận dụng định hướng đổi mới phương pháp dạy học

“Văn học là nhân học” Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống vàtrong sự phát triển tư duy của con người.Là một môn học thuộc nhóm khoa học xãhội ,môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm ,tư tưởng ,tình cảm chohọc sinh.Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ ,môn văn còn thể hiện rõmối quan hệ với các môn học khác.Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các mônhọc khác và ngược lại ,các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn Điều đó đặt

ra yêu cầu tăng cường tính thực hành ,giảm lí thuyết ,gắn học với hành ,gắn kiến thứcvới thực tiễn hết sức phong phú ,sinh động của cuộc sống

Môn văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn :Văn học ,Tiếngviệt ,Tập làm văn Trong thực tế dạy và học ,phân môn tập làm văn là phân môn “nhẹkí” nhất Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói : “Dạy làm văn là chủ yếu là dạy

Trang 4

cho học sinh diễn tả cài gì mình suy nghĩ ,mình cần bày tỏ một cách trung thành ,sáng

tỏ chính xác ,làm nỗi bật điều mình muốn nĩi” ( Dạy văn là một quá trình rènluyện tồn diện , Nghiên cứu giáo dục ,số 28 ,11/1973)

Một điểm mới, dễ nhận thấy ở chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 8 là sự

cố gắng vừa tiếp thu những nội dung ổn định, hợp lí của bộ sách giáo khoa Văn học –Tiếng Việt – Tập làm văn cĩ những thay đổi phù hợp với tinh thần tích hợp và nhữngyêu cầu mới hiện đại hố thể hiện rõ nhất việc tránh xu hướng hàn lâm, quá tải, nặng

nề, thiếu thiết thực, tăng cường tính ứng dụng thực hành Theo tinh thần này, nội dungphần Tập làm văn đã chú ý cân đối nội dung, hướng tới tính tồn diện và gắn với thựctiễn đời sống nhằm đào tạo năng lực đọc, viết cho học sinh Việc đưa kiểu văn bảnthuyết minh vào giảng dạy là một minh chứng

Tuy chỉ là một phân mơn trong mơn học Ngữ văn, xong tập làm văn vẫn được coi

là căn cứ quan trọng, nếu khơng nĩi là chủ yếu, để đánh giá kết quả của cả mơn học Với mỗi học sinh trung học, nĩi “ giỏi văn” hay “kém văn” hầu như cũng đồng nghĩa

là giỏi hay kém về tập làm văn Nĩi đến tập làm văn là nĩi đến thực hành: học để thựchành, vừa học vừa thực hành, thực hành để học Kết quả cuối cùng của mơn tập làm văn, là kĩ năng thực hành

Để nâng cao chất lượng dạy và học tồn nghành Giáo Dục đã thực hiện dạy-học theo phương pháp đổi mới Đối với mơn Ngữ văn trường trung học cơ sở Na sang cũng vậy Như tất cả chúng ta đều biết, để thu hút được sự chú ý củahọc sinhtrong giờ học Văn đã khĩ với phân mơn Tập Làm Văn lại càng khĩ hơn Do vậy muốn thực hiện được người giáo viên cần phải cĩ nghệ thuật, cĩsự kết hợp nhiều yếu tố Nếu giáo viên khơng nắm chắc phương pháp, hững hờ thiếu nhiệt tình thì sẽ gây sự nặng

nề, nhàm chán, thụ động cho học sinh Mặt khác, sự chủ động, tích cực hợp tác của học sinh cũng gĩp phần khơng nhỏ vào sự thành cơng của tiết học Mà trong thực tế giảng dạy, một số đơng các em vẫn cịn thờ ơ với tiết học, cĩ thái độ học tập rất thụ động theo kiểu thầy dạy bao nhiêu biết bấy nhiêu, khơng tự tìm tịi, học hỏi, quan

Trang 5

sát… tại sao vậy? Phải chăng là do các em không có hứng thú với phần Tập Làm Văn.Hay còn vì lý do nào khác nữa? đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở khá nhiều.

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Một số phương hướng giảng

dạy văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8” và xin ghi lại một vài kinh

nghiệm nhỏ bé với hy vọng những ý kiến của tôi sẽ phần nào giúp ích cho quý đồng nghiệp

II CƠ SỞ LÍ LUẬN

Nghị quyết trung ương II, khóa VIII của Đảng có xác định : “Mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người mới và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước… làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp …” Như vậy, mục tiêu của giáo dục nói chung và nhà trường phổ thông nói riêng là góp phần vào đào tạo nên những con người toàn diện (giỏi cả lý thuyết lẫn thực hành) để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Thế nhưng một vài năm trước đây, việc giảng dạy trong nhà trường của chúng ta

bị xã hội phê phán là nặng tính chất kinh điển còn thoát ly đời sống thực tế Học sinh giỏi về lý thuyết nhưng lại yếu về thực hành Không chỉ thế, các em còn hầu như chưa

có khả năng tự trình bày rõ ràng, mạch lạc một phương pháp, một cách làm về sản phẩm mình làm ra; có em lại chưa biết tự giới thiệu về những đặc trưng tiêu biểu nhất của quê hương mình … Làm sao để khắc phục tình trạng trên ? đó quả là câu hỏi khó

Và Bộ Giáo Dục đã thực hiện theo tinh thần hiện đại hóa nội dung chương trình, hướng tới thực tiễn đời sống, giảm bớt hàn lâm, tăng cường thực hành nói và viết cho học sinh, SGK Ngữ Văn 8 đã đưa vào giảng dạy ở phần tập làm văn thể loại “Văn

Trang 6

thuyết minh” với mong muốn bước đầu các em có năng lực giới thiệu khách quan, mạch lạc về đối tượng nào đó.

Như trên đã đề cập, văn bản Thuyết minh là kiểu văn bản khó đối với học sinhlớp 8 Tuy không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại là loại văn bảnthông dụng, có phạm vi sử dụng phổ biến trong đời sống, từ lâu nhiều nước trên thếgiới đã đưa vào chương trình học cho học sinh

Văn bản thuyết minh là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng, lí dophát minh, quy luật phát triển, biến hoá của sự vật, nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫncách sử dụng cho con người.Văn bản Thuyết minh được sử dụng rộng rãi, ngày nàocũng cần đến Mua một thứ đồ dùng sinh hoạt (Ti vi, máy bơm, quạt điện, xe máy…)đều phải kèm theo những thuyết minh về tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, bảo quản

để nắm vững; mua một loại thực phẩm ( hộp bánh, chai rượu…) trên đó cũng có ghixuất xứ, thành phần, ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng…Ra ngoài phố gặp cácbiển quảng cáo giới thiệu sản phẩm ; cầm quyển sách bìa sau có thể có lời giới thiệutác giả, tóm tắt nội dung ; trước một danh lam thắng cảnh có bảng ghi lời giới thiệu,lai lịch, sơ đồ thắng cảnh…Trong sách giáo khoa, có bài trình bày một sự kiện lịch sử,tiểu sử một nhà văn, tác phẩm được trích, một thí nghiệm…Tất cả đều là các văn bảnthuyết minh Loại văn bản này được dùng nhiều trong văn bản giáo khoa, khoa học,

nhật dụng Như vậy, hai chữ “thuyết minh” ở đây đã bao hàm cả ý giải thích, trình bày,

giới thiệu Khác với các loại văn bản tự sự, biểu cảm, miêu tả, nghị luận, điều hành,văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan, khoa học về đốitượng nhằm cung cấp những tri thức xác thực, hữu ích về đặc trưng, tính chất của sựvật, hiện tượng và sử dụng chúng vào mục đích có lợi

Tóm lại, dù ngắn hay dài, dù đơn giản hay phức tạp, văn bản thuyết minh đềuđóng vai trò cung cấp thông tin để giúp người đọc, người nghe hiểu đối tượng, sự việc.Đưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là cung cấp cho học sinh một kiểu văn bản

Trang 7

thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức, nâng cao năng lực tư duy và biểuđạt cho học sinh , giúp các em làm quen với lối làm văn có tính khoa học, chính xác.

III THỰC TRẠNG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

1) Thuận lợi:

Như trên tôi đã trình bày, văn thuyết minh là loại văn bản thông dụng, được sử dụng rộng rãi, nghành nghề nào cũng cần đến Nên khi giảng dạy văn thuyết minh tôi gặp một số thuận lợi nhất định:

- Tài liệu tham khảo tôi có thể xem trên báo chí, trên truyền hình, trên radio, trong sách giáo khoa của các môn học khác và ngay chính trong thực tế đời sống xung quanh ta

- Được sự giúp đỡ tận tình của các đồng nghiệp trong và ngoài trường khi có vấn đề liên quan đến phân môn thầy, cô giảng dạy

- Với sự tham gia nhiệt tình, tích cực và sáng tạo của học sinh

2) Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi trên, tôi cũng gặp phải một số khó khăn cần khắc phục:

*) Về giáo viên

- Đôi khi rất khó khăn cho việc tìm tài liệu cho bài giảng của mình, nhất là phần thuyết minh về địa phương

- Giáo viên THCS được phân công giảng dạy theo từng phân môn Giáo viên nào được phân công dạy môn nào thì chỉ chuyên tâm tìm hiểu, học hỏi và trau dồi kiếnthức chuyên môn, ít tìm hiểu, quan tâm đến các môn, các lĩnh vực khác Mỗi phần văn

Trang 8

thuyết minh lại có mối quan hệ chặt chẽ với các môn khác trong nhà trường và các lĩnh vực trong đời sống.

*) Về học sinh

- Học sinh ở đây đa số là con nhà nông , nên ngoài thời gian học ở trường các

em về nhà phải phụ giúp gia đình rất nhiều công việc Đến ngày mùa, làm nương rẫy

có em phải xin nghỉ 1 đến 2 buổi để phụ gia đình … Có khi, các em đi làm về chỉ kịp tắm rửa, thay bộ quần áo là tới trường Các em tới lớp với một cơ thể mệt mỏi như vậyrất khó tiếp thu kiến thức mới Và cũng chính vì lí do đó nên các em không có đủ thời gian để chuẩn bị bài trước khi lên lớp, cũng như không có thời gian để tìm tòi thêm trên báo, các kiến thức trong thực tế

- Một bộ phận khác là con em gia đình có điều kiện nhưng cha mẹ các em lại cóquan niệm chưa đúng về vị thế của môn Ngữ Văn trong việc hình thành nhân cách, tâm hồn các em Họ cứ nghĩ với nền kinh tế mở cửa hiện nay, con em họ chỉ cần học những môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ … là những môn thiết thực sẽ giúp con

em họ sau này dễ xin việc, dễ kiếm tiền Không mấy ai quan tâm đến việc học văn củacon em, đến việc con viết sai lỗi chính tả, dùng sai từ, không viết đúng một lá đơn… nên không chỉ không tạo điều kiện cho các em trong việc tìm tài liệu mới cho bài văn

mà còn khiến các em cũng có cái nhìn lệch lạc về việc học văn và không còn hứng thúvới môn Ngữ Văn nói chung và đặc biệt là phân môn Tập Làm Văn

- Một bộ phận nhỏ các em có thái độ làm biếng học Ngữ Văn và gần như dửng dưng với phân môn Tập Làm Văn, thậm chí còn mơ hồ về bố cục một bài văn gồm mấy phần? Mỗi phần có nhiệm vụ gì ? khi có đề bài là các em ngay lập tức đặt bút viếtbài không cần tìm hiểu gì, không cần biết phải huy động những kiến thức nào để làm bài Cứ viết đến đâu hay đến đó

Trang 9

Sau đây là bảng số liệu thống kê điểm trung bình môn Ngữ Văn 8A1-8A2 năm học 2008 – 2009.

Tỉ lệ học sinh

giỏi

Tỉ lệ học sinhkhá

Tỉ lệ học sinhtrung bình

Tỉ lệ học sinhyếu

Tỉ lệ học sinhkém

2,85% 15,7% 34,76% 43,94% 2,75%

3 Qúa trình thực hiện giải pháp mới.

Phần văn thuyết minh cần được giảng dạy, truyền thụ kiến thức một cách nhẹ nhàng nhưng khắc sâu kiến thức cho học sinh Liên hệ chặt chẽ với các môn học khác

và một số lĩnh vực trong đời sống.Giúp giáo viên Ngữ Văn giảng dạy tốt và đạt kết quả cao Đồng thời, phải luôn luôn tìm tòi nghiên cứu, trau dồi thêm kiến thức thực tế.Kích thích sự hứng thú, chủ động, sáng tạo, quan sát và tìm tòi thêm các kiến thức trong các tiết văn thuyết minh nói riêng và các tiết Tập Làm Văn nói chung Đồng thời, giúp học sinh nhận ra rằng môn Ngữ Văn trong THCS là cầu nối các môn học khác và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các em trở thành con người của

xã hội mới năng động và sáng tạo

Vậy muốn giảng dạy thành công văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn

8, trước hết cần phải nắm được một số vấn đề sau :

a Khái niệm văn thuyết minh.

- Văn bản thyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) và đặc điểm, tính chất, nguyên nhân … của các

Trang 10

hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giảithích

- Tri thức trong văn thuyết minh đòi hỏi khách quan xác thực, hữu ích cho con người

- Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn

b Tại sao lại đưa văn bản thuyết minh vào chương trình Ngữ Văn 8.

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản lần đầu tiên được đưa vào chương trình Tập Làm Văn THCS Việt Nam Đây là loại văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng rất phổ biến trong đời sống, từ lâu nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản,…đã đưa vào chương trình học cho học sinh Chính vì vậy, có thể nói đây là kiểu văn bản hoàn toàn mới, chưa có trong chương trình và sách giáo khoa Tập Làm Văn trước đây Nhưng nói mới là so với chương trình và sách giáo khoa thôi, chứ không mới so với yêu cầu thực tế của đời sống

Văn bản thuyết minh còn là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng cùng

lí do phát sinh, quy luật phát triển, biến hóa của sự vật nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫn cách sử dụng cho con người Văn bản thuyết minh được sử dụng trong nhiều ngành nghề khác nhau Mua một cái máy như tivi, máy bơm, máy cày…đều phải kèm theo bản thuyết minh để ta hiểu tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản Mua một hộp bánh, trên đó cũng có ghi xuất sứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng tịnh…Đến một danh lam thắng cảnh, trước cổng vào thế nào cũng có ghi lời giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắng cảnh Ra ngoài phố, ta gặp các bảng quảng cáo giới thiệu sản phẩm Cầm quyển sách, bìa sau có thể có lời giới thiệu tóm tắt nội dung Trong sách giáo khoa có bài trình bày thí nghiệm hoặc trình bày sự kiện lịch sử, trình bày tiểu sử nhà văn, giới thiệu tác phẩm được trích…Tất cả

Trang 11

đều là văn bản thuyết minh Như vậy, trong đời sống hàng ngày không lúc nào ta thiếuđược văn bản thuyết minh.

Do vậy, đưa văn bản thuyết minh vào Ngữ Văn 8 là cung cấp cho học sinh một kiểu văn bản thông dụng, rèn luyện kĩ năng trình bày các tri thức có tính chất khách quan, khoa học, nâng cao năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh Hay nói một cách khác đưa văn bản thuyết minh vào Ngữ Văn 8 là đáp ứng yêu cầu đời sống xã hội hiệnnay, đào tạo một năng lực cần thiết mà học sinh ta xưa nay chưa được học chính thức

Hiểu được những lý do trên sẽ giúp tôi có hiểu biết sâu sắc hơn về văn bản thuyết minh và sẽ thấy nhẹ nhàng hơn, cũng như không còn quá lo sợ học sinh sẽ không tiếp thu được, không biết lấy tư liệu từ đâu để làm bài nữa Đồng thời, bước đầuthực hiện được nguyên tắc giúp học sinh hòa nhập vào xã hội, giúp các em sau này bớt

bị bỡ ngỡ, lúng túng trước những vấn đề đặt ra

c Nội dung văn bản thuyết minh trong Ngữ Văn 8.

Như chúng ta biết SGK chương trình Ngữ Văn THCS được xây dựng theo nguyêntắc “đồng tâm” hai vòng : vòng I (gồm lớp 6 – 7) vòng 2 (gồm lớp 8 – 9) Nhưng phầnvăn bản thuyết minh lại chỉ có ở vòng 2 ( lớp 8) Mặc dù phần văn bản thuyết minh chỉđược có mặt ở lớp 8 nhưng nó lại có sự tích hợp rất chặt chẽ với các lớp 6, 7, 9 thông qua các văn bản nhật dụng

Nội dung giảng dạy thuyết minh ở Ngữ Văn 8 gồm:

1) Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh

2) Phương pháp thuyết minh

3) Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh

4) Thuyết minh về một thứ đồ dùng (luyện nói)

Trang 12

5) Thuyết minh về một thể loại văn học

6) Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh

7) Thuyết minh về một phương pháp (cách làm)

8) Thuyết minh một danh lam thắng cảnh

9) Ôn tập về văn thuyết minh

10) Chương trình địa phương (phần tập làm văn)

Nắm được những nội dung trên sẽ giúp tôi có kế hoạch và phương pháp truyền thụ kiến thức phù hợp, không quá ôm đồm nói quá nhiều vấn đề trong một bài giảng

để dẫn đến hết giờ mà kiến thức chính chưa truyền thụ được Hơn nữa, nắm được điều này còn giúp tôi có khả năng giúp học sinh tích hợp và cuûng cố các văn bản đã học

và đó cũng là một ví dụ chân thực nhất cho bài học

Ví dụ: Như khi giảng bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh ta có thể tích hợp,

liên kết tới văn bản “Động Phong Nha”(ngữ văn 6), “Ca Huế trên sông Hương” (ngữ

văn 7) hay “Cầu Long biên_chứng nhân lịch sử” (ngữ văn 6)…

d Một số lưu ý khi giảng dạy văn bản thuyết minh.

Trang 13

làm không thể hư cấu, bịa đặt tưởng tượng hay suy luận Nghĩa là tri thức phải phù hợp với thực tế và không đòi hỏi người làm phải bộc lộ cảm xúc cá nhân của mình Người viết phải tôn trọng sự thật, không vì lòng yêu ghét của mình mà thêm thắt cho đối tượng Vì thế nó đòi hỏi học sinh phải quan sát, điều tra, phải tích lũy, hệ thống hóa mới viết được bài Điều này nâng cao ý thức khoa học cho học sinh.

Ví dụ: Khi giới thiệu một cuốn sách học sinh phải cho biết sách của ai, thể loại

gì, xuất bản năm nào, ở đâu, nội dung gồm những mục gì, sách dày hay mỏng, cần thiết đối với ai…Nếu đọc kỹ phải giới thiệu sách nêu vấn đề gì Hay muốn giới thiệu

về một tác giả nào đó thì phải giới thiệu được họ tên đầy đủ (bí danh nếu có), ngày tháng năm sinh, năm mất, quê quán, thể loại thành công nhất của tác giả, tác phẩm tiêubiểu nhất của tác giả…Tìm hiểu kĩ hơn thì có thể viết về xuất thân của tác giả, những thăng trầm của cuộc đời tác giả …

Ngoài ra văn thuyết minh còn có tính chất thực dụng, cung cấp tri thức là chính nên không nhất thiết phải làm cho người đọc thưởng thức cái hay cái đẹp như tác phẩm văn học Tuy nhiên nếu viết có cảm xúc, biết gây hứng thú cho người đọc thì vẫn tốt

Ví dụ: Nếu giới thiệu về một loài hoa có thể bắt đầu bằng việc miêu tả vẻ đẹp của hoa, gợi cảm xúc chung về loài hoa ấy rồi mới thuyết minh cũng rất hay Khi giới thiệu về một danh lam thắng cảnh nào đó trước khi giới thiệu ta có thể giới tiệu vài nét

về quang cảnh, vẻ đẹp chung, toàn cảnh để gợi cho người đọc (nghe) cảm giác như được hòa mình, đắm mình trong quang cảnh này càng tốt, hiệu quả đạt được sẽ cao hơn

*) Phương pháp thuyết minh

Nếu như nói tri thức về đối tượng cần thuyết minh là vô cùng quan trọng trong bài văn thuyết minh Thì phương pháp thuyết minh cũng đóng vai trò quan trọng

Trang 14

không kém cho việc thành công của một bài văn thuyết minh Nên để làm được một bài văn thuyết minh hay thì nhất thiết phải có phương pháp phù hợp với từng đối tượng thuyết minh Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh biết cách sử dụng các phương pháp sao cho hiệu quả nhất đối với từng đối tượng.

Ví dụ: để thuyết minh về cái quạt máy thì phương pháp phân chia đối tượng thành các bộ phận là phù hợp nhất Để làm được đề này thì ta có thể chia chiếc quạt máy thành hai hệ thống chuyển động và hệ thống bảo vệ rồi sau đó lần lượt đi thuyết minh từng hệ thống Hay để thuyết minh về tác hại của việc hút thuốc lá thì ta lại phải

sử dụng chủ yếu là phương pháp liệt kê, đưa số liệu để giúp người đọc có thể thấy rõ được ảnh hưởng to lớn của thuốc lá đến sức khỏe con người cũng như đến môi trường xung quanh

*) Đề văn thuyết minh

Đề tập làm văn thường có hai dạng: một là đề văn có mệnh đề, xác định nhu cầu, phạm vi bài văn (như thuyết minh về chiếc quạt máy, thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam…) Hai là đề văn chỉ nêu đề mục, không có mệnh lệnh cụ thể Loại đề thứ hai này thường chỉ nêu đối tượng thuyết minh, đòi hỏi học sinh phải cụ thể hóa, lựa chọn đối tượng cụ thể cho bài viết của mình Và ngữ văn 8 dùng cả hai loại đề này nhưng nhiều trương hợp nghiêng về kiểu thứ hai để phát huy vai trò chủ động của học sinh

Ví dụ: Đề chỉ cần nêu “Chiếc nón lá Việt Nam” là học sinh đề đề yêu cầu viết bài thuyết minh, giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam Hay đề nêu “Giới thiệu về một món ăn dân tộc (bánh chưng, bánh giày, phở, cốm…)” thì học sinh có thể lựa chọn một đối tượng cụ thể mà mình hiểu biết để thuyết minh, không nhất thiết bắt buộc phảithuyết minh về một đối tượng mình ít hiểu biết Ở những đề kiểu này giáo viên có thể cho học sinh tự chọn đối tượng mà mình hiểu biết, yêu thích như vậy bài làm của các

em sẽ đạt kết quả cao hơn

Trang 15

*) Ngôn ngữ

Bên cạnh những chú ý ở thêm thì ta cũng cần hết sức chú ý đến ngôn ngữ của bài văn thuyết minh Chính ví bài văn thuyết minh luôn luôn đòi hỏi phải khách quan,khoa học Nên ngôn ngữ của bài văn thuyết minh cũng yêu cầu chính xác, gọn, sáng

rõ Tránh dài dòng và mập mờ không rõ nghĩa Nhưng trong các trường hợp thuyết minh mang tính nghệ thuật, Ví Dụ như con kiến tự kể về loài kiến thì có thể tưởng tượng người kể đóng vai con kiến, nhưng tri thức về loài kiến phải tuyệt đối chính xác

*) Phân biệt văn thuyết minh với các kiểu văn khác

Khác với văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính công vụ, văn bản thưyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan, giúp con nguời hiểu biết đuợc đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và biến cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi Còn nó khác với tư sự vì nó không đòi hỏi miêu tả cụ thể cho người đọc cảm thấy đuợc, hình dung ra đuợc, mà cốt làm cho người ta hiểu Khác với văn nghị luận vì cái chính ở đây là trình bày nguyên lí, quy luật, cách thức …chứ không phải là luận điểm, suy luận, lí lẽ Khác với văn hành chính – công vụ vì nó không trìnhbày quyết định, nguyện vọng, thông báo của ai đối với ai

Trong chương trình Ngữ Văn THCS học sinh cũng đã được học cách giải thích trong nghị luận Nhưng nghị luận giải thích chủ yếu là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề Ở văn bản thuyết minh lại là giải thích bằng cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản đồ vật …hay nói cách khác là giải thích bằng tri thức khoa học

Như vậy, văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loại văn bản khác không thay thế được Mặc dù, trong bài thuyết minh ở đâu đó ta vẫn thấy bóng dáng của các văn bản trên

Ngày đăng: 24/05/2014, 14:25

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w