Mai Sơn là huyện miền núi phía Bắc thuộc tỉnh Sơn La, khu vựcthườngxuyênxảyra các hiện tượng thiêntaiđã tác động rất lớn đến sinh hoạt và sảnxuất của người dân, đặc biệt là sản xuất nông
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
1.1.1 Khái quát sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về sản xuất nông nghiệp tùy thuộc vào mục đích quản lý của từng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Theo Vũ Đình Thắng, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp Trong khi đó, theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm lâm nghiệp và thủy sản Bộ NN&PTNT quy định sản xuất nông nghiệp ở xã theo nghĩa rộng bao gồm các tiểu ngành như nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp.
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với 22,1% GDP năm 2008, gần 30% giá trị xuất khẩu và hơn 60% lực lượng lao động Ngành nông nghiệp đã có sự tăng trưởng cao và ổn định trong thời gian dài, đạt nhiều thành tựu lớn mặc dù thường xuyên phải đối mặt với thiên tai.
Sau 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008 Từ một nước thiếu lương thực trong một thời gian dài Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Hiện nay, bốn cây lương thực chính của Việt Nam đó là lúa, ngô, sắn, khoai [51].
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, với 75% dân số sống dựa vào nông nghiệp và 70% lãnh thổ là khu vực nông thôn Tuy nhiên, cuộc sống của người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Sản xuất nông nghiệp hiện nay chủ yếu dựa vào các hộ cá thể với quy mô nhỏ và trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, điều này tạo ra thách thức lớn dưới tác động của biến đổi khí hậu.
SXNN của Việt Nam hiện nay phụ thuộc nhiều vào thời tiết, ảnh hưởng lớn đến năng suất trồng trọt Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội, với sản xuất lương thực như lúa, ngô, rau màu giữ vị trí then chốt Mặc dù Việt Nam đã đạt được an ninh lương thực toàn quốc, nhưng vấn đề đảm bảo an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, đặc biệt tại vùng miền núi phía Bắc, vẫn còn là thách thức lớn.
Tại huyện Mai Sơn, cây trồng chủ lực đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đó là cây ngô.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT SINH KẾ
Theo BộPháttriểnquốctếAnh(DFID)năm1999, sinhkế đƣợc định nghĩa là:“Sinhkếbaogồmcáckhảnăng,cáctàisản(baogồmcảcácnguồnlựcvậtchất,xãhội)vàc áchoạtđộngcầnthiếtđểkiếmsống” [33].
Sinh kế bền vững là khả năng giải quyết căng thẳng và đột biến, đồng thời phục hồi và duy trì nguồn lực hiện tại và tương lai mà không gây tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên Các tiêu chí của sinh kế bền vững bao gồm an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, nâng cao điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, đảm bảo bảo vệ tránh rủi ro và các cơ sở hạ tầng.
1.2.2 Khung sinh kế bền vững (SLF)
SLF stands for Sustainable Livelihoods Framework, developed by the UK Department for International Development (DFID) in 2001 It highlights the key factors that influence the livelihoods of individuals.
Khung phân tích sinh kế bao gồm các thành phần cơ bản như nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược đó.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế là tổng hợp các năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể khai thác để duy trì hoặc phát triển sinh kế của mình Tài sản này được phân loại thành 5 loại khác nhau.
Vốn nhân lực là tổng hợp khả năng, kỹ năng, kiến thức và sức khỏe của con người, giúp họ theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau để đạt được kết quả và mục tiêu sinh kế mong muốn.
- Vốn tài chính: Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu trong sinh kế.
Vốn tự nhiên bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất và nước, mà con người có thể tiếp cận để phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của mình.
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và hàng hóa thiết yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động sinh kế Nguồn vốn này có thể được thể hiện ở cả cấp cộng đồng và hộ gia đình.
Vốn xã hội là các mối quan hệ xã hội, bao gồm cả chính thể và phi chính thể, mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực hiện sinh kế.
Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp dụng khung sinh kế bao gồm:
- Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo;
- Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo;
- Giúp định ra các ƣu tiên hành động;
- Giúp tìm ra chiến lƣợc sinh kế phù hợp;
Ngữ cảnh dễ bị tổn thương
;X u hướng mùa vụ, các tác động, từ bên ngoài
Chính sách và Thể chế, tiến trình (cấu trúc Chính phủ, khu vực tƣ nhân, luật pháp,chín h sách…) Nguồn vốn sinh kế
- Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính tác động của thiên tai.
Để phát triển bền vững, không chỉ một loại vốn là đủ; mỗi loại vốn có vai trò quan trọng khác nhau tùy thuộc vào thời điểm và nhu cầu của cộng đồng, đặc biệt là các hộ nghèo Việc xác định mức độ cần thiết của từng loại vốn là yếu tố quyết định cho sinh kế bền vững của cư dân địa phương.
- Không dựa trên tài nguyên,
Kết quả/mục tiêu của sinh kế:
- Cảithiện an toàn lương thực
- Sử dụng tài nguyên bền vững hơn
Hình 1: Khung sinh kế bền vững 1.2.3 Cơ sở nguồn lực sinh kế của cộng đồng dân cƣ huyện Mai Sơn
Theo thuyết sinh kế DFID và kết quả điều tra thực địa tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, các nguồn vốn sinh kế của người dân được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng1.Bảng tóm lược thành phần quan trọng nhất trong vốn sinh kế của người dân tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
Nguồn vốn Thành phần quan trọng nhất
- Kinh nghiệm về thiên tai của các hộ dân;
Nhân lực - Trình độ sản xuất nông nghiệp của các hộ dân;
- Tổ chức, lực lượng ứng phó thiên tai tại địa phương. Tài chính
- Tiền dự trữ trong các hộ gia đình;
- Tiền huy động từ các tổ chức tín dụng;
- Tiền huy động từ người thân quen.
Xã hội - Quan hệ trong trao đổi, mua bán hàng hóa;
- Tập quán và văn hoá địa phương
- Khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân
- Đất canh tác, sản xuất;
- Giống cây trồng, vật nuôi.
- Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Vật chất
- Tài sản hộ gia đình
TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.3.1 Khái quát về thiên tai
Theo Luật Phòng chống Thiên tai năm 2013, thiên tai được định nghĩa là hiện tượng tự nhiên bất thường có khả năng gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội Các loại thiên tai bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất, sụt lún đất, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và nhiều loại thiên tai khác.
Thiên tai bao gồm các hiện tượng tự nhiên như bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa phun trào, sóng thần, vòi rồng, trượt lở đất đá và cháy rừng, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho con người và tài sản, cũng như ảnh hưởng đến các hệ sinh thái.
Hiện tượng thiên tai khí tượng thủy văn trong luận văn này được định nghĩa là các loại thiên tai phát sinh từ các yếu tố khí tượng và thủy văn, bao gồm bão, lốc, lũ lụt và hạn hán.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ thiên tai và biến đổi khí hậu trên thế giới Các hiện tượng thiên tai thường gặp bao gồm bão, lũ, lụt, lũ quét và hạn hán.
Theo số liệu của Cục quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão từ năm 1996-
Năm 2008, thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập và hạn hán đã gây ra cái chết và mất tích cho hơn 9.600 người, với thiệt hại tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP hàng năm Mức độ tác động của thiên tai tại Việt Nam ngày càng gia tăng, cả về quy mô lẫn chu kỳ lặp lại, kèm theo những biến động khó lường.
Thiên tai xảy ra trên toàn quốc, nhưng số lượng, tần suất, cường độ và mức độ tác hại của từng loại thiên tai lại khác nhau tùy theo từng vùng miền.
Bảng 2 Các dạng thiên tai tại các khu vực địa lý và vùng kinh tế khác nhau
Các khu vực địa lý và vùng kinh tế Đông Châu Bờ Bờ Cao Đông Châu Khu
Thiên tai Bắc và thổ biển biển nguyê n Bắc thổ vực
Tây sông Bắc Nam Nam sông kinh tế
Bắc Hồng Trung Trung Bộ Mekon g biển
Ký hiệu: Đặc biệt nghiêm trọng (****), Nghiêm trọng (***), Trung bình (**), Nhẹ (*), Không ảnh hưởng (-)
Theo số liệu tại bảng 2, thì vùng Tây Bắc, trong đó có huyện Mai Sơn thuộc tỉnh Sơn La chịu tác động nghiêm trọng của bão, lũ, hạn hán.
1.3.2 Khái quát về BĐKH tại Việt Nam
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự thay đổi lâu dài trong trạng thái của hệ thống khí hậu, được nhận diện qua sự thay đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính khí hậu Biến đổi khí hậu có thể xảy ra do các quá trình tự nhiên trong hệ thống khí hậu, tác động từ bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển và sử dụng đất.
Biến đổi khí hậu, với các biểu hiện chính như sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, chủ yếu do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây ra, dẫn đến việc phát thải quá mức các khí gây hiệu ứng nhà kính vào khí quyển.
Nghiên cứu của Manto và Cộng sự (2001) cho thấy xu thế giáng thuỷ ngày cực đại từ năm 1961 đến 1998 ở Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương có sự giảm đáng kể về số ngày mưa (từ 2mm trở lên) Phân tích của Endo và Cộng sự (1950 – 2000) chỉ ra rằng số ngày ẩm ướt (trên 1mm) giảm ở hầu hết các nước Đông Nam Á, trong khi cường độ giáng thuỷ trung bình của những ngày này lại tăng lên Tại Việt Nam, mưa lớn gia tăng ở phía Nam nhưng giảm ở phía Bắc, và số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở các khu vực chịu ảnh hưởng của giáng thuỷ trong mùa gió mùa đông.
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, đã nêu lên một số điểm nhƣ sau về biểu hiện của BĐKH [4]:
Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam đã tăng từ 0,5 đến 0,7 độ C Sự gia tăng nhiệt độ mùa đông diễn ra nhanh hơn so với mùa hè, và các khu vực phía Bắc của đất nước cũng chịu tác động tăng nhiệt nhanh hơn so với các khu vực phía Nam.
- Tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008);
Trong 9 thập kỷ qua (1911-2000), lượng mưa trung bình năm tại từng địa điểm không có xu thế biến đổi rõ rệt, với sự thay đổi theo các thời kỳ và vùng miền khác nhau, bao gồm cả giai đoạn tăng và giảm.
Trong hai thập kỷ qua, số lượng đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm rõ rệt Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết dị thường vẫn xuất hiện, điển hình là đợt không khí lạnh kéo dài 38 ngày gây rét đậm, rét hại trong tháng 1 và tháng 2 năm nay.
Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng cường độ và tính bất thường của các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ lụt và hạn hán.
- Bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn.
Phân tích số ngày nắng nóng trong từng thời kỳ trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Đức Ngữ (2009) [14] cho rằng, số ngày nắng nóng trong thập kỉ 1991 –
Trong giai đoạn 2000, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể so với các thập kỷ trước, đặc biệt là ở khu vực Trung Bộ và Nam Bộ Nghiên cứu của Nguyễn Viết Lành phân tích các trung tâm khí áp ảnh hưởng đến Việt Nam nhằm giải thích sự gia tăng này tại một số trạm đặc trưng trong thời kỳ 1961 – 2000.
Nhiệt độ trung bình đã tăng từ 0,4 – 0,6 °C trong giai đoạn 2007, với xu thế tăng rõ rệt nhất trong thập kỷ cuối và mùa đông, đặc biệt là tháng 1, do sự mạnh lên của áp cao Thái Bình Dương Theo Nguyễn Đức Ngữ (2009), biến đổi khí hậu biểu hiện qua các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai như nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, xảy ra với tần suất và cường độ cao hơn.
Lịch sử nghiên cứu
Tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu (BĐKH) đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế nông nghiệp đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều tổ chức khoa học và các cơ quan chức năng Các nghiên cứu về BĐKH và nông nghiệp ngày càng phong phú, với nhiều công trình điều tra cơ bản và chuyên đề được thực hiện.
Báo cáo đánh giá lần 4 về biến đổi khí hậu của Nguyễn Hữu Ninh, Oxfam Việt Nam (2007) phân tích tác động của tần suất hạn hán đến sinh kế của cộng đồng tại tỉnh Ninh Thuận Nghiên cứu cũng xem xét cách mà cộng đồng nhận thức về hạn hán và biến đổi khí hậu, cùng với vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ trong việc ứng phó với thảm họa thiên nhiên, đặc biệt là hạn hán.
Đề tài “Đánh giá tổn thương và khả năng thích nghi ở hộ gia đình trước thiên tai và biến đổi khí hậu trong khu vực thuộc quận Bình Thủy và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ” của Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Hồng (2012) đã phân tích tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu đến các hộ gia đình tại khu vực này, cung cấp những kết quả quan trọng về mức độ tổn thương và khả năng thích nghi của họ.
Vùng điều tra ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến động thời tiết so với nhiều khu vực khác, nhưng vẫn tồn tại dấu vết của sự bất thường thời tiết Những biến đổi này có tác động nhất định đến đời sống và sản xuất của người dân, với mức độ ảnh hưởng khác nhau giữa các vùng.
Người dân ở các vùng đô thị có hiểu biết tốt hơn về biến đổi khí hậu và chủ động hơn trong việc ứng phó với thời tiết bất thường, dẫn đến mức độ tổn thương thấp hơn.
Vùng ven đô có mức hiểu biết về thiên tai ở mức vừa phải, chỉ chủ động một phần trong việc ứng phó với các hiện tượng thời tiết bất thường Những đối tượng chịu tổn thương chính là trẻ em, người già, người khuyết tật và người nghèo.
Tại các vùng sâu, cuộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, trong khi thông tin về khí hậu và thiên tai lại rất hạn chế Điều này khiến người dân trở nên bị động và thiếu sự chuẩn bị cần thiết để đối phó với những biến đổi bất ngờ.
Nghiên cứu của Viện Khoa học tập trung vào việc đánh giá tác động của sự biến đổi khí tượng đến năng suất của một số cây trồng khi nhiệt độ tăng lên 1 độ C.
Khí tƣợng Nông Lâm nghiệp Tây nguyên Dựa vào Kịch bản BĐKH cho Việt Nam
(2009) và các kết quả phân tíchnghiên cứu đã có kết luận nhƣ sau [49]:
Cây chè và cà phê có năng suất cao nhưng chất lượng giảm; ngô và mía tăng năng suất thân cây và độ đường; lúa đạt năng suất toàn thân cây cao nhờ gia tăng quang hợp, nhưng năng suất hạt lại thấp do nhiệt độ cao làm giảm chỉ số thu hoạch, dẫn đến nhiều rơm rạ hơn hạt; các cây lấy củ như khoai lăng và mì gia tăng năng suất khi nhiệt độ tăng, do tỷ lệ rễ/thân tăng khi nồng độ CO2 tăng.
Từ đó đề ra biện pháp thích ứng trong nông nghiệp nhƣ:
Xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý và đổi mới kỹ thuật canh tác là cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu Đồng thời, việc xây dựng hệ thống thủy lợi hiệu quả và tăng cường tuyên truyền thông tin sẽ nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân về BĐKH cùng các biện pháp ứng phó.
Báo cáo Dự án nghiên cứu BĐKH của Care (2011) đã phân tích tác động và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời đề cập đến các vấn đề chính sách liên quan, đặc biệt là trong bối cảnh các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc Nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả quan trọng về tình hình và thách thức mà các cộng đồng này đang phải đối mặt.
- Xu thế BĐKH ở một số các trạm ở miền núi phía Bắc thông qua xu thế biến đổi nhiệt độ và lƣợng mƣa;
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tại một số xã miền núi phía Bắc là rất cần thiết Nghiên cứu này tập trung vào các hiện tượng thiên tai như lũ lụt, hạn hán và rét hại, nhằm hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của chúng đến sinh kế của người dân Việc phân tích những tác động này sẽ giúp đưa ra các giải pháp phù hợp để ứng phó với BĐKH, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống cộng đồng.
- Đƣa ra một số giải pháp ứng phó với BĐKH cho cộng đồng và đề xuất chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cƣ ở miền núi phía Bắc.
Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đã đánh giá tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, tác động của thiên tai đối với sản xuất ngô và sinh kế của cộng đồng dân cư ở khu vực miền núi vẫn chưa được đề cập nhiều Do đó, nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung cho các nghiên cứu hiện có về vấn đề này.
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý - Đặc điểm địa hình
Mai Sơn là huyện miền núi thuộc tỉnh Sơn La, cách trung tâm tỉnh 30 km về phía bắc Huyện này đóng vai trò là trung tâm công nghiệp và là điểm kinh tế quan trọng của tỉnh, nằm trong cụm tam giác kinh tế Sơn La - Mai Sơn - Mường La Toạ độ địa lý của huyện nằm trong khoảng từ 20°52'30" đến 21°20'50" vĩ độ bắc và từ 103°41'30" trở đi.
Khu vực tọa độ 104°0'16'' kinh độ đông có vị trí địa lý đặc biệt, phía bắc giáp huyện Mường La và thành phố Sơn La, phía đông giáp huyện Yên Châu và huyện Bắc Yên, phía tây giáp huyện Sông Mã và huyện Thuận Châu, và phía nam giáp huyện Sông Mã cùng huyện Xiềng Khọ thuộc tỉnh Hủa Phăn, Lào, với chiều dài biên giới 6,4 km Địa hình nơi đây phức tạp với sự chia cắt mạnh mẽ, bao gồm núi đá cao, đồi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên, có độ cao trung bình từ 800m đến 850m so với mực nước biển.
Hai hệ thống núi chính bao gồm dãy núi phía đông chạy theo hướng tây bắc - đông nam và dãy núi phía tây theo hướng tây bắc - tây nam, tạo ra nhiều tiểu vùng với các ưu thế khác nhau, từ đó phát triển nền kinh tế đa dạng Khu vực này có nhiều núi cao, dốc, bị chia cắt mạnh bởi các con sông, suối lớn và các dãy núi cao, với độ cao trung bình từ 1.000m đến 1.200m so với mặt nước biển, chủ yếu phân bố ở phía đông bắc và tây nam của huyện, bao gồm các xã Tà Hộc, Chiềng Chăn, Phiêng Pằn.
Khu vực Nà Ớt, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi nằm ở độ cao 500 – 700m so với mặt nước biển, với địa hình đồi núi và các phiêng bãi, lòng chảo, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và xây dựng khu công nghiệp Khu vực này chủ yếu phân bố dọc theo quốc lộ 6, bao gồm các xã như Cò Nòi, Hát Lót, Chiềng Mung, Nà Bó, và Chiềng Sung Thị trấn Hát Lót là huyện lỵ, và từ Hà Nội đến đây có hai tuyến đường chính là quốc lộ 6.
Đường 41 dài khoảng 270 km, kết nối Hà Nội qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu, Vân Hồ Trong khi đó, đường 113A (còn gọi là đường 13) có chiều dài khoảng 370 km, đi qua các huyện Bắc Yên, Phù Yên và tiếp tục đến tỉnh Yên Bái trước khi về Hà Nội.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 143.247 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 65,40% với 93.687,01 ha, đất lâm nghiệp chiếm 39,36% với 56.379,6 ha, và đất phi nông nghiệp chiếm 3,75% với 5.367,65 ha Đặc biệt, diện tích đất chưa sử dụng là 44.192,34 ha, tương đương 30,85% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây.
Tài nguyên đất của huyện Mai Sơn chủ yếu bao gồm các loại đất sau: Đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá biến chất (FH j ) chiếm 43,50% tổng quỹ đất, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả Đất nâu đỏ trên đá vôi (F v ) có diện tích khoảng 26.442 ha, chiếm 18,50% tổng quỹ đất Đất vàng đỏ trên đá sét (F s ) chiếm 21,40% tổng quỹ đất với diện tích khoảng 30.564 ha Đất Feralit mùn vàng trên đá cát (FH q ) chiếm 5,60% tổng quỹ đất với diện tích khoảng 1.998 ha Cuối cùng, đất phù sa ngòi suối (P ' ) chủ yếu phân bố ven các suối Nậm Pàn, Nậm Quét, Nậm Lẹ, rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả.
Diện tích đất dốc tụ (L d) chiếm 1,80% tổng quỹ đất, với khoảng 2.541 ha, chủ yếu phân bố ở các phiêng bãi bằng phẳng, thích hợp cho việc trồng cây ăn quả và cây công nghiệp Tổng diện tích đất này là khoảng 9.526 ha, chiếm 6,67% tổng quỹ đất Hầu hết các loại đất trong huyện có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, với thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng trong đất như đạm, lân, kali, canxi và magiê có hàm lượng trung bình.
Do địa hình chủ yếu là đồi dốc và thảm thực vật thưa thớt, việc bảo vệ đất là rất quan trọng để hạn chế hiện tượng rửa trôi và xói mòn, từ đó giữ gìn độ màu mỡ của đất.
Hình 2 Bản đồ hành chính huyện Mai Sơn Điều kiện Khí hậu
Miền núi Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21°C Thời tiết thường nóng từ tháng 4 đến tháng 8 và lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Số giờ nắng trung bình hàng năm đạt 1.940 giờ, chủ yếu tập trung từ tháng 3 đến tháng 10, trong khi lượng mưa nhiều nhất rơi vào các tháng 5 đến 9, với tổng lượng mưa trung bình 1.410 mm/năm và độ ẩm trung bình đạt 80,5%.
Mai Sơn, với 24 km sông Đà chảy qua, còn sở hữu hệ thống suối phong phú thuộc lưu vực sông Đà và sông Mã, bao gồm Nậm Pàn, Nậm Khiêng, Nậm Pó, Ta Vắt, Suối Quét, Huổi Hạm, Nậm Mua, Căm với tổng chiều dài khoảng 250 km Đập dâng trên các con suối cung cấp nước tưới cho cây trồng, trong khi nước sinh hoạt chủ yếu từ hệ thống cấp nước tự chảy và nước ngầm Nguồn nước từ sông, suối đã luôn là yếu tố quan trọng cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, sông, suối, hồ cũng tiềm ẩn nguy cơ lũ lụt.
Khoáng sản huyện Mai Sơn chủ yếu có quy mô nhỏ và trữ lượng không lớn, phân tán và khó khai thác do xa đường giao thông Nổi bật là mỏ vàng sa khoáng tại các xã Chiềng Lương, Chiềng Chung, Chiềng Dong, Chiềng Ve, cùng với mỏ đồng Chiềng Chung và mỏ quặng sắt xã Phiêng Pằn Nguồn đá vôi và đất sét phân bố rộng rãi, thuận lợi cho khai thác, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, như mỏ đá vôi ở Chiềng Mung, Nà Pát, Nà Bó, Hát Lót, Cò Nòi Đất sét tại Chiềng Chung, Mường Chanh có tính chất đặc biệt, rất phù hợp cho sản xuất đồ gốm Hơn nữa, còn có hơn 1.000 núi đá có thể khai thác làm nguyên liệu xây dựng, đường giao thông và nguyên liệu xi măng.
Diện tích rừng nguyên sinh đạt 53.650 ha, rừng tái sinh 12.000 ha và rừng trồng 2.729 ha, với độ che phủ rừng là 39,4% Khu vực này có nhiều loài thực vật quý hiếm như nghiến, lát, đinh hương, cùng với các loại tre, trúc và cây dược liệu như đẳng sâm, sa nhân, hương nhu, cửu cẩu, hoàng tinh Ngoài ra, nơi đây còn là môi trường sống của nhiều loài động vật quý hiếm như hươu, nai, hổ, gấu, khỉ, cùng với các loài chim như công, trĩ, vẹt, hoạ mi và khướu.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Huyện Mai Sơn chủ yếu có nền kinh tế nông nghiệp, với các cây trồng chính như lúa, ngô, sắn và rau màu, cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ và lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Trong những năm gần đây, kinh tế của Mai Sơn đã tăng trưởng với tốc độ khá.
GDP, thời kỳ 1996 - 2000 tăng 9,15%/ năm, thời kỳ 2001 – 2005 đạt 11,6%/năm, thời kỳ 2006 - 2010 đạt 14,2%.
Năm 2010, GDP của huyện tăng trưởng 14,6%, với GDP bình quân đầu người đạt 12,4 triệu đồng (khoảng 650 USD) Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng, trong đó tỷ trọng ngành Công nghiệp, Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ tăng lên, trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, nơi có điều kiện tự nhiên phức tạp và đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây, huyện Mai Sơn thường xuyên phải đối mặt với lũ lụt và hạn hán, gây khó khăn cho cuộc sống cộng đồng Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp tại đây còn rất hạn chế, mặc dù người dân chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực này và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Thời gian nghiên cứu được chọn từ năm 1961 đến 2010 nhằm mục đích phản ánh sự biến đổi khí hậu trong một khoảng thời gian đủ dài.
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tại Việt Nam đã tăng khoảng 0,7 °C và mực nước biển dâng khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino và La-Nina ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam, dẫn đến tình trạng thiên tai như bão, lũ, và hạn hán ngày càng nghiêm trọng Dự báo, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình có thể tăng lên 3 °C và mực nước biển có thể dâng 1 mét Số lượng đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm rõ rệt trong hai thập kỷ qua, trong khi bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn và quỹ đạo bão dịch chuyển về phía nam, với mùa bão kết thúc muộn hơn Nếu mực nước biển dâng lên 1 mét, khoảng 40.000 km² đồng bằng ven biển sẽ bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập hầu như hoàn toàn.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Công Nếu mực nước biển dâng 1m, khoảng 10% dân số sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến tổn thất GDP khoảng 10% Tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nếu mực nước biển dâng 3m, khi đó khoảng 25% dân số sẽ bị ảnh hưởng và tổn thất GDP có thể lên tới 25% Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam không chỉ nghiêm trọng mà còn là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững của đất nước.
Thời gian thực hiện nghiên cứu:Luận văn này đƣợc thực hiện từ tháng 07/2015 đến tháng 09/2016.
Tóm tại, nội dung nghiên cứu cuối cùng trong luận văn, cụ thể nhƣ sau:
- Nghiên cứu những biểu hiện của một số hiện tƣợng thiên tai trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La từ năm 1961 đến 2010;
- Nghiên cứu tác động của một số hiện tƣợng thiên tai đến sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn huyện Mai Sơn từ năm 1961 đến 2010;
- Nghiên cứu tác động của thiên tai đến sinh kế thông qua các nguồn vốn sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Mai Sơn;
Dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm giúp người dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thích ứng với thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận đã áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm tiếp cận hệ thống, tiếp cận địa bàn nghiên cứu và tiếp cận về biến đổi khí hậu Trong đó, tiếp cận hệ thống đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và đánh giá các yếu tố liên quan đến nghiên cứu.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, được cấu thành từ các yếu tố tự nhiên, môi trường, con người và kinh tế xã hội, tạo nên đặc trưng riêng cho đời sống sản xuất Sự tương tác giữa các hợp phần này có thể bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng tự nhiên bất thường, dẫn đến tác động khác nhau đến toàn bộ hệ thống Cách tiếp cận hệ thống giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố riêng lẻ và mối quan hệ giữa chúng Để đánh giá tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần có cái nhìn tổng quan từ nhiều góc độ và nguồn thông tin khác nhau Chẳng hạn, hạn hán không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp mà còn phản ánh điều kiện thời tiết của huyện Mai Sơn.
Người dân trong khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) do vị trí cư trú của họ, và có thể có những kinh nghiệm chung trong việc thích ứng với BĐKH Tuy nhiên, nhận thức và cách tiếp cận đối với rủi ro từ BĐKH có thể khác nhau giữa các cá nhân.
Để nghiên cứu sâu sắc các tác động của thiên tai, cần thực hiện khảo sát thực địa, phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của người dân tại huyện Mai Sơn Đồng thời, cần có cái nhìn tổng quan về biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu là một hiện tượng không thể tránh khỏi, với những hậu quả nghiêm trọng và khó lường Mặc dù đã có các kịch bản dự báo, thực tế có thể còn tồi tệ hơn nhiều BĐKH sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, du lịch, tài nguyên nước, môi trường sinh thái và sức khỏe con người Để hiểu rõ hơn về tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và sinh kế, nghiên cứu đã tập trung vào huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, cũng như các tỉnh phía Bắc và vùng núi, trung du Việt Nam Sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng được áp dụng để phân tích nguyên nhân và hậu quả, kết hợp giữa số liệu khoa học và kiến thức bản địa nhằm đưa ra các giải pháp ứng phó hiệu quả.
Luận văn nghiên cứu các căn cứ pháp lý liên quan đến kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại huyện Mai Sơn, bao gồm Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững ở Việt Nam, Công văn số 3815/BTNMT-KTTV BĐKH hướng dẫn xây dựng kế hoạch ứng phó với BĐKH, và Công văn số 3996/BTNMT-KTTV BĐKH về triển khai nhiệm vụ năm 2010 của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Bên cạnh đó, kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng giải pháp thích ứng.
Vào năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 384/2006/QĐ-TTg vào ngày 09 tháng 3, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La cho giai đoạn 2006 - 2020.
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp như phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và phương pháp đánh giá mức độ biến đổi của các yếu tố khí hậu Phương pháp thống kê dựa trên số liệu từ tài liệu và dữ liệu cơ bản về điều kiện khí tượng thủy văn, thiên tai, sinh kế và sản xuất nông nghiệp, nhằm khái quát tình hình các vấn đề liên quan đến nghiên cứu Để áp dụng phương pháp này, cần thu thập các loại số liệu phù hợp.
Dữ liệu quan trắc khí hậu bao gồm nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất, lượng mưa hàng năm, lượng mưa mùa mưa, lượng mưa mùa khô, và số liệu về các ngày mưa lớn từ năm 1961 đến 2010 Bộ số liệu này được thu thập từ trạm quan trắc khí tượng địa phương, cung cấp thông tin tin cậy để áp dụng các phương pháp thống kê khí tượng nhằm xem xét xu hướng biến đổi khí hậu tại địa phương thông qua các đặc trưng như nhiệt độ và lượng mưa Với chuỗi số liệu cách nhau một năm và tổng quan trắc lên tới 50 năm, độ ổn định của kết quả thống kê được đảm bảo Các số liệu này được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và thể hiện qua các phương trình tuyến tính.
Các hiện tượng thiên tai như lũ lụt, hạn hán, rét hại và nắng nóng đã được thu thập số liệu từ các Báo cáo Tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của UBND huyện Mai Sơn và Ban Phòng chống lụt bão tỉnh Sơn La từ năm 1961 đến nay Thông tin cũng được lấy từ các báo chí và website của các tổ chức liên quan Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích tần suất xuất hiện của các dạng thiên tai trên địa bàn trong khoảng thời gian này.
- Số liệu về các nguồn sinh kế, tình hình sản xuất nông nghiệp: thu thậptừ Cục
Từ năm 1990, tỉnh Sơn La đã áp dụng phương pháp thống kê để phân tích xu hướng biến đổi trong sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân địa phương Đặc biệt, phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia đã được sử dụng để hiểu rõ hơn về các vấn đề này.
Theo Ngân hàng Thế giới, PRA là quá trình chia sẻ và phân tích thông tin giữa các bên tham gia, trong đó người dân giữ vai trò chủ đạo trong việc xác định khó khăn của cộng đồng, thảo luận giải pháp và lập kế hoạch hành động để giải quyết những vấn đề đó.
Quy trình thực hiện PRA được tiến hành tại huyện Mai Sơn với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hoá Môi trường từ ngày 24 - 31/5/2016 Để tiếp cận cộng đồng địa phương, chúng tôi đã chọn 3 xã đại diện: Chiềng Chăn, Mường Bon và Chiềng Ve, mỗi xã chọn 1 thôn và phỏng vấn ngẫu nhiên 10 hộ dân Các hộ dân được lựa chọn đảm bảo đại diện cho các điều kiện kinh tế khác nhau, tổng cộng điều tra 30 hộ thông qua mẫu phiếu điều tra có sẵn.
Phỏng vấn là một phương pháp quan trọng trong việc thu thập thông tin, giúp hiểu rõ hơn về tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp và công tác ứng phó của cộng đồng Các câu hỏi được thiết kế để khuyến khích người được phỏng vấn chia sẻ những trải nghiệm và biểu hiện cụ thể Phỏng vấn được thực hiện trực tiếp thông qua bảng hỏi, nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin Bên cạnh đó, việc đánh giá tính chất, mức độ và xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu cũng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này.
Phương pháp này nhằm đánh giá sự thay đổi của các yếu tố khí tượng tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, từ đó lượng hóa mức độ biến đổi để dự báo xu hướng khí hậu trong tương lai Kết quả đánh giá sẽ đóng góp quan trọng vào việc xây dựng các giải pháp hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu tại khu vực này.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐẶC ĐIỂM THIÊN TAI TẠI HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA
Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển và thường xuyên chịu thiên tai Biểu hiện chính của biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng Theo kịch bản phát thải cao, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình có thể tăng khoảng 3°C và mực nước biển tại Việt Nam có thể dâng lên khoảng 1 mét.
Theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến các tỉnh vùng núi và trung du Bắc Việt Nam.
Tỉnh Sơn La, đặc biệt là huyện Mai Sơn, thường xuyên đối mặt với các hiện tượng thiên tai như lũ, lũ quét, sạt lở đất, cháy rừng và hạn hán Những lĩnh vực như an ninh lương thực, lâm nghiệp, giao thông vận tải, môi trường, tài nguyên nước, đa dạng sinh học, y tế và các vấn đề xã hội khác trong vùng núi và trung du Việt Nam đang có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu.
Bảng 3 Các ngành và đối tượng chịu tác động của Biến đổi khí hậu
Các tác động của biến đổi khí hậu
Ngành chịu tác động của biến đổi khí hậu Đối tƣợng dễ bị tổn thương
Vùng núi và trung du/tỉnh
- Gia tăng lũ và sạt lở đất
- Gia tăng hiện tƣợng thời tiết cực
- Nông nghiệp, An ninh lương thực
- Dân cƣ miền núi, nhất là dân tộc thiểu số
- Nhiệt độ gia tăng và hạn hán nước/đa dạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn đề xã hội khác nữ, trẻ em
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực phía Bắc và huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, có những đặc điểm nổi bật sau đây.
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình trên toàn quốc đã tăng khoảng 0,5°C, với sự biến đổi rõ rệt giữa các vùng Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam Nhiệt độ tháng 1 và tháng 7, đại diện cho mùa đông và mùa hè, đều tăng, trong đó nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè Đặc biệt, nhiệt độ ở vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với vùng ven biển và hải đảo Tại các vùng khí hậu phía Bắc, nhiệt độ mùa đông đã tăng khoảng 1,3-1,5°C, trong khi mùa hè tăng 0,3-0,5°C, và nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5-0,6°C.
Lượng mưa trong mùa khô (tháng XI-IV) ở các vùng khí hậu phía Bắc có sự tăng nhẹ hoặc thay đổi không đáng kể Trong khi đó, lượng mưa mùa mưa giảm từ 5-10% trên hầu hết diện tích phía Bắc, dẫn đến xu hướng giảm tổng lượng mưa hàng năm Đặc biệt, lượng mưa ngày cực đại đang có xu hướng gia tăng ở hầu hết các khu vực khí hậu, nhất là trong những năm gần đây.
Việt Nam hàng năm chịu ảnh hưởng của khoảng 7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, trong đó có 5 cơn đổ bộ hoặc tác động trực tiếp đến đất liền Số lượng bão rất mạnh đang có xu hướng gia tăng, và mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây Mức độ ảnh hưởng của bão đến nước ta cũng ngày càng mạnh mẽ hơn.
Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa, đang có xu thế gia tăng nhưng không đồng đều giữa các vùng và các trạm khí tượng Để nghiên cứu biến đổi khí hậu tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, tác giả tập trung vào hai yếu tố quan trọng là nhiệt độ và lượng mưa Do không có trạm quan trắc khí tượng tại địa điểm nghiên cứu, tác giả đã sử dụng số liệu từ các trạm khí tượng gần nhất là Bắc Yên, Yên Châu, Sông Mã và Sơn La, với đặc điểm khí hậu tương đồng Số liệu được thu thập từ năm 1961 đến 2010, với thời gian 50 năm đủ để phân tích biến đổi khí hậu Phương pháp hồi quy tuyến tính cũng được áp dụng để xem xét xu thế biến đổi nhiệt độ và lượng mưa tại Phú Hộ trong cùng khoảng thời gian.
Mức độ biến đổi của nhiệt độ từ năm 1961 đến năm 2010 được thể hiện qua kết quả tính toán trong bảng dưới đây.
Bảng 4 Chỉ số S và chỉ số Sr của nhiệt độ tại 4 trạm từ năm 1960 – 2010
Kết quả tính toán độ lệch chuẩn S tại các trạm khí tượng trong các mùa cho thấy, trong khoảng thời gian từ tháng XII đến tháng II, giá trị S cao nhất, dao động từ 0.9 tại trạm Yên Châu, Sơn La đến 1.3 tại trạm Sông Mã Ngược lại, trong khoảng thời gian từ tháng VI đến tháng VIII, giá trị S thấp nhất, chỉ dao động khoảng 0.3 tại trạm Sơn La.
Mức độ biến động nhiệt độ trong giai đoạn từ tháng XII đến tháng II là cao nhất, với giá trị biến suất dao động từ 4.9% tại trạm Sơn La đến 7.7% tại trạm Sông Mã Ngược lại, trong giai đoạn từ tháng VI đến tháng VIII, giá trị biến suất thấp nhất, chỉ dao động từ 1.3% tại trạm Sơn La đến 1.9% tại trạm Yên Châu.
Xu thế diễn biến của chuẩn sai nhiệt độ trong các tháng mùa đông (tháng XII - II) và mùa hè (tháng VI - VIII), cùng với nhiệt độ trung bình năm, được thể hiện rõ ràng trong các hình từ Hình 3 đến Hình 10.
Theo thống kê, nhiệt độ trung bình trong mùa lạnh tại tất cả các trạm đang tăng nhanh hơn so với mùa hè Cụ thể, trong mùa đông, nhiệt độ tăng từ 0,5 đến 1 độ C, trong khi mùa hè chỉ tăng từ 0,2 đến 0,6 độ C.
Các trạm có nhiệt độ trung bình trong mùa đông tăng mạnh nhất là trạm Sơn
La, Bắc Yên với nhiệt độ tăng 0,7 – 1,1 0 C.
Các trạm có nhiệt độ trung bình trong mùa hè tăng mạnh nhất là Yên Châu với nhiệt độ tăng khoảng 0,5 0 C.
Nhiệt độ cực trị và số ngày có nhiệt độ cực trị
Nhiệt độ cực trị tối thấp tại các trạm quan trắc đều thấp hơn mức chuẩn trong giai đoạn 1980-1999 Đặc biệt, giá trị trung bình nhiệt độ tối thấp trong các tháng VI, VII, VIII giảm ít hơn so với các tháng khác trong năm.
Kết quả quan trắc nhiệt độ tối thấp tại 4 trạm cho thấy xu hướng giảm số ngày có nhiệt độ tối thấp dưới 13°C Cụ thể, từ năm