ảnh hưởng tích cực của việc sử dụng thông tin thành quả hoạt động đối với thànhquả hoạt động của tổ chức, đồng thời XN vị trí trung gian của việc sử dụng thôngtin thành quả hoạt động tro
Trang 1CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THÔNG TIN TQHĐ VÀ TQHĐ CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ
NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
Trang 2CB-SEM Covariance Based - Structural Equation Modeling
EFA Exploratory Factor Analysis
IPSASB International Public Sector Accounting Standard Board
OECD Organization for Economic Co-operation and
Development
PLS-SEM Partial Least Square – Structural Equation Modeling
Trang 3DANH MỤC TỪ RÚT GỌN
Tiếng Việt
Từ rút gọn Từ đầy đủ
Tiếng Anh
ATTITUDES Attitudes on performance indicators
DESIGN Design adequacy of performance measurement system
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thang đo, biến quan sát và nguồn trích
dẫn 84
Bảng 4.1 Thông tin chung về mẫu khảo sát sơ bộ 110
Bảng 4.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến độc lập 111
Bảng 4.3 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo việc sử dụng thông tin thành quả 113
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo TQHĐ 113
Bảng 4.5 Kết quả phân tích EFA thang đo các biến độc lập (lần 1) 114
Bảng 4.6 Kết quả phân tích EFA thang đo các biến độc lập (lần 2) 115
Bảng 4.7 Kết quả phân tích EFA thang đo việc sử dụng thông tin TQHĐ (lần 1) 116
Bảng 4.8 Kết quả phân tích EFA thang đo việc sử dụng thông tin TQHĐ (lần 2) 117
Bảng 4.9 Kết quả phân tích EFA thang do TQHĐ 118
Bảng 4.10 Tổng quan đặc điểm mẫu khảo sát chính thức 119
Bảng 4.11 Chi tiết mẫu phân bổ theo tỉnh thành 120
Bảng 4.12 Hệ số Cronbach’s Alpha và độ tin cậy tổng hợp của thang đo chính thức .121
Bảng 4.13 Trọng số tải ngoài và AVE của thang đo chính thức 121
Bảng 4.14 Hệ số tải chéo của thang đo chính thức 122
Trang 6ảnh hưởng tích cực của việc sử dụng thông tin thành quả hoạt động đối với thànhquả hoạt động của tổ chức, đồng thời XN vị trí trung gian của việc sử dụng thôngtin thành quả hoạt động trong mối quan hệ giữa các nhân tố và thành quả hoạt động.Kết quả từ luận án đã có những đóng góp đáng kể xét theo phương diện LT & THquản trị cho đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
Từ khóa: Việc sử dụng thông tin thành quả hoạt động, thành quả hoạt động, văn
hóa định hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống đo lường thành quả hoạt động,thái độ đối với thông tin thành quả hoạt động, động lực phụng sự công
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1 Cơ sở hình thành đề tài
Khu vực công giữ vai trò thiết yếu đối với sự phát triển toàn diện về kinh tế,
xã hội của một quốc gia, vì thế ba thập niên gần đây thành quả hoạt động (TQHĐ)của tổ chức công vẫn là vấn đề nhận được sự lưu tâm của các nhà khoa học quản trị(Boyne, Gould‐Williams, Law và cộng sự, 2004; Dimitrić, Škalamera-Alilović, &Duhovnik, 2016; Sole & Schiuma, 2010) Ngày nay, hoạt động của khu vực côngđang đứng trước những thách thức lớn như: sự bất ổn của môi trường hoạt động, áplực hoạt động hiệu quả hơn với nguồn lực hạn chế hơn Trước hiện trạng đó, cácnhà quản lý công đã không ngừng tìm kiếm, khai phá các kỹ thuật quản trị mới đểđạt kết quả như mong đợi, và ngôn ngữ quản trị nhận được nhiều sự chú ý trong nỗlực cải tiến khu vực công là triết lý quản trị công mới (New Public Management –NPM) Xuất hiện vào thập 80 của thế kỷ trước, NPM trở thành kim chỉ nam trongcải cách khu vực công hiện đại ở các quốc gia công nghiệp hóa (Bevan & Hood,2006; Hood, 1995; Noordegraaf & Abma, 2003) Phong trào cải cách khu vực côngtheo định hướng NPM quan tâm nhiều hơn đến vai trò của kế toán, đặc biệt là hệthống đo lường TQHĐ (Hood, 1991), đây là nền tảng để phát triển dòng nghiên cứu
kế toán quản trị công gắn kết với chủ đề đo lường TQHĐ, tập trung vào các kiểu đolường, cách sử dụng các dữ liệu TQHĐ và đánh giá vai trò của nó đối với TQHĐ ởcấp độ tổ chức (Steccolini, 2018)
Đo lường TQHĐ được nhìn nhận là công cụ cung cấp về hiệu quả cũng nhưhiệu lực hoạt động của một tổ chức, nó cung cấp thông tin để ra quyết định hợp lýhơn (Jan van Helden, Johnsen, & Vakkuri, 2008), thông tin TQHĐ còn được sửdụng cho kiểm soát, lập kế hoạch, hiệu chỉnh chính sách, thực hiện trách nhiệm giảitrình (De Bruijn, 2002) Mặc dù lợi ích của thông tin TQHĐ đối với các tổ chứccông đã được nhìn nhận nhưng không phải lúc nào các thông tin này cũng đuco75đánh giá đúng mức về vai trò của nó (Van Dooren & Van de Walle, 2008), vì thế
Trang 8dòng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ củakhu vực công được thực hiện khá nhiều (Cavalluzzo & Ittner, 2004; Dimitrijevska‐Markoski & French, 2019; Julnes & Holzer, 2001; Moynihan & Hawes, 2012;Rivenbark, Fasiello, & Adamo, 2019; Sole & Schiuma, 2010) Trong những nhân tố
đó thì văn hóa tổ chức giữ vai trò trung tâm và được xem xét phổ biến, ví dụ vănhóa phát triển (Johansson & Siverbo, 2009; Julnes & Holzer, 2001; Lee, 2020;Moynihan & Pandey, 2010), văn hóa học tập tổ chức (Moynihan & Pandey, 2005),văn hóa nhóm, văn hóa phân cấp (Taylor, 2011) Sở dĩ nhân tố văn hóa được quantâm nhiều là vì chức năng đặc biệt của nó đối với tổ chức, văn hóa qui định mụctiêu, chiến lược và cả phương thức hoạt động của tổ chức (Henri, 2006; Kim, Lee,
& Roh, 2006) Cùng với sự tập trung vào cách thức đo lường TQHĐ, học thuyếtNPM còn khuyến khích thay đổi văn hóa trong tổ chức nhằm hướng tới TQHĐ caohơn (Lægreid, Roness, & Verhoest, 2011), cụ thể là cần thay thế kiểu văn hóa xemtrọng các qui tắc, thủ tục bằng văn hóa định hướng kết quả, khi đó nhân viên có camkết mạnh mẽ và nhận trách nhiệm về kết quả công việc (Verbeeten & Speklé, 2015).Khi tổ chức tập trung vào kết quả và hiệu quả thì sẽ cần sử dụng các thông tin từ hệthống đo lường thành quả để xác định mục tiêu, giám sát hoạt động, thực thi chínhsách và thiết lập các khuyến khích gắn liền với TQHĐ (Lægreid và cộng sự, 2011).Tuy nhiên, vẫn còn hiếm nghiên cứu xem xét chức năng của văn hóa định hướngkết quả theo quan điểm NPM đối với vấn đề sử dụng dữ liệu TQHĐ trong những tổchức công
Triết lý NPM khuyến khích thực hành đo lường kết quả đạt được và kiến tạomôi trường công việc định hướng kết quả với kỳ vọng TQHĐ khu vực công sẽ đượccải thiện (Hood, 1991; Pollitt & Bouckaert, 2017) Vậy nhưng, những nghiên cứuđồng thời xem xét tác động của nhân tố về đặc điểm hệ thống đo lường và văn hóađịnh hướng kết quả đến việc sử dụng thông tin TQHĐ trong cùng mô hình lý thuyếtvẫn còn hiếm Bên cạnh đó, khi đề cập đến những tác nhân của việc sử dụng thông
Trang 9tin TQHĐ cần lưu ý đến vai trò của người sử dụng thông tin (Kroll, 2015a), bởi vìquyết định sử dụng thông tin không chỉ chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm kỹ thuật của
hệ thống đo lường mà còn chịu ảnh hưởng bởi bản thân người sử dụng (Van deWalle & Van Dooren, 2010) Hai trong số những khía cạnh quan trọng liên quanđến người sử dụng đó là quan điểm của họ về vai trò của thông tin (Ammons &Rivenbark, 2008; Ho, 2006; Taylor, 2011) và động lực sử dụng thông tin xuất phát
từ nội tại (Kroll & Vogel, 2014; Moynihan & Pandey, 2010) Những lập luận này làcủng cố thêm sự cần thiết cho việc phát triển mô hình lý thuyết kiểm tra đồng thờiảnh hưởng của nhân tố văn hóa định hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống đolường TQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ và động lực phụng sự công đến việc
sử dụng thông tin TQHĐ trong đơn vị công để lắp đầy khoảng trống lý thuyết Ngoài ra, ảnh hưởng của việc sử dụng dữ liệu TQHĐ đến TQHĐ còn chưathống nhất, có nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng này là cùng chiều (Poister, Pasha, &Edwards, 2013; Pollanen, Abdel-Maksoud, Elbanna và cộng sự, 2017; Sun & VanRyzin, 2014), trong khi nghiên cứu khác kết luận là không ảnh hưởng (Hvidman &Andersen, 2014; Tran & Nguyen, 2020) hoặc gây ra ảnh hưởng không mong muốn(Adcroft & Willis, 2005) Quản trị theo TQHĐ là một trong các nguyên tắc được đềxuất bởi khung NPM nhằm giúp TQHĐ của khu vực công tốt hơn, tuy nhiên theotổng kết của Osborne (2006) thì các luận điểm của NPM chỉ phù hợp với một sốkhu vực nhất định như Anh, Mỹ hoặc Scandinavia và lợi ích của nó cũng chưa rõràng Vì thế, tiếp tục tìm hiểu tác động của việc sử dụng thông tin TQHĐ đối vớiTQHĐ của khu vực công ở một quốc gia như Việt Nam được xem là một cách kiểmchứng lại những tranh luận đã nêu
Tiếp theo, ảnh hưởng của văn hóa định hướng kết quả đến TQHĐ có tồn tại cơchế trung gian (Baird, 2017; Garnett, Marlowe, & Pandey, 2008; Moon, 2000; ThiTran, Nguyen, & Nguyen, 2020) Các đặc điểm của văn hóa định hướng kết quả sẽlàm phát sinh nhu cầu tích hợp các dữ liệu về kết quả vào qui trình của tổ chức
Trang 10(Cavalluzzo & Ittner, 2004), việc này ảnh hưởng đến TQHĐ, do đó có cơ sở để dựđoán vị trí trung gian của mức độ sử dụng thông tin TQHĐ trong mối quan hệ giữavăn hóa định hướng kết quả và TQHĐthế nhưng vấn đề này chưa được kiểm chứngtrước đây Giống như văn hóa định hướng kết quả, động lực phụng sự công vừatiềm ẩn sự ảnh hưởng đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ và cả TQHĐ (ví dụBrewer & Selden, 2000; Cerasoli & Ford, 2014; Jung & Lee, 2013), như vậy cũngcần kiểm tra xem việc sử dụng thông tin TQHĐ có phải là trung gian trong mốiquan hệ giữa động lực phụng sự công và TQHĐ hay không.
Mặc dù kế toán quản trị công ngày càng nhận được sự quan tâm ở các quốcgia đang phát triển (van Helden & Uddin, 2016), tuy nhiên những nghiên cứu vềthực hành đo lường và sử dụng thông tin về TQHĐ ở những quốc gia này vẫn cònkhiêm tốn so với các quốc gia đã phát triển Giống như những nền kinh tế mới nổikhác, khu vực công chi phối lớn đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, trong giaiđoạn chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, khu vực côngcủa Việt Nam còn nhiều thách thức như: quan liêu và tham nhũng, sự hạn chế về thểchế (Phan, 2012) Xét riêng trường hợp các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL)thì hiệu quả hoạt động vẫn còn thấp, có nguyên nhân đến từ hệ thống quản trị nội bộyếu kém (Nghị quyết 19/2017/NQ-TW) Hiện nay, các ĐVSNCL đang hướng tới sựtinh gọn về cơ cấu, cải tiến về mặt quản trị, tăng cường khả năng tự chủ và giữ vữngvai trò thiết yếu trong thị trường dịch vụ công (Nghị quyết 19/2017/NQ-TW), nhưvậy các ĐVSNCL đang dần chuyển đổi theo định hướng Nhà nước quản lý sangđịnh hướng thị trường Điều này tác động đến xu hướng thực hành kế toán quản trịcông gồm cả vấn đề quản trị TQHĐ (Jayasinghe & Uddin, 2019) Hiện trạng nàycho thấy trong điều kiện tăng cường cơ chế tự chủ của các ĐVSNCL thì nghiên cứu
về “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ và TQHĐ của các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam” là cần thiết và hợp lý Bên cạnh việc rút
ngắn khoảng trống nghiên cứu về phương diện lý thuyết thì những hàm ý về chính
Trang 11sách sẽ là nguồn tham khảo hữu ích để nhà quản lý ĐVSNCL, các cơ quan chứcnăng xem xét thực hiện, góp phần giúp khu vực công của Việt Nam cải thiệnTQHĐ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định và đo lường ảnh hưởng của cácnhân tố gồm: văn hóa định hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống đo lườngTQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công đến việc sử dụngthông tin TQHĐ và TQHĐ trong các ĐVSNCL ở Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, xác định và đo lường ảnh hưởng của các nhân tố văn hóa địnhhướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống đo lường TQHĐ, thái độ đối với thông tinTQHĐ, động lực phụng sự công đến việc sử dụng thông tin TQHĐ trong cácĐVSNCL ở Việt Nam
Thứ hai, xác định và đo lường ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐđến TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam
Thứ ba, xác định và đo lường ảnh hưởng gián tiếp của các nhân tố văn hóađịnh hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống đo lường TQHĐ, thái độ đối với thôngtin TQHĐ, động lực phụng sự công đến TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam thôngqua trung gian là việc sử dụng thông tin TQHĐ
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Các nhân tố văn hóa định hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống
đo lường TQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công có ảnhhưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam hay không?Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc sử dụng thông tin thành quả trongcác ĐVSNCL ở Việt Nam là như thế nào?
Trang 12Câu hỏi 2: Việc sử dụng thông tin TQHĐ có ảnh hưởng đến TQHĐ củaĐVSNCL ở Việt Nam hay không? Mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng thông tinTQHĐ đến TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam là như thế nào?
Câu hỏi 3: Các nhân tố văn hóa định hướng kết quả, sự phù hợp của hệ thống
đo lường TQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công có ảnhhưởng gián tiếp đến TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam thông qua việc sử dụngthông tin TQHĐ hay không? Mức độ ảnh hưởng gián tiếp của các nhân tố này lànhư thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm: văn hóa định hướng kết quả, sự phùhợp của hệ thống đo lường TQHĐ, thái độ đối với thông tin TQHĐ, việc sử dụngthông tin TQHĐ, và TQHĐ của các ĐVSNCL ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Dữ liệu được thu thập trong các ĐVSNCL tại Việt Nam
Về thời gian: Luận án được thực hiện từ tháng 10/2018 đến tháng 12/2021, dữliệu bước nghiên cứu định tính thu thập từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020, dữ liệunghiên cứu sơ bộ định lượng được thu thập từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020, dữliệu sử dụng cho nghiên cứu chính thức định lượng được thu thập từ tháng 11/2020đến tháng 6/2021
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hỗn hợp được sử dụng cho luận án, kết hợp định tính và địnhlượng Chi tiết, nghiên cứu hỗn hợp thiết kế theo mô hình khám phá tuần tự(sequential exploratory model), theo đó, nghiên cứu định tính được thực hiện đầutiên, kết quả từ nghiên cứu định tính làm cơ sở cho bước nghiên cứu định lượng, và
Trang 13trọng tâm đặt vào bước nghiên cứu định lượng (Creswell, 1999) Trước tiên, tác giảlược khảo tài liệu để xác định khoảng trống nghiên cứu và dự kiến mô hình lý thuyết
về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dữ liệu TQHĐ và TQHĐ của Như được
nêu ở mục 3, nội dung của mỗi câu hỏi nghiên cứu gồm hai phần: XN và đo lường
mối quan hệ giữa các khái niệm Để hồi đáp các câu hỏi nghiên cứu, từng giai đoạnđược tiến hành như sau:
Thứ nhất, thực hiện nghiên cứu định tính để trả lời nội dung về việc XN mốiquan hệ giữa các khái niệm Cụ thể, tác giả soạn thảo dàn bài thảo luận để thu thập ýkiến chuyên gia về mối quan hệ giữa các biến trong tình huống ĐVSNCL tại ViệtNam Đồng thời, chuyên gia cũng được đề nghị cho ý kiến về thang đo của các kháiniệm để chắc chắn rằng những thang đo này có thể vận dụng cho ĐVSNCL ở ViệtNam
Thứ hai, nghiên cứu định lượng để đo lường các mức độ trong mô hình Cụ
thể, nghiên cứu định lượng tách thành hai bước Bước 1: nghiên cứu sơ bộ định
lượng, dữ liệu thu thập với cỡ mẫu dự kiến n >100, phân tích dữ liệu để kiểm tra độgiá trị và độ tin cậy của các thang đo, đây là bước nền tảng để hoàn chỉnh thang đo
phục vụ cho bước khảo sát chính thức Bước 2: nghiên cứu chính thức định lượng,
khảo sát với cỡ mẫu dự kiến n > 200, sau đó dử liệu được phân tích để kiểm định cácgiả thuyết nghiên cứu
6 Đóng góp của luận án
Về phương diện lý thuyết
Thứ nhất, tác giả bổ sung thêm một nhân tố mới có ảnh hưởng đến việc sử
dụng thông tin TQHĐ mà chưa được kiểm tra trong các tài liệu trước, đó là “vănhóa định hướng kết quả” theo quan điểm của khung NPM Trong khi các nghiêncứu trước có đề cập nhân tố văn hóa tổ chức (ví dụ Johansson & Siverbo, 2009;Lee, 2020; Moynihan & Pandey, 2010; Taylor, 2011) nhưng chưa có tác giả nào
Trang 14xem xét nhân tố văn hóa định hướng kết quả Vì thế, luận án sẽ góp phần mở rộngthêm những khía cạnh có ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ Bên cạnh
đó, luận án cũng là một trong những nghiên cứu có kiểm định mô hình về nhân tốảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ mà có sự kết hợp đa dạng các khíacạnh: văn hóa tổ chức, đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ và vai trò của người
sử dụng thông tin
Thứ hai, kết luận về tác động của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐcòn chưa thống nhất như phản ánh của các nghiên cứu trước (ví dụ Adcroft &Willis, 2005; Hvidman & Andersen, 2014; Pollanen và cộng sự, 2017) Thêm mộtlần nữa, tác giả kiểm tra lại tác động này, góp phần giải thích nguyên nhân của sựthiếu đồng thuận trong kết quả được tìm thấy
Thứ ba, luận án kiểm tra ảnh hưởng gián tiếp của các nhân tố đến TQHĐ vớitrung gian việc sử dụng thông tin TQHĐ Đặc biệt là đã XN ảnh hưởng gián tiếpcủa văn hóa định hướng kết quả đến TQHĐ qua việc sử dụng thông tin TQHĐ, vấn
đề này được gợi mở trước từ lập luận của của Garnett và cộng sự (2008) rằng cácthông tin hồi đáp về việc thực hiện nhiệm vụ và những kết quả đạt được là trunggian trong mối quan hệ giữa văn hóa của tổ chức và TQHĐ ở cấp độ tổ chức tổchức, tuy nhiên trước đây chưa có nghiên cứu nào đề cập vấn đề này Vì thế, kếtquả từ luận án sẽ tăng cường hiểu biết về lợi ích của việc sử dụng thông tin TQHĐtrong tổ chức
Thứ tư, dòng nghiên cứu về chủ đề đo lường và sử dụng các thông tin TQHĐ
ở nước ngoài chủ yếu sử dụng dữ liệu khảo sát ở cơ quan hành chính (ví dụAndrews, Boyne, Law và cộng sự, 2009; Berman & Wang, 2000; Dimitrijevska‐Markoski & French, 2019; Johansson & Siverbo, 2009; Kroll & Vogel, 2014;Melkers & Willoughby, 2005; Rivenbark và cộng sự, 2019; Taylor, 2009), ít cónghiên cứu thực hiện trong các tổ chức cung cấp dịch vụ sự nghiệp công Với sựhạn chế về số lượng nghiên cứu của chủ đề đo lường và sử dụng thông tin TQHĐ
Trang 15trong khu vực công ở Việt Nam, luận án sẽ bổ sung thêm tài liệu về chủ đề này khikhảo sát các ĐVSNCL, góp phần rút ngắn khoảng trống về bối cảnh nghiên cứu.
Về phương diện thực tiễn:
Thứ nhất, xác định và kiểm tra tác động của các nhân tố đến việc sử dụng
thông tin TQHĐ trong ĐVSNCL ở Việt Nam giúp các nhà thiết lập chính sách, tổchức quản lý Nhà nước, ĐVSNCL định hướng khuyến khích nhà quản lý tăngcường tích hợp thông tin TQHĐ vào qui trình làm việc để cải thiện hiệu quả quản lýcũng như nâng cao TQHĐ của ĐVSNCL
Thứ hai, văn hóa định hướng kết quả trong khu vực công có vai trò thúc đẩy
TQHĐ, bởi vì tạo ra “văn hóa định hướng kết quả” trong tổ chức là bước đầu tiên,
cơ bản để TQHĐ tổ chức được nâng cao (Mayne, 2005; Perrin, 2002) Vì thế, khi
bổ sung nhân tố “văn hóa định hướng kết quả” vào mô hình nghiên cứu được xemnhư dấu hiệu đánh giá văn hóa định hướng kết quả trong khu vực công ở Việt Nam,kiểm tra vai trò của nó đối với các ĐVSNCL như thế nào
Thứ ba, kết quả về ảnh hưởng của việc sử dụng dữ liệu TQHĐ đến TQHĐ là
cơ sở để các nhà quản lý công điều chỉnh cách sử dụng thông tin phản hồi về kếtquả và hiệu quả hoạt động theo hướng có lợi cho tổ chức
7 Kết cấu luận án
Kết cấu của luận án gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan những nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Mục tiêu của chương 1 là tìm ra khoảng trống để định hướng thực hiện nghiêncứu tiếp theo Để đạt mục tiêu này cần phải tổng hợp những nghiên cứu có liênquan, từ đó có cơ sở để biện luận khoảng trống nghiên cứu, hình thành câu hỏinghiên cứu đủ sức thuyết phục, và nhận diện những đóng góp của luận án so vớinhững nghiên cứu khác (Snyder, 2019) Nội dung chương này gồm:
- Tổng quan những nghiên cứu ở nước ngoài;
- Tổng quan những nghiên cứu ở Việt Nam;
- Nhận diện khoảng trống nghiên cứu;
- Hướng nghiên cứu của luận án
1.1 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài
Căn cứ kết quả tìm kiếm tài trên các cơ sở dữ liệu học thuật về chủ đề nghiêncứu, nội dung này được chi tiết theo từng dòng nghiên cứu, bao gồm: (1) nghiêncứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ, (2) nghiên cứu vềcác nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ và (3) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụngthông tin TQHĐ đến TQHĐ
1.1.1 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin
TQHĐ.
Theo Julnes và Holzer (2001), thực hành đo lường TQHĐ là một quá trìnhgồm ít nhất hai bước: bước phát triển (adoption phase) và bước sử dụng(implementation phase) Bước phát triển là giai đoạn vận dụng kiến thức để chuận
bị các hoạt động đo lường như: lựa chọn các tiêu chí đo lường, lập kế hoạch đolường Bước sử dụng đề cập đến cách sử dụng các thông tin TQHĐ để hoạch địnhchiến lược, phân bổ nguồn lực, quản lý, giám sát, đánh giá cho mục đích quản trịnội bộ, hoặc báo cáo cho các cơ quan chức năng, công dân hay công bố trên phương
Trang 17tiện truyền thông Như vậy, sử dụng thông tin TQHĐ thuộc bước thứ hai của quátrình thực hành đo lường TQHĐ
Suốt những thập kỷ gần đây, cải cách khu vực công yêu cầu các tổ chức đolường và giám sát các mục tiêu chiến lược cũng như những thành tựu đạt được(Moynihan, 2005) Tuy nhiên, dữ liệu thu từ hoạt động này không tự động nâng caoTQHĐ của tổ chức, cần phải hiểu những dữ liệu này sẽ mang lại tác dụng gì sau khi
nó được báo cáo và đánh giá, nói cách khác là những thông tin này sẽ được sử dụngnhư thế nào (Van Dooren & Van de Walle, 2008) Các nhân tố kích thích hoặc cảntrở việc sử dụng thông tin TQHĐ trong khu vực công được đề cập khá đa dạng,tổng quan về dòng nghiên cứu này được trình bày nhóm theo từng nhân tố nhằmnắm bắt các thông tin về bối cảnh, phương pháp thực hiện và kết quả được tìm thấy.Lần lượt các nhân tố được trình bày gồm: đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ,
sự tham gia của các bên liên quan, cam kết của lãnh đạo, văn hóa tổ chức, thái độđối với thông tin TQHĐ, động lực phụng sự công, sự tự chủ, diễn đàn học tập,mạng lưới kết nối, tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động, phong cách lãnh đạo, việcthể chế hóa đo lường TQHĐ, chính trị
Đặc điểm của hệ thống đo lường TQHĐ
Melkers và Willoughby (2005) nghiên cứu ở Mỹ và kết luận rằng khi hệ thống
đo lường TQHĐ được thiết kế cẩn thận, rõ ràng sẽ có tác động đáng kể đến tính hợp
lý của các quyết định về ngân sách, vì thế thông tin TQHĐ sẽ được sử dụng ở mứccao hơn Để được sử dụng thường xuyên, những chỉ tiêu đo lường cần phải phù hợpvới mục tiêu quản lý, phản ánh đầy đủ cả về kết quả và hiệu quả thay vì chỉ thể hiệnkhối lượng công việc đầu ra (Ammons & Rivenbark, 2008; Moynihan & Pandey,2010) Ngoài ra, Taylor (2009) cũng cho rằng mức độ sử dụng thông tin TQHĐchịu ảnh hưởng bởi khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin cho người dùng khi khảosát các cơ quan công quyền ở Úc Bên cạnh đó, Kroll và Proeller (2013) nghiên cứutình huống trong các cơ quan chăm sóc sức khỏe ở Đức đã bổ sung thêm rằng sự chi
Trang 18tiết của các tiêu chí TQHĐ và sự đa dạng của những thước đo sẽ ảnh hưởng tích cựcđến khả năng sử dụng thông tin TQHĐ, Lee (2020) cũng có kết luận tương tự khikhảo sát trong các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ Không đề cập thẳng đến đặc điểmcủa hệ thống đo lường nhưng Kroll (2015b) đã khẳng định ảnh hưởng của chấtlượng dữ liệu TQHĐ đến hành vi sử dụng các dữ liệu này theo cách lý giải của lýthuyết hành vi theo dự định (Theory of Planned Behavior), khi nhà quản lý có ýđịnh sử dụng dữ liệu TQHĐ thì họ có những biện pháp hỗ trợ thu thập thông tin cógiá trị và chất lượng, và nếu thông tin đảm bảo các tiêu chuẩn này thì sẽ tiếp tụcthúc đẩy hành vi sử dụng của nhà quản lý Gần đây, Dimitrijevska‐Markoski vàFrench (2019) đã phát hiện ra tính đầy đủ của hệ thống đo lường có ảnh hưởng trựctiếp lẫn gián tiếp đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ thông qua việc thể chế hóaviệc thực hành đo lường TQHĐ của các tổ chức công ở Mỹ.
Sự tham gia của các bên liên quan
Berman và Wang (2000) khảo sát các cơ quan cấp quận ở Mỹ và kết quả chothấy thông tin TQHĐ được sử dụng phổ biến là nhờ sự ủng hộ của các nhà quản lýcho hoạt động đo lường TQHĐ Tiếp theo, nghiên cứu của Yang và Hsieh (2007) ởĐài Loan, tác giả đã vận dụng lý thuyết tầm trung (Middle-range theory) đề xuất môhình dạng cấu trúc tuyến tính và cho kết quả tương tự Ngoài ra, chuyên môn củanhà quản lý, sự ủng hộ của những chính trị gia và công dân cho việc thực hành đolường TQHĐ cũng ảnh hưởng đến mức độ sử dụng dữ liệu TQHĐ (Rivenbark vàcộng sự, 2019; Wang & Berman, 2001) Xét bên ngoài tổ chức, các chính trị gia vàcông dân là những bên liên quan quan trọng, vì thế sự tham gia của họ vào qui trình
đo lường sẽ giúp nâng cao tần suất sử dụng cũng như tính hữu ích của hệ thống đolường TQHĐ (Yang & Hsieh, 2007), điều này còn được kiểm chứng trong một sốnghiên cứu khác (ví dụ Bourdeaux & Chikoto, 2008; Ho, 2006; Melkers &Willoughby, 2005) Xét bên trong tổ chức, khi cả nhà quản lýcũng như nhân viênchấp nhận, sẵn sàng thực hiện các biện pháp đo lường TQHĐ thì các dữ liệu từ việc
Trang 19đo lường này sẽ được sử dụng thường xuyên hơn (Boyne và cộng sự, 2004; Folz,Abdelrazek, & Chung, 2009) Khác với các nghiên cứu đã nêu, kết quả hồi qui củaTaylor (2011) lại cho rằng sự hỗ trợ của các bên liên quan không có liên quan đáng
kể đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ
Cam kết của lãnh đạo
Lãnh đạo có vai trò cốt yếu trong quá trình cải cách khu vực công (Dull,2009) Sử dụng dữ liệu phỏng vấn từ 50 bang của Mỹ, bằng phương pháp hồi quiOLS (Ordinary Least Square), Moynihan và Ingraham (2004) XN vai trò quan trọngcủa lãnh đạo tích hợp (intergrative leadership) trong nỗ lực cải cách khu vực chínhphủ mà trọng tâm là thực hiện quản trị theo kết quả, bao gồm cả đo lường TQHĐ.Việc triển khai, áp dụng các kỹ thuật đo lường và sử dụng các dữ liệu TQHĐ trongcác cơ quan công vụ ở Mỹ còn chịu tác động tích cực từ cam kết của quản lý cấpcao đối với mục tiêu của đơn vị, cam kết của quản lý cấp cao sẽ ảnh hưởng đến mức
độ nhân viên cảm thấy có trách nhiệm với kết quả và mức độ họ sử dụng thông tincho quá trình ra quyết định (Cavalluzzo & Ittner, 2004)
Trang 20của Mỹ (Moynihan & Landuyt, 2009) Trong một nghiên cứu khác của Johansson
và Siverbo (2009) ở Thụy Điển, tác giả nhấn mạnh ảnh hưởng của khuynh hướngchấp nhận sự thay đổi và sự chủ động trong quá trình tìm kiếm phương pháp đánhgiá phù hợp Đây là một khía cạnh thuộc về văn hóa, tương đồng với khía cạnh
“chấp nhận rủi ro” theo lập luận của Julnes và Holzer (2001) và “văn hóa pháttriển” theo cách tiếp cận của Moynihan và Pandey (2010), Lee (2020) Ngoài ra,ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tổ chức đến mức độ sử dụng thông tin TQHĐ cònđược phản ánh bởi Taylor (2011) khi nghiên cứu ở Úc
Thái độ đối với thông tin TQHĐ
Những nghiên cứu đã XN việc sử dụng thông tin TQHĐ chịu ảnh hưởng bởithái độ đối với các thông tin này Ho (2006) khảo sát 281 thị trưởng của các thànhphố ở Mỹ, kết quả thống kê mô tả phản ánh rằng nhận thức của nhà quản lý là tácnhân có ảnh hưởng đáng kể đến thực hành quản trị theo kết quả, khi các nhà quản lýkhông nhiệt tình với vấn đề đo lường TQHĐ và cho rằng lợi ích từ việc đầu tưnguồn lực vào công cụ này là không xứng đáng thì họ sẽ đánh mất sự nhiệt tình đốivới công cụ này Mặt khác, Ammons và Rivenbark (2008) nghiên cứu ở Mỹ cũngcho rằng giá trị của việc đo lường TQHĐ thể hiện ở hai khía cạnh, đó là hỗ trợ tổchức giải trình kết quả với các bên liên quan và cải thiện dịch vụ, khi các tổ chứcchính quyền thành phố tin tưởng rằng các khía cạnh này đạt được thì họ sẵn sàng sửdụng dữ liệu điểm chuẩn (benchmaking) Nếu các tổ chức nhận thức được rằngthông tin TQHĐ thật sự cần thiết và hữu ích đối với tổ chức thì sử dụng công cụ nàythường xuyên hơn (Kroll, 2015b; Taylor, 2011)
Động lực phụng sự công
Tồn tại nhiều minh chứng cho thấy khi một cá nhân mong muốn phục vụ lợiích của cộng đồng sẽ thích làm việc trong khu vực công và luôn nỗ lực làm tốt côngviệc, bởi vì họ nhận thức được việc phục vụ cộng đồng là có ý nghĩa (Moynihan,
Trang 21Pandey, & Wright, 2012a), điều này thuộc phạm trù của khái niệm động lực phụng
sự công (Public service motivation) (Perry, 1996) Theo Moynihan và Pandey(2010), động lực phục sự công có tác dụng thúc đẩy hành vi tích hợp thông tinTQHĐ vào qui trình tổ chức, bởi vì đây là phương tiện để hiện thực hóa mục tiêucủa tổ chức nhưng không chắc sẽ có lợi cho cá nhân Ngoài ra, điều này còn đượcminh chứng từ kết quả hồi qui đa biến trong nghiên cứu thực nghiệm trong các cơquan hành chính địa phương ở Đức của Kroll và Vogel (2014)
Sự tự chủ
Nghiên cứu của Moynihan và Landuyt (2009) đã tìm thấy ảnh hưởng tích cựccủa việc trao quyền ra quyết định đến khả năng học tập của tổ chức, bao gồm cảkhía cạnh sử dụng dữ liệu TQHĐ Tiếp theo, Moynihan và Pandey (2010) cho rằngnếu nhà quản lý được giao quyền tự chủ về qui trình quản trị, họ sẽ có động lựckiểm tra những dữ liệu TQHĐ để tìm ra lý do cho sự đổi mới, ngược lại, nếu bị hạnchế thì khả năng theo đuổi và điều chỉnh quy trình của các nhà quản lý sẽ thấp, khi
đó thông tin chi tiết thu được từ quá trình đo lường TQHĐ giảm tính hữu ích đốivới họ, vì thế động cơ sử dụng dữ liệu sẽ thấp hơn
Diễn đàn học tập (Learning forum)
Diễn đàn học tập đề cập đến qui trình của tổ chức mà trong đó nhân viên thảoluận và xem xét cách hành động tiếp theo nhằm cải thiện TQHĐ (Moynihan &Landuyt, 2009) Dựa theo cách tiếp cận về văn hóa và cấu trúc, các tài liệu đã chothấy tác động tích cực của diễn đàn học tập đến mức độ sử dụng thông tin về TQHĐtrong các dự án công ở Mỹ (ví dụ Moynihan, 2005; Moynihan & Landuyt, 2009;Moynihan & Lavertu, 2012) Các tác giả lập luận rằng diễn đàn học tập sẽ giúp thúcđẩy quá trình học tập của tổ chức, việc sử dụng thông tin TQHĐ như là một cơ chếhọc tập của tổ chức, vì vậy khi các nhân viên càng tăng cường trao đổi ý kiến để tìm
Trang 22ra hướng hành động tốt nhất cho tổ chức thì thông tin TQHĐ sẽ được sử dụng nhiềuhơn để ra quyết định.
Mạng lưới kết nối (Networking)
Mạng lưới kết nối là sự tương tác giữa các cá nhân cùng thuộc một nhóm, xéttheo phạm vi rộng hơn đó là sự tương tác giữa những cá nhân bên trong và các bênliên quan ở bên ngoài tổ chức (Moynihan & Hawes, 2012) Khi nghiên cứu ở các cơ
sở giáo dục của Mỹ, Moynihan và Hawes (2012) đã lập luận rằng mạng lưới kết nốitạo cơ hội cho các thành viên trong mạng lưới yêu cầu trách nhiệm giải trình về kếtquả đạt được, do đó khuyến khích việc sử dụng dữ liệu TQHĐ Nghiên cứu củaKroll (2013) XN lại mối quan hệ này khi nghiên cứu trong các cơ quan hành chínhđịa phương ở Đức Theo một khía cạnh khác, Van de Walle và Bovaird (2007) đãđúc kết rằng mạng lưới kết nối là môi trường để nhà quản trị công sử dụng cácthông tin TQHĐ nhằm vận động sự ủng hộ dành cho đơn vị mình Như vậy, với cácminh chứng trên thì mức độ sử dụng thông tin TQHĐ chịu sự chi phối bởi sự kếtnối giữa các cá nhân trong mạng lưới các bên liên quan
Tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động (Goal clarity)
Theo lập luận của Moynihan và Landuyt (2009), khi mục tiêu của tổ chứcđược thể hiện chi tiết và có thể lượng hóa được thì nhân viên sẽ tăng cường sự camkết đối với tổ chức, gắn liền hành động của mình với việc hoàn thành mục tiêu Quátrình này đòi hỏi nhân viên phải thường xuyên học hỏi, cân nhắc các phương ánthực hiện mang lại hiệu quả cao, đây là yếu tố thuận lợi để các thông tin TQHĐđược sử dụng Ngược lại, nếu các tổ chức có mục tiêu không chắc chắn, mơ hồ thì
sẽ hạn chế khả năng học tập của tổ chức (Mahler, 1997) Ảnh hưởng tích cực của sự
rõ ràng của mục tiêu hoạt động đến quá trình sử dụng các thông tin phản hồi vềthành quả đạt được còn được hỗ trợ bởi kết quả nghiên cứu trong các tổ chức chínhquyền địa phương của Mỹ (Moynihan, Pandey, & Wright, 2012b)
Trang 23Khả năng lãnh đạo
Hầu hết các nghiên cứu về khu vực công đều đồng thuận rằng khả năng lãnhđạo quyết định sự thành công của một tổ chức (Moynihan & Ingraham, 2004) Kếtquả từ những nghiên cứu trước cũng chỉ rõ vai trò của khả năng lãnh đạo đối vớimức độ sử dụng thông tin TQHĐ (Moynihan và cộng sự, 2012b) Như vậy, có thểhiểu khả năng lãnh đạo tác động đến việc sử dụng các dữ liệu TQHĐ, do đó tácđộng đến TQHĐ tổ chức Các tài liệu trước đã minh chứng khả năng lãnh đạo tíchhợp (integrative leadership) và khả năng lãnh đạo chuyển đổi (transformationalleadership) sẽ giúp tăng cường việc sử dụng dữ liệu thành quả của nhà quản lý Khả năng lãnh đạo tích hợp đề cập đến cách các nhân viên thông qua các hànhđộng mang tính xây dựng để nâng cao năng lực tổ chức, đồng thời sử dụng hệ thốngquản lý để cải thiện TQHĐ tổ chức (Ingraham, 2001) Moynihan và Ingraham(2004) khảo sát các cơ quan chính quyền cấp bang ở Mỹ đã kết luận rằng khi cácnhà lãnh đạo tham gia tích cực vào qui trình quản lý và đề ra các mục tiêu chiếnlược (nghĩa là có khả năng lãnh đạo tích hợp) sẽ nâng cao nhu cầu về thông tinTQHĐ và khuyến khích nhân viên cấp dưới tích hợp thông tin TQHĐ vào việc raquyết định Khả năng lãnh đạo chuyển đổi đề cập đến việc người lãnh đạo tăngcường sự tương tác và định hướng chiến lược trên cơ sở thiết lập sự kết nối lâu dàigiữa nhà lãnh đạo và nhân viên (Herold, Fedor, Caldwell và cộng sự, 2008) Theolập luận của Yukl (2008), các nhà lãnh đạo với phong cách chuyển đổi có địnhhướng mạnh mẽ vào việc cải tiến, đổi mới tổ chức, để thực hiện điều này họ cần sửdụng dữ liệu TQHĐ để theo dõi các thành tích đạt được cũng như khuyến khíchnhân viên cấp dưới chú trọng hơn các dữ liệu này Moynihan và cộng sự (2012b)khảo sát các cơ quan chính quyền địa phương ở Mỹ đã kết luận lãnh đạo chuyển đổi
có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sử dụng các thông tin TQHĐ thông qua haibiến trung gian là sự rõ ràng của mục tiêu hoạt động và văn hóa phát triển(developmental culture)
Trang 24Thể chế hóa việc đo lường TQHĐ ( Institutionalization of performance measurement)
Thể chế hóa việc đo lường TQHĐ là đưa thông tin TQHĐ vào tài liệu và quitrình bắt buộc nhằm đảm bảo rằng nguồn thông tin này phải được sử dụng thườngxuyên và có chủ đích (Van Dooren, Bouckaert, & Halligan, 2015), khái niệm nàytương đồng với khái niệm kiểm soát quản trị trong các nghiên cứu về kế toán(Grabner & Moers, 2013) Trong một nghiên cứu gần đây của Dimitrijevska‐Markoski và French (2019) đã cho thấy ảnh hưởng đáng kể của thể chế hóa việc đolường TQHĐ đến tần suất sử dụng các thông tin TQHĐ khi khảo sát các tổ chứcchính quyền ở bang Florida, Mỹ Khi thực hành đo lường TQHĐ một cách thườngxuyên, theo một qui trình được chuẩn hóa thì sẽ khuyến khích các nhà quản lý tíchhợp thông tin từ việc đo lường này để báo cáo, học hỏi từ những trải nghiệm trước
đó và thảo luận phương án hành động tiếp theo cho phù hợp (Dimitrijevska‐Markoski & French, 2019)
Chính trị
Trong nghiên cứu của Moynihan và Ingraham (2004), nhóm tác giả đã kếtluận tư tưởng chính trị (political ideology) và cạnh tranh chính trị (politicalcompetition) không có tác động đến thực hành quản trị theo kết quả trong các tổchức chính quyền cấp thành phố của Mỹ Tuy nhiên, kết quả phân tích của Askim,Johnsen và Christophersen (2008) lại cho thấy ảnh hưởng cùng chiều của cạnh tranhchính trị đối với việc học tập của tổ chức từ dữ liệu điểm chuẩn (benchmarking)trong các tổ chức hành chính ở Na Uy Nghiên cứu tiếp theo của Lee và Clerkin(2017) cung cấp thêm sự hiện diện của mối quan hệ này, tác giả xem khả năngthương lượng các vấn đề của tổ chức với những bên liên quan như là một khía cạnhcủa năng lực chính trị (political capacity) và nó thúc đẩy hoạt động đo lường kếtquả đầu ra cũng như sử dụng nguồn thông tin tạo ra từ hoạt động đo lường nàytrong các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ
Trang 25Tổng hợp những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ xem phụ lục 1.
1.1.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ
Nội dung lược khảo dòng nghiên cứu này được thể hiện nhóm theo từng nhân
tố ảnh hưởng, lần lượt gồm: tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động, năng lực hoạchđịnh chiến lược, mức độ sáng nghiệp, văn hóa tổ chức, biện pháp khuyến khích, sự
tự chủ, cấu trúc tổ chức, thực hành kế toán quản trị, trách nhiệm giải trình, động lựcphụng sự công, khả năng lãnh đạo, và chất lượng báo cáo tài chính
Tính rõ ràng của mục tiêu hoạt động
Căn cứ tiền đề của lý thuyết thiết lập mục tiêu rằng các mục tiêu có ý thức sẽảnh hưởng đến những gì đạt được (Latham, 2004), các tác giả đã đề cập đến ảnhhưởng của tính rõ ràng, tính có thể đo lường được của các mục tiêu đến TQHĐ Chitiết, nghiên cứu của Verbeeten (2008) kết luận rằng nếu mục tiêu hoạt động có thể
đo lường được một cách rõ ràng sẽ thúc đẩy TQHĐ về mặt định tính lẫn định lượngcủa các tổ chức công ở Hà Lan Ngoài ra, kết quả xử lý mô hình hồi qui tuyến tínhphân cấp (Hierarchical linear modelling) của Jung và Lee (2013) cũng cho kết quảtương tự khi thực hiện ở Mỹ Tiếp theo, Spekle và Verbeeten (2014) cung cấp thêmbằng chứng về mức độ cam kết cao trong công việc (gồm 3 khía cạnh: kiến thức vềqui trình chuyển đổi, sự rõ ràng và tính có thể đo lường được của mục tiêu hoạtđộng) sẽ tăng cường hiệu quả công việc của đơn vị công ở Hà Lan Với cách lậpluận khác, Chun và Rainey (2005) cho rằng nếu mục tiêu không rõ ràng sẽ ảnhhưởng nghịch chiều đến kết quả và hiệu quả các cơ quan liên bang của Mỹ
Năng lực hoạch định hoạch chiến lược
Năng lực hoạch định chiến lược là khả năng cân bằng nhu cầu của các bên liênquan bên trong cũng như bên ngoài của tổ chức, đồng thời tích hợp các hoạt độngtổng thể để bố trí nguồn lực sao cho hiệu quả nhất trong tiến trình chinh phục mục
Trang 26tiêu (Alexander, 1983) Năng lực hoạch định chiến lược thúc đẩy thành tích của tổchức theo ba cách Thứ nhất, năng lực hoạch định chiến lược tạo và giữ vững sự kếtnối giữa tổ chức với môi trường bên ngoài bằng cách liên tục dõi theo sự biến độngcủa các bên liên quan (Miller & Cardinal, 1994) Thứ hai, trong môi trường cải cách
và đổi mới, hoạch định chiến lược giúp người quản lý đối mặt với những điều kiệnkhông chắc chắn bằng cách nhận diện vấn đề chiến lược và đưa ra phương hướnghành động (Poister & Streib, 2005) Thứ ba, dựa vào kế hoạch chiến lược, các nhàquản lý sẽ phân tích những cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu, nhằm hướngđến việc tận dụng nguồn lực hạn chế một cách tối ưu (Poister & Streib, 2005) Bằngchứng thực nghiệm của Jung và Lee (2013) khi nghiên cứu trong các cơ quan liênbang của Mỹ đã cho thấy rằng các đơn vị có năng lực hoạch định chiến lược càngcao thì TQHĐ càng cao Ngoài ra, Nuhu, Baird và Appuhami (2019) cũng cho rằng
sự linh hoạt của chiến lược giúp hiệu quả hoạt động được tăng cường trong các đơn
vị công ở Úc Kết quả từ bài phân tích meta của George, Van de Walle vàHammerschmid (2019) cũng phản ánh rằng khi tổ chức tuân thủ chặt chẽ các bướclập kế hoạch chiến lược thì sẽ có khả năng nâng cao TQHĐ
Mức độ sáng nghiệp (The level of entrepreneurship)
Tinh thần sáng nghiệp được xem là “qui trình tạo ra giá trị bằng cách tích hợpcác nguồn lực hạn chế để khai phá một cơ hội” (Stevenson, Roberts, & Grousbeck,1999) Theo Caruana, Ewing và Ramaseshan (2002), tinh thần sáng nghiệp gắn với
3 loại hành vi cấp tổ chức: (1) rủi ro quản trị ở cấp cao trong việc xem xét các quyếtđịnh đầu tư và các hành động chiến lược khi đương đầu với sự bất ổn của môitrường hoạt động; (2) đẩy mạnh đổi mới sản phẩm và thích nghi với xu hướng tiến
bộ của công nghệ; (3) nỗ lực tăng cường năng lực cạnh tranh so với các đối thủtrong ngành Caruana và cộng sự (2002) kế thừa khái niệm này từ khu vực tư và đưa
ra mô hình nghiên cứu dạng cấu trúc tuyến tính về ảnh hưởng tích cực của mức độ
Trang 27sáng nghiệp đến TQHĐ các tổ chức công ở Úc, kết quả kiểm định ủng hộ mối quan
Biện pháp khuyến khích
Theo lý thuyết đại diện, các cá nhân sẽ thiếu sự nỗ lực trong quá trình hoànthành nhiệm vụ nếu sự nỗ lực này không mang tới cho họ lợi ích về mặt kinh tế(Bonner & Sprinkle, 2002) Quan điểm này tương tự như cách lập luận của Baiman(1990), mỗi cá nhân đều được thúc đẩy bởi tư lợi Vì vậy, để khuyến khích nhânviên đóng góp vào sự cải tiến chung của tổ chức thì cần có những biện pháp khuyếnkhích hợp lý Biện pháp khuyến khích là các động lực khi tiền lương, tiền thưởng,chức vụ và các động lực khác được xác định dựa vào kết quả đạt được (Bonner,Hastie, Sprinkle và cộng sự, 2000) Nhìn chung, động lực có thể được phân thành 2loại gồm động lực bên trong (intrinsic motivation) và động lực bên ngoài (extrinsicmotivation) (Khan, Roychowdhury, Meghani và cộng sự, 2020) Theo Jung và Kim(2014), trong khu vực công, so với động lực từ bên ngoài thì động lực bên trong cótác động đến TQHĐ theo hướng tích cực vượt trội hơn, bởi vì khi làm việc trong
Trang 28khu vực công thì các cá nhân bị thúc đẩy bởi mong muốn phục vụ cộng đồng nhiềuhơn là các phần thưởng hiện hữu.
Burgess và Ratto (2003) cho rằng các đặc điểm của khu vực khác biệt so vớikhu vực tư nên các cam kết khuyến khích quá rõ ràng đôi khi không phát huy tácdụng như mong muốn Sau đó, Rizzi và cộng sự (2018) cũng khẳng định điều này,ngoài ra còn bổ sung thêm rằng nếu hệ thống khuyến khích dựa vào kết quả đượcxây dựng không hợp lý có thể gây giảm hiệu quả về mặt quản trị và về mặt kỹ thuậttrong cơ quan hành chính Theo Nuhu và cộng sự (2019), giao quyền cho nhân viêncũng là một hình thức động viên và nó cũng giúp nâng cao TQHĐ được nâng cao.Bên cạnh đó, cách tiếp cận định tính với kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc trong các
tổ chức y tế của Campuchia, Trung Quốc và Pakistan, tác giả Khan và cộng sự(2020) đã kết luận rằng phần thưởng phi tiền tệ (chẳng hạn như sự công nhận từ cấptrên) có ảnh hưởng lớn hơn đến TQHĐ của tổ chức so với phần thưởng vật chất
Sự tự chủ
Theo tổng hợp của Verhoest, Peters, Bouckaert và cộng sự (2004), tự chủtrong khu vực công được phân thành hai loại: (1) mức độ được tự quyết định của tổchức về vấn đề quản lý và chính sách, (2) giảm trừ các ràng buộc đối với việc sửdụng thực tế các năng lực ra quyết định của tổ chức, đề cập đến các hạn chế về cơcấu, tài chính, pháp lý và can thiệp việc quyết định của các tổ chức Dưa theo lượckhảo của Verhoest và cộng sự (2004), tự chủ có ảnh hưởng đến TQHĐ nhưng kếtquả chưa đồng nhất, nguyên nhân là do cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “tựchủ”, một số học giả chỉ tập trung vào yếu tố tự chủ trong quản lý (phi tài chính),một số khác nghiêng về khía cạnh tự chủ tài chính Ví dụ, Overman và Van Thiel(2016) lập luận rằng các tổ chức được quyền tự quyết định các về nhân sự và tàichính sẽ cung cấp dịch vụ công một cách chuyên nghiệp hơn và tiết kiệm nhữngkhoản chi tiêu vượt mức, nên hiệu quả hoạt động được đánh giá cao hơn Nghiêncứu của Nielsen (2014) mở rộng hơn về ảnh hưởng của tự chủ đối với kết quả đầu
Trang 29ra của trường học công ở New York, Mỹ, cụ thể tác giả xem xét ảnh hưởng điều tiếtcủa tự chủ đối với ảnh hưởng của quản trị TQHĐ đến TQHĐ Kỹ thuật phân tíchđiểm khác biệt (difference-in-difference) đã cung cấp kết quả về ảnh hưởng điều tiếttích cực của tự chủ trong quản trị nhân lực và qui trình thực hiện nhiệm vụ, ảnhhưởng điều tiết tiêu cực của tự chủ trong xây dựng mục tiêu, trong khi quyền tự chủtrong quản trị tài chính không có ảnh hưởng điều tiết.
Cấu trúc tổ chức
Cấu trúc tổ chức thường được xem xét ở hai khía cạnh: khía cạnh vật chất baogồm qui mô, tầm hạn kiểm soát (span of control) và hệ thống phân cấp; khía cạnhphi vật chất đề cập đến những chính sách và qui trình hoạt động của tổ chức như: sựchuyên môn hóa, sự quan liêu, sự chính thức hóa Cấu trúc tổ chức có thể khuyếnkhích hoặc hạn chế hành vi của nhân viên (Campbell, Bownas, Peterson và cộng sự,1974) Nghiên cứu của Miah và Mia (1996) ở New Zealand cho rằng mức độ phânquyền (decentralization) không có liên quan đến những thành tích mà tổ chức đạtđược Andrews và cộng sự (2009) phân tích chi tiết hơn khi nghiên cứu ở Mỹ đã kếtluận việc tập trung (centralization) hay phân quyền không ảnh hưởng đến thành quảdịch vụ công một cách độc lập, mà nó chỉ có ảnh hưởng khi kết nối với nội dungcủa kế hoạch chiến lược Ngoài ra, Jung và Lee (2013) xem xét tác động của yếu tốgồm: tầm hạn kiểm soát, qui mô tổ chức, sự quan liêu trong mối quan hệ vớiTQHĐ, nghiên cứu này khảo sát các đơn vị công và tổ chức phi lợi nhuận ở haibang Georgia và Illinois (Mỹ) và được xử lý bởi kỹ thuật hồi qui logistic Kết quảcho thấy ngoại trừ tầm hạn kiểm soát, các khía cạnh còn lại có ảnh hưởng nghịchchiều với TQHĐ Trong đó, sự quan liêu có tương quan mạnh nhất, điểm thú vị là
đã phát hiện ảnh hưởng phi tuyến (dạng log-linear) của qui mô nhân sự đến cácthành tích của tổ chức
Thực hành kế toán quản trị
Trang 30Các kỹ thuật kế toán quản trị kể cả hiện đại và truyền thống đều là những sángkiến được áp dụng trong khu vực tư nhân (Lapsley & Wright, 2004), nhưng theothời gian những sáng kiến này ngày càng được phổ biến trong khu vực công(Jackson & Lapsley, 2003), đặc biệt là dưới làn sóng cải cách khu vực công theohọc thuyết NPM hướng tới việc tư nhân hóa và thương mại hóa các tổ chức côngvới kỳ vọng đạt được chất lượng, hiệu quả và hiệu suất (Parker & Gould, 1999) Đểđạt được những thành tích tốt, tổ chức có xu hướng dùng kết hợp nhiều kỹ thuật kếtoán quản trị thay cho việc tập trung vào một kỹ thuật đơn lẻ (Kaplan & Norton,2001) Nghiên cứu của Nuhu, Baird và Appuhami (2016) cá nhận rằng tần suất sửdụng kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại (gồm thẻ cân bằng điểm, quản trị dựa trênhoạt động, chi phí dựa trên hoạt động, các chỉ số thành quả cốt yếu, phân tích chuỗigiá trị, quản trị chất lượng toàn diện, điểm chuẩn, quản trị chuỗi giá trị) càng cao thìhiệu quả hoạt động càng cao, trong khi tần suất sử dụng những kỹ thuật kế toánquản trị truyền thống (gồm chi phí định mức, lập dự toán và kiểm soát, phân tíchbiến động, phân tích chi phí-lợi nhuận, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư, lập kế hoạch chiếnlược chính thức, lập dự toán vốn) thì không có ảnh hưởng
Trách nhiệm giải trình
Đặc tính nổi bật của khu vực công là phục vụ nhiều đối tượng, gồm đối tượng
sử dụng dịch vụ, tổ chức tài trợ, chính trị gia ở các cấp, và các cơ quan chuyên mônkhác (Dixit, 2002), đặc tính này tạo ra sự đa dạng kỳ vọng của những bên liên quan
về TQHĐ của tổ chức công Việc này đặt ra yêu cầu cho các tổ chức công phải thựchiện trách nhiệm giải trình Căn cứ triết lý NPM, trách nhiệm giải trình được thựchiện tốt sẽ là đòn bẩy giúp tăng hiệu quả, hiệu lực của khu vực công (Christensen &Lægreid, 2015) Về thực tiễn, nghiên cứu của Dubnick (2005); (Koppell, 2005) đãkết luận rằng bất kỳ một thành phần trách nhiệm giải trình nào cũng có khả năngmang đến tác động không mong muốn đến quá trình hoàn thành nhiệm vụ Tiếptheo, nghiên cứu của Kim và Lee (2010) kế thừa mô hình trách nhiệm giải trình của
Trang 31Johnston và Romzek (1999) để khám phá ảnh hưởng của từng thành phần tráchnhiệm giải trình đến hiệu quả công việc qua hai biến trung gian là áp lực công việc
và khối lượng công việc Sau đó, Han và Hong (2019) tập trung vào trách nhiệmgiải trình về quản trị nguồn nhân lực và tác động của nó đến TQHĐ dưới sự điềutiết của mức độ tự chủ trong công việc, kết quả khẳng định trách nhiệm giải trìnhchỉ có tác động điều tiết lên ảnh hưởng của trách nhiệm giải trình về lương, thưởnglên TQHĐ Ngoài ra, một nghiên cứu ở Indonesia của Halim (2019) cho thấy sự giảitrình về phân cấp và chuyên môn không có liên quan đến TQHĐ, sự giải trình vềkết quả pháp lý có ảnh hưởng cùng chiều Gần đây, Han (2020) dựa trên lý thuyếtđại diện để mô tả ba khía cạnh của trách nhiệm giải trình gồm: sự đánh giá(assessment) và kết quả (consequense), cung cấp thông tin (information provision),
đã kết luận rằng khi các cơ quan tăng cường cung cấp dữ liệu TQHĐ cho cấp trên,chịu sự đánh giá thường xuyên từ các cơ quan cấp trên và nhận được sự phân bổngân sách căn cứ trên TQHĐ sẽ có lợi cho kết quả đầu ra
Động lực phụng sự công
Khái niệm động lực phụng sự công được đề cập khá phổ biến trong khu vựccông, đó là “khuynh hướng của một cá nhân đáp ứng lại các động cơ nền tảng hoặcduy nhất trong các tổ chức công” (Perry, 1996) Các tài liệu đều đồng thuận rằngđộng lực phụng sự công có ảnh hưởng tích cực đến TQHĐ tổ chức Dựa trên kếtquả tổng kết lý thuyết, Paarlberg và Lavigna (2010) đã cung cấp một khung lýthuyết mới về động lực phục vụ trong khu vực công nhằm tạo ra giá trị dịch vụcông, khuyến khích các tổ chức công tích hợp các biện pháp tạo ra động lực vào quitrình quản lý để cải tiến tổ chức Một số tác giả cứu tiếp tục XN điều này, chẳng hạnnhư Camilleri và Van Der Heijden (2007), Bellé (2013) và Miao, Eva, Newman vàcộng sự (2019), ngoài ra, Miao và cộng sự (2019) còn cung cấp thêm vai trò trunggian toàn phần của yếu tố nhân diện tổ chức Tại Thụy Sĩ, Ritz (2009) chỉ xem xéthai khía cạnh của động lực phụng sự công gồm: cam kết vì lợi ích cộng đồng và
Trang 32quan tâm đến hoạch định chính sách công, trong đó thành phần thứ hai có tác dụngnâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Khác với các nghiên cứu đã đề cập,Giauque, Anderfuhren-Biget và Varone (2013) mở rộng hơn khi chứng minh rằngảnh hưởng cùng chiều của động lực phụng sự công đối với TQHĐ tổ chức là rấtyếu, và ảnh hưởng sẽ mạnh hơn nếu tăng cường sự cam kết của nhân viên đối với tổchức
Khả năng lãnh đạo
Khả năng lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng đến cá nhân khác, truyền đạtmục tiêu, tầm nhìn, và thúc đẩy thành viên trong nhóm (hoặc tổ chức) nỗ lực làm vìmục tiêu chung (Van Wart, 2013) Theo lập luận của Asencio (2016), hiệu quả của
tổ chức phản ánh kết quả đầu ra của năng lực lãnh đạo Các nghiên cứu về năng lựclãnh đạo trong khu vực công thường tập trung khai thác các phong cách lãnh đạo(leadership style) và xem xét vai trò của nó đối với hiệu quả quản trị Nghiên cứucủa Parry và Proctor-Thomson (2002) ở New Zealand cho thấy khả năng lãnh đạo
cá nhân (individual leadership) và khả năng lãnh đạo nhóm (team leadership) đều cóliên quan đến hiệu quả tổ chức Mặc dù đã có nhiều lý thuyết nền về phong cáchlãnh đạo, nhưng lý thuyết phong cách lãnh đạo chuyển đổi (transformationalleadership style) vẫn nhận được sự chú ý nhiều nhất (Dvir, Eden, Avolio và cộng
sự, 2002; Van Wart, 2013) Nếu nhà lãnh đạo áp dụng phong cách chuyển đổi thì sẽgiúp tăng cường kết quả đầu ra của tổ chức (Asencio, 2016; Lopez, 2019) Ngoài ra,ảnh hưởng này còn được trung gian bởi các biến: văn hóa hợp tác, việc sử dụngthông tin TQHĐ, và sự tham gia của các bên liên quan và (Sun & Henderson,2017) Bên cạnh đó, phong cách lãnh đạo tích hợp (intergrative leadership) cũngđược chú ý như nghiên cứu của Fernandez, Cho và Perry (2010), tác giả cũng XNảnh hưởng thuận chiều của phong cách lãnh đạo này đối với TQHĐ của tổ chức
Chất lượng báo cáo tài chính
Trang 33Chất lượng báo cáo tài chính là các thuộc tính của báo cáo tài chính làm chothông tin trên báo cáo này phát huy tính hữu ích cho người sử dụng và hỗ trợ đạtđược các mục tiêu của báo cáo (IPSASB, 2018) Thông tin thể hiện trên báo cáo tàichính là công cụ truyền đạt kết quả quản lý kinh tế của các chính trị gia, do đó nócũng phản ánh hiệu quả của chính sách công (Brusca & Montesinos, 2016) Báo cáotài chính được đảm bảo chất lượng có tác động tích cực đến TQHĐ là điều đã đượcxác nhận Cụ thể, nghiên cứu của Bukenya (2014) ở Uganda đã khẳng định rằngbáo cáo tài đảm bảo chất lượng sẽ giúp nhà quản lý chọn hướng hành động tốt hơn,
từ đó cải thiện hiệu quả tài chính của tổ chức Sau đó, Nirwana và Haliah (2018)cũng XN ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến TQHĐ của các tổ chứchành chính địa phương ở Indonesia là cùng chiều
Tổng hợp những nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ xem phụ lục 2.
1.1.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ
Đo lường TQHĐ là một thành phần của quản trị TQHĐ (Angiola & Bianchi,2015), mục đích chính là truyền đạt dữ liệu TQHĐ gồm cả thông tin tài chính lẫnphi tài chính nhằm giúp nhà quản lý đưa ra quyết định (Simons, 1990) Chi tiết hơn,thông tin TQHĐ được dùng để kiểm soát, đánh giá, lập dự toán, tạo động lực, họchỏi và cải tiến tổ chức (Behn, 2003) Hơn nữa, cải cách khu vực công theo tinh thầncủa lý thuyết NPM đặt trọng tâm vào vấn đề đo lường và quản trị TQHĐ để TQHĐđược tốt hơn (Korac, Saliterer, Sicilia và cộng sự, 2020) Như vậy, về phương diện
lý thuyết, thông tin TQHĐ sẽ có ích cho tổ chức Về thực tiễn, kết quả kiểm định vềảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ của tổ chức chưa thốngnhất, ảnh hưởng này còn tùy vào mục đích và cách thức sử dụng
Folz và cộng sự (2009) khảo sát các thành phố cỡ trung ở Mỹ cho thấy hầu hếtnhà quản lý thừa nhận thông tin TQHĐ có ích cho việc ra quyết định, hỗ trợ cáckhuyến nghị về ngân sách và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công dân về trách
Trang 34nhiệm giải trình Tuy nhiên, đó chỉ là nhận thức chủ quan của nhà quản lý, vẫn còntồn tại khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế về lợi ích có được từ thực hành đolường TQHĐ Trong khi Sun và Van Ryzin (2014) tìm thấy ảnh hưởng tích cực củaviệc tích hợp các dữ liệu TQHĐ vào quá trình quản lý đến kết quả của các trườnghọc công ở New York thì Hvidman và Andersen (2014) kết luận rằng thực hành đolường TQHĐ không ảnh hưởng đến TQHĐ của các trường học công
Nghiên cứu khác của Poister và cộng sự (2013), các tác giả cho rằng sử dụngcác dữ liệu TQHĐ giúp nâng cao kết quả đầu ra của các tổ chức vận tải công ở Mỹ.Đóng góp mới hơn của Spekle và Verbeeten (2014); Verbeeten và Speklé (2015) là
đã phát hiện các yếu tố điều tiết lên lên mối quan hệ giữa việc sử dụng thông tinTQHĐ đối với TQHĐ, đó là: cường độ, loại, cách sử dụng, và mức độ “cam kết”của các dịch vụ khi nghiên cứu trong các tổ chức công của Hà Lan Ngoài ra,Verbeeten và Speklé (2015) còn XN vị trí trung gian của “văn hóa định hướng kếtquả” trong mối quan hệ giữa việc sử dụng thông tin TQHĐ và TQHĐ
Trong khi phần lớn nghiên cứu về đo lường và quản trị TQHĐ là ở các quốcgia đã phát triển, có nghiên cứu của Abubakar, Saidin và Ahmi (2016) được thựchiện ở Nigieria, một nền kinh tế đang phát triển Kết quả cung cấp ảnh hưởng tíchcực của việc thực hành đo lường và sử dụng các dữ liệu về TQHĐ đến TQHĐ trongcác tổ chức công Một kết quả đáng quan tâm khác được thể hiện trong bài lượckhảo của Gerrish (2016) là “đo lường TQHĐ có thể không cải thiện TQHĐ nhưng
có thể quản trị TQHĐ”, điều này ngụ ý rằng ảnh hưởng của đo lường TQHĐ đếnTQHĐ là chưa rõ ràng
Nghiên cứu ở Canada của Pollanen và cộng sự (2017), tác giả phân biệt mụcđích sử dụng các thông tin TQHĐ thành 2 loại: sử dụng cho thực hiện chiến lược và
sử dụng cho đánh giá chiến lược Trong đó, sử dụng cho thực hiện chiến lược sẽ ảnhhưởng tốt đến TQHĐ tổ chức, còn sử dụng đánh giá chiến lược thì không Giốngnhư cách tiếp cận này, nghiên cứu của Nitzl, Sicilia và Steccolini (2019) ở Ý nhìn
Trang 35nhận rằng thông tin TQHĐ phục vụ cho 4 chức năng: giám sát (monitoring), tậptrung sự chú ý (attention-focusing), ra quyết định chiến lược (strategic decision-making) và hợp thức hóa (legitimizing) Trong đó, chức năng giám sát và tập trung
sự chú ý có ảnh hưởng tích cực đến TQHĐ của tổ chức, không tìm thấy ảnh hưởngcủa hai chức năng còn lại Ngoài ra, tác giả còn khám phá vai trò điều tiết của vănhóa định hướng NPM trong mối quan hệ này
Tổng hợp nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến
TQHĐ xem phụ lục 3.
1.1.4 Nhận xét những nghiên cứu ở nước ngoài
Nhìn chung, chủ đề đo lường và sử dụng thông tin TQHĐ khu vực công ngàycàng được giới học thuật, nhà thiết lập chính sách và người trực tiếp thực thi chínhsách lưu tâm, nguyên nhân đến từ vai trò trọng yếu của khu vực công đối với quátrình CẢI TIẾN toàn diện của một quốc gia Lý thuyết nền chủ đạo cho các nghiêncứu này là khuôn khổ NPM, bên cạnh đó các tác giả kết hợp các lý thuyết về tâm lýhọc, kinh tế học như: lý thuyết hành vi theo dự định, lý thuyết thiết lập mục tiêu, lýthuyết đại diện, để phát triển và lý giải mối quan hệ giữa các biến
Xét về bối cảnh nghiên cứu, phần lớn nghiên cứu thực hiện ở những quốc gia
đã phát triển như Mỹ (ví dụ Ammons & Rivenbark, 2008; Berman & Wang, 2000;Dimitrijevska‐Markoski & French, 2019; Dull, 2009; Jung & Lee, 2013; Melkers
& Willoughby, 2005; Rivenbark và cộng sự, 2019), Úc (ví dụ Nuhu và cộng sự,2016; Taylor, 2009), Thụy Điển (ví dụ Johansson & Siverbo, 2009), Na Uy Askim
và cộng sự (2008), Ý (ví dụ Nitzl và cộng sự, 2019; Rizzi và cộng sự, 2018), Đức(ví dụ Kroll & Proeller, 2013), Hà Lan (ví dụ Spekle & Verbeeten, 2014; Verbeeten
& Speklé, 2015), Thụy Sĩ (ví dụ Ritz, 2009) Số lượng nghiên cứu ở các quốc giakém hoặc đang phát triển hoặc vẫn còn khiêm tốn, ví dụ như nghiên cứu củaBukenya (2014) ở Uganda, Nirwana và Haliah (2018) ở Indonesia, Abubakar vàcộng sự (2016) ở Nigieria Điểm đáng lưu ý nữa là đa phần dữ liệu được khảo sát
Trang 36trong các tổ chức chính quyền địa phương (ví dụ Andrews và cộng sự, 2009;Berman & Wang, 2000; Dimitrijevska‐Markoski & French, 2019; Johansson &Siverbo, 2009; Kroll & Vogel, 2014; Melkers & Willoughby, 2005; Rivenbark vàcộng sự, 2019; Taylor, 2009), chỉ một số ít nghiên cứu khảo sát trong các đơn vịnghề nghiệp cụ thể, như trong lĩnh vực vận tải công (ví dụ Poister và cộng sự,2013), trong lĩnh vực giáo dục (ví dụ Hvidman & Andersen, 2014; Sun & VanRyzin, 2014)
Xét về nội dung, các nghiên cứu đã đưa ra hàng loạt nhân tố có ảnh hưởng đếnviệc sử dụng thông tin TQHĐ và TQHĐ của tổ chức Theo thứ tự, nghiên cứu sau
kế thừa các nhân tố đã xuất hiện trước đó và bổ sung thêm nhân tố mới, tạo nên sựphong phú cho tài liệu nghiên cứu liên quan Cụ thể, đối với dòng nghiên cứu vềnhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ thì các nhân tố được quan tâmnhiều là đặc điểm của hệ thống đo lường, sự tham gia của các bên liên quan, vănhóa tổ chức, năng lực lãnh đạo Đối với nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đếnTQHĐ, các nhân tố xuất hiện nhiều là năng lực hoạch định chiến lược, biện phápkhuyến khích, trách nhiệm giải trình, động lực phụng sự công, khả năng lãnh đạo.Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ thì nhân tố
“văn hóa tổ chức” được xem xét ở hai khía cạnh: (1) chấp nhận sự thay đổi và pháttriển; (2) định hướng mục tiêu, tầm nhìn và kế hoạch chiến lược Tuy nhiên, vẫncòn một khía cạnh quan trọng đó là “văn hóa định hướng kết quả” chưa được đềcập Sở dĩ yếu tố “văn hóa định hướng kết quả” cần được quan tâm bởi vì: thứ nhất,khi các nhà quản trị hướng sự chú ý vào kết quả đầu ra thì khả năng thực hiện đolường và sử dụng thông tin TQHĐ cao hơn (Ammons & Roenigk, 2015), thứ hai, đểcải cách khu vực công trước tiên cần phải thay thế văn hóa tuân thủ các qui tắc (vốntồn tại trong khu vực công) bằng “văn hóa định hướng kết quả” trong tổ chức(Perrin, 2002) Cần chú ý rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin
Trang 37TQHĐ của tổ chức được nghiên cứu tách biệt, chưa có sự kết hợp đa dạng các nhân
tố trong cùng một mô hình lý thuyết
Đối với dòng nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đếnTQHĐ có hai điểm cần lưu ý Thứ nhất, ảnh hưởng này còn tùy thuộc vào nhữngđiều kiện khác (ví dụ Nitzl và cộng sự, 2019; Spekle & Verbeeten, 2014) Thứ hai,kết quả nghiên cứu chưa có sự đồng thuận, chẳng hạn có nghiên cứu kết luận ảnhhưởng này là tích cực (ví dụ Abubakar và cộng sự, 2016; Poister và cộng sự, 2013;Sun & Van Ryzin, 2014), trong khi nghiên cứu khác lại kết luận là không ảnhhưởng (Hvidman & Andersen, 2014)
Theo kết quả lược khảo, mô hình nghiên cứu kiểm tra đồng thời ảnh hưởngtrực tiếp và gián tiếp của các nhân tố đến TQHĐ thông qua trung gian là việc sửdụng thông tin TQHĐ chưa được thực hiện
Xét về phương pháp nghiên cứu, có ba xu hướng chính: (1) phỏng vấn nhânviên công về những nhân tố tác động đến việc thực hành đo lường và sử dụng thôngtin TQHĐ cũng như cảm nhận về lợi ích của nó (ví dụ Berman & Wang, 2000; Folz
và cộng sự, 2009; Kroll & Proeller, 2013) hoặc phân tích dữ liệu định tính (ví dụDubnick, 2005; Koppell, 2005), (2) đề xuất mô hình về mối quan hệ giữa các biếnnghiên cứu, thực hiện khảo sát, phân tích và trình bày kết quả (ví dụ Han, 2020;Miao và cộng sự, 2019; Nielsen, 2014; Nuhu và cộng sự, 2016; Pollanen và cộng
sự, 2017; Verbeeten & Speklé, 2015), (3) Lược khảo tài liệu và đưa ra kết luậnchung (ví dụ George và cộng sự, 2019; Gerrish, 2016) Trong đó, xu hướng thứ haichiếm phần lớn trong các nghiên cứu được lược khảo
1.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam
Tương tự như cấu trúc trình bày tổng quan những nghiên cứu ở nước ngoài,tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam cũng được hệ thống theo 3 dòng nghiên cứu, baogồm: (1) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ,
Trang 38(2) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ, và (3) nghiên cứu về ảnhhưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ.
1.2.1 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin TQHĐ
Ở Việt Nam, chủ đề về quản trị, đo lường TQHĐ khu vực công nói chung hayviệc sử dụng tin TQHĐ nói riêng vẫn chưa được quan tâm nhiều Hướng nghiêncứu liên quan ở phạm vi rộng đó là khám phá những nhân tố tác động đến việc triểnkhai thẻ cân bằng điểm (Balances scorecard – BSC), xem BSC như một thước đoTQHĐ của các đơn vị công như các trường cao đẳng, đại học, đào tạo nghề, ủy bannhân dân cấp quận, chi cục thuế, tuy nhiên, các vấn đề này chỉ được khai thác ở cấp
độ luận văn thạc sĩ Hay như nghiên cứu của Trần Thị Hải Vân (2018) có đề cậpđến hệ thống đo lường TQHĐ của khu vực công, tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ởmức độ tổng hợp kinh nghiệm từ các mô hình đo lường TQHĐ theo các xu hướngmới trên thế giới và đề xuất định hướng xây dựng mô hình đo lường TQHĐ cho khuvực công ở Việt Nam
Nghiên cứu nổi bật cho chủ đề này là của Anh Vu, Plimmer, Berman và cộng
sự (2021), tác giả đưa ra quan điểm rằng quản trị TQHĐ như là một giải pháp đểtăng cường hiệu quả của tổ chức công, qui trình này phải được đổi mới và cải tiếnliên tục, nhóm tác giả đã kiểm tra các nhân tố đến ảnh hưởng việc cải tiến quản trịTQHĐ khu vực công ở Việt Nam và kết luận rằng trách nhiệm giải trình tác độngtích cực đến sự cải tiến quá trình quản trị TQHĐ, trong khi mối quan hệ giữa cácnhân viên, khởi nguồn văn hóa truyền thống thì ngược lại
1.2.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ
Mặc dù nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ khu vực công ở ViệtNam còn khiêm tốn so với thế giới nhưng gần đây số lượng nghiên cứu về chủ đềnày được công bố ngày càng tăng, hiện trạng này cho thấy đây là chủ đề đang tạo ra
sự thu hút đối với nhà nghiên cứu Ban đầu, nghiên cứu về hiệu quả hoạt động khu
Trang 39vực công tập trung vào khía cạnh quản trị tài chính công như nghiên cứu của PhạmQuang Huy (2013), tác giả dựa trên dữ liệu thu chi ngân sách trong giai đoạn trướccũng như sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, vận dụng lý thuyết quảntrị tài chính công trên thế giới để nhận diện nguyên nhân của những yếu điểm, từ đó
đề ra một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống kế toán thu - chi ngân sách tại ViệtNam theo hướng tiệm cận với thông lệ chung của quốc tế Tiếp theo, nghiên cứucủa Phạm Thị Hồng Điệp (2017) vận dụng mô hình quản trị nhà nước tốt để nângcao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính công, tạo thêm cơ hội nắm bắt thôngtin cho người dân, nâng cao vai trò của người dân trong việc đòi hỏi trách nhiệmgiải trình từ phía Nhà nước
Sau đó, những nhân tố ảnh hưởng đến TQHĐ của khu vực công ở Việt Nam
đã dần được phản ánh cụ thể Chẳng hạn như Nguyen, Dang và Nguyen (2015) đềcập đến thành quả công việc của cán bộ viên chức, kết quả cho thấy thu nhập, môitrường làm việc và cơ hội thăng tiến có ảnh hưởng cùng chiều đến thành quả côngviệc Tiếp cận theo cách khác, CLDV công được nhìn nhận như một tiêu chí phảnánh TQHĐ, Nguyen, Bach, Le và cộng sự (2017) cho rằng tham nhũng sẽ làm giảmCLDV giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khỏe, và để hạn chế tham nhũng thì các tổchức cần đẩy mạnh sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của côngdân, góp phần thực thi chiến lược quản trị tốt Tiếp theo, Pham và Vu (2019) đưa ra
mô hình nghiên cứu căn cứ vào khung BSC đã tìm thấy các nhóm nhân tố thuộc quitrình nội bộ, khía cạnh tài chính, đào tạo và phát triển, sứ mệnh, khách hàng, đềuảnh hưởng tích cực đến kết quả và hiệu quả của các bệnh viện công
Theo nghiên cứu tiếp theo của Huy và Phuc (2020a) thì việc tích hợp nhữnghoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội vào khung quản trị thẻ điểm và việc công bốbáo cáo trách nhiệm xã hội đều có ảnh hưởng đến TQHĐ các tổ chức công Ngoài
ra, Huy và Phuc (2020b) tiếp tục khẳng định việc thực hiện quản trị theo thẻ điểm
sẽ tăng cường hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán, từ đó cải thiện TQHĐ Ở cấp
Trang 40độ luận án tiến sĩ, nổi bật có nghiên cứu của Lê Thị Loan (2020), tác giả vận dụng
mô hình Chuẩn đoán tổ chức (Organizational Diagnostics Model) để nhận diện vàkiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố đến TQHĐ ở các cơ quan hành chính, bao gồm:
sự đoàn kết, kiểm tra và giám sát, khả năng lãnh đạo, quản lý thông tin và truyềnthông, mối quan hệ, thái độ đối với sự thay đổi, khen thưởng,
Điểm chung trong các nghiên cứu của Tran và Nguyen (2020); Thi Tran vàcộng sự (2020); Tran, Nguyen và Hoang (2021) là thiết lập mô hình dạng cấu trúctuyến tính để khám phá tác động của các nhân tố đến TQHĐ của đơn vị công Ýtưởng chính trong nghiên cứu của Tran và Nguyen (2020) là kiểm định vai trò trunggian của trách nhiệm giải trình công (public accountability) trong mối quan hệ giữa
hệ thống đo lường TQHĐ và TQHĐ khu vực công, kết quả XN trách nhiệm giảitrình công là trung gian toàn phần Tiếp theo, Thi Tran và cộng sự (2020) đã khẳngđịnh văn hóa định hướng kết quả sẽ giúp nâng cao TQHĐ, bao gồm cả trực tiếp lẫngián tiếp thông qua trách nhiệm giải trình tài chính (financial accountability) Ngoài
ra, chất lượng báo cáo tài chính cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến TQHĐ và tráchnhiệm giải trình là trung gian một phần trong mối quan hệ này (Tran và cộng sự,2021)
1.2.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ
Trong khả năng tìm kiếm của tác giả, ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về ảnhhưởng của việc sử dụng thông tin TQHĐ đến TQHĐ trong khu vực công vẫn chưađược thực hiện Tuy nhiên, như đã đề cập sử dụng thông tin TQHĐ được xem nhưmột thành phần của qui trình thực hành đo lường và quản trị TQHĐ (Angiola &Bianchi, 2015; Julnes & Holzer, 2001) Vì thế, xoay quanh chủ đề này có thể xétđến nghiên cứu của Ngoc-Tan và Gregar (2019) và Tran và Nguyen (2020)
Cụ thể, nghiên cứu của Ngoc-Tan và Gregar (2019) xem quản trị tri thức(knowlegde management) như một phương thức quản trị TQHĐ và là công cụ đểthúc đẩy TQHĐ các trường đại học công lập Trong đó, các thành phần của quản trị