HỒ CHÍ MINH KHOA ĐỊA LÝ Môn: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chủ đề: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI T
DẪN NHẬP
Lý do chọn đề tài
Mọi người đều có quyền tự do và bình đẳng về nhân phẩm Họ được ban tặng lý trí và lương tâm, vì vậy cần đối xử với nhau bằng tình anh em.
(Tore Lindholm, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, 1948)
Lời tuyên ngôn trong Điều 1 của "Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền" năm 1948 khẳng định rằng mọi người đều có quyền bình đẳng, không phân biệt màu da, tôn giáo, tuổi tác hay giới tính.
Mọi người đều có quyền tự do, lý trí và lương tâm, và cần được đối xử bình đẳng Tuy nhiên, trên thế giới vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử với những người khác biệt Nhiều người không thể sống thật với bản thân, phải giấu kín danh tính vì định kiến và những lời bình phẩm tiêu cực về giới tính Họ sống trong nỗi sợ hãi, dẫn đến một cuộc sống giả dối, không được là chính mình Đây chính là thực trạng của cộng đồng LGBT.
Nhóm Nuti-hô nhận thấy rằng thế giới đã có cái nhìn rộng mở hơn về LGBT, với nhiều quốc gia công nhận quyền của cộng đồng này Hà Lan là một trong những nước tiên phong, ban hành “Đạo luật đối xử bình đẳng” vào năm 1994 và công nhận hôn nhân đồng giới vào năm 2001, cho phép các cặp đôi đồng tính có quyền như cặp đôi dị tính Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử cộng đồng LGBT Sau đó, nhiều quốc gia khác như Bỉ, Áo, Australia, và Hoa Kỳ cũng bắt đầu công nhận hôn nhân đồng giới, trong khi Đài Loan trở thành vùng lãnh thổ châu Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng giới thông qua bộ Luật cơ bản về quyền con người.
Các quốc gia đang dần có cái nhìn thoáng hơn về LGBT, chủ yếu là các nước phương Tây Vậy còn Việt Nam và các quốc gia phương Đông khác thì sao? Liệu người dân Việt Nam đã có cái nhìn cởi mở hơn về LGBT chưa? Cộng đồng LGBT tại Việt Nam có được đối xử tốt hơn hay vẫn còn phải đối mặt với sự phân biệt và kỳ thị?
Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài này để khảo sát thái độ và nhận thức của sinh viên, một tầng lớp tri thức trẻ đông đảo, về cộng đồng LGBT và những người đồng tính luyến ái hiện nay.
Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu tập trung vào đồng tính luyến ái trong cộng đồng LGBT, bao gồm nhiều xu hướng tính dục khác nhau như đồng tính, song tính và chuyển giới Bên cạnh việc nghiên cứu đồng tính luyến ái, nhóm còn khảo sát thái độ và nhận thức của sinh viên về vấn đề này.
Như vậy, nhóm sẽ nghiên cứu về nhận thức, thái độ về đồng tính luyến ái
Nhóm nghiên cứu sẽ chọn đối tượng là sinh viên, một tầng lớp trí thức trẻ, tiếp nhận nhiều thông tin từ các nguồn khác nhau và có hiểu biết sâu rộng về các vấn đề xã hội Đây là lý do nhóm quyết định lựa chọn sinh viên làm khách thể để thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu.
Phạm vi nội dung mà nhóm nghiên cứu chủ yếu sẽ nghiên cứu chính về thái độ, nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái
Nhóm sẽ tiến hành nghiên cứu trên một quy mô nhỏ, lấy mẫu tượng trưng cho toàn bộ sinh viên trên lãnh thổ Việt Nam, với các không gian nghiên cứu được xác định rõ ràng.
- Các trường đại học trong khối ĐHQG: vì đây là môi trường học tập của nhóm nghiên cứu nên việc khảo sát sẽ thuận tiện hơn
Các trường khác tại TP Hồ Chí Minh được nhóm lựa chọn để so sánh với không gian của các trường đại học trong khối ĐHQG.
Về phạm vi thời gian, nhóm sẽ tiến hành nghiên cứu trong vòng 4 tháng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đặt mục tiêu tìm hiểu nhận thức và thái độ của sinh viên, đồng thời đánh giá các yếu tố tâm lý và xã hội ảnh hưởng đến vấn đề này.
Nhóm đặt ra mục tiêu xây dựng cơ sở lý luận để hỗ trợ và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về LGBT và đồng tính luyến ái, từ đó góp phần hình thành các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng này.
Nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện dự án trong 4 tháng, chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn đầu kéo dài 2 tháng và giai đoạn sau cũng 2 tháng.
Nhóm nghiên cứu sẽ chia thành 4 giai đoạn: tìm kiếm tài liệu, lập đề cương, tiến hành nghiên cứu thực tiễn và báo cáo kết quả Trong giai đoạn tìm kiếm tài liệu, nhóm phân công nhân sự tìm kiếm tài liệu giấy tại các thư viện và tài liệu điện tử qua Google Scholar với các từ khóa như “LGBT” và “đồng tính” Sau khi thu thập, nhóm sẽ chọn lọc các nghiên cứu chính để tiến hành nghiên cứu Giai đoạn lập đề cương sẽ bao gồm thảo luận về phương pháp nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và tổng quan tài liệu đã chọn Dựa trên kết quả thảo luận, nhóm sẽ lập đề cương làm cơ sở cho nghiên cứu chi tiết hơn Trong giai đoạn nghiên cứu thực tiễn, nhóm sẽ khảo sát và phân tích các đối tượng nghiên cứu theo đề cương đã lập Cuối cùng, ở giai đoạn báo cáo kết quả, nhóm tổng hợp kết quả nghiên cứu thực tiễn, đánh giá các giả thuyết đã đặt ra và đưa ra khuyến nghị cho các nghiên cứu sau.
Phương pháp và mẫu nghiên cứu
Nhóm sẽ áp dụng phương pháp định lượng, tập trung vào việc thu thập thông tin qua bảng hỏi điện tử và phân tích tài liệu có sẵn.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2017, TP Hồ Chí Minh có khoảng 462,552 sinh viên đang theo học ở trình độ đại học và cao đẳng, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng dân số của thành phố.
TP Hồ Chí Minh cùng năm là khoảng 8.45 triệu người thì số lượng sinh viên chiếm khoảng 5.47% tổng dân số TP Hồ Chí Minh
Số lượng sinh viên hiện tại vượt quá khả năng nhân lực của nhóm, do đó, nhóm sẽ chọn mẫu nghiên cứu đại diện cho tổng thể sinh viên tại TP Hồ Chí Minh Nhóm dự kiến tiến hành khảo sát dựa trên các tiêu chí đã xác định.
Bảng 1: Tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu đề tài
STT Nội dung Tiêu chí (dự kiến)
1 Tổng số sinh viên tham gia khảo sát tối thiểu − ≥120 sinh viên
2 Tỉ lệ sinh viên giữa hai khối trong ĐHQG và ngoài ĐHQG
3 Tỉ lệ xuất thân ban đầu − Thành thị: 50%
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài này sẽ nghiên cứu một cách khách quan về quan điểm của sinh viên đối với đồng tính luyến ái, đồng thời góp phần củng cố các lý thuyết trong tâm lý học và xã hội học thông qua những kết luận đạt được.
Thông qua các số liệu thống kê từ các cuộc khảo sát, nhóm nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin đáng tin cậy về đồng tính luyến ái, một chủ đề vẫn còn nhiều mập mờ Nghiên cứu này sẽ tạo nền tảng lý luận vững chắc, hỗ trợ cho các nghiên cứu về cộng đồng LGBT và các chính sách pháp lý liên quan đến cộng đồng này.
Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
Nhóm nghiên cứu có lợi thế lớn khi vấn đề nghiên cứu rất gần gũi với sinh viên, cùng với việc các thành viên trong nhóm ở gần nhau và nằm trong khu vực đông sinh viên tại Đô thị Đại học Quốc gia Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin và tiến hành nghiên cứu hiệu quả hơn.
Nhóm thực hiện đề tài gặp khó khăn do thiếu tài liệu nghiên cứu về LGBT, đặc biệt là đồng tính luyến ái, tại Việt Nam Các tài liệu trong nước rất hiếm, khiến nhóm phải tìm kiếm và dịch thuật tài liệu từ nước ngoài Hơn nữa, việc chọn đề tài nhạy cảm mà người phương Đông thường ngại đề cập cũng gây trở ngại trong quá trình khảo sát.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tổng quan tình hình nghiên cứu và tài liệu
2.1.1 Khái quát lịch sử LGBT ở Việt Nam
LGBT và đồng tính luyến ái đã tồn tại ở Việt Nam từ lâu, với nhận thức và thái độ tích cực trong thời kỳ trước hiện đại Tuy nhiên, sự phát triển của các khuôn mẫu giới và xu hướng tính dục đã dẫn đến sự kỳ thị LGBT Lịch sử LGBT có thể được chia thành bốn giai đoạn chính: Thời kỳ tiền hiện đại, nửa sau thế kỷ XIX, thế kỷ XX và từ năm 2000 đến nay.
Trong thời kỳ tiền hiện đại trước thế kỷ XX, ghi chép về LGBT và đồng tính luyến ái ở Việt Nam rất hiếm hoi, chia thành hai giai đoạn nhỏ bởi sự du nhập của Phật giáo và Nho giáo từ thế kỷ II-III TCN Trước khi các tôn giáo này xuất hiện, người Việt theo tín ngưỡng phồn thực, coi hành vi tình dục, bao gồm cả quan hệ đồng giới, là tự nhiên và lành mạnh, khuyến khích sự sinh sản và thịnh vượng Tuy nhiên, sự xuất hiện của Phật giáo và Nho giáo đã thay đổi tư tưởng, dẫn đến sự hà khắc hơn trong quan niệm về tình dục, mặc dù đồng tính không bị coi là bệnh hoạn hay tệ nạn xã hội.
"Đồng cô" là những người nam ăn mặc như phụ nữ, thường được cho là có khả năng giao tiếp với các thế lực tâm linh do sự không rõ ràng về giới tính Điều này đã dẫn đến sự hình thành của một nghi thức dân gian mang tên "lên đồng".
Vào nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, quan niệm về đồng tính luyến ái bắt đầu bị coi là tội lỗi Từ “pê-đê”, xuất phát từ tiếng Pháp “pédéraste”, ra đời trong bối cảnh này, ban đầu được dùng để miệt thị những người đàn ông có quan hệ tình dục với cậu bé từ 15-25 tuổi Qua thời gian, từ này đã được sử dụng rộng rãi hơn trong xã hội Việt Nam để chỉ những người có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác với các quy chuẩn xã hội.
Vào thế kỷ XX, đồng tính vẫn bị xem là tội lỗi, nhưng sự phát triển của các đô thị ở Việt Nam đã tạo ra không gian cho những người đồng tính Ở miền Nam, Sài Gòn có những địa điểm cho họ gặp gỡ, mặc dù đồng tính vẫn bị coi là hành động sai trái Ngược lại, miền Bắc chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa anh hùng, khiến đồng tính và chuyển giới không bị coi là tội, nhưng do thiếu quy định pháp luật, dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến LGBT Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, cộng đồng LGBT tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức.
Trang 12 đồng LGBT, đặc biệt là những người chuyển giới thường xuyên được thấy trong các gánh hát rong cũng như trong thực hiện một số nghi lễ tôn giáo Trong những năm cuối thế kỷ XX, sự xuất hiện của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV) đã làm tăng thêm sự tổn thương trong cộng đồng LGBT Do Nhà nước chỉ tập trung vào nhóm có nguy cơ bị lây nhiễm HIV cao là các thanh niên sử dụng ma túy nhưng lại lãng quên các nhóm cũng có khả năng bị lây nhiễm cao tương tự như cộng đồng LGBT Chính vì điều đó cùng với sự thiếu hiểu biết trong quan hệ tình dục đã dẫn đến tình trạng số người nhiễm HIV trong cộng đồng này ngày càng tăng cao
Từ năm 2000, xã hội đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng LGBT, mặc dù trong những năm đầu thế kỷ XXI, họ bị bóp méo bởi các hình ảnh tiêu cực từ truyền thông, bị coi là tệ nạn xã hội và suy đồi đạo đức Điều này đã khiến cộng đồng LGBT gặp khó khăn trong việc tiếp cận hỗ trợ y tế liên quan đến quan hệ tình dục đồng giới Tuy nhiên, bước sang thập niên 2010, nhờ vào sự hội nhập và nỗ lực của nhiều cá nhân, xã hội Việt Nam đã dần có cái nhìn tích cực hơn về LGBT thông qua hình ảnh đẹp của những người nổi tiếng trong cộng đồng Các chương trình hiện nay cũng góp phần cải thiện hình ảnh của cộng đồng LGBT trong mắt xã hội.
2.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về cộng đồng LGBT và đồng tính luyến ái đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều người Mặc dù chưa có số liệu chính thức, ước tính khoảng 3% dân số thế giới là người đồng tính Tại Việt Nam, có khoảng 1.6 triệu người thuộc cộng đồng LGBT trong độ tuổi 15-19, chiếm khoảng 1.7% tổng dân số 93.7 triệu người vào năm 2017 (theo thống kê của iSEE).
Tại Việt Nam, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu rộng, dẫn đến khó khăn cho nhóm nghiên cứu trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan Do đó, nhóm đã phải tìm kiếm các tài liệu từ nước ngoài để hỗ trợ cho nghiên cứu của mình.
Hiện nay, nghiên cứu về đồng tính chủ yếu tập trung vào vấn đề việc làm và các khía cạnh khác, trong khi đó, các nghiên cứu về suy nghĩ của người không thuộc cộng đồng LGBT đối với cộng đồng này lại rất hạn chế Mặc dù vậy, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy một số tài liệu liên quan đến đồng tính Những tài liệu này chủ yếu đề cập đến LGBT và đối tượng nghiên cứu thường là người trong cộng đồng hoặc những người bên ngoài, nhưng đều có điểm chung là nêu bật vấn đề đối xử, phân biệt và nhận thức về LGBT cũng như đồng tính luyến ái.
Một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu về LGBT và đồng tính luyến ái ở Việt Nam là sự thiếu cởi mở và việc giấu kín xu hướng tính dục của cộng đồng này Nỗi sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về xu hướng tính dục và bản dạng giới đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc thu thập dữ liệu Hiện tại, vẫn chưa có số liệu thống kê chính thức nào về cộng đồng LGBT, khiến cho các thông tin chủ yếu được lấy từ các nghiên cứu gián tiếp liên quan đến HIV/AIDS và quan hệ tình dục.
Thông qua tìm hiểu, nhóm đã tập hợp được một số tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu như sau:
− Về tài liệu tiếng Việt:
Lương Thế Huy và Phạm Quỳnh Phương (2015) đã nghiên cứu về sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam trong tác phẩm "Có phải bởi vì tôi là LGBT?" do Viện nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trường iSEE xuất bản Nghiên cứu này làm nổi bật những thách thức mà cộng đồng LGBT phải đối mặt trong xã hội Việt Nam.
+ Đỗ Quỳnh Anh, Trần Ngọc Linh, Hoàng Ngọc An (2018) ỨNG
XỬ VỚI KHÁC BIỆT/ NGƯỜI “KHÁC LẠ”: Quan điểm của cộng đồng dân tộc thiểu số về người có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số,
Viện nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trường iSEE
+ Th.s Trần Thành Nam et al (2011) Báo cáo nghiên cứu: KỲ THỊ
VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ QUA CUNG CẤP DỊCH
VỤ Y TẾ CHO NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI, iSSE
− Về tài liệu nước ngoài:
Brian Mustanski's 2011 work, "Ethical and Regulatory Issues with Conducting Sexuality Research with LGBT Adolescents: A Call to Action for a Scientifically Informed Approach," highlights key ethical considerations in LGBT research While it may not delve deeply into homosexuality, it addresses critical issues such as discrimination and treatment across various dimensions of LGBT experiences This article serves as a foundation for a comprehensive analysis of the literature utilized in our research on LGBT topics.
Tài liệu nghiên cứu "Có phải bởi vì tôi là LGBT?" (2016) sẽ là nguồn tham khảo chính trong nghiên cứu của nhóm, vì nó cung cấp cái nhìn tổng quan về cộng đồng LGBT và vấn đề phân biệt đối xử mà họ phải đối mặt Nghiên cứu này nêu rõ các luận điểm quan trọng dựa trên kết quả khảo sát, phản ánh thực trạng phân biệt đối xử đối với cộng đồng LGBT tại Việt Nam.
Hơn 90% người tham gia khảo sát cho rằng kiến thức về LGBT vẫn chưa phổ biến tại Việt Nam Những hành vi như xúc phạm và chế giễu hàng ngày đã dẫn đến việc rất ít nhân vật công chúng dám công khai bản thân là LGBT.
“[ ] Bên cạnh gia đình, thì trường học là môi trường mà phần lớn người dưới 18 tuổi dành nhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hình
Cách tiếp cận và các lý thuyết áp dụng trong đề tài
2.2.1 Cách tiếp cận đề tài
Nhóm sẽ áp dụng phương pháp quy nạp để kiểm định tính đúng sai của các giả thuyết Bằng cách phân tích tài liệu hiện có và thực hiện các khảo sát, nhóm sẽ tổng hợp kết quả nghiên cứu nhằm khẳng định tính chính xác của các giả thuyết đã đặt ra.
2.2.2 Các lý thuyết được áp dụng
Trong nghiên cứu này, nhóm sẽ áp dụng ba lý thuyết chủ chốt từ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, bao gồm Triết học, Xã hội học và Tâm lý học, nhằm xây dựng nền tảng lý luận cho đề tài nghiên cứu.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong Triết học Marx – Lenin nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong đó vật chất có trước và là nguồn gốc quyết định ý thức Mặc dù ý thức không hoàn toàn thụ động, nó có khả năng tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Từ đó, chúng ta có thể xác định các yếu tố vật chất và cách chúng ảnh hưởng đến ý thức, cũng như ý thức nào hình thành hành vi của con người.
Lý thuyết hành động của Max Weber nhấn mạnh rằng hành động của con người không chỉ phản ứng với môi trường mà còn được chi phối bởi cảm xúc, suy nghĩ và tư tưởng Ông phân loại hành động xã hội thành bốn kiểu: hành động do cảm xúc, hành động truyền thống, hành động hợp lý về giá trị và hành động hợp mục đích Trong nghiên cứu về thái độ và nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái, hai kiểu hành động quan trọng là hành động truyền thống và hành động hợp lý về giá trị, vì nhận thức và thái độ của cá nhân có ảnh hưởng lớn đến hành động của họ Khi nhiều người trong xã hội chia sẻ nhận thức và thái độ tương tự, họ sẽ có những hành động xã hội đồng nhất.
Các hiện tượng tâm lý xã hội phản ánh sự tương tác giữa con người trong các môi trường như gia đình, nhà trường và cơ quan Sự tác động qua lại này điều chỉnh nhận thức và hình thành các hiện tượng tâm lý nhóm Những hiện tượng này có mối liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau, với diễn biến phức tạp.
Trang 19 được hình thành và phát triển có quy luật Khi xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng Chính trong quá trình đó nảy sinh nhiều các hiện tượng tâm lý xã hội khác nhau Các hiện tượng tâm lý xã hội bao gồm sáu hiện tượng cơ bản sau: tri giác xã hội, định kiến xã hội, ảnh hưởng xã hội, liên hệ xã hội, thái độ xã hội, dư luận xã hội và tin đồn.
Thao tác hóa khái niệm liên quan đến đề tài
2.3.1 Khái niệm về nhận thức
Trong tâm lý học, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan thông qua các giác quan và tín hiệu đặc biệt, với sự tham gia của não bộ Nhận thức là một hoạt động tâm lý phức tạp và đa dạng, cho phép con người hiểu biết về thế giới xung quanh, bao gồm cả những yếu tố bên ngoài và bên trong của sự vật, hiện tượng Nó không chỉ liên quan đến việc nhận thức những gì đã có và đang có, mà còn cả những gì sẽ xảy ra trong tương lai, cũng như khả năng khái quát và nhận diện quy luật của sự vật.
Hoạt động nhận thức được chia thành hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
− Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt động nhận thức
Giai đoạn này bao gồm hai quá trình: cảm giác và tri giác
Quá trình nhận thức lý tính phản ánh bản chất và khám phá cái mới, bao gồm hai yếu tố chính: tư duy và tưởng tượng Nhận thức được hiểu là quá trình cảm nhận và phân tích thông tin qua não bộ, giúp con người hình thành cái nhìn về thế giới xung quanh Giai đoạn nhận thức cảm tính bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin qua các giác quan, từ đó hình thành những thông tin cơ bản trong não bộ Sau khi có thông tin cơ bản, con người tiến đến nhận thức lý tính thông qua tư duy (tiếp thu và suy luận) và tưởng tượng (đặt giả thuyết).
2.3.2 Khái niệm về thái độ
Thái độ trong tâm lý học thể hiện các giá trị, tình cảm và hành vi của con người đối với sự vật, sự việc Nó là kết quả của nhận thức và được phân thành hai loại chính: thái độ tích cực và thái độ tiêu cực.
Nhận thức của con người ảnh hưởng đến thái độ đối với sự vật, sự việc Thái độ này sau đó dẫn đến các hành vi tương thích mà con người thể hiện Do đó, có thể khẳng định rằng nhận thức tác động đến việc hình thành thái độ, từ đó dẫn đến hành vi tương ứng.
2.3.3 Khái niệm về giới tính
Giới tính là khái niệm phản ánh đặc trưng sinh học của nam và nữ, bao gồm các yếu tố như cơ quan sinh dục, cơ chế sinh lý và vẻ bề ngoài của mỗi người.
Trang 20 trưng này chính là những chuẩn mực trong xã hội khi nói về một người nào đó Chẳng hạn như khi nói về một người nam, người ta sẽ nghĩ đến là một người to cao, có cơ bắp, có râu, giọng trầm, còn khi nói về một người nữ thì người ta sẽ nghĩ đến một người nhỏ con, có ngực, tóc dài, giọng nói nhẹ nhàng hơn so với người nam
2.3.4 Khái niệm về xu hướng tính dục
Xu hướng tính dục, hay thiên hướng tính dục, là khả năng mà một người cảm thấy hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục đối với người khác, có thể là khác giới hoặc cùng giới.
Xu hướng tính dục được chia thành ba loại như sau:
− Dị tính luyến ái: bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới
− Đồng tính luyến ái: bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục người đồng giới
− Song tính luyến ái: bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với cả hai giới
2.3.5 Khái niệm về bản dạng giới
Bản dạng giới là nhận thức tâm lý của mỗi người về giới tính của chính mình, không bị ràng buộc bởi giới tính sinh học Nó được thể hiện qua cách suy nghĩ và thể hiện giới tính của bản thân.
Cũng giống như xu hướng tính dục, bản dạng giới cũng được chia thành hai loại như sau:
2.3.6 Khái niệm về thể hiện giới
Thể hiện giới là cách mà một người bộc lộ bản dạng giới của mình thông qua các yếu tố như trang phục, giọng nói và cử chỉ Những đặc điểm này giúp nhận diện một người là “nữ tính”, “nam tính” hoặc “trung tính”.
LGBT là từ viết tắt chỉ cộng đồng những người thuộc đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và chuyển giới (Transgender) Đây là cộng đồng đại diện cho những người có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.
2.3.8 Khái niệm về đồng tính luyến ái Đồng tính luyến ái là một thuật ngữ dùng để chỉ việc bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người đồng giới Và trong đồng tính luyến ái bao gồm đồng tính luyến ái nam và đồng tính luyến ái nữ
2.3.9 Khái niệm về phân biệt đối xử
Phân biệt đối xử hay kỳ thị là thuật ngữ xã hội học chỉ sự đối xử không công bằng với cá nhân hoặc nhóm người dựa trên các tiêu chí nhất định.
Trang 21 khác biệt với cộng đồng nhằm loại bỏ hoặc hạn chế các thành viên của nhóm đó cơ hội được tiếp cận Các phương diện khác với cộng đồng thường là chủng tộc, giai cấp, giới tính, xu hướng tính dục,
Sự phân biệt đối xử được chia thành hai hình thức như sau:
Phân biệt đối xử trực tiếp là hình thức phân biệt xuất phát từ các yếu tố như chủng tộc, giai cấp, và giới tính, dẫn đến những hành động tiêu cực đối với các cá nhân thuộc nhóm bị phân biệt, như đánh đập và miệt thị, gây ra thiệt hại thực sự cho họ.
Phân biệt đối xử gián tiếp là hình thức phân biệt mà một người đặt ra các điều kiện hoặc hạn định cho tất cả mọi người, nhưng lại tạo ra khó khăn cho một nhóm người không đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu đó Hình thức này thường khó nhận biết hơn so với phân biệt đối xử trực tiếp vì nó không hiển hiện một cách rõ ràng.
Nội dung nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sẽ tập trung vào các vấn đề cơ bản nhất của đề tài, bao gồm những nội dung lý luận quan trọng.
− Hiểu biết của sinh viên về LGBT và đồng tính luyến ái
− Cảm nhận của sinh viên về đồng tính luyến ái trong xã hội hiện nay
− Thái độ của sinh viên về đồng tính luyến ái
− Yếu tố dẫn đến thái độ của sinh viên về đồng tính luyến ái
Mức độ thông cảm của sinh viên đối với người đồng tính luyến ái sẽ được nghiên cứu thông qua các lý thuyết và tình hình hiện tại Nhóm nghiên cứu sẽ thiết lập các câu hỏi và giả thuyết dựa trên khảo sát, từ đó tổng hợp kết quả để chứng minh các giả thuyết đã đặt ra Cuối cùng, nhóm sẽ đưa ra khuyến nghị cho các nghiên cứu sau này nhằm hỗ trợ và áp dụng hiệu quả.
Nhóm đã tổng hợp ra những câu hỏi cơ bản được đặc ra trong đề tài này như sau:
− Hiện nay sinh viên đã có cái nhìn như thế nào về LGBT cũng như đồng tính luyến ái?
− Nhân tố nào khiến sinh viên biết nhiều hơn về đồng tính luyến ái?
− Sinh viên có thái độ như thế nào (chấp nhận/không chấp nhận) về đồng tính luyến ái?
− Yếu tố nào đã và đang tác động vào suy nghĩ, từ đó hình thành nên thái độ của sinh viên đối với đồng tính luyến ái?
Trong việc thiết kế bảng hỏi, nhóm sẽ thiết kế theo dạng trắc nghiệm khách quan theo dàn ý như sau:
− Mức độ hiểu biết về đồng tính luyến ái (Hiểu rõ/Không quá rõ/Không biết)
− Sự hiểu biết về đồng tính luyến ái thông qua phương tiện nào (Mạng xã hội/Sách báo/Phim ảnh/Thực tế/ )?
− Mức độ xuất hiện đồng tính luyến ái trên các phương tiện truyền thông tạo cảm giác như thế nào (Hiểu biết nhiều hơn/Không quan tâm)?
− Có sự tiếp xúc với những người đồng tính luyến ái bao giờ chưa (Có/Không)?
− Qua cảm nhận cá nhân, có ý kiến như thế nào về người đồng tính luyến ái (Ghê tởm/Cảm thông/Không có ý kiến)?
− Đã từng có/chứng kiến các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử đối với những người đồng tính luyến ái chưa (Có/Chưa)?
− Nguyên nhân tác động đến các suy nghĩ về đồng tính luyến ái của bản thân (Các định kiến/Nhận thức bản thân/Tiếp xúc trực tiếp)
− Theo quan điểm cá nhân, LGBT nói chung và đồng tính luyến ái nói riêng có nên được chấp nhận ở Việt Nam không? Vì sao?
Nhóm sẽ đặt ra các câu hỏi chính và thông qua nghiên cứu, phân tích, sẽ bổ sung thêm một số câu hỏi liên quan nhằm nâng cao độ chính xác và tính khách quan cho đề tài nghiên cứu.
Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào các nội dung trên, nhóm đã tổng hợp được các giả thuyết sau:
Sinh viên ngày nay có kiến thức phong phú về LGBT và đồng tính luyến ái, chủ yếu nhờ vào các phương tiện truyền thông như mạng xã hội, báo chí và phim ảnh.
− Đa phần sinh viên hiện nay có cái nhìn thoáng hơn về đồng tính luyến ái so với trước đây
Các yếu tố ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động phân biệt đối xử của sinh viên đối với người đồng tính luyến ái chủ yếu xuất phát từ tâm lý xã hội và các định kiến về đồng tính luyến ái.
Các giả thuyết được nêu ra ở trên chỉ mang tính chất tham khảo và chưa được kiểm chứng về độ chính xác Để các giả thuyết này có thể trở thành lý thuyết, cần phải tiến hành khảo sát và phân tích tài liệu trong tương lai.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả nghiên cứu
3.1.1 Tổng quan quá trình khảo sát và nghiên cứu
Sau khi hoàn thành đề cương nghiên cứu, nhóm đã tiến hành khảo sát thực tế để thu thập dữ liệu, đồng thời nghiên cứu các tài liệu hiện có nhằm bổ sung thông tin cho cuộc nghiên cứu.
Nhóm đã thực hiện khảo sát qua Google Form từ ngày 10/11/2019 đến 02/12/2019, được quảng bá trên Facebook để thu hút người tham gia Mục tiêu chính là bảo mật danh tính người khảo sát, giúp họ trả lời một cách khách quan Việc sử dụng bảng khảo sát điện tử không chỉ thuận tiện mà còn giảm thiểu lãng phí in ấn.
Sau khi đóng khảo sát, đã có nhiều người tham gia khảo sát và nhóm đã thu được
Sau khi thực hiện khảo sát với 160 kết quả, nhóm đã quyết định loại bỏ những kết quả không phù hợp với tiêu chí khảo sát sinh viên Kết quả cuối cùng là 150, trong đó có 65 người tham gia hoàn thành bảng khảo sát.
Biểu đồ 1: Số lượng người tham gia khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Dựa trên các mục tiêu, nội dung và câu hỏi nghiên cứu, nhóm đã xây dựng bảng hỏi phù hợp, được trình bày trong bảng dưới đây.
Số người hoàn thành khảo sát
Số người chưa hoàn thành khảo sát
Số khảo sát không hợp lệ
Bảng 2: Danh sách câu hỏi được sử dụng trong khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Số lượng tham gia trả lời (số người/150)
Câu 1 Giới tính của bạn là: Trắc nghiệm 150 100
Câu 2 Bạn là sinh viên trường nào? Tự luận ngắn 150 100
Câu 3 Bạn hiện là sinh viên năm: Trắc nghiệm 150 100
Câu 4 Bạn xuất thân từ: Trắc nghiệm 150 100
Câu 5 Bạn có hiểu gì về từ "LGBT" hay "đồng tính luyến ái" không?
Câu 6 Bạn hiểu như thế nào là LGBT? Tự luận ngắn 110 73.33
Câu 7 Bạn hiểu như thế nào là đồng tính luyến ái?
Câu 8 Bạn đã nghe đến các từ này thông qua yếu tố nào?
Bạn đã từng tiếp xúc (nói chuyện, làm việc, ) với những người đồng tính luyến ái chưa?
Bạn có thái độ như thế nào về những người đồng tính luyến ái?
Yếu tố nào khiến bạn có các thái độ như trên đối với những người đồng tính luyến ái?
Bạn đã từng có hay từng chứng kiến các hành vi phân biệt đối xử hay kỳ thị những người đồng tính luyến ái chưa?
Câu 13 Nếu đã từng thì là các hành vi nào?
Bạn đã từng nghe đến những câu mang tính chất miệt thị nào về những người đồng tính luyến ái?
Câu 15 Theo bạn, đồng tính luyến ái có phải là bệnh không?
Cộng đồng LGBT, đặc biệt là người đồng tính luyến ái, hiện nay ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể so với trước kia Sự chấp nhận và hiểu biết về giới tính và bản dạng giới ngày càng tăng, giúp tạo ra một môi trường thân thiện hơn cho những người thuộc cộng đồng này Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức và định kiến xã hội cần phải vượt qua để đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho tất cả mọi người.
Sự xuất hiện ngày càng phổ biến của những người đồng tính trên các phương tiện truyền thông như báo chí, phim ảnh và mạng xã hội đang thu hút nhiều sự chú ý Bạn có cảm nghĩ gì về điều này?
Theo bạn thì cộng đồng LGBT nói chung và đồng tính luyến ái nói riêng hiện nay ở Việt Nam có nên được chấp nhận không?
3.1.3 Đặc điểm của những người tham gia khảo sát
Kết quả khảo sát cho thấy từ câu 1 đến câu 4 là những câu hỏi nhằm thu thập thông tin từ người tham gia Dựa vào bốn câu hỏi này, chúng tôi đã thu thập được các tỷ lệ khác nhau về người tham gia khảo sát, bắt đầu với giới tính, được phân chia thành ba nhóm: “Nam”.
Trong tổng số 150 người tham gia khảo sát, có 53 nam (35.33%), 93 nữ (62%) và 4 người chọn giới tính khác (2.67%) Biểu đồ cho thấy nữ giới có xu hướng tham gia khảo sát nhiều hơn so với nam giới.
Biểu đồ 2: Giới tính của người tham gia khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Trong một cuộc khảo sát với 150 sinh viên từ nhiều trường đại học và cao đẳng khác nhau, có 85 sinh viên (56.67%) đến từ các trường thuộc khối ĐHQG và 64 sinh viên (43.33%) từ các trường khác Trong số 85 sinh viên khối ĐHQG, phần lớn đến từ bốn trường chính: Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Bách khoa và Đại học Kinh tế - Luật Đặc biệt, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có số lượng sinh viên tham gia khảo sát cao nhất với 72 sinh viên, chiếm khoảng 83.72% trong tổng số sinh viên khối ĐHQG tham gia.
Biểu đồ 3: Trường đại học mà sinh viên tham gia khảo sát đang theo học
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
43.33% Đại học Khoa học Tự nhiên Đại học Bách Khoa Đại học Kinh tế - Luật Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trong tổng số 150 sinh viên, có 51 sinh viên năm nhất (34%), 63 sinh viên năm hai (42%), 20 sinh viên năm ba (13.33%) và 10 sinh viên năm tư (6.67%).
6 sinh viên hiện đã tốt nghiệp (khoảng 4%) tham gia vào cuộc khảo sát này
Biểu đồ 4: Trình độ của sinh viên tham gia khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát xuất thân của sinh viên, trong đó có 94 sinh viên đến từ các vùng nông thôn, chiếm 62.67% tổng số Số còn lại là sinh viên đến từ khu vực thành thị như thị trấn, thị xã và thành phố.
Biểu đồ 5: Xuất thân của sinh viên tham gia khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Năm nhất Năm hai Năm ba Năm tư Đã tốt nghiệp
Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Mức độ nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái
Nhóm đã khảo sát mức độ nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái thông qua các câu hỏi từ 5 đến 8 Câu hỏi 5 tập trung vào sự hiểu biết của sinh viên về LGBT và đồng tính luyến ái với câu hỏi: “Bạn có hiểu gì về từ 'LGBT' hay 'đồng tính luyến ái' không?” Phương pháp trả lời được sử dụng là thang điểm từ 1 đến 5, từ Không hiểu đến Hiểu rất rõ Kết quả khảo sát đã thu được 150 phản hồi và được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 3: Mức độ hiểu của sinh viên về LGBT và đồng tính luyến ái
Mức độ Tần suất Phần trăm
Theo bảng số liệu, phần lớn sinh viên tham gia khảo sát đều nhận thức về các thuật ngữ “LGBT” và “đồng tính luyến ái”, với 80% sinh viên cho rằng họ có hiểu biết về chúng Tuy nhiên, 32.67% sinh viên chỉ hiểu ở mức độ cơ bản, tức là họ nắm rõ nhưng không quá chuyên sâu Chỉ có 20% sinh viên cho rằng họ không hiểu các thuật ngữ này.
Nhóm đã kiểm tra mức độ hiểu biết của sinh viên về các thuật ngữ này thông qua câu 6 và câu 7 Khái niệm về LGBT và đồng tính luyến ái được trình bày lại như sau:
LGBT là từ viết tắt chỉ cộng đồng những người thuộc đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và chuyển giới (Transgender) Đây là cộng đồng đại diện cho những người có xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.
Đồng tính luyến ái là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn tình cảm và tình dục giữa những người cùng giới, bao gồm cả đồng tính luyến ái nam và nữ.
Tại câu 6, 110 người tham gia đã trả lời câu hỏi, với phần lớn câu trả lời đúng về khái niệm LGBT Hầu hết sinh viên hiểu rằng LGBT là từ viết tắt chỉ cộng đồng thuộc xu hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sinh viên nhầm lẫn giữa các khái niệm trong LGBT, bao gồm đồng tính luyến ái và song tính.
Trang 29 luyến ái và chuyển giới) với đồng tính luyến ái Họ vẫn nghĩ rằng LGBT là chỉ có những người đồng tính luyến ái
Trong khảo sát, 108 người tham gia câu 7 đã cho thấy kết quả tương tự như câu 6, với phần lớn hiểu đúng về khái niệm đồng tính luyến ái, mặc dù một số sinh viên vẫn chỉ nhận thức rằng nó chủ yếu liên quan đến nam giới Câu 8 sử dụng hình thức hộp kiểm để thu thập thông tin về nguồn tiếp nhận kiến thức LGBT của sinh viên, với 144 người tham gia Kết quả cho thấy mạng xã hội là nguồn thông tin chính, với 94.44% sinh viên biết đến các thuật ngữ và thông tin liên quan đến LGBT qua các nền tảng mạng xã hội lớn Điều này cho thấy rằng mạng xã hội hiện nay là công cụ hiệu quả nhất trong việc truyền đạt và quảng bá thông tin Trong thời đại 4.0, hầu hết mọi người đều sở hữu smartphone và có ít nhất một tài khoản mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram, hay Twitter, giúp họ cập nhật thông tin nhanh chóng và phong phú, bao gồm cả thông tin về LGBT và đồng tính luyến ái.
Ngoài mạng xã hội, truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về LGBT và đồng tính luyến ái cho sinh viên Truyền miệng được hiểu là những trải nghiệm thực tế được chia sẻ từ người này sang người khác Theo khảo sát, 65.28% sinh viên cho biết họ đã biết đến các thuật ngữ và thông tin liên quan đến LGBT thông qua yếu tố truyền miệng.
Phim ảnh, báo chí, sách và truyện là những phương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của sinh viên về LGBT và đồng tính luyến ái Theo khảo sát, 65.97% sinh viên nhận thông tin về LGBT qua phim ảnh, cho thấy đây là công cụ quảng bá hiệu quả Nhiều nhà sản xuất phim và web drama đã tích hợp các yếu tố LGBT vào nội dung của họ, tuy nhiên, không phải tất cả đều phản ánh đúng hình ảnh của cộng đồng này Một số sản phẩm truyền thông đã bóp méo hình ảnh LGBT, dẫn đến sự sai lệch thông tin và thái độ tiêu cực từ người xem.
Biểu đồ 6:Yếu tố mang các thông tin về LGBT và đồng tính luyến ái đến sinh viên tham gia khảo sát
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
3.2.2 Thái độ của sinh viên về đồng tính luyến ái
Về thái độ của sinh viên, nhóm đã khảo sát sinh viên ở các câu 9, câu 10 và câu
17 Đầu tiên là ở câu 9, nhóm cũng đã đặt ra câu hỏi về việc tiếp xúc với những người đồng tính luyến ái (nói chuyện, làm việc, ) của sinh viên và đã thu được 150 kết quả Trong 150 câu trả lời, có đến 87.33% sinh viên cho rằng đã từng tiếp xúc với những người đồng tính luyến ái, cách tiếp xúc chủ yếu thông qua làm việc chung, nói chuyện với nhau, Việc đã từng tiếp xúc hay chưa cũng sẽ hình thành nên suy nghĩ cũng như thái độ của sinh viên về những người đồng tính
Biểu đồ 7: Tỉ lệ sinh viên tham gia khảo sát chưa từng và đã từng tiếp xúc với những người đồng tính luyến ái
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Tại câu 10, nhóm nghiên cứu đã khảo sát thái độ của sinh viên về đồng tính luyến ái, phân loại thành 5 mức độ từ 1 (Rất khó chịu) đến 5 (Cảm thông) Kết quả thu được là 149 câu trả lời, được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 4: Mức độ cảm thông đối với những người đồng tính luyến ái của những sinh viên tham gia khảo sát
Mức độ Tần suất Phần trăm
Trong một khảo sát, 81.88% sinh viên cho biết họ có thái độ cảm thông với những người đồng tính luyến ái, trong đó 54.36% thể hiện sự cảm thông rõ rệt Chỉ 9.39% sinh viên bày tỏ thái độ khó chịu với cộng đồng này, cho thấy phần lớn sinh viên hiện nay có sự cảm thông nhất định Ngoài ra, khoảng 10.74% sinh viên có thái độ trung lập, không ghét bỏ nhưng cũng chưa hoàn toàn chấp nhận những người đồng tính luyến ái.
Trong khảo sát về thái độ giới tính, nhóm nghiên cứu chia thành ba nhóm: Nam (52 người), Nữ (93 người) và Khác (4 người) Khoảng 2/3 sinh viên nam thể hiện sự cảm thông với người đồng tính luyến ái, nhưng 17.31% trong số họ vẫn có thái độ khó chịu Ngược lại, 88.17% sinh viên nữ cho thấy sự cảm thông từ một phần đến hoàn toàn với người đồng tính luyến ái, trong đó hơn một nửa hoàn toàn ủng hộ Chỉ có 2.15% sinh viên nữ có thái độ khó chịu, cho thấy nữ giới thường có sự thấu hiểu và cảm thông hơn so với nam giới.
Biểu đồ 8: Mức độ cảm thông của sinh viên tham gia khảo sát đối với những người đồng tính luyến ái theo giới tính
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của con người về cộng đồng LGBT, đặc biệt là những người đồng tính luyến ái Hiện nay, hình ảnh của họ xuất hiện đa dạng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, từ tích cực đến tiêu cực Để hiểu rõ hơn về thái độ của sinh viên đối với sự hiện diện này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và thu thập 147 kết quả về mức độ thoải mái của họ khi thấy những người đồng tính luyến ái xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Kết quả khảo sát cho thấy sự phân bổ từ "Rất không thoải mái" đến "Thoải mái", được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 5 cho thấy mức độ thoải mái của sinh viên tham gia khảo sát về sự xuất hiện của những người đồng tính luyến ái trên các phương tiện truyền thông hiện nay.
Nguồn: KHẢO SÁT NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG
TÍNH LUYẾN ÁI TRONG GIỚI TRẺ HIỆN NAY
Mức độ Tần suất Phần trăm
Rất khó chịu Khó chịu Bình thường Cảm thông một phần Cảm thông