1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản thực tiển tại tỉnh cà mau

97 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản thực tiễn tại tỉnh Cà Mau
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Quản lý môi trường
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 12,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận vănthạc sĩ; Thực hiện pháp luật môi trường ở t

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn 5

3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 5

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Tính mới và những thực tiễn đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục nội dung của luận văn 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NUÔI TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN9 1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của môi trường 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường 12

1.1.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta 13

1.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 16

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 20

1.2.3 Vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở Việt Nam 30

1.2.4 Các yếu tố đảm bảo cho việc thực thi pháp luật về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản 33

1.3 Kinh nghiệm thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam 37

Chương 2 42

Trang 2

CÀ MAU 422.1 Khái quát tình hình nuôi trồng và chế biến thủy sản tại tỉnh Cà Mau 422.2 Thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản tại địa bàn tỉnh Cà Mau 452.2.1 Kết quả đạt được: 452.2.2.Khó khăn vướng mắc trong hoạt động bảo vệ môi trường 532.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong hoạt động bảo vệ môi trường 58Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NUÔI TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU 643.1 Tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 643.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau 663.2.1 Môị số giải pháp hoàn thện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 663.2.2 Giải pháp cho việc thực thi thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản 75KẾT LUẬN 86DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Hiện nay bảo vệ môi trường (BVNT) là mục tiêu hàng đầu của mỗiquốc gia hướng đến.Một đất nước muốn phát triển bền vững thì yếu tố môitrường phải được quan tâm đúng mức.Ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn

đề mang tính toàn cầu, và Việt Nam không phải là ngoại lệ.Môi trường ảnhhưởng rất lớn đến đời sống của con người, của sinh vật vàkinh tế, văn hoá, xãhội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Đặc biệt trong thời kỳ đấtnước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nền kinh tế trithức thì bảo vệ môi trường càng trở nên cấp bách Môi trường nói chungkhông chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn là của tương lai, chúng ta phải quantâm và chủ động giải quyết nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước.Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã giành đượcnhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bướcxây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên,cùng với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn

đề môi trường đã và đang đặt ra những thách thức lớn Bảo vệ môi trườnghiện nay là nghĩa vụ của tất cả các cá nhân, tổ chức ở nước ta và được phápluật ghi nhận và bảo vệ Điều 50 Hiến pháp 2013 quy định:

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 1

Hiến pháp 2013 ghi nhận ở Điều 63 như sau:

“Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu

Trang 4

quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”2

Bên cạnh đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày

15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [6];Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) do Chính phủ ban hành 3[13],chính là những tiền đề cơ bản khẳng định sự cần thiết của hoạt động BVMT ởnước ta trong tiến trình hội nhập và phát triển Ngoài ra, trong các văn bảnkhác như Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 [47]; Bộ luật hình sự 2015, Luật

xử phạt vi phạm hành chính [45]; (ghi chú như vậy cần nhất quán và có ghi nguồn ở cuối, thứ tự 47) Bộ luật dân sự 2015 [49]và các Nghị định, Thông tư

hướng dẫn thi hành,… là tiền đề để nhà nước thống nhất quản lý về công tácBVMT nói chung cũng như cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luậtbảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Phải nhìn nhận khách quan rằng từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hànhchủ trương và pháp luật bảo vệ môi trường cho đến nay, chúng ta đã triển khaithực hiện chủ trương và luật rộng khắp trong cả nước Chính quyền các cấp,các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và cộng đồng ngày càng chú

ý hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi trồng vàchế biến thủy sản 4

2 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb Sự thật, Hà Nội

3 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà Nội

4 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà

Trang 5

Tại tỉnh Cà Mau, trên cơ sở đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước về bảo vệ môi trường, chính quyền các cấp của tỉnh đã banhành các văn bản và triển khai thi hành pháp luật bảo vệ môi trường tronglĩnh nuôi trồng và chế biến thủy sản Nhìn chung, đã đạt được một số kết quảnhất định, góp phần nâng cao trách nhiệm, ý thức của cộng đồng và xã hộitrong bảo vệ môi trường Nhưng công tác thực hiện pháp luật bảo vệ môitrường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản còn bộc lộ nhiều hạnchế, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bềnvững Chính vì vậy cần được tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoànthiện chính sách, pháp luật về vấn đề BVMT nói chung và trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến thủy sản nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tácngăn ngừa, xử lý vi phạm và bảo vệ môi trường ngày càng tốt hơn Xuất phát

từ tình hình nói trên, tác giả chọn đề tài “Thực thi pháp luật Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản- thực tiển tại tỉnh Cà Mau” làm chủ đề luận văn thạc sĩ luật học, với mong muốn góp phần hoàn

thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trênđịa bàn tỉnh Cà Mau trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong giaiđoạn hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản là một trong những nội dungrất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển bền vững ở nước ta.Đồng thời nghiên cứu lĩnh vực thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến thủy sản thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lýluận và chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Lĩnh vựcBVMT đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cậpmột cách trực tiếp hoặc lồng ghép những nội dung liên quan Các công trình

Trang 6

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam (Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận văn

thạc sĩ); Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định (Nguyễn Thị Thu

Hường, 2008, Luận văn thạc sĩ) [23];Pháp luật về bảo vệ môi trường qua thực tiễn tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở tỉnh Cà Mau (Nguyễn Đức Đồng 2018, luận văn thạc sĩ luật học)Đinh Thị Mai Phương (2003), “Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường của pháp luật Việt Nam”, bài viết trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp), Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012);Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020)

NXB Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – các tác giả Hồ Viết Tiến – Từ Văn

bình – Đặng Thị Mỹ Ngân; Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2014); Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam(Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tóm tắt, 2017),Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam(Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 10/2015);Một số vấn đề pháp lý đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Thanh tra, số 01/2016); Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 01/2017);Kế hoạchsố: 60/KH- UBND Hành động phát triển ngành tôm tỉnh cà mau đến năm 2025ngày 15/ 06/2018…là những công trình nghiên cứu, các bài viết trên ít

nhiều đều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường ở nước ta dưới mọi góc nhìncủa đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu triểnkhai trực tiếp về nội dung thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản tại một địa phương cụ thể còn khá khiêm tốn Tác giả dự

Trang 7

kiến nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn vềvấn đề thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủysản trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn điều tra hiện nay Do vậy, chưa tìmthấy bất kỳ một công trình khoa học nào trùng lặp với đề tài luận văn mà tácgiả lựa chọn.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Những năm trở lại đây, vấn đềô nhiễm môi trường và bảo vệ môitrường luôn được xã hội quan tâm Chọn lĩnh vực thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản làm đối tượng nghiên cứu,chúng ta có điều kiện đi sâu phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam

và thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc cần thiết nâng cao hiệuquả xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BVMT ở Việt Nam hiện nay.Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về thực thi pháp luậtBVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, tìm hiểu và đánh giáđúng tình hình thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong những năm qua, Luận văn đề xuấtnhững phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nângcao hiệu quả thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển bền vững kinh tế - xã hội tại

Cà Mau nói riêng và cả nước nói chung

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luậnvăn phải giải quyết các vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh

vực nuôi trồng và chế biến thủy sản Trong đó nêu lên khái niệm, giải thích vì

Trang 8

sao phải thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủysản và trình bày yêu cầu và các yếu tố đảm bảo thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh

vực nuôi trồng và chế biến thủy sản được quy định trong hệ thống văn bản phápluật Việt Nam hiện hành

Ba là, nêu và phân tích thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh

vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau, trong đó chútrọng các vi phạm đã xảy ra Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau Tìmhiểu các khiếm khuyết của pháp luật thực định về thực thi pháp luật BVMTtrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, đồng thời tìm hiểu các nguyênnhân của các khiếm khuyết đó Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoànthiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vựcnuôi trồng và chế biến thủy sản trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận pháp luật chuyên sâu về thực thipháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở Việt Namhiện nay và thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật thực thi phápluật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh

Cà Mau

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các văn bản pháp luật vềBVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản: Bộ Luật Hình sự, Bộluật dân sự, Luật bảo vệ môi trường và các Nghị định, Thông tư hướng dẫnthực hiện Nội dung luận văn tác giả giới hạn trong vấn đề lý luận về thực thipháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản được ghinhận tại pháp luật của Việt Nam Phạm vi được giới hạn khảo sát của đề tài

Trang 9

luận văn là thực tiễn áp dụng pháp luật về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2015cho đến nay.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xãhội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài.Các phương pháp chủ yếu bao gồm: Phương pháp phân tích quy phạm đểđánh giá quy phạm, tính tích cực, bất cập, hướng sửa đổi hoàn thiện, tìm kiếm

ý tưởng của các nhà làm luật về hoàn thiện pháp luật; phương pháp phân tích

vụ việc để đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về BVMT trong lĩnh vựcnuôi trồng và chế biến thủy sản…; phương pháp phân loại pháp lý để nhậndạng các loại vi phạm và hình thức xử lý vi phạm; phương pháp so sánh phápluật; phương pháp mô tả quy phạm và mô tả vụ việc nhằm so sánh pháp luậtViệt Nam với một số nước về pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng

và chế biến thủy sản; phương pháp mô hình hoá và điển hình hoá các quan hệ

xã hội nhằm giải quyết những vấn đề về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

6 Tính mới và những thực tiễn đóng góp của đề tài

Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công

bố trong nước và quốc tế, luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tínhmới như sau:

Phân tích, đưa ra các khái niệm tổng quát về pháp luật bảo vệ môitrường và thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản như: Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết phải ban hành các quy định

về thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ởnước ta hiện nay

Trang 10

Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ củaviệc áp dụng các quy định của pháp luật về thực thi pháp luật BVMT tronglĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản; Đánh giá toàn diện tình hình thực thipháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàntỉnh Cà Mau Tìm ra các thiếu sót của hệ thống pháp luật về bảo vệ môitrường và các nguyên nhân của các thiếu sót đó Đề xuất một số phươnghướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thipháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thờigian tới.

7 Bố cục nội dung của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảothì nội dung luận văn được chia thành ba chương, cụ thể là:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực thi pháp luật BVMT trong

lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi

trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BVMT trong

lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC NUÔI

Trang 11

TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN

1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của môi trường

Hiện nay khái niệm môi trường được nhìn nhận dưới các góc độ khácnhau Phần lớn các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Môi trường chính là tậphợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống Tuynhiên một số nhà nghiên cứu cho rằng dùng thuật ngữ môi trường được hiểutheo nghĩa như trên xét dưới góc độ nghiên cứu và pháp lý là không chínhxác

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về môi trường Có thể kể đến một sốquan điểm như sau: Theo định nghĩa của S.V.Kalesnik (1959, 1970) môitrường (được định nghĩa với môi trường địa lí) “chỉ là một bộ phận của tráiđất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người cóquan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cáchgần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”5 Trong tàiliệu “môi trường và tài nguyên Việt Nam đã đưa ra định nghĩa (viết câu) Trong tàiliệu “môi trường và tài nguyên Việt Nam đã đưa ra định nghĩa môi trường làmột nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý,thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội" Như vậy, có thể6

nhận thấy khái niệm về môi trường xét theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tàinguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xãhội Đối với nghĩa hẹp thì môi trường bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội

5 5 S.V.Kalesnik (1959, 1970) môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí)

6 Nguyễn Ngọc Sinh (1984), Môi trường và tài nguyên Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

Trang 12

trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người được nhận và cần đượcbảo vệ.7

Xét dưới góc độ ngôn ngữ theo từ điển Tiếng Việt ghi nhận: Môi trường

là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệthống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tìnhtrạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thốngđang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xétcần phải có tính tương tác với hệ thống đó Hoặc môi trường là tập hợp tất cảcác yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người

và tác động đến các hoạt động sống của con người như: Không khí, nước, độ

ẩm, sinh vật, xã hội loài người… Môi trường là nơi xảy ra hiện tượng hoặc8

diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng quá trình ấy hoặc môitrường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người haymột sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy.Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiệnhoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanhkhách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng 9[29,tr.790] [29, tr.790] – Cách trích dẫn nên nhất quán – hoặc là để footnote, hoặc là đểtrong ngoặc vuông số thứ tự tài liệu cuối bài hoặc là để tên tác giả, năm trong ngoặcđơn và có trong tài liệu tham khảo cuối bài Cách thứ 3 bây giờ thông dụng nhất)

Những cách hiểu về môi trường như trên có đặc điểm chung là xem xét môitrường là một hệ thống có sự tác động đến con người Theo cách hiểu thôngthường, khái niệm về môi trường đa phần không quan tâm đến tác động của

nó là gì? Trên thực tế những tác động đó giữ vai trò như thế nào đối với sự

7 Lê Kim Nguyệt (2014), “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra”,

Tạp chí dân chủ và pháp luật.

8 Trung tâm từ điển học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng

9 Nhóm Ngân hàng thế giới (2017)“Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam”, Báo cáo tóm tắt.

Trang 13

phát triển của xã hội hiện nay? Từ đó đưa ra một định nghĩa mang tính chấttương đối về môi trường nói chung Tuy nhiên, với định nghĩa của Từ điểnTiếng Việt không chỉ quan tâm đến bản chất của môi trường gồm những yếu

tố nào mà còn quan tâm đến tác động của nó đến con người và xã hội Nhưvậy, dưới một góc độ nào đó, việc định hình một cách cơ bản khái niệm vềmôi trường là điều hoàn toàn cần thiết, để từ đó, có thể áp dụng vào các quyđịnh của pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu là quản lý một cách có hiệu quả

từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Dưới góc độ pháp lý, theo định nghĩa của UNESCO (1981) môi trườngcủa con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do conngười tạo ra (tập quán, niềm tin) trong đó con người sống và lao động, khaithác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu củamình10 Như vậy UNESCO đã lần đầu đưa ra một định nghĩa nhằm tạo nềntảng cho việc hình thành một khái niệm cơ bản về môi trường của tổ chứcGiáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc Từ định nghĩa trên việc vậndụng pháp điển hóa thành các quy định của mỗi quốc gia là khác nhau nhằmphù hợp với sự nhìn nhận, văn hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 14

Thứ nhất, môi trường được xem là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên

và nhân tạo Đây là một đặc điểm mang tính đặc trưng của môi trường Yếu tố

tự nhiên là yếu tố mang tính chất sẵn có, được hình thành và không chịu sựtác động của con người Yếu tố nhân tạo là có sự tác động của con người, hiểumột cách cụ thể đó là do con người hình thành và phát triển Các yếu tố tựnhiên và nhân tạo có sự tác động qua lại, từ đó hình thành nên một hệ thống

có sự tác động vào các đối tượng ở bên trong nó

Thứ hai, quá trình tác động vào sự tồn tại và phát triển của các đốitượng Việc các yếu tố tự nhiên và nhân tạo tác động vào sự tồn tại và pháttriển của những đối tượng bên trong nó là điều kiện cần thiết, thể hiện vai tròquan trọng của yếu tố môi trường Đồng thời, khẳng định tính tất yếu rằng tất

cả mọi sự vật hiện tượng luôn luôn chịu sự tác động của môi trường dù ít haynhiều hoặc dưới góc độ tự nhiên hoặc nhân tạo

Thứ ba, chủ thể bị tác động đó là con người và sinh vật Môi trường tácđộng đến sự phát triển và tồn tại của con người và sinh vật Tất cả các sinh vật

và con người luôn luôn chịu tác động của yếu tố môi trường và không cótrường hợp nào là ngoại lệ Yếu tố môi trường tác động vào các chủ thể từ khihình thành và phát triển cũng như tồn tại của các chủ thể đó Đây chính là đặctrưng nổi bật của yếu tố môi trường so với các yếu tố khác trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của loài người.12

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà là củatoàn xã hội Hoạt động BVMT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải đượcpháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật Mặc dù vậy, hiện nay kháiniệm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn còn những cách hiểu khác nhau

Trang 15

Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hànhcác quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT Nhận thức rõ vai trò quan trọngcủa hoạt động bảo vệ môi trường, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đãhoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điềuchỉnh Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng vănbản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đãđược xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao Thông quahoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bảnpháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường đãtạo nên nền tảng pháp lý cơ bản trong hoạt động BVMT, theo hướng pháttriển bền vững Dựa trên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luậtbảo vệ môi trường như sau: Pháp luật bảo vệ môi trường là tập hợp các vănbản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủthể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai thác, sử dụng hoặc tác độngđến môi trường (thiếu chủ ngữ) Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các

tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường Pháp luật bảo vệ môitrường được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tạinhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnhcho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngànhhay chính quyền địa phương ban hành

1.1.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong côngtác bảo vệ môi trường được thể chế hoá thành pháp luật bảo vệ môi trường –trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiệnnay Trên phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật bảo vệ môi trường cócác vai trò sau:

Trang 16

Một là, thông qua việc hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ môitrường sẽ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vấn đề này Những quyđịnh của pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước đốivới lĩnh vực bảo vệ môi trường chính là cơ sở pháp lý cơ bản quy định về cơcấu, tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môitrường (lập luận vòng quanh) Việc hình thành hệ thống cơ quan quản lý môitrường nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chứcthống nhất từ Trung ương đến địa phương Thông qua việc quy định chứcnăng của mình, các cơ quan trên thực hiện hoạt động kiểm tra giám sátthường xuyên các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bảo vệ môi trường,kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý những vi phạm đối với lĩnh vực màmình quản lý.13

Hai là, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò to lớn, góp phần quan trọngtrong việc đảm bảo thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệmôi trường và là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước nóichung Bằng việc quy định cụ thể nội dung bảo vệ môi trường tại các văn bảnpháp lý hiện hành là tiền đề cho các hoạt động bảo vệ môi trường Hệ thốngvăn bản pháp lý có vai trò không thể thay thế được trong việc đảm bảo thựchiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo vệ môi trường, đồng thờiđây cũng là cơ sở quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quanquản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT

Ba là, đối với xã hội, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò đặc biệt to lớntrong xây dựng chiến lược phát triển bền vững của quốc gia Môi trường đượcbảo vệ tốt là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững và ngược lại Việc ban hànhcác quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi

13 Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền

Trang 17

trường là cơ sở pháp lý cho việc cơ quan nhà nước thực hiện chức năng thanhtra, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môitrường Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định

kỳ hoặc đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử

lý vi phạm được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cónhững hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của pháp luật bảo vệ môitrường

Bốn là, bảo vệ môi trường là lĩnh vực rộng lớn nên hoạt động QLNN vềbảo vệ môi trường tác động nhiều đến kinh tế và xã hội Việt Nam hiện nayđang thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nên cùng với quátrình xây dựng thì việc bảo vệ môi trường ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ýnghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng Đặt hoạt động QLNN về bảo vệ môitrường trong quá trình xây dựng và phát triển lên hàng đầu và trở thành nhiệm

vụ có ý nghĩa chiến lược, phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay.Năm là, pháp luật bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong việcnâng cao nhận thức của xã hội trong lĩnh vực này Những quy định về bảo vệmôi trường có vai trò trong việc giáo dục, truyền thông để từ đó góp phầnnâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề xây dựng và phát triển trong môitrường lành mạnh, an toàn và trong sạch (thiếu chủ ngữ) Góp phần quan trọngtrong việc phát triển nền kinh tế - xã hội một cách bền vững ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay

Sáu là, pháp luật về BVMT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chocon người được sống trong môi trường trong lành Để tồn tại và phát triển conngười đã tác động nhiều vào thiên nhiên để phục vụ cho các nhu cầu củamình Các cuộc cách mạnh KHKT với nhiều thành quả quan trọng đã làmcuộc sống con người có nhiều biến đổi Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảtích cực thì con người cũng đứng trước những thách thức to lớn như biến đổi

Trang 18

khí hậu, nước biển dâng, núi lửa phun trào, ÔNMT… ảnh hưởng không nhỏđến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội củaquá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, việc tập trung xây dựng và pháttriển nền kinh tế đã để lại những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp lên môi trườngsống nói chung Do đó, nhận thức được vai trò quan trọng của việc hình thành

và phát triển một môi trường xanh – sạch – đẹp không chỉ riêng ở nước ta màcòn chung của thế giới chính là tiền đề bảo đảm thực hiện những nguyên tắc

cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, trong đó có nguyên tắc

“bảo đảm và ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của conngười” Điều này là hoàn toàn phù hợp với Tuyên bố của Hội nghị Liên14

Hợp Quốc về môi trường và con người (Hội nghị Stockhom năm 1972) nêurõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và được hưởng đầy đủcác điều kiện sống trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống cóphẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiệncho các thế hệ hôm nay và mai sau” và trong một số Tuyên bố của các tổ chứcthế giới về vấn đề bảo vệ môi trường Như vậy, thông qua việc ban hành vàhoàn thiện khung pháp lý cũng như quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môitrường một cách chặt chẽ và có hiệu quả đã góp phần trong việc bảo đảmquyền được sống trong một môi trường với chất lượng đạt tiêu chuẩn chophép, cuộc sống được bảo đảm lành mạnh, hữu ích và được hài hòa với môitrường thiên nhiên của con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.15

1.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

14 Lê Văn Nãi (1999), Bảovệ môi trường trong xây dựng cơ bản, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

15 Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam),

Hà Nội.

Trang 19

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà củatoàn xã hội BVMT là nội dung quan trọng trong xây dựng và phát triển đấtnước Theo từ điển Luật học: Vi phạm pháp luật được xem xét dưới hai nghĩa:

“Nghĩa rộng: Là các việc làm sai trái pháp luật nói chung

Nghĩa hẹp: Là các việc sai trái chưa cấu thành tội phạm và thường đượcgọi là vi phạm hành chính”

Khái niệm vi phạm pháp luật nói chung được coi là một trong các kháiniệm cơ bản và quan trọng của pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật nước

ta căn cứ vào mức độ hành vi vi phạm của từng ngành luật chuyên ngành màđưa ra những mức xử lý tùy vào mức độ của các hành vi trên Ví dụ: Luậthình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tớicác khách thể được luật hình sự bảo vệ và quy định các hình thức xử lý với tưcách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với ngườiphạm tội Hoặc đối với Luật xử phạt vi phạm hành chính thì mức độ vi phạmđược đánh giá là nhẹ hơn sẽ được áp dụng các biện pháp xử phạt hành chínhtương thích đối với các hành vi đó Tuy rằng, đây là một khái niệm quan trọngnhưng cho tới nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể để xácđịnh khái niệm về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Khái niệm này chỉđược nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học về lý luận pháp lýnói chung của các nhà nghiên cứu

Xuất phát từ đặc thù cũng như vai trò và sự cần thiết bảo vệ môi trường,Luật Bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan đã quyđịnh về các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Song do các hành

Trang 20

vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là vô cùng đa dạng, được thể hiệndưới các hình thức khác nhau nên việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về viphạm pháp luật bảo vệ môi trường là chưa từng được đề cập Mặc dù vậy, quaphân tích nêu trên có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về vấn đề này như sau:

Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được hiểu là những hành vi vi phạm cácquy định của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chứcthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được các văn bản pháp luật quy định cụthể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo khái niệm trên, vi phạm pháp luậtbảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:

Một là, vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi do tổ chức, cá nhân thựchiện đã vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Tức là hành vi của tổ chức, cánhân đã vi phạm những quy định cụ thể của pháp luật bảo vệ môi trường Dovậy các hành vi vi phạm này cần phải bị xử lý theo quy định nhằm đảm bảotính nghiêm minh của pháp luật

Hai là, hành vi vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi vi phạm quyđịnh của NN trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định trong các vănbản pháp luật cụ thể Tức là chỉ những hành vi vi phạm các quy định tronglĩnh vực BVMT thì mới bị xử lý theo các văn bản pháp luật có liên quan tronglĩnh vực BVMT

Ba là, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được thực hiện mộtcách cố ý hoặc vô ý Tùy vào từng hành vi vi phạm do các tổ chức, cá nhânthực hiện một cách cố ý hoặc vô ý theo từng quy định pháp luật mà sẽ có hìnhthức và mức độ xử lý tương ứng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vựcpháp luật BVMT

1.2.1.2 Khái niệm, đặc điểm thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản

Trang 21

Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm thực thi pháp luậttrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản Tuy vậy, các quan điểm đềuđồng nhất cho rằng, dưới góc độ pháp lý, xem Luật Bảo vệ môi trường là mộtlĩnh vực pháp luật thì cần có những quy định cụ thể nhằm điều chỉnh và xử lýcác hành vi vi phạm pháp luật để điều chỉnh các nội dung trong nuôi trồng vàchế biến thủy sản nhằm hoàn thiện khung hành lang pháp lý về lĩnh vựcnày(câu này không chính xác) Luật Bảo vệ môi trường là tập hợp các quyphạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trongquá trình các chủ thể có hành vi khai thác, sử dụng hoặc tác động đến mộthoặc nhiều thành phần môi trường Ở nước ta hiện nay, trong việc hoạch định

và tổ chức xây dựng các văn bản pháp luật, các nhà quản lý, nhà làm luật đềurất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường Trong phạm vi và đối tượng điềuchỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trườngvới luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mangtính khả thi cao (câu này rối) Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các vănbản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định vềnghĩa vụ bảo vệ môi trường mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phầnbảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững.Đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì các chủ thểphải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy từngmức độ do hậu quả của hành vi đó mang lại Tuy nhiên, hiện nay chưa có mộtvăn bản pháp lý nào định nghĩa về vấn đề thực thi pháp luật trong lĩnh vựcnuôi trồng và chế biến thủy sản (có chắc không?) mà trên thực tế việc xử lýcác hành vi này tùy thuộc vào các quy định được pháp luật về bảo vệ môitrường quy định cụ thể và được quy định rõ trong Bộ luật hình sự hiện hành

và Luật xử lý vi phạm hành chính Để làm căn cứ cho việc xử lý vi phạm đối

Trang 22

với pháp luật bảo vệ môi trường, tại Luật bảo vệ môi trường quy định nhưsau:

1 Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; 2 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, theo quy định của pháp luật.16

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đối với vấn đề BVMT nói chung và thực thi pháp luật trong lĩnh vựcnuôi trồng và chế biến thủy sản nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang trởthành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền

và toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhucầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hộiphát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiệnhơn, trong đó có nội dung về thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng vàchế biến thủy sản Nội dung điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến thủy sản là những quy định của pháp luật về việc xử lý cáchành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường được ban hành nhằm nâng caohiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật; ngăn chặn

và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi trồng và chếbiến thủy sản; đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý cũng nhưbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân; tăng cường trật tự

kỷ cương trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội đối với vấn đề bảo vệ môi

16 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc

Trang 23

trường trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiệnnay.

Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 quy định:

Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiênnhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệmkhắc phục, bồi thường thiệt hại - là cơ sở pháp lý cơ bản cho văn bản luật vàdưới luật triển khai chi tiết quy định về vấn đề này(đoạn này có trong Hiến pháp không?)” 17

Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngàycàng hoàn thiện và phù hợp hơn về nội dung bảo vệ môi trường và thực thipháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta, đáp ứngvới yêu cầu chính trị, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong tìnhhình mới

Luật bảo vệ môi trường 2014 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.Các nội dung về bảo vệ môi trường được quy định làm nền tảng cơ bản tại cácĐiều 7 và Điều 160 đã tạo ra cơ chế xử lý tương đối hoàn thiện đối với nhữnghành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, thể hiện rõ nét sự tiến bộ củaNhà nước ta trong việc quan tâm đến vấn đề BVMT Văn bản pháp lý này đãquy định nhiều nội dung phù hợp tạo điều kiện tối đa để cho việc thực thipháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỗ này cần lưu ý các chương 5,chương 6 của Luật – điều 49 đến 58 và cần trích một số điều chính liên quan đếnnuôi trồng thủy hải sản – nước biển và nước sông, hồ, đầm…)

Nội dung điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản được thể hiện dưới các nội dung cơ bản như sau:

Trang 24

1.2.2.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Việc quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi pháp luật về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản là việc các cơ quan chức năngsắp xếp bố trí các cơ sở tiến hành hoạt động thực hiện trong hoạt động BVMT

có mục tiêu, có định hướng phải được định sẵn phù hợp với các tiêu chí đề ra.Việc quy hoạch và thực hiện quản lý nhằm đảm bảo quyền lợi các cá nhân, tổchức trên khắp cả nước nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan quản lý và làtrách nhiệm và quyền lợi trong hoạt động BVMT18

Việc xây dựng quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi pháp luật về bảo

vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản ở nước ta được xây dựngvới mục tiêu là: Xây dựng và hoàn thiện và thực thi pháp luật về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản phù hợp với sự phát triển nềnkinh tế cơ sở quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Chiến lược BVMT giữ một vị trí quan trọng là khâu đột phá trong quá trìnhCNH-HĐH đất nước, đồng thời là mục tiêu, động lực của chiến lược pháttriển kinh tế xã hội Chính quyền cấp tỉnh là chủ thể hoạch định chiến lượcBVMT, thực hiện quy hoạch, kế hoạch hóa BVMT nói chung và thực thi phápluật về BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản trong phạm vicủa từng địa phương Chiến lược BVMT được xây dựng trên cơ sở dự báonhu cầu BVMT cần phải có để thích ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giaiđoạn phát triển kinh tế xã hội nói chung, sự phát triển của các địa phươngtrong giai đoạn hiện nay Đây là cơ sở định hướng để UBND tỉnh thực hiện kếhoạch hóa sự phát triển của các ngành: Giáo dục, đào tạo, y tế, dân số …nhằm chuẩn bị BVMT phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn CNH -

18 Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), Quản lý Nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền

Trang 25

HĐH (sao đang nói về chiến lược kế hoạch lại quay lại các văn bản pháp luật vềnuôi trồng chế biến thủy sản Phần này cần viết ở phần đầu của mục này19

Tính đến năm 2019, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách vàcác thông tư liên tịch nhằm hỗ trợ BVMT về nuôi trồng và chế biến thủy sản

Chiến lược BVMT phải xác định được những chỉ tiêu chính phù hợp vớiquy hoạch, định hướng phát triển ngành nghề trên địa bàn các địa phươn, gắnvới chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và

kế hoạch phát triển KT-XH hàng năm Việc quy hoạch xây dựng kế hoạchBVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản cần phù hợp với quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo định hướng lâu dài, đáp ứngcác yêu cầu về tuyển dụng, đào tạo, phát triển, các chế độ đã ngộ Việc quyhoạch thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biếnthủy sản tập trung phải căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảochất lượng nguồn nhân lực, có bước đi phù hợp để giải quyết những yêu cầutrước mắt và định hướng lâu dài và gắn liền với sự phát triển của KCN trong

19 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020)

Trang 26

quá trình xây dựng và phát triển hiện nay

1.2.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Công tác lập kế hoạch quản lý xây dựng và thực hiện các văn bản QPPL

về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản là hoạt động của

cơ quan NN có thẩm quyền đưa ra các công việc phải làm thông qua bản kếhoạch nhằm cụ thể hóa công tác quy hoạch chiến lược, kế hoạch thực thi phápluật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản vào thực tiễn

20

Với vai trò quan trọng của các QĐPL là nền tảng phát huy hơn nữa vaitrò của QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản ởnước ta hiện nay Thông qua việc ban hành và tiến hành thực hiện thì BVMT

sẽ được quy hoạch và được phân bổ một cách hợp lý trong thực tế, phù hợpvới sự phát triển của hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản và đáp ứngvới yêu cầu phát triển của các địa phương nói chung Từ đó, có thể xem xétđược vai trò quan trọng của các cơ quan NN có thẩm quyền trong hoạt độngQLNN về BVMT trong thực tế Cơ quan QLNN với các hình thức tuyêntruyền, chỉ đạo, thực hiện và tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát, từ đó, chỉ

rõ những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong quá trình áp dụngtrong thực tiễn Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật đã được Đảng, Nhànước chỉ đạo hoàn thiện Cùng với chính sách chung của Nhà nước, tùy vàođiều kiện kinh tế của từng tỉnh, các địa phương đã tích cực tham mưu với cáccấp chính quyền để có những quy định riêng hỗ trợ cho QPPL về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản.21

20 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020)

NXB Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

21 Hồ Viết Tiến – Từ Văn bình – Đặng Thị Mỹ Ngân (2020) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (2020)

Trang 27

Trong thực tiễn đối với chính sách ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, cụthể:

- Giảm lượng chất thải ra

- Xử lý chất thải trước khi xả ra môi trường

- Thay đổi nguyên lý sản xuất để thải ít chất thải, ít độc hơn

Hiện nay, theo quy chuẩn, quy định của pháp luật thì doanh nghiệp phải

có hệ thống xả thải ra môi trường Doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống xả thải,trường hợp, doanh nghiệp

Quá trình ban hành kế hoạch quản lý xây dựng và thực hiện các văn bảnQPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản tại mỗi địaphương sẽ được cụ thể hóa thông qua Quy hoạch trên địa bàn các tỉnh, thànhphố trong một giai đoạn nào đó cụ thể và mang tính định hướng trong mộtthời gian dài diễn ra tại các địa phương

1.2.2.3 Ban hành và tổ chức thực thi các chính sách có liên quan đến

sử dụng, QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Cùng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về nuôi trồng

và chế biến thủy sản nói riêng cơ quan quản lý nhà nước trên cơ sở nhữngđịnh hướng phát triển KT-XH, sử dụng và BVMT cần cụ thể hóa thành cácchính sách để BVMT phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển tại các địaphương trong giai đoạn hiện nay

Việc ban hành và tổ chức thực thi các chính sách có liên quan đến sửdụng, QPPL về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản trên

cơ sở chỉ đạo, quán triệt của Trung ương thì các địa phương phải ban hànhcác chính sách về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thực tế.Các chính sách có liên quan như đào tạo, tuyển dụng, chính sách đãi ngộ,

Trang 28

quản lý, xử lý vi phạm BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản nếu cóhành vi vi phạm 22

1.2.2.4 Tổ chức bộ máy BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhànước đối với BVMT Việc tổ chức thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức

bộ máy, cách thức tiến hành và các nguồn lực để phát triển BVMT Để tăngcường hiệu lực quản lý nhà nước đối với BVMT, cần tăng cường bộ máyquản lý nhà nước về công tác này đủ mạnh từ Trung ương đến địa phương, bổsung thêm lực lượng, tăng cường chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tácquản lý Vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực được tổ chức thựchiện bằng một bộ máy hợp lý, hiệu quả sẽ là tiền đề quan trọng để đưa cácchính sách, pháp luật về phát triển BVMT đi vào cuộc sống, tạo ra sự thay đổi

về diện mạo của BVMT cả về số lượng và chất lượng

1.2.2.5 Thanh tra và tổ chức xử lý vi phạm trong hoạt động BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước về BVMT

là hoạt động của các ngành chức năng được nhà nước trao quyền nhằm mụcđích kiểm tra đối với đối với các cơ sở quản lý nhà nước về BVMT tập trung

và cơ sở quản lý nhà nước về BVMT Kiểm tra trước và sau khi quản lý nhànước về BVMT để phát hiện các hành vi vi phạm và kịp thời xử lý, đảm bảoquyền và lợi ích của các địa phương.Công tác quản lý nhà nước về BVMTnói riêng luôn được quan tâm một cách đúng mức bởi xác định được tính cấpthiết của hoạt động quản lý nhà nước về QPPL về bảo vệ môi trường trongnuôi trồng và chế biến thủy sản Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanhtra, kiểm tra, giám sát việc quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay

Trang 29

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã chủ động thành lập các đoànThanh tra, tổ chức các cuộc thanh kiểm tra việc tiến hành quản lý nhà nước vềBVMT đạt được hiệu quả cao hay không? Qua trình áp dụng các quy định vềBVMT trên thực tế được thực hiện một cách nghiêm túc hay không? Quátrình kiểm tra, thanh tra sau đó sẽ tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm đểnộp vào Ngân sách nhà nước và ban hành các kiến nghị khắc phục vi phạmnhằm làm tốt hơn các quy định về kiểm tra, giám sát về hoạt động quản lý nhànước về BVMT này trong thực tế.

1.2.2.6 Xử lý vi phạm về các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

* Quy định về xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, trong Luật xử phạt vi phạmhành chính 2012 và Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2019của Chính phủ cũng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcthủy sản thay thế Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2013của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủysản Nghị định gồm 4 chương 58 điều đã đảm bảo khả năng điều chỉnh cũngnhư quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trường, đồng thời tạo cơ chế để các cơ quan NN có thẩm quyền trongviệc tiến hành xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường 23

* Các quy định về xử lý vi phạm trong dân sự

Có thể nói, vấn đề trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

ở nước ta chưa được chú trọng và phát triển Các quy định về trách nhiệm dân

sự trong lĩnh vực này mới chỉ dừng lại ở quy định chung mang tính nguyêntắc, chưa có một văn bản nào cụ thể hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này Căn cứ

23 Lê Kim Nguyệt (2016), “Một số vấn đề pháp lý đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt

Trang 30

pháp lý đối với vấn đề dân sự trong lĩnh vực BVMT được ghi nhận trong cácvăn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015 (chương XX từ điều 584 đến Điều608); Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (chương XIX từ Điều 163 đến Điều167) và Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về hướngdẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường 2014 và đặc biệt là Nghị định03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệt hại đối vớimôi trường thì trách niệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là mộtdạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, được áp dụng đối với tổ chức, cánhân vi phạm nghĩa vụ về bảo vệ môi trường Theo đó các tổ chức, cá nhân cóhành vi làm môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, tổ chức, cá nhân khác có liênquan xâm phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường do pháp luật quy định nếu gâythiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Các chủ thể có hành vi vi phạm phải cótrách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

Căn cứ quy định tại Điều 602 Bô § luâ §t dân sự 2015 thì trách nhiê §m bồithường thiê §t hại do làm ô nhiễm môi trường được xác định như sau: “Chủ thểlàm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy địnhcủa pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi” Theo quy định trên,

cá nhân, tổ chức có hành vi làm ô nhiễm môi trường mà gây thiê §t hại, ngoàiviê §c phải chịu trách nhiê §m theo quy định của luâ §t chuyên ngành thì phải bồithường cho người bị thiê §t hại, kể cả chủ thể đó không có lỗi Đồng thời, cótrách nhiệm khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây sự cố môi trường, suy thoái môitrường, ô nhiễm môi trường gây ra Đối với việc bồi thường thiệt hại vềÔNMT nếu có hành vi vi phạm xảy ra tuân thủ các quy định và căn cứ tạiNghị định 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệthại đối với môi trường Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các cơ

Trang 31

quan nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật về bồi thườngthiệt hại về ÔNMT ở nước ta giai đoạn hiện nay.24

* Quy định về xử lý hình sự các tội phạm môi trường

Cùng với Luật bảo vệ môi trường thì tại Bộ luật hình sự 2015 chươngXIX từ điều 235 đến Điều 246 quy định 12 tội phạm môi trường là căn cứpháp lý để xử lý những hành vi vi phạm đã cấu thành tội phạm tương ứng.Đây chính là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình

sự, định khung và định hình tương ứng với ba mức độ hậu quả đã gây ra.Chính sách hình sự về BVMT của Việt Nam đã được cụ thể hóa bằng quyđịnh 12 hành vi phạm tội về môi trường trong đó có các quy định về xử lý tộiphạm về nuôi trồng và chế biến thủy sản

Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Bộ công an đã ban hành quyết định số1899/2006/QĐ-BCA về việc thành lập Cục cảnh sát môi trường thuộc Tổngcục Cảnh sát để điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môitrường theo quy định của pháp luật Đây là cơ quan quan trọng có trách nhiệmkiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường của các tổ chức, cá nhân trênlãnh thổ Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, trực tiếp tiến hành các mặtcông tác điều tra chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường; tiếnhành một số hoạt động điều tra theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, xử lý

vi phạm hành chính theo luật xử lý VPHC và các quy định của pháp luật vềbảo vệ môi trường; phối hợp thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trườngđối với các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh; thực hiện công tác kiểm địnhtiêu chuẩn môi trường

Như vậy, có thể thấy pháp luật quy định khá thống nhất và xuyên suốt vềvấn đề bảo vệ môi trường cũng như thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi

24 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật dân sự Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Trang 32

trồng và chế biến thủy sản, tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ môi trường hiệnnay; khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đềbảo vệ môi trường Đồng thời, cùng với hoạt động ban hành các văn bảnhướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụng những quy định của phápluật về BVMT ở nước ta được thực hiện một cách hoàn thiện hơn Phù hợpvới xu thế phát triển trên thế giới hiện nay là vừa xây dựng và phát triển kinh

tế xã hội nhưng đề cao vấn đề bảo vệ môi trường nhằm phát triển một cáchbền vững Trên cơ sở tuân thủ các quy định của quốc tế trong hoạt độngBVMT, nước ta đã xây dựng và ban hành những quy định nhằm điều chỉnhvấn đề về thực thi pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sảnphù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta (thiếu chủ ngữ) Hình thành nềntảng pháp lý cơ bản trong việc thực thi pháp luật BVMT trong tiến trình pháttriển đất nước, góp phần không nhỏ nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạmpháp luật môi trường xảy ra ở nước ta hiện nay và trong tương lai

(phần 1.2.2 khá chung chung trong khi cần phân tích các điều luật cụ thể vềbảo vệ môi trường trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản, các quy địnhngăn chặn ô nhiễm môi trường nước (biển, nước lợ và sông, hồ), môi trường đất (xảthải khi chế biến và sử dụng thuốc kháng sinh, chất tăng trưởng, xả nước mặn vàođất trồng lúa…)

1.2.3 Vai trò của thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng

và chế biến thủy sản ở Việt Nam

Một là, các quy định về pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biếnthủy sản đã tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnhvực bảo vệ môi trường từ đó hình thành nên các quy tắc xử sự cho con ngườikhi tác động đến môi trường Những quy định này về cơ bản đã đảm bảo xử

lý tương đối tốt các hành vi vi phạm pháp luật BVMT, đảm bảo các hành vicủa con người không xâm hại tới môi trường, hạn chế những tác hại, ngăn

Trang 33

chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường Thông qua các quy định về pháp luậttrong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản hình thành nên ý thức tronghoạt động bảo vệ môi trường nói chung, tạo tiền đề quan trọng cho hoạt độngxây dựng, ổn định phát triển kinh tế một cách bền vững, ngăn chặn các hành

vi hủy hoại môi trường

Hai là, thông qua các quy định lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản

đã ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môitrường Trên thực tế, nhiều chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế xã hộithường chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích chung của cộng đồngtrong đó có môi trường Các chủ thể có thể vì lợi ích kinh tế mà không quantâm đến môi trường, ví dụ: Tại các khu công nghiệp một số chủ thể không đầu

tư hệ thống xả thải chất thải công nghiệp mà trực tiếp thải ra môi trường, gâyảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật, người dân… Để có thể điềuchỉnh các hành vi trên thì việc ban hành các quy định về pháp luật trong lĩnhvực nuôi trồng và chế biến thủy sản đồng thời các chế tài pháp lý là điều vôcùng quan trọng trong vấn đề BVMT Đây không chỉ là biện pháp xử lý viphạm pháp luật môi trường, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm màcòn mang tính chất răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạmpháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu docon người gây ra cho môi trường

Ba là, thông qua các quy định trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủysản mà NN đã thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này Như ta đã biết,tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nước vàmôi trường cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệ môi trường còn là mộtlĩnh vực hoạt động, nhiệm vụ phức tạp bởi môi trường có phạm vi rộng lớn vàkết cấu phức tạp Các quy định về pháp luật trong lĩnh vực nuôi trồng và chếbiến thủy sản có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ

Trang 34

chức, cơ quan bảo vệ môi trường Cụ thể là thông qua các quy định pháp luật

về BVMT thì NN đã tiến hành các hoạt động: Kiểm soát ô nhiễm, suy thoáimôi trường; bảo tồn đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường và đánhgiá môi trường chiến lược; kiểm soát ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, suythoái đất, suy thoái rừng, nguồn thủy sinh, nguồn gen và kiểm soát ô nhiễmđối với các hoạt động có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường; thanh tra và kiểmtra xử lý và giải quyết tranh chấp về môi trường; thực thi các Công ước quốc

tế về kiểm soát ô nhiễm ở Việt Nam, thực thi các Điều ước quốc tế về đa dạngsinh học và bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam

Thứ tư, môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi chủ thể nên cần phảiđược duy trì ổn định để đảm bảo sự phát triển của xã hội Môi trường tácđộng mạnh mẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi một quốc gia và khôngthể thay thế được bằng bất kỳ hình thức nào Do đó, cùng với quá trình bùng

nổ khoa học kỹ thuật như hiện nay, con người cùng với việc tạo nên nhữngthành tựu nổi bật thông qua những nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế thì đồngthời với đó đã nhận thức được những tác động tích cực lẫn tiêu cực của môitrường đối với sự phát triển của xã hội loài người Từ đó, việc yêu cầu bảo vệ

và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong hoạt động này là điều vôcùng cần thiết nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực của yếu tố môitrường đến sự phát triển của mỗi một quốc gia Vì vậy, việc ban hành các quyđịnh về vấn đề này là điều hoàn toàn cần thiết

Thực tế đã chứng minh rằng môi trường có những chức năng quan trọngnhất đối với sự phát triển của mỗi một quốc gia Môi trường trong sạch chính

là tiền đề để con người có những điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế

- xã hội của các quốc gia đó Ngược lại, môi trường ô nhiễm sẽ tác động tiêucực và có những hệ lụy nghiêm trọng đến sự phát triển đối với những quốcgia trên thế giới Tại một số quốc gia, vấn đề xây dựng các quy phạm pháp

Trang 35

luật về bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môitrường rất được quan tâm bởi Chính phủ các quốc gia đó đặt vấn đề bảo vệmôi trường trong việc phát triển quốc gia một cách bền vững Do đó, để chođất nước phát triển một cách bền vững, đòi hỏi phải có những chính sách, quyđịnh phù hợp nhằm đảm bảo về vấn đề bảo vệ môi trường; xử lý nghiêm khắccác hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; bảo đảm việc thực hiệnpháp luật bảo vệ môi trường một cách nghiêm chỉnh trong suốt quá trình xâydựng và phát triển của mỗi quốc gia trong tình hình hiện nay.

Thứ năm, đảm bảo cân bằng giữa hoạt động xây dựng, phát triển và bảo

vệ môi trường trong giai đoạn mới Trong thực tế rất khó để vừa xây dựng vàphát triển vừa bảo vệ môi trường cũng như để các chủ thể tự giác đề ra vàthực hiện Vấn đề bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ảnh hưởng đến môitrường sống của con người là việc làm lâu dài và cần có chiến lược cụ thể.Tuy nhiên, trên thực tế, việc một số chủ thể sẵn sàng vì mục đích mang tínhchất riêng tư mà từ bỏ đi yêu cầu của việc bảo vệ môi trường là điều dễ hiểu

Do đó, có rất nhiều vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng không chỉ riêng ởViệt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới phải gánh chịu những hậu quảnặng nề mà để khắc phục nó phải mất đến hàng trăm năm hoặc thậm chí làkhông thể khắc phục được Do đó, để cân bằng lợi ích giữa các bên, đảm bảo

sự phát triển bền vững của đất nước, bảo vệ được môi trường sống, đảm bảolợi ích của cộng đồng dân cư cũng như sinh vật trên trái đất thì việc ban hành

và hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bềnvững thì cần có những quy định phù hợp nhằm bảo vệ môi trường một cáchtoàn diện và cụ thể Việc bảo vệ môi trường phải đặt trong mối quan hệ với lợiích của các quốc gia, đất nước để vừa thực hiện tốt việc xây dựng và pháttriển đất nước vừa đảm bảo lợi ích của môi trường sống của những cộng đồngdân cư, cũng như sự bảo tồn của môi trường xung quanh chúng ta

Trang 36

1.2.4 Các yếu tố đảm bảo cho việc thực thi pháp luật về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

Có thể nói rằng vấn đề BVMT hiện nay đã, đang và được các quốc giatrên thế giới hết sức quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu trong hoạch định chínhsách phát triển kinh tế, xã hội của mình Bởi lẽ, xuất phát từ bản chất và tầmquan trọng của môi trường trong là một điều kiện cốt lõi cho bảo đảm cho sựphát triển bền vững của tất cả các quốc gia Cùng với sự quan tâm của cácquốc gia trên thế giới không phải là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đểtạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá mà phải bảo đảm sự cân đối vớiviệc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế

hệ mai sau Trong xu thế ấy, Việt Nam cũng đang tiến hành hoàn thiện hệthống pháp luật về môi trường, cùng với việc nỗ lực tham gia các công ướcquốc tế, cũng như tích cực nội luật hoá các cam kết quốc tế về BVMT nhằmBVMT hiệu quả hơn trước yêu cầu của phát triển bền vững

Các yếu tố đảm bảo làm nền tảng cơ bản cho quá trình thực hiện BVMTtrong nuôi trồng và chế biến thủy sản đạt hiệu quả cao Cụ thể là:

* Yếu tố về hệ thống văn bản pháp luật: hành vi vi phạm BVMT trongnuôi trồng và chế biến thủy sảncần được quy định rõ trong các văn bản phápluật Hệ thống pháp luật về BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản cầnđảm bảo quy định rõ ràng, chi tiết và có hướng dẫn cụ thể về phương thức,trình tự, thủ tục, chế tài, đảm bảo thực hiện bằng các công cụ như thế nào…Ngoài ra, hệ thống văn bản cần mang tính chất dự báo, các quy định mangtính chất điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh rộng Đối với vấn đề BVMT nóichung và vấn đề BVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sản nói riêng ởnước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm củacác cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thức được tầm quantrọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như

Trang 37

điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng đượcsửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về thực thipháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản

* Yếu tố về cơ cấu tổ chức các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểmtra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường Việc kiện toàn bộmáy tổ chức từ Trung ương xuống địa phương, tổ chức mang tính chất hệthống chính là điều kiện tiên quyết trong việc bắt buộc các chủ thể có hành vi

vi phạm phải thực hiện các chế tài theo quy định của pháp luật quy định

* Yếu tố về con người trong quá trình xử lý vi phạm pháp luật về môitrường cũng góp phần quan trọng không thể tách rời trong hoạt động nói trên.Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý nhà nước vềpháp luật bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta luôn được quan tâm và trởthành một trong những điều kiện then chốt của hoạt động thi hành BVMTtrong nuôi trồng và chế biến thủy sảnở nước ta trong giai đoạn mới

* Yếu tố về kinh tế, vật chất đảm bảo cho hoạt động thi hành của các cơquan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện không thể thiếu ở nước ta trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như thực thi pháp luật

* Yếu tố về ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể trong quan hệBVMT trong nuôi trồng và chế biến thủy sảnlà điều kiện nền tảng cho hoạtđộng chấp hành pháp luật trong thực tiễn Chấp hành pháp luật tốt hay khôngđều xuất phát từ mỗi ý thức của cá nhân, tổ chức nói chung Tuy nhiên, đểhình thành ý thức của mỗi con người thì cần có một thời gian dài cũng nhưphương pháp cụ thể thông qua những hoạt động hướng đến việc xây dựng ýthức của các chủ thể về vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng vàphát triển đất nước, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới Ý thứcpháp luật của các chủ thể thi hành pháp luật là một trong những yếu tố đảmbảo cho việc thi hành pháp luật về xử lý các hành vi vi phạm BVMT trong

Trang 38

nuôi trồng và chế biến thủy sản trong thực tế Ý thức pháp luật đầu tiên là ýthức trong việc tuân thủ pháp luật của chính các chủ thể thực thi pháp luật vềmôi trường Đó cũng là sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật là cơ sở để mỗi cánhân hình thành ý thức tuân theo pháp luật Do đó, các cơ quan nhà nước cầnthực hiện tốt các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng các quyđịnh về BVMT cho các cán bộ làm công tác về thi hành pháp luật về môitrường Qua đó, thông qua việc áp dụng, xử lý các hành vi vi phạm trong thựctiễn một cách nghiêm minh, kịp thời và đúng đắn từ đó giữ vững niềm tin củanhân dân trước pháp luật Mỗi chủ thể trong quá trình thực thi pháp luật nóichung thì việc làm đầu tiên không phải là xử lý các hành vi vi phạm mà chínhbản thân chủ thể thi hành pháp luật phải tuân thủ các quy định về pháp luậtnói chung Trong thực tế, đối với vấn đề này thì việc hình thành ý thức phápluật của các chủ thể thi hành pháp luật về thực thi pháp luật về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng và chế biến thủy sản nói chung về cơ bản thì các cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở địa phương đã thực thi pháp luật mộtcách thường xuyên, liên tục và cương quyết

* Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và cơ sở vật chất, kỷthuật cho việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng và chếbiến thủy sản Môi trường làm việc, trình độ năng lực của các cán bộ, côngchức, cơ sở vật chất là những yếu tố căn bản cho việc BVMT trong nuôi trồng

và chế biến thủy sản Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cán bộ, công chức cũng như quyết địnhđến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong lĩnhvực này nói riêng và thi hành pháp luật nói chung Thực tế cho thấy không ít

cơ quan, tổ chức, đơn vị có môi trường làm việc, năng lực trình độ của cáccán bộ, công chức không tốt dẫn đến những hậu quả có thể nhìn thấy đượcnhư: chất lượng, hiệu quả làm việc kém; mất đoàn kết; thậm chí cán bộ, công

Trang 39

chức có trình độ, năng lực xin thôi việc hoặc chuyển công tác…Để xây dựngmột môi trường làm việc tốt, mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhất là đối vớingười phụ trách phải xác định đây là một nhiệm vụ cần được ưu tiên hàng đầusong song với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng lĩnh vực nóichung và trong vấn đề BVMT nói riêng Việc bảo đảm điều kiện về cơ sở vậtchất như phòng làm việc, bàn, ghế, điện thoại, máy vi tính… và các vănphòng phẩm khác phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Tùy theođiều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị để trang bị cho cán bộ, công chức nhưngphải đảm bảo các yếu tố của một cơ quan, công sở Ngoài ra, cần thực hiệnđào tạo, bồi dưỡng theo đúng yêu cầu tiêu chuẩn của mỗi chức danh, ngạch,bậc cán bộ, công chức và yêu cầu nhằm phục vụ cho quá trình thực hiệnnhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý về BVMT cũngnhư xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BVMT Quá trình xây dựng môitrường làm việc cũng như nâng cao chất lượng trình độ cho các cán bộ, côngchức làm công tác trong lĩnh vực này là một trong những nội dung, nhiệm vụhàng đầu mà cơ quan, tổ chức hay đơn vị phải quan tâm thực hiện, đáp ứngvới yêu cầu công việc, nhiệm vụ đã được đề ra

(phần 1.2.4 này hơi dài dòng và hơi xa chủ đề, có lẽ nên gom lại)

1.3 Kinh nghiệm thực thi pháp luật BVMT trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản ở một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam

* Nhật Bản

Trong những năm qua, bên cạnh các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội,Nhật Bản đã đạt được nhiều kết quả trong lĩnh vực BVMT và luôn là mộtquốc gia có trách nhiệm trong hợp tác quốc tế, nhằm giải quyết những vấn đềmôi trường toàn cầu và khu vực Tạp chí Môi trường có cuộc trao đổi với ôngHiroko Suzuki, chuyên gia môi trường, MCC-Mitsui Tôkyô về các chính sách

Trang 40

của Nhật Bản trong công tác BVMT, trong đó có kiểm soát ô nhiễm nuôitrồng thủy sản Nhật Bản đã ban hành Luật Môi trường cơ bản (ban hànhtháng 11/1993) , quy định kiểm soát lượng nước thải từ nhà máy Thông báo25

thiết lập nhà máy, điều chỉnh các mệnh lệnh, giám sát liên tục, giải pháp chonước thải hộ gia đình trong duy trì và xây dựng hệ thống thoát nước, trangthiết bị xử lý nước thải khu vực nông thôn, bể tự hoại Tháng 12/1994, Nộicác Chính phủ lập ra Kế hoạch môi trường căn bản dựa trên Luật Môi trường

Kế hoạch được áp dụng cho những chính sách về ô nhiễm môi trường, baogồm những khái niệm cơ bản, mục tiêu dài hạn và các chỉ số cụ thể nhằm đạtđược các mục tiêu đề ra Luật KSONN (ban hành tháng 1/1970) được banhành dành cho kiểm soát nước thải Ngoài ra, dựa trên Kế hoạch môi trường

cơ bản ban hành năm 1993, giai đoạn giữa thế kỷ 21, (???), những chính sáchdài hạn trong hoạt động BVMT được thực hiện bởi chính quyền địa phương,các đoàn thể, công dân và các tổ chức tư nhân Trong đó, tập trung một số nộidung chính như:

Quay vòng sử dụng nguyên vật liệu hiệu quả: Nhằm giảm thiểu gánhnặng về môi trường được tạo ra từ nhiều giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội,cần khuyến khích quay vòng sử dụng các nguyên vật liệu có hiệu quả về môitrường, thông qua việc xem xét lại hệ thống kinh tế - xã hội hiện hành đangđược điều hành (chế độ sản xuất, tiêu thụ và phân phối hàng loạt…)

Chung sống hài hòa: Duy trì và tái tạo hệ sinh thái khỏe mạnh và đảmbảo sự chung sống hài hòa giữa thiên nhiên và con người

Sự tham gia: Xây dựng xã hội bình đẳng, bao gồm sự tham gia củachính quyền từ cấp Trung ương đến địa phương, các đoàn thể, công dân vàcác tổ chức tư nhân vào các hoạt động BVMT, cùng hợp tác và chia sẻ kinhnghiệm

Ngày đăng: 19/06/2023, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Công an (2006), Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA ngày 29/11/2006 V/v thành lập Cục cảnh sát môi trường thuộc Tổng cục cảnh sát để điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA ngày 29/11/2006 V/v thành lập Cục cảnh sát môi trường thuộc Tổng cục cảnh sát để điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
5. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
8. Bộ tài nguyên và môi trường (2009), Thông tư số 08/2009 ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2009 ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
9. Lê Văn Cảm (2012), Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
10. Chính phủ (2003), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
11. Chính phủ (2004), Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam(Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam)
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
13. Chính phủ (2015), Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
15. Trần Văn Chử (2006), Tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Nhà XB: Cà Mau
Năm: 2011
17. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2016), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Nhà XB: Cà Mau
Năm: 2016
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
20. Trần Ngọc Đường (2004), “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật – nhiệm vụ trung tâm xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật – nhiệm vụ trung tâm xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2004
21. Lê Văn Hải (2005), “Về việc thực hiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật , (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực hiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Hải
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Năm: 2005
22. Trương Quang Học (2012), Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thiên nhiên môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2012
23. Nguyễn Thị Thu Hường (2008), Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
24. Nguyễn Đức Khiển (2002), Môi trường và sức khoẻ , Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và sức khoẻ
Tác giả: Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w