Mỗi chúng ta đều được lớn lên từ những tiếng ru dịu ngọt của bà của mẹ cất lên “Cháu ơi cháu ở với bà” hoặc “con ơi con ngủ cho ngon”...Đã hoà vào hồn ta và ru ta khôn lớn vì vậy cho trẻ
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ
TRƯỜNG MẦM NON CẨM LĨNH A
-
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO TRẺ 5- 6 TUỔI KHÁM PHÁ KHOA HỌC, KHÁM PHÁ XÃ HỘI
Tên tác giả: Nguyễn Thị Liên Lĩnh vực/Môn: Giáo dục mẫu giáo Cấp học: Mầm non
Năm học : 2017 - 2018
Trang 2MỤC LỤC
1 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1.1 Lý do chọn đề tài: 2
1.1.1 Cơ sở khoa học: 2
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 3
1.1.3 Mục đích nghiên cứu: 4
1.1.4 Đối tượng nghiên cứu: 4
1.1.5 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu: 4
1.1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
1.1.7 Phương pháp nghiên cứu: 4
1.1.8 Phạm vi thời gian nghiên cứu: 4
2 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
2.1 NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 5
2.2 Thực trạng vấn đề: 5
2.2.1.Tình trạng trước khi thực hiện đề tài 5
2.2.2 Số liệu điều tra trước khi thực hiện 5
2.3 Những biện pháp tiến hành 6
2.3.1 Biện pháp 1: Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức: 7
2.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng môi trường học tập 7
2.3.3 Biện pháp 3: Làm đồ dùng đẹp, sáng tạo để tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn 8
2.3.4 Biện pháp 4: Làm giàu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh thông qua tiết học 9
2.3.5 Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy 11
2.3.6 Biện pháp 7: Kết hợp giữa phụ huynh và cô giáo để đạt kết quả dạy trẻ cao nhất: 11
2.4 Hiệu quả SKKN 12
3 PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 13
3.1 Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 13
3.2 Nhận định của người viết sáng kiến 13
3.3 Bài học kinh nghiệm: 13
Trang 31 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài:
1.1.1 Cơ sở khoa học:
Bác Hồ kính yêu đã nói :
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm trồng người ”
Giáo dục Mầm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị trí quan trọng Trong giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây dựng những
cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của cả dân tộc, việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm của mọi người mà của toàn xă hội và của cả nhân loại
Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đôi chân, đôi tay của mình tất cả những cử chỉ đó đều làm lên nhưng thói quen,kể
cả thói quen không tốt.Chính vì vậy chúng ta đã bước sang thế kỷ 21 thế kỷ nền văn minh trí tuệ, của nền khoa học hiện đại Do vậy con người cần phải năng động sáng tạo để phù hợp với sự phát triển của thời đại Muốn được như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ Mầm non, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, về ngôn ngữ, về tình cảm những thế giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá, cho nên giáo dục mầm non đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ Trách nhiệm nặng
nề và cao cả ấy tất cả thuộc về cô giáo Mầm Non tạo nên nền tảng vững chắc, là chặng đường khôn lớn của trẻ.Ở lứa tuổi này “ cái nảy sảy cái ung” chính vì vậy
sự nhạy cảm và có trách nhiệm cao là yêu cầu không thể thiếu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, cô giáo phải rất linh hoạt nhạy bén kịp thời, có năng lực và có tính chủ động sáng tạo
Vậy giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là
ở tuổi Mầm non Ca dao xưa có câu “ dạy con từ thủa còn thơ” câu ca dao ấy đã
đi vào lòng người và không thể nào quên Mỗi chúng ta đều được lớn lên từ những tiếng ru dịu ngọt của bà của mẹ cất lên “Cháu ơi cháu ở với bà” hoặc “con ơi con ngủ cho ngon” Đã hoà vào hồn ta và ru ta khôn lớn vì vậy cho trẻ Khám phá khoa học, khám phá xã hội mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ, thế giới xung quanh sinh động là vậy, thích thú là vậy, vì thế trẻ luôn có niềm khao khát khám phá, tìm hiểu về chúng
Trang 4Cho trẻ khám phá khoa học,khám phá xã hội sẽ cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết những gì xung quanh mình , từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim muông ) đến môi trường xã hội ( công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ của con người với nhau ) Và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình, mặt khác việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh trong trường mầm non đang gặp một số khó khăn về cơ sở vật chất
Nếu giáo viên không quan tâm tạo điều kiện học tập cho trẻ, không sáng tạo trong việc tổ chức, tổ chức hoạt động nhằm làm cho trẻ hứng thú, tập chung chú ý vào hoạt động thì hiệu quả không cao
Trên thực tiễn hiện nay các hoạt động khám phá khoa học,xã hội cho trẻ
5-6 tuổi còn rất tẻ nhạt, trẻ chưa có hứng thú học tập vì vậy “nâng cao hoạt động Khám phá khoa học,khám phá xã hội về môi trường xung quanh” là rất cần thiết, chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài này
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ dễ nhớ nhanh quên và tư duy hình tượng
là chủ yếu và ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ thường thích tìn tòi, khám phá, trẻ có nhu cầu rất cao về việc nhận thức, trẻ say mê chơi, thích ngắm nhìn và thích hỏi, trẻ muốn tìm hiểu về bản thân đôi khi thích làm người lớn, thích hoà nhập với xã hội của người lớn
Đứng trước thực tế ở lớp tôi, tôi thấy có nhiều cháu vẫn chưa gọi đúng tên một số sự vật, hiện tượng, chưa phân biệt được một đặc điểm, hành động của đồ vật, con vật…….có nhiều trẻ vẫn chưa tìm tòi và quan sát được sự giống và khác nhau trong môi trường tự nhiên, cách phát âm của nhiều cháu chưa được chuẩn
và một số cháu chưa yêu thich môn học, chưa thể hiện được tình cảm thẩm mĩ với thiên nhiên xung quanh, chưa biết yêu quý và bảo vệ thiên nhiên Hoạt động khám phá khoa học,xã hội vẫn chưa được các bậc phụ huynh quan tâm bởi trong lứa tuổi mẫu giáo lớn các bậc phụ huynh chỉ cần biết con mình biết chữ, tập đếm số còn về hoạt động khám phá khoa học,khám phá xã hội là một môn học lạ với phụ huynh của trẻ
Bản thân tôi thấy rằng hoạt động khám phá khoa học,khám phá xã hội có ý nghĩa rất lớn và có tác động mạnh đến cuộc sống hàng ngày của trẻ và nó cũng có một phần ảnh hưởng đến những môn học và các hoạt động khác Vì vậy cần phải cung cấp cho trẻ một vốn kiến thức về khám phá khoa học,khám phá xã hộithật sâu sắc hơn để trẻ cảm nhận và nhận thức được mọi thứ xung quanh mình đều có
ý nghĩa và có ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân giúp trẻ phát triển toàn diện
Trang 5Từ những nhận thức trên tôi luôn trăn trở suy nghĩ, minh phải làm gì để giúp trẻ nhận thức sâu sắc về mổi trường xung quanh, nên tôi đó mạnh dạn chọn
đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa
học,khám phá xã hội ”
1.1.3 Mục đích nghiên cứu:
Trong công tác giáo dục trẻ mầm non thì việc cho trẻ khám phá khoa học,khám phá xã hội về môi trường xung quanh là không thể thiếu Môi trường xung quanh có tác dụng giáo dục về mọi mặt đối với trẻ như là : Ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực Khám phá khoa học,khám phá xã hội là phương tiện để giao tiếp và khám phá khoa học, để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là công cụ của tư duy Vì vậy các nhà giáo dục sử dụng nhiều phương pháp để cho trẻ tiếp cận với thế giới xung quanh
1.1.4 Đối tượng nghiên cứu:
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ mầm non 5 – 6 tuổi trường Mầm Non Cẩm Lĩnh A
1.1.5 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu:
Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình Tôi vận dụng vấn đề
mà bài viết này đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở chính đơn vị trường tôi đang công tác
1.1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công tác chăm sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực cho quá trình hình thành nhân cách cho trẻ
1.1.7 Phương pháp nghiên cứu:
Trước hết bản thân phải nhận định được tình hình chung của đối tượng nghiên cứu,sau đó đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu tham khảo Để xây dựng đề cương sáng kiến, áp dụng sáng kiến và hoàn thành sáng kiến
1.1.8 Phạm vi thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành trong một năm học, từ tháng 8 năm 2017 đến tháng
4 năm 2018 tại lớp Mẫu giáo số 2 trường Mầm Non Cẩm Lĩnh A
Trang 62 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
- Sách, tài liệu ,đoạn phim về khám phá khoa học,khám phá xã hội
- Tranh ảnh minh họa do giáo viên trong trường chụp
- Dựa vào triển khai thông tư 28/2016/TT- BGD$ ĐT của bộ Giáo Dục
và Đào Tạo về vệc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình GDMN quốc gia
- Kế hoạch số 56/KH-BGD về việc triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” Giai đoạn 2016-2020
- “Kiến thức khoa học” là những kiến thức chính xác ở mức độ cao, được chia làm 2 lĩnh vực: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội “Nghiên cứu khoa học” là hoạt động tìm tòi, khám phá của loài người để phát minh ra các tri thức có thể giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội
- Đối với lứa tuổi mầm non: khoa học là những hiểu biết về thế giới xung quanh mà trẻ phát hiện, tích lũy trong các hoạt động tìm kiếm khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh
Trường đóng trên địa bàn dân cư nên tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao
Vốn hiểu biết về môi trường xã hội còn hạn chế
Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn , đồ chơi của trẻ cũng rất ít , thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát
2.2.2 Số liệu điều tra trước khi thực hiện
Trang 7Ngay từ đầu năm, tôi đó tổ chức một số buổi cho trẻ khám phá , điều mà tôi gặp phải là chất lượng trẻ không đồng đều, trẻ nhận thức tốt mặt này mà chưa tốt mặt kia Mặt khác khả năng quan sát , phân loại của trẻ gặp rất nhiều khó khăn
Tình hình học tập của trẻ, tôi khảo sát theo những nội dung sau:
( Tổng số trẻ là 52)
Nội dung Tốt Khá Trung
bình Yếu Trẻ yêu thích môn học khám
*Phụ huynh tôi khảo sát theo nội dung sau:
Nội dung Đầu năm Tỉ lệ
Phụ huynh quan tâm đến trẻ 40 76,9%
Phụ huynh quan tâm đến môn
Trang 82.3.1 Biện pháp 1: Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức:
Để một hoạt động khám phá khoa học,khám phá xã hội thành công và trẻ hiểu bài tốt thì trước tiên cô phải nắm vững phương pháp, biện pháp và cách thức
tổ chức một giờ học
Trước hết để dạy trẻ khám phá khoa học,khám phá xã hội được tốt thì cô phải là người nắm vững phương pháp về lí luận diễn giải, đàm thoại, cách thức quan sát bên cạnh đó cần có lời nói diễn cảm, thuyết phục Đó là phương pháp chính giúp trẻ mầm non khám phá
Tôi phải học hỏi bạn bè nghiên cứu kĩ chương trình day khám phá khoa học,khám phá xã hội thường xuyên học tập trên các phương tiện thông tin đại chúng, xem sách báo….về những vấn đề có liên quan đến khám phá khoa học,khám phá xã hội
Thường xuyên tự rèn luyện để có năng lực, kĩ năng vận dụng thành thạo và sáng tạo trong các tiết dạy Tôi luyện tâp phương pháp nói chuẩn nói diễn cảm thu hút trẻ vào tiết học, đưa ra những câu hỏi gợi mở để trẻ thích thú tìm tòi và khám phá về những điều mới lạ trong cuộc sống., thiên nhiên, xã hội Trong tiết học tạo điều kiện cho trẻ được nhìn, được sờ mó đồ vật và làm thí nghiệm, được so sánh đặc điểm giống và khác nhau trong đồ vật Vai trò của người giáo viên đó là trở thành người hướng dẫn và tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhưng yêu cầu trong tiết học vẫn phải đảm bảo về nội dung nguyên tắc
Khi trao đổi với trẻ về nội dung trong bài tôi phải chân thành và cởi mở để làm cầu nối giữa trẻ với bài học bởi trẻ vẫn chưa am hiểu về môi trường sống xung quanh mình, tư duy vẫn còn non nớt vì thế cô là người có ảnh hưởng lớn đến trẻ
Khi cho trẻ khám phá khoa học, khám phã xã hội tôi cố gắng sử dụng hết ngôn từ mình có để diễn giải cho trẻ hiểu về đặc điểm, hành dỏng, công dụng của
đồ vật, cây cối, hoa quả, con vật….sử dụng những đồ dựng trực quan sống động
để trẻ thích thú và yêu quý môn học hơn
Qua việc học hỏi và nắm bắt được cách thức tổ chức một giờ học như trên
mà mỗi khi bước lên lớp tôi thấy tự tin hơn
2.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng môi trường học tập
Đồ dùng trực quan , đồ chơi phục vụ tiết học như: Bàn ,ghế, bảng, tranh,
mô hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động
Trang 9Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng đồ thật, vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết học sinh học
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị thêm thiết bị, đồ dùng dạy học như : Bảng, tranh ảnh, lôtô, và với mỗi tiết cần có
Môi trường học tập có vai trò rất to lớn trong việc phát triển năng lực nhận thức của trẻ.Đó là nơi đáp ứng tốt nhất cho mục đích chăm sóc giáo dục trẻ Vì vậy tôi đãtạo môi trường cho trẻ khám phá khoa học,khám phá xã hội thông qua hoạt động góc Ở đó trẻ được sống trong môi trường xã hội, được học tập làm người lớn, trẻ có thể đóng vai bố mẹ trẻ hiểu được nhiệm vụ của bố mẹ phải làm
gì, Thợ mộc, thợ xây phải làm gỡ? Qua góc phân vai trẻ đó được sống trong xã hội của người lớn, trẻ thu lượm thêm cho mình những kiến thức về xã hội, trẻ được chơi ở tất cả các góc, được làm tất cả những cụng việc thường ngày của người lớn như: đi chợ, bán hàng, thợ xây, nấu cơm, chăm sóc cây cối
*Ví dụ: Góc phân vai tôi đó chuẩn bị đồ dựng bác sĩ, nấu ăn, xây dựng, bán hàng để trẻ có thể nhập vai chơi, tim hiểu đồ dựng trong từng góc chơi để làm gì?
Từ đó trẻ dễ dàng thực hiện được nhiệm vụ, công việc cụ thể của từng vai chơi
Góc bác sĩ: trẻ biết được rằng công việc của mình là khám bệnh, chăm sóc bệnh nhân
2.3.3 Biện pháp 3: Làm đồ dùng đẹp, sáng tạo để tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn
Tư duy của trẻ là tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế nên trẻ có nhiều thuận lợi trong việc học và khám phá khoa học,khám phá xã hội Hình tượng trực quan là nguồn thông tin thẩm mĩ với tư cách là một phương tiện dạy học nó hỗ trợ đắc lực trong việc giảng dạy cho trẻ khám phá khoa học,khám phá
xã hội trong việc kết hợp giữa quan sát, diễn giải và so sánh để trẻ hiểu và có thái độ thân thiện, gần gũi với môi trường xung quanh Để một giờ học đạt kết quả tốt thì không thể xem nhẹ công tác chuẩn bị đồ dùng bởi công tác chuẩn bị
đồ dựng nó quyết định sự thành công của tiết học vì thế trước khi dạy tôi phải
Trang 10soạn bài kĩ lưỡng đề ra được yêu cầu phự hợp với khả năng nhận thức của trẻ
Đồ dùng dạy học phải đẹp kích thước hợp lý, đúng khoa học và phối hợp với nội dung từng bài học Đặc biệt trong đợt trường phát động làm đồ dùng đồ chơi tôi đều tham gia nhiệt tình và làm thêm nhiều đồ dựng phục vụ cho các hoạt động
Ngoài ra ở cỏc bài dạy tôi đều vẽ tranh có ảnh minh hoạ về các đồ vật và
sử dụng đồ vật thật để trẻ được quan sát, sờ mó và so sánh
Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ trực quan ra thì ngôn ngữ hình thể của cô giáo cũng là một phương tiện trực quan hỗ trợ làm sâu sắc hơn, sống dậy hơn trong các hoạt động khám phá khoa học,khám phá xã hội Trẻ được tiếp xúc với thế giới tự nhiên đa dạng phong phú là kho tàng vô tận giúp trẻ mở mang tri thức từ đó phát triển nhân cách ở trẻ Trẻ có thể cảm nhận được và có niềm say
mê, thích ngắm nhìn, quan sát, thích hỏi về những điều xung quanh mình qua cách dẫn dắt thể hiện cảm xúc của cô bằng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ Bởi vậy, nếu 1 hoạt động khám phá khoa học,khám phá xã hôi không thể thể hiện được điều đó thì sẽ không thể làm trẻ hứng thú với tiết học, cần phải kích thích để trẻ mong muốn được tìm hiểu, được khám phá
Khi được cô giáo cho làm quen với hình ảnh thật, tranh, đồ vật nhựa trẻ sẽ hiểu dẽ hơn về cấu tạo của từng loại đồ vật, con vật, cây cối hoặc hoa quả, trẻ tự tìm tòi khám phá đưa ra những câu hỏi hỏ, trẻ cóthể so sánh được sự giống và khác nhau, hiểu được công dụng của những thứ trẻ tìm hiểu từ đó tạo dựng trong lòng trẻ một tình yêu với thiên nhiên, với cuộc sống biết hướng tới cái đẹp
2.3.4 Biện pháp 4: Làm giàu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh thông qua tiết học
Biểu tượng về thế giới xung quanh đến với trẻ qua nhiều hình thức:
Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật … Giúp trẻ không bị nhàm chán, lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình
Ví dụ : Cho trẻ làm quen với con cua :
“ Con gì tám cẳng hai càng
Đầu thì không có bò ngang cả đời”
Trẻ đoán ngay được đó là con cua Nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về con cua được chính xác là con cua có hai càng to, có tám chân này, lại bò ngang nữa
Cho trẻ làm quen với con cá, tôi dùng câu đố
“Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà đi dưới hồ”
Trang 11Trẻ trả lời đó là con cá Nhưng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể,
có vây có đuôi, vẩy, môi trường sống của chúng…
Từ đó trẻ có thể so sánh xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau,có đặc điểm gì khác nhau? Sau đó trẻ có thể phân nhóm
Ngoài ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới xung quanh cho trẻ, qua hình ảnh mô hình, con vật thật …
Vì cho trẻ khám phá khoa học, khám phá xã hội nên trong mỗi hoạt động với mỗi mẫu vật, hay tranh ảnh, tôi đều cho trẻ quan sát kỹ, cho trẻ đưa ra nhiều
ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm vật mẫu
Ví dụ: Làm quen với con cua, trẻ đã tìm được đặc điểm của con cua có hai càng to, tám chân… Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “các con có biết con cua nó đi như thế nào không?” Trẻ trả lời được là con cua bò ngang, tôi dùng que chỉ rõ, cua có mai cua, yếm cua cứng để bảo vệ cơ thể chúng
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường sống của chúng, cách vận động, (Đi như thế nào?) các bộ phận
cơ thể ra sao Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát dễ hơn , từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại cũng rất tốt
Ví dụ: Trong tiết dạy tìm hiểu với động vật sống dưới nước
Tôi cho trẻ thi “đố vui” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn
“Nhà hình soắn nằm ở dước ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa nhỉ ngơi một mình.”
Trang 12Tôi thường tổ chức các trò chơi trong tiết học Các trò chơi động ,trò chơi tĩnh đan xen nhau để tạo hứng thú , tiết dạy vui tươi , trẻ thêm phần hoạt bát nhanh nhẹn
2.3.5 Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng cụng nghệ thông tin vào giảng dạy
Ở trường tôi cũng có đầu tư ti vi kết nối HĐMI , đầu video, máy tính nên việc giảng dạy bằng công nghệ thông tin được áp dụng trong trường Qua đó không những bản thân tôi mà tất cả giáo viên trong trường đều có thể phát huy tối
đa khả năng làm việc của mình và còn trở thành một giáo viên năng động, sáng tạo và hiện đại, phù hợp với sự phái triển của người giáo viên nhân dân trong thời đại công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin đó mở ra hướng đi mới cho ngành giáo dục trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học
Phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ
Nội dung, tư liệu bài giảng giới thiệu cho trẻ mang tính chân thực phong phú, có thể cho trẻ làm quen với những hiện tượng tự nhiên, xã hội mà trẻ có thể
tự bắt gặp trong thực tế
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
em có những ưu việt lớn so với cách giảng dạy truyền thống Trẻ em hào hứng, chủ động và sáng tạo trong giờ học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em
Thông qua những giờ học cô áp dụng công nghệ thông tin, sử dụng những hành vi đẹp, hình ảnh đẹp, những kỹ năng sống được chuyển tới trẻ một cách nhẹ nhàng và sống động, góp phần hình thành ở trẻ nhận thức về cái đẹp, biết yêu quý cái đẹp, mong muốn tạo ra cái đẹp trong cuộc sống và những kỹ năng sống cần thiết đối với lứa tuổi mầm non
2.3.6 Biện pháp 7: Kết hợp giữa phụ huynh và cô giáo để đạt kết quả dạy trẻ cao nhất:
Như chúng ta đã biết gia đình là môi trường giáo dục trẻ đầu tiên.Giáo dục trẻ cần được sự ủng hộ của gia đình Vìvậy nhất thiết phải phối hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh để tìm hiểu nắm được tình hình của trẻ đặc biệt là kiến thức nuôi dạy con theo khoa học của phụ huynh Bởi như chúng ta vẫn thường dạy trẻ:
“Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo, khi đến trường cô giáo như mẹ hiền” Hai người