Làm thế nào để GV không những giúp đưa đến những kiến thức mới cho HS mà còn hướng dẫn xây dựng, hệ thống hóa, tổng hợp liên kết nhằm tạo điều kiện để HS nắm bắt kiến thức một cách dễ dà
Trang 1MỤC LỤC
I Những vấn đề chung
I.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 2
I.2.Đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát thực nghiệm……… 3
I.3 Phạm vi, thời gian thực hiện đề tài 3
II Nội dung và kết quả nghiên cứu
II.1 Cơ sở lý luận 4
II.2 Cơ sở thực tiễn 5
II.3 Những biện pháp thực hiện 6
a Bước 1: Chuẩn bị của giáo viên 6
b Bước 2: Chuẩn bị của học sinh 7
c Bước 3: Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy 7
d Bước 4: Các hoạt động dạy học trên lớp với sơ đồ tư duy 7
* Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập từ vựng(VOCABULARY): ………….7, 8 * Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập ngữ pháp(GRAMMAR):………… 9, 10 * Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập ngữ âm(PRONUNCIATION) : ……… 11
*Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập (REVIEW): ………12
III Những kết luận và khuyến nghị III.1 Kết quả thu được của SKKN: so sánh đối chứng giữa hai bài kiểm tra 1 tiết số 1 và số 3 ………13
III.2 Những nhận định chung và sản phẩm về việc áp dụng và khả năng phát triển của đề tài ……… …14, 15 III.3 Các đề xuất và khuyến nghị 16
* Tài liệu tham khảo 17
* Phụ lục 18, 19
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHỐI 6 HỆ THỐNG HÓA MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ TỪ VỰNG, NGỮ PHÁP VÀ
NGỮ ÂM BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY”
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1 Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thời “Công nghệ 4.0 - Thời đại phát triển mạnh mẽ, thế giới luôn luôn vận động và thay đổi đến từng giây” Tiếng Anh ngày càng được xem là thứ tiếng thông dụng nhất trên thế giới Khi xã hội phát triển, nhu cầu vật chất cũng như tinh thần và cả tri thức của con người cũng đang đòi hỏi cần phải được nâng cao Do đó việc học tập chăm chỉ chưa hẳn là giải pháp tối
ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà là học như thế nào và sử dụng công nghệ gì Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu không chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức Nghiên cứu về hoạt động của bộ não con người, người ta chỉ ra rằng bộ não hoạt động gồm 2 nhánh:
- Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng
- Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy, phân tích, … cho ra sản
phẩm
Hình 1
Trang 3Và hiện nay phương pháp dạy học được đổi mới và tập trung nâng cao
hơn nữa theo triết lý lấy người học làm trung tâm, nhằm phát huy cao độ
tính tự giác, tư duy tích cực, độc lập và sáng tạo của người học Để làm được điều đó thì vấn đề tiên quyết ở người GV là cần nhận thức rõ quy luật nhận thức của học sinh, trong đó học sinh là chủ thể hoạt động, chiếm lĩnh tri thức
và rèn luyện kỹ năng Làm thế nào để GV không những giúp đưa đến những kiến thức mới cho HS mà còn hướng dẫn xây dựng, hệ thống hóa, tổng hợp liên kết nhằm tạo điều kiện để HS nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng và
nhẹ nhàng nhất, đòi hỏi những thầy cô giáo dạy Tiếng Anh như chúng tôi phải suy nghĩ làm thế nào để giúp học sinh đạt được mục tiêu và phương châm trên
Để phát triển tốt 2 kĩ năng nghe, nói thì GV phải trang bị đủ cả bốn kĩ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết cho HS
Từ những lý do trên, tôi nhận thấy sự cần thiết của việc sử dụng Sơ Đồ Tư Duy (SĐTD) như một công cụ hữu ích giúp tạo nên một bức tranh tổng quát, hệ
thống hóa các kiến thức và mối liên quan trong bài học cho HS không những mang đến cho các em phương pháp học tập đúng đắn như một công cụ hỗ trợ việc học tập trở nên dễ hiểu dễ nhớ hơn mà còn giúp các em có được thói quen
tự kích thích tư duy, suy luận logic, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo, Trong quá trình giảng dạy tôi cũng đã kết hợp những kinh nghiệm đúc kết được trong quá trình dạy học cùng với việc áp dụng phương pháp học tập sử dụng SĐTD cho HS rất thành công Vì vậy tôi chọn đề tài: “ Sử dụng Sơ Đồ Tư Duy
để hệ thống hóa kiến thức từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm Tiếng Anh 6 ” Trong lĩnh vực và phạm vi đề tài lần này nhằm mang đến cách tiếp cận và sử dụng SĐTD hiệu quả nhất Với mục đích nâng cao chất lượng dạy và học trong tiết học hiện nay cũng như nâng cao dần chất lượng đại trà cho học sinh, do vậy tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình đã thực hiện để quí đồng nghiệp tham khảo không chỉ riêng môn Tiếng Anh mà còn đối với nhiều môn học khác trong
trường học
I.2 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát thực nghiệm:
Học sinh lớp 6A,B
I 3 Phạm vi, thời gian nghiên cứu:
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 8/2019 -5/2020
- Đề tài tập trung ở từng đơn vị bài học (unit), vì mỗi unit là một chủ
đề
Trang 4II NỘI DUNG
II.1 Cơ sở lý luận:
“ Sử dụng Sơ Đồ Tư Duy để hệ thống hóa kiến thức Từ vựng , ngữ pháp và ngữ
âm cho học sinh lớp 6” là yếu tố rất quan trọng khi học bất kỳ một ngôn ngữ nào Cách học từ vựng phổ biến bây giờ của các em học sinh là ngồi viết đi viết lại các từ cho đến khi nhớ Nhưng sau một thời gian ngắn hoặc sau khi học sang bài khác thì vốn từ mới vừa học lại quên Khi vốn từ vựng của học sinh không nhiều, học sinh sẽ cảm thấy gặp khó khăn trong việc sử dụng Tiếng Anh đặc biệt
là kỹ năng nghe, nói và đọc hiểu Đó chính là một trong những nguyên nhân làm giảm hứng thú việc học tập của học sinh, mặc dù các em học hành chăm chỉ nhưng kết quả thi của các em không cao Việc xây dựng được một “hình ảnh” có tính hệ thống, thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng
và khả năng sáng tạo
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy nếu chỉ dạy học sinh bằng cách ghi chép thông thường thì rất nhiều học sinh chán học hoặc nếu học cũng sẽ quên rất nhanh những từ vựng đã học trên lớp Vì vậy tôi đã mạnh dạn áp dụng sơ đồ tư duy của tác giả Tony Buzzan để hướng dẫn học sinh học ôn tập củng cố từ vựng, ngữ pháp ngay trên lớp và tự ôn tập ở nhà
Trước khi tiến hành đề tài này tôi đã có một bước khảo sát qua bài kiểm tra 45’
số 1 như sau: - Số học sinh: Lớp 6A, 6B tổng sĩ số 68 học sinh
Lớp TS
HS
Số bài Ktra
Điểm 0-2,0
Điểm 2,5-4,5
Điểm 5-6,5
Điểm 7-8,5
Điểm 9,0-10 %
trên
TB
6A 35 35 4 11,4 8 22,9 17 48,6 6 17,1 0 0 65,7 6B 33 33 3 9,1 8 24,2 17 51,5 5 15,2 0 0 66,7 Qua bảng thông kê trên tôi thấy tỷ lệ dưới trung bình còn khá cao (34,3%) Còn số lượng các bài điểm 9-10 không có (o%) Do đó bản thân tôi nhận thấy mình cần phải đổi mới phương pháp dạy sao cho phù hợp với nhiều đối tượng học sinh Vì vậy dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh để khai thác kiến thức thông qua sơ đồ tư duy là nghiên cứu và được dạy thực nghiệm ở học sinh khối lớp 6
Trang 5II.2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng của vấn đề)
a Thuận lợi:
- Đây là phương pháp học tập mới, thoải mái, thú vị và sáng tạo và là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên được sự ủng hộ từ các cấp trong ngành giáo dục, phụ huynh, học sinh,…
- Chương trình TA lớp 6 TĐ có nhiều nội dung phù hợp với phương
pháp giảng dạy dùng SĐTD để phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức
- Về cơ sở vật chất của trường học hiện nay đã có nhiều đổi mới tạo
điều kiện cho hoạt động dạy và học: Phòng CNTT, đèn chiếu, bảng phụ,…
- Phương pháp sử dụng SĐTD trong việc dạy các kiểu bài phù hợp với
tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống Vì vậy sơ đồ tư duy vừa dễ nhìn, dễ viết, lại vừa mang tính tổng hợp, kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
b Khó khăn:
- Phương pháp giảng dạy này tuy tôi đã triển khai hai năm học rồi, nhưng nó vẫn còn mới nên GV và HS không khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, sử dụng như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng ra sao,
- Nội dung môn TA THCS, đặc biệt là môn TA lớp 6 TĐ có dung lượng nhiều, khó, … nên GV khó dạy, HS khó học
- Đòi hỏi GV cần phải có những kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm
- Cơ sở vật chất ở trường học tuy có đổi mới, nhưng chưa thực sự đáp
ứng và chưa phù hợp: không gian lớp học, trang thiết bị - đồ dùng dạy học, thời lượng tiết học, …
- Môi trường học tiếng ở địa phương hiện nay chưa đáp ứng được
trong việc thực hành giao tiếp Phần lớn gia đình HS chưa có sự đầu tư đúng cách, chưa dành sự quan tâm đúng mức, còn xem thường và cũng do nhu
cầu lợi ích chưa thiết thực trong thời điểm HS đang học
Trang 6II.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã nghiên cứu và tiến hành áp dụng
thử nghiệm đề tài: “SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ HỆ THỐNG HÓA KIẾN
THỨC TỪ VỰNG – NGỮ PHÁP – NGỮ ÂM TIẾNG ANH LỚP 6”
Trước khi tiến hành tôi đã giới thiệu cho học sinh biết “Sơ đồ tư duy” là gì:
“Sơ đồ tư duy (SĐTD) được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy
của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết, việc thiết kế
SĐTD theo mạch tư duy, nhằm phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi
người” Nhờ vào sơ đồ tư duy tôi có thể giúp học sinh ghi nhớ một cách nhanh
chóng hơn Học sinh muốn nắm bắt được tốt một ngôn ngữ nói chung và ngôn
ngữ Tiếng Anh nói riêng thì trước tiên phải ghi nhớ được một số lượng từ vựng,
ngữ pháp nhất định Chính vì lẽ đó tôi đã áp dụng để giảng dạy và hướng dẫn
học sinh hệ thống hóa từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm… Sau đây là các bước thực
hiện:
a Bước 1: Chuẩn bị của giáo viên: - Giáo viên liệt kê trước một số chủ đề từ
vựng lớn trong sách như: “ My School, My House, Family, Activities, Classes,
Places, Body, Food and Drink, Sports and Games, Countries ,” Khi học đến
các chủ đề đó, giáo viên cho học sinh nắm vững chủ đề đã học và hệ thống các
từ vựng liên quan đến chủ điểm
Ví dụ: như hình dưới là chủ đề về “My New School” Unit 2 (Sách giáo khoa
Tiếng Anh 6)
Trang 7b Bước 2: Chuẩn bị của học sinh
Yêu cầu học sinh chuẩn bị một số các dụng cụ sau đây:
- Một hộp bút màu, bút chì
- Giấy A4, A3 hoặc tận dụng các mặt sau của các bức tranh, ảnh, lịch tết
c Bước 3: Hướng dẫn học sinh vẽ
- Cho học sinh đọc hiểu nội dung cần thiết kế trên SĐTD
- Học cách thiết kế SĐTD bằng cách cho học sinh hoàn thiện các SĐTD do GV
vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung…
- Thực hành vẽ SĐTD trên giấy, bìa, bảng…
d Bước 4: Các hoạt động dạy học trên lớp với SĐTD:
Từ việc học sinh nắm vững được phương cách xây dựng SĐTD và quy trình tổ chức xây dựng SĐTD trong dạy học Đồng thời qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lý luận của nhiều nhà hoạt động trong ngành giáo dục Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với SĐTD như sau:
- Hoạt động 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của GV
- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết
minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến
thức của bài học đó GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
- Hoạt động 4: củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn hoặc
một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
* Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập từ vựng:
Từ vựng là một trong những loại ngữ liệu rất cần thiết để xây dựng
thành ý, thành câu, thành bài văn hoàn chỉnh và như tôi đã nói ở các phần trên, trong chương trình SGK môn TA 6 TĐ có rất nhiều từ vựng Vậy làm
sao để giúp HS lớp 6 tiếp thu và nhớ được khối lượng lớn từ vựng trong quá trình học mà không gây nhàm chán
Sau đây là một số hình ảnh sơ đồ tư duy về một số chủ đề Tiếng Anh 6 thí điểm:
Ví dụ 1: UNIT 2: MY HOME, ở phần CLOSER LOOK 1
Trang 8Qua SĐTD này HS dễ dàng nhớ được các phòng trong một ngôi nhà và các thiết
bị trong từng phòng
Miêu tả trạng thái buồn, tôi hướng dẫn HS vẽ mặt buồn:
Ví dụ 2: UNIT 3: MY FRIENDS Giúp HS học và nhớ tính từ chỉ
tính cách (ADJECTIVES FOR PERSONALITY) để miêu tả người thân, bạn bè, tôi hướng đẫn các em vẽ 2 SĐ sau để chỉ trạng thái vui và buồn,
miêu tả trạng thái vui, tôi hướng dẫn HS vẽ mặt cười:
Trang 9Cứ như thế chúng ta chịu khó hướng dẫn và bày vẽ thường xuyên để
HS có thói quen học và ôn tập từ vựng bằng SĐTD Tôi hy vọng thói quen này sẽ giải đáp được điều phân vân trên
* Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập ngữ pháp:
Khi HS đã có thói quen học và nhớ từ vựng được nhiều, thêm vào đó
nếu các em nắm vững và vận dụng tốt các điểm ngữ pháp, thì việc học TA của các em sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn nhiều Tôi tiến hành hướng dẫn HS lần lượt ôn tập bằng SĐTD như sau:
Ví dụ: + Để chuẩn bị cho bài KT số 1, ngoài những kiến thức các em
đã được luyện và ôn, tôi hướng đẫn các em vẽ 2 SĐTD: VERB + NOUN và TENSES (Simple present, present continuous) ở tiết ôn tập:
Trang 10+ Cũng như trên, bổ sung kiến thức chuẩn bị cho bài KT 1
tiết số 2, tôi hướng đẫn HS vẽ 2 SĐ: COMPARATIVE
ADJECTIVES và SUPERLATIVE OF SHORT
ADJECTIVES
Trang 11* Sử dụng SĐTD để dạy và ôn tập ngữ âm: PRONUNCIATION :
Phát âm chuẩn cũng là một trong những tiêu chí để học tốt môn TA
và giúp HS trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp, nên tôi hướng dẫn HS vẽ SĐTD: PRONUNCIATION, tổng hợp các âm HS đã gặp trước khi các em thi HKI
*Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập (REVIEW):
Để chuẩn bị cho bài KT số 3, tôi giúp HS vẽ sơ đồ TENSES (Simple
present, present continuous, simple past, present perfect) Vì thời gian trên lớp không nhiều nên tôi hướng dẫn các em chuẩn bị sẵn một SĐTD về bốn thì trên ở nhà Đến giờ ôn tập tôi cho các em hoạt động theo nhóm, các em khá / giỏi diễn giải cho các bạn trong nhóm hiểu Sau đó tôi mời 1 HS giỏi nhất lớp lên bảng nhìn sơ đồ giải thích lại một lần nữa trước khi các em vận dụng vào bài tập trong SGK
Trang 12+ Hai sơ đồ THREE Rs và CONDITIONAL SENTENCES (Type 1) được
hướng dẫn vẽ để các em ôn tập chuẩn bị cho bài KT số 4
Trang 13III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
III.1 Ý nghĩa và kết quả của đề tài:
- Sử dụng SĐTD trong việc đổi mới phương pháp dạy học đã dược tôi thực sự bắt tay vào việc vận dụng SĐTD để giúp HS lớp 6 học TA có hiệu quả
- Từ khi vận dụng SĐTD vào dạy và học đã tạo sự tích cực cho học sinh; giáo viên và học sinh làm việc nhiều hơn nhưng thấy thoải mái và hứng thú
hơn Qua một thời gian áp dụng đề tài SKKN vào dạy môn TA 6 TĐ, cụ
thể là từ bài KT 45 phút số 1 (HKI) và kiểm nghiệm tính ứng dụng của nó
qua bài KT 45 phút số 3 (HKII), tôi có được kết quả như sau:
Lớp TS
HS
Số bài Ktra
Điểm 0-2,0
Điểm 2,5-4,5
Điểm 5-6,5
Điểm 7-8,5
Điểm 9,0-10 %
trên
TB
6A 35 35 0 0 2 5,7 14 40 16 45,7 3 8,6 94,3 6B 33 33 0 0 1 3,0 14 42,4 15 45,5 3 9,1 97
So sánh, đối chiếu kết quả giữa 2 bài KT chỉ qua một thời gian ngắn,
nhìn chung tôi thấy HS có sự tiến bộ rõ rệt, kết quả làm bài của các em có sự thay đổi tuy ít nhưng rất đáng mừng rằng kết quả đạt loại TB, K, G tăng lên, ngược lại số YẾU, KÉM giảm xuống Đáng mừng hơn ở chỗ HS yếu, kém cũng đã biết học theo SĐTD từ đó các em vận vào bài làm Đó chính là kết quả thiết thực nhất thể hiện sự thay đổi lối tư duy của các em
0
1
2
3
4
5
6
Điểm 0 - 2,0 Điểm 2,5 - 4,5 Điểm 5 - 6,5 Điiẻm 7 - 8,5 Điểm 9,0 - 10
Bài kiểm tra số 1 Bài kiểm tra số 3 Series 3