Đối với lớp 2, việc dạy môn Tiếng Việt là nhiệm vụ hết sức cần thiết giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong suốt quá t
Trang 1===o0o===
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC
SINH LỚP 2
Lĩnh vực : Tiếng Việt Tên tác giả : Tô Thị Lợi Chức vụ : Giáo viên
NĂM HỌC: 2021- 2022
Trang 2- 2 -
Trang 3Để thực hiện đổi mới giáo dục và nhằm nâng cao chất lượng dạy học phù hợp với sự phát triển của đất nước hiện nay Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học nói chung và bậc Tiểu học nói riêng là hết sức cần thiết
Năm học 2021 - 2022 là năm học thứ hai Bộ giáo dục áp dụng chương trình giáo dục phổ thông 2018 Ở cấp Tiểu học, thực hiện đổi mới chương trình ở lớp 2
Đối với lớp 2, việc dạy môn Tiếng Việt là nhiệm vụ hết sức cần thiết giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong suốt quá trình học tập cũng như áp dụng vào công việc, cuộc sống sau này Dạy học Tiếng Việt được thực hiện thông qua việc hình thành và rèn luyện cho học sinh 4 kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe Điều này cho thấy sự đổi mới so với quan điểm trước đây là rèn các kĩ năng: nghe,
nói, đọc, viết Tức là, với quan điểm giáo mới thì “đọc” là kĩ năng đặc
biệt quan trọng trong chương trình giáo dục Tiếng Việt lớp 2
Trong quá trình giảng dạy tại đơn vị trường TH&THCS Sơn Thủy tôi nhận thấy thực trạng học sinh lớp 2C học môn Tiếng Việt 2 theo chương trình giáo dục phổ thông mới còn nhiều bỡ ngỡ, tiếp thu kiến thức còn gặp rất nhiều khó khăn Từ nhận thức trên, tôi đã suy nghĩ trăn trỡ rất nhiều: Phải làm
Trang 4- 2 -
sao để cho các em có được kĩ năng đọc tốt và tôi quyết định chọn đề tài “Một
số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2” để nghiên cứu với mong
muốn tạo thêm hứng thú và nâng cao chất lượng học tập cho các em
Trang 5- 3 -
II- NỘI DUNG
1 Thời gian thực hiện:
Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, tại trường Tiểu học Tản Hồng
2 Đánh giá thực trạng:
Qua những năm giảng dạy và làm công tác dạy Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung và dạy Tiếng việt đọc ở lớp 2C nói riêng tôi nhận thấy: Khả năng tiếp thu môn học Tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế so với các môn Toán hay Tự nhiên Xã hội Ở Tiếng việt đọc lớp 2 đa phần các em đã đọc được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu, học sinh phát âm chưa đúng thanh điệu Đặc biệt học sinh lớp tôi đang giảng dạy đa số các em đọc chưa đúng thanh điệu, kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu
tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu là giới hạn những câu đối thoại của mình Với thực tế trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2C với mong muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn nhằm đạt hiệu quả cao trong việc dạy
và học
Khi tiến hành làm sáng kiến này tôi đã nghiên cứu sách hướng sách Tiếng Việt lớp 2 để tìm hiểu nội dung cấu trúc của chương trình, tìm hiểu việc học của các em, tìm hiểu các tài liệu hướng dẫn của ngành, nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dự giờ Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến Tiếng Việt
Trang 6em chưa biết ngắt nghỉ hơi đúng dấu câu, chưa biết đọc diễn cảm từ ngữ cần thể hiện thái độ, sắc thái biểu cảm Một số em còn đánh vần thành tiếng, chưa
có kĩ năng đọc trơn, trôi chảy câu văn hay đoạn văn
Sau đợt khảo sát, tôi tập trung chú ý đến chất lượng học tập của từng
em trong mỗi tiết học, tôi lập sổ ghi chép lại quá trình học tậpmột cách cụ thể rồi tổng hợp lại; sau đó phân theo nhóm để rèn luyện học sinh được sâu sát hơn
Như vậy, tỉ lệ học sinh đọc còn chậm chưa đúng tốc độ và đọc đánh vần còn rất cao, dẫn đến kết quả tiết học Tiếng việt đọc còn khô khan, các em
Trang 7- 5 -
không hăng hái khi đọc Một trong số lí do dễ thấy là vì một số em chưa được
sự quan tâm của gia đình Bên cạnh đó cũng có một vài em chưa chăm chỉ học tập Nhiều học sinh bố mẹ đi làm ăn xa nên phải ở nhà với ông bà Vì vậy, là giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, phát huy những mặt tích cực của học sinh Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng và thích thú Giáo viên gần gũi, yêu thương động viên kịp thời để học sinh thích học Nhận thức rõ điều này, thấy rõ được những khó khăn cơ bản, tôi đã thực hiện một số biện pháp rèn kĩ đọc cho học sinh lớp 2 để cho học sinh đọc tốt
2.2 Những mặt còn hạn chế:
Đây là năm đầu tiên tôi được lãnh đạo nhà trường phân công dạy lớp 2, cũng là năm thứ 2 áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới nên đôi lúc tôi vẫn còn lúng túng trong việc xác định tiến trình và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giúp các em nắm bài hiệu quả
GV còn khó khăn trong vấn đề tiếng địa phương, chưa thành thạo, chưa hiểu biết nhiều về tiếng địa phương
Do tình hình dịch COVID-19, chương trình kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt thời lượng các tiết trong tuần tăng nên khó khăn trong việc tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức của HS
HS với trình độ nhận thức khác nhau nên việc tiếp thu kiến thức không đồng đều, GV rất vất vả khi truyền đạt kiến thức theo chương trình mới cho các em
Các em là người dân tộc thiểu số nên vốn từ còn hạn chế, môn Tiếng Việt (phần luyện viết đoạn nhiều, đa dạng nội dung) nên khó khăn cho HS trong việc viết đoạn văn, câu văn diễn đạt chưa rõ ràng
Thời gian thực hành, ôn luyện Tiếng Việt ít nhưng lượng bài tập khá nhiều
Trang 8- 6 -
Việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học và vui chơi, đồ dùng trực quan chưa đầy đủ, việc đổi mới phương pháp dạy và ứng dụng công nghệ thông tin của bản thân còn hạn chế
Một số em học sinh trong lớp ý thức trong học tập chưa cao, phụ huynh các em đa số đều làm nghề nông, và là người dân tộc thiểu số, đi làm ăn xa chưa quan tâm nhiều đến việc chuẩn bị sách vở ở nhà và đồ dùng học tập nên các em hay quên ảnh hưởng nhiều đến việc học tập ở lớp
Cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ nên giáo viên phải thực
sự linh động và nghiên cứu bài liên tục để tìm giải pháp khắc phục khó khăn
2.3 Nguyên nhân đạt được và nguyên nhân hạn chế:
2.3.1 Nguyên nhân đạt được:
- Về phía giáo viên:
Được sự quan tâm và chỉ lãnh đạo sâu sát của các cấp về chuyên môn Phòng giáo dục tổ chức bồi dưỡng giáo viên, nhà trường đã tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn chia sẻ kinh nghiệm dạy chuẩn kiến thức kĩ năng cho học sinh tiểu học v v… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy
Bên cạnh đó, nhà trường thường xuyên tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy
Bản thân đã được tập huấn chương trình lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 nên nắm rõ mục tiêu, quan điểm xây dựng chương trình do đó có sự chủ động trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp đối với học sinh
Khi nhà trường họp thống nhất lựa chọn bộ sách giáo khoa phù hợp để phụ vụ công tác giảng dạy năm học 2021- 2022, tôi đã nghiên cứu kĩ và lựa chọn sách Kết nối tri thức làm công cụ hỗ trợ để phục vụ mục tiêu giáo dục
Trang 9- 7 -
Tiếng Việt lớp 2 theo chương trình tổng thể
Bản thân luôn có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chữa bài nghiêm túc, khách quan, tỉ mĩ
Bản thân trau dồi tri thức, luôn tìm tòi học tập để nâng cao trình độ, học hỏi ở đồng nghiệp để tìm ra phương pháp dạy học tối ưu nhất Theo phương pháp dạy học mới, giáo viên hướng dẫn học sinh chủ động tích cực sáng tạo trong các hoạt động liên tiếp diễn ra sôi nổi nên không khí lớp học không buồn tẻ, đơn điệu Việc đầu tư nhiều vào chuẩn bị bài lên lớp cho từng hoạt động, chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ cho từng hoạt động, điều đó giúp giáo viên tự tin hơn trong việc giảng dạy và rèn kỹ năng đọc tốt hơn cho học sinh
- Về phía học sinh
Học sinh ở lứa tuổi tiểu học đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 các em rất hiếu động trong tiết học, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận tìm ra kiến thức mới còn giúp cho học sinh phát triển ngôn ngữ, các em rất thích những lời khen, khích lệ, từ đó các em rất say mê phát biểu, chính là góp phần giúp các em rèn kỹ năng nói tốt hơn
Đa số các em ngoan, có ý thức tự giác trong học tập đã hình thành từ năm học trước
2.3.2 Nguyên nhân hạn chế:
Đây là năm đầu tiên thực được lãnh đạo nhà trường phân công dạy lớp
2, cũng là năm thứ 2 áp dụng chương trình giáo dục mới nên tôi đôi lúc vẫn còn lúng túng trong việc xác định tiến trình và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giúp các em nắm bài hiệu quả
Chương trình mới do đó vẫn chưa được trang bị đồ dùng, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nên giáo viên phải thực sự linh động và nghiên cứu bài liên tục để tìm giải pháp khắc phục khó khăn
- Các em là người dân tộc thiểu số, kinh tế gia đình còn khó khăn nên việc học tập của các em chưa được chú trọng, một số phụ huynh chưa quan
Trang 10- 8 -
tâm đến việc học của con em mình Trang thiết bị, đồ dùng học tập của các
em còn hạn chế Việc học ở nhà lại chưa có sự kèm cặp quan tâm của cha mẹ
Đa số phụ huynh là người địa phương nên còn nói tiếng địa phương là chủ yếu, phát âm chưa chuẩn Đó là nguyên nhân làm cho đa số học sinh phát âm sai, ngọng
- Một số em gia đình đông con, thiếu sự quan tâm chăm sóc của cha
mẹ Nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa phải ở nhà với ông bà khó có điều kiện quan tâm nhắc nhở các em việc học ở nhà đến việc học tập của học sinh, đều trông chờ vào giáo viên
- Các em chưa tự tin, mạnh dạn trong trình bày những ý kiến của mình Ngược lại trốn tránh mặc cảm, nhút nhát, sợ sệt
Trang 11- 9 -
III GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1 Căn cứ thực hiện:
1.1 Cơ sở lý luận
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó
là hình thành 4 kỹ năng: Đọc – viết – nói – nghe ( theo chương trình GDPT 2018) cho học sinh Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt
bậc Tiểu học Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có
Đối với học sinh lớp 2, việc dạy đọc đúng cho các em vô cùng quan trọng Nếu như chương trình hiện hành xác định mục tiêu hàng đầu của việc học Tiếng Việt là rèn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết thì đổi mới giáo dục chú trọng rèn kĩ năng đọc – viết- nói – nghe Kĩ năng đọc là một trong những điều kiện cần thiết giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong suốt quá trình học tập cũng như
áp dụng vào công việc, cuộc sống sau này
1.2 Cơ sở thực tiễn
Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống;
Trang 12Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người
và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học
1.2.2 Yêu cầu cần đạt về nội dung đọc trong môn Tiếng Việt lớp 2
Theo quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 2018, dựa vào mục tiêu về phẩm chất và năng lực ở môn Tiếng Việt lớp 2 để đưa đưa ra yêu cầu cần đạt về nội dung như sau:
ĐỌC
KĨ THUẬT ĐỌC
– Đọc đúng các tiếng
- Thuộc bảng chữ cái Tiếng Việt; biết phân
biệt tên chữ cái (a, bê, xê, ) và âm (a, bờ,
cờ, ) mà chữ cái và con chữ biểu hiện
– Đọc đúng và phát âm rõ ràng các đoạn văn,
câu chuyện, bài thơ, văn bản thông tin ngắn
Tốc độ đọc khoảng 60 – 70 tiếng trong 1
phút Biết ngắt hơi ở chỗ có dấu câu, chỗ
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
1 Bảng chữ cái tiếng Việt, sự khác
nhau giữa tên chữ cái (a, bê, xê, )
và âm (a, bờ, cờ, )
2 Vốn từ theo chủ điểm 3.1.Từ chỉ sự vật, hoạt động, tính
chất
3.2.Công dụng của dấu chấm, dấu
chấm hỏi, dấu chấm than: đánh dấu kết thúc câu; dấu phẩy: tách các bộ
Trang 13- 11 -
ngắt nhịp thơ
– Bước đầu phân biệt được lời nhân vật
trong đối thoại và lời người kể chuyện để
đọc với ngữ điệu phù hợp
– Biết đọc thầm
– Nhận biết được thông tin trên bìa sách:
tranh minh hoạ, tên sách, tên tác giả, nhà
Đọc hiểu nội dung
– Biết nêu và trả lời câu hỏi về một số chi
tiết nội dung trong văn bản như: Ai? Cái gì?
Làm gì? Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì
sao?
– Hiểu điều tác giả muốn nói qua văn bản
đơn giản dựa vào gợi ý
Đọc hiểu hình thức
– Nhận biết được địa điểm, thời gian, các sự
việc chính của câu chuyện
– Nhận biết được hình dáng, điệu bộ, hành
động của nhân vật qua ngôn ngữ và hình
ảnh
– Nhận biết được thái độ, tình cảm giữa các
nhân vật thể hiện qua hành động, lời thoại
phận đồng chức trong câu
4.1.Hội thoại: lắng nghe, nói theo
lượt lời
4.2.Đoạn văn
– Đoạn văn kể lại một sự việc – Đoạn văn miêu tả ngắn, đơn giản theo gợi ý
– Đoạn văn nói về tình cảm của mình với những người thân yêu – Đoạn văn giới thiệu loài vật, đồ vật;
văn bản hướng dẫn thực hiện một hoạt động, bưu thiếp, danh sách, mục lục sách, thời khoá biểu, thời gian biểu
5.Thông tin bằng hình ảnh (phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ)
KIẾN THỨC VĂN HỌC
1.Đề tài (viết, kể về điều gì) 2.Hình dáng, điệu bộ, lời thoại của nhân vật
3.Tình cảm, thái độ giữa các nhân vật
4.Vần trong thơ
NGỮ LIỆU
1.1 Văn bản văn học
Trang 14– Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 35 văn bản
văn học có thể loại và độ dài tương đương
với các văn bản đã học
– Thuộc lòng ít nhất 6 đoạn thơ, bài thơ hoặc
đoạn văn đã học; mỗi đoạn thơ, bài thơ, đoạn
văn có độ dài khoảng 30 – 45 chữ
Văn bản thông tin
Đọc hiểu nội dung
– Biết nêu và trả lời được câu hỏi về các chi
tiết nổi bật của văn bản như: Ai? Cái gì?
Làm gì? Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì
sao?
– Dựa vào gợi ý, trả lời được: Văn bản viết
về cái gì và có những thông tin nào đáng chú
ý dựa vào gợi ý
Đọc hiểu hình thức
– Nhận biết được một số loại văn bản thông
tin đơn giản, thông dụng qua đặc điểm của
văn bản: mục lục sách, danh sách học sinh,
thời khoá biểu, thời gian biểu, văn
bản giới thiệu loài vật, đồ vật hoặc văn bản
hướng dẫn thực hiện một hoạt động
– Nhận biết được trình tự các sự việc, hiện
– Cổ tích, ngụ ngôn, truyện ngắn; đoạn (bài) văn miêu tả
– Bài thơ, đồng dao, ca dao, vè
Độ dài của văn bản: truyện khoảng
180 – 200 chữ, bài miêu tả khoảng
150 –180 chữ, thơ khoảng 70 – 90 chữ
1.2 Văn bản thông tin – Văn bản giới thiệu về loài vật, đồ dùng; văn bản hướng dẫn một hoạt động đơn giản bao gồm cả dạng kí hiệu
– Danh sách học sinh; mục lục sách; thời khoá biểu; thời gian biểu
Độ dài của văn bản: khoảng 110 –
140 chữ
2 Gợi ý chọn văn bản: xem danh mục gợi ý
Trang 15- 13 -
tượng nêu trong văn bản
Liên hệ, so sánh, kết nối
– Nêu được các thông tin bổ ích đối với bản
thân từ văn bản
– Nhận biết được thông tin cơ bản của văn
bản thể hiện qua nhan đề, hình ảnh minh hoạ
và chú thích hình ảnh
Đọc mở rộng
Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 18 văn bản
thông tin có kiểu văn bản và độ dài tương
đương với các văn bản đã học
Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu cần đạt mà chương trình tổng thể đưa ra Kết hợp quá trình nghiên cứu, lựa chọn các loại sách giáo khoa phù hợp để phục vụ giảng dạy Trường chúng tôi đã lựa chọn Sách Tiếng Việt Kết nối tri thức do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn và in ấn bởi một số đặc điểm sau:
Quan niệm chung về SGK Tiếng Việt mới:
• Làm cho việc học ngôn ngữ hấp dẫn và thú vị
• Giúp HS phát triển hiệu quả năng lực ngôn ngữ
- Dạy học qua các hoạt động giao tiếp tự nhiên và gần gũi với đời sống
- Bài học có sự tích hợp kỹ năng đọc, viết, nói và nghe
- Tích hợp giáo dục ngôn ngữ với các nội dung giáo dục khác giúp học sinh phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
- Bài học thiết kế các hoạt động (nhiệm vụ của HS được thể hiện tường minh)
- HS được trải nghiệm, chia sẻ hiểu biết, cảm xúc, hứng thú… (tăng cường tương tác)
- Ngữ liệu đặc sắc, gần gũi, kênh hình đẹp, sinh động giúp khơi gợi hứng thú của học sinh