1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Skkn 2023) biện pháp dạy luyện từ và câu lớp 4 5

26 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp dạy luyện từ và câu lớp 4 - 5
Tác giả Dương Thị Lan Thành, Trần Thị Đạo Tĩnh
Trường học Trường Tiểu học Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 861,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng yêu cầu và chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng trong những năm vừa qua cho thấy: để học tốt phân môn luyện từ và câu cần có năng lực nhận t

Trang 1

1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Trong thời đại hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước hiện nay Nhiệm

vụ giáo dục được đưa lên hàng đầu, Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và đầu

tư bồi dưỡng nhân tài Việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu và bồi dưỡng học sinh đại trà là một trong những nhiệm vụ quan trọng đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là việc làm thường xuyên Hơn nữa chúng ta đều hiểu rằng tiêu chí đánh giá giáo viên là chất lượng giảng dạy thông qua học sinh Đặc biệt trong thời đại kinh tế, tri thức, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đòi hỏi một nền giáo dục tiên tiến, có nhiều đổi mới tích cực Thực trạng yêu cầu và chất lượng môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng trong những năm vừa qua cho thấy: để học tốt phân môn luyện từ và câu cần có năng lực nhận thức, nắm chắc các kiến thức về Luyện từ và câu

Để có được đạt chất lượng về kiến thức phân môn Luyện từ và câu thì trước hết người giáo viên phải chú ý đến từng đối tượng học sinh ngay từ lớp hai Cần đặt

ra yêu cầu mức độ đối với những học sinh có năng lực học tốt môn Tiếng Việt đồng thời có biện pháp bồi dưỡng ngay Giáo viên phải biết khai thác những khả năng tiềm tàng của học sinh gây lòng tin và hứng thú cho học sinh vươn lên cao hơn

Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh đại trà bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm về biện pháp bồi dưỡng học sinh học tốt môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh phát triển vốn từ ngữ phong phú, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn

Vì thế tôi đã chọn đề tài này mong được tham gia đóng góp một phần nhỏ vào

sự phát triển giáo dục của huyện nhà trong giai đoạn đất nước đang phát triển và đổi mới

Giúp học sinh có hứng thú học tập và làm tốt các dạng bài tập về kiến thức

Luyện từ và câu nên tôi đã chọn đề tài:

Biện pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4 - 5

2 Tên sáng kiến: “Biện pháp dạy Luyện từ và câu lớp 4 - 5.”

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Dương Thị Lan Thành

Trang 2

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

Dương Thị Lan Thành - Giáo viên - Trường Tiểu học Yên Thạch, huyện Sông

Lô, tỉnh Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Đề tài được áp dụng trong việc thực hiện giảng dạy và bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu và học sinh đại trà kiến thức về luyện từ và câu lớp 4 lớp 5 tại trường Tiểu học Yên Thạch nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói

chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng cho học sinh lớp 4 và lớp 5

Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Yên Thạch

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Ngày sáng kiến áp dụng lần đầu: Ngày 10 tháng 9 năm 2022

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1 1 Thực trạng:

a Thuận lợi:

- Môn Tiếng Việt được phân chia thành 2 dạng bài cụ thể: thứ nhất phải nắm rõ

lí thuyết đó là phần kiến thức cơ bản, thứ hai là dạng bài tập cho học sinh thực hành, nội dung phong phú, đa dạng

- Học sinh đã biết lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Các bậc phụ huynh quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để học sinh học tập.Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày Vừa học các khái niệm cơ bản vừa được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức Từ đó giúp các em có khả năng sử dụng thành thạo các bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các

Trang 3

3

phân môn khác Hầu hết các em có đầy đủ tài liệu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Đó cũng là điều kiện cần và đủ để giúp các em học sinh học tốt môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học và cũng là nền móng cho các em bước lên bậc học tiếp theo

b Khó khăn:

- Do khả năng nhận thức của học sinh còn nhiều hạn chế các em học sinh chưa nắm chắc kiến thức cơ bản về luyện từ và câu, nhiều em vẫn không biết vận dụng lí thuyết vào để làm bài tập, yếu tố cũng rất quan trọng là các em học sinh vẫn còn rất lười học, chưa tập trung chú ý nghe giảng nên dẫn đến không làm được bài tập thực hành

- Học sinh khi làm bài tập về cấu tạo câu, phân biệt câu đơn, câu ghép hay phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm và từ trái nghĩa khi đó học sinh rất hay nhầm lẫn không phân biệt đúng

- Sự quan tâm của phụ huynh chưa đồng đều, đặc biệt một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình phần lớn các em học sinh có bố mẹ đi làm công ty nên không quan tâm chú trọng đến việc học của con em mình, chủ yếu các em ở nhà với ông bà nên việc nhắc nhở và kiểm tra đôn đốc các em học sinh học tập còn hạn chế

Đầu năm học tôi tiến hành khảo sát phần kiến thức phân môn Luyện từ và câu, sau khi khảo sát tôi đã phân tích, tìm ra nguyên nhân và biện pháp để nâng cao chất lượng

Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

7.1.2 Biện pháp bồi dưỡng chung:

- Theo dõi, điều tra

- Thường xuyên kiểm tra

- Xây dựng lựa chọn hệ thống bài tập từ dễ đến khó theo từng giai đoạn

- Tổ chức hoạt động ngoại khoá

Trang 4

- Học sinh phải nắm chắc nội dung kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, làm thành thạo các bài tập trong sách giáo khoa

- Củng cố và hướng dẫn học sinh khắc sâu kiến thức đã học thông qua việc gợi ý các câu hỏi đi sâu vào nội dung bài học, kiến thức trọng tâm thông qua yêu cầu học sinh tự tìm ví dụ để minh hoạ Đặc biệt thông qua vận dụng thực hành Kiểm tra kiến thức đã tiếp thu các bài tập đã làm

- Ra thêm một số bài tập nâng cao hơn để học sinh vận dụng sâu khái niệm đã học một cách sáng tạo

- Yêu cầu làm các bài tập trừu tượng có đòi hỏi phải có sự tư duy tốt

- Nhớ các khái niệm, kiến thức đã được học vận dụng thực hành thành thạo

- Tùy theo từng đối tượng học sinh giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, để phát huy tính tích cực tính sáng tạo, chủ động tiếp thu kiến thức của học sinh

- Giới thiệu về các nhà văn, nhà thơ có trong các bài đã học

- Tổ chức cho học sinh thi khảo sát thường xuyên vào cuối tuần, cuối tháng

- Cho học sinh làm bài kiểm tra trên lớp theo cấu trúc đề khác nhau tuỳ theo lượng thời gian quy định

- Giáo viên chấm chữa bài cho học sinh, có những bài giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp (chấm tay đôi cùng với từng học sinh) Có những bài kiểm tra của

Trang 5

phân môn luyện từ và câu Tôi có đưa ra một số biện pháp sau :

* Bằng cách dùng hình ảnh trực quan để phát huy tính tích cực của học sinh

Giáo viên phải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài phải thật cụ thể phù hợp với từng đối tượng học sinh

Ví dụ 1: Mở rộng vốn từ “Đồ chơi – Trò chơi”

Các em học sinh chuẩn bị 1 số đồ chơi các em học sinh hay chơi, kể tên một số trò chơi mà các em đã chơi Sau đó, miêu tả lại đồ vật đó cùng cách chơi Thông qua hình ảnh trực quan giúp các em học sinh hứng thú học tập và phát triển được

tư duy sáng tạo, tiếp thu bài một cách nhanh nhất

Ví dụ 2: Bài Mở rộng vốn từ Nhân hậu - Đoàn kết

Bài1: Tìm các từ ngữ:

a Nói lên lòng nhân hậu, tình yêu thương đồng loại

b Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương

c Thể hiện tinh thần đùm bọc hoặc giúp đỡ đồng loại

d Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ

Ở bài tập này, tôi hướng dẫn học sinh như sau:

- Dựa vào các bài Tập đọc “Tiếng rao đêm”, bài “Người ăn xin” để tìm các từ theo các yêu cầu của bài tập (Hai bài tập đọc trên nội dung đều ca ngợi những con người có tấm lòng nhân hậu)

- Cho học sinh xem một trích đoạn băng đĩa hình về những hình ảnh cứu trợ, ủng hộ đồng bào gặp thiên tai, ủng hộ người nghèo… để giúp các em liên hệ tìm

Trang 6

6

*Thay đổi nhiều hình thức dạy học phong phú, đa dạng

Ví dụ:

- Thảo luận nhóm để tìm từ đúng với yêu cầu đề bài

- Chơi trò chơi “Gắn thẻ từ” Từ trò chơi tạo cho học sinh hứng thú học tập

- Trao đổi, thảo luận và trả lời các câu hỏi do giáo viên đưa ra để hướng dẫn giúp sinh hiểu thế nào là danh từ

- Các em học sinh vận dụng những kiến thức đã học để hoàn thành các bài tập trên phiếu Trong từng tiết học giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học là nhiệm vụ rất cần thiết Với cách làm này đã thu hút học sinh có hứng thú khi tham gia vào các bài học, các em học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, vận dụng làm bài tốt mà giờ học vẫn diễn ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên mà rất hiệu quả

*Bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, nâng cao chất lượng đại trà:

Trong một lớp bao giờ cũng có nhiều đối tượng như học sinh khá, giỏi, học sinh trung bình và có thể có cả học sinh yếu Các bài tập trong sách giáo khoa theo yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng thì mọi đối tượng học sinh đều phải đạt được Đồng thời nhà trường tổ chức dạy học hai buổi/ ngày nên có nhiều thời gian để các em được ôn luyện lại những kiến thức đã học vào các buổi chiều Chính vì vậy, bản thân tôi nhận thấy cần phải thiết kế các dạng bài tập dành cho học sinh có năng khiếu, từng bước nâng cao chất lượng học sinh trung bình và yếu là việc làm thường xuyên trong các giờ học

*Phối hợp bài dạy với các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Ví dụ 1: Tổ chức các cuộc thi; hội vui học tập, …

Ví dụ 2: Tổ chức cho học sinh tham gia chơi trò chơi Rung chuông vàng, tôi

hướng dẫn học sinh chơi như sau:

- Bước 1: Phổ biến luật chơi

- Bước 2: Nêu yêu cầu chơi

Học sinh suy nghĩ, tìm ra phương án trả lời đúng nhất lần lượt viết vào bảng con các từ thích hợp trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống hoàn chỉnh câu tục ngữ Giáo viên sẽ quy định về thời gian khi nào có hiệu lệnh tiếng chuông rung lên thì học sinh đồng loạt sẽ giơ bảng Em nào sai sẽ bị loại và về vị trí chỗ ngồi, phải hát một bài hoặc đọc một câu thành ngữ hoặc tục ngữ nói về quê hương, đất nước cho cả lớp nghe

- Bước 3: Yêu cầu học sinh chơi

Trang 7

sẽ tự giác, chủ động học tập, chủ động tiếp thu kiến thức, chủ động nắm được kĩ năng cần thiết

Ảnh minh họa

*Thay đổi yêu cầu của bài trong Sách giáo khoa sao cho phù hợp với thực

tế và tư duy của học sinh

Ví dụ 1: Trong bài: Luyện tập cẩu kể Ai là gì?

Bài tập: Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 câu kể về một người thân trong gia đình

em (có dùng câu kể "Ai là gì?”)

Tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹp vốn bắt nguồn từ đời sống thực tế, trong quá trình dạy, giáo viên liên hệ thực tế để học sinh tìm đến kiến thức thì các em làm bài tập tốt hơn, hứng thú hơn và hiệu quả hơn Ngược lại sau mỗi hoạt động hoặc mỗi bài giảng, giáo viên cần liên hệ thực tế để giáo dục các em vận dụng những điều đã học vào cuộc sống, từ đó các em thêm yêu quê hương đất nước mình hơn Có như vậy, các em mới cảm thấy kiến thức bài học thật gần gũi, thật ý nghĩa

Trang 8

* Biện pháp cụ thể như sau:

Phân môn Luyện từ và câu được tách thành một phân môn độc lập, có vị trí rất quan trọng Về phần nội dung dạy Luyện từ và câu trong chương trình Tiếng Việt, chiếm tỉ lệ khá cao Điều đó nói lên ý nghĩa quan của việc dạy Luyện từ và câu Dạy Luyện từ và câu giúp học sinh mở rộng vốn từ, phát triển ngôn ngữ, trau dồi ngôn ngữ Luyện từ và câu là một phân môn bao gồm lượng kiến thức khá rộng lớn nó giúp con người vận dụng vào cuộc sống và để học tốt nhiều môn học khác

- Yêu cầu đối với giáo viên có vốn từ ngữ phong phú:

- Cách dạy phải đa dạng, máy móc vào sách giáo khoa, phải có sáng tạo, sinh động mới cuốn hút được học sinh; điều kiện giảng dạy không đơn điệu mà phải

có tranh ảnh, đồ dùng dạy học trực quan sinh động thông qua các trò chơi để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo cho học sinh tiểu học Để tiết dạy Luyện từ và câu vừa nhẹ nhàng vừa đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chú trọng đến việc tìm nhiều hình thức dạy học để tạo hứng thú nâng cao chất lượng học Luyện từ và câu cho học sinh

* Dạng bài tập sửa lỗi dùng từ sai:

Ví dụ 1:

Tìm những chỗ sai ở mỗi câu dưới đây rồi viết lại cho hoàn chỉnh và đúng ngữ pháp:

a Tuy vườn nhà em nhỏ bé và không có cây ăn quả

b Vì mẹ bị ốm nên mẹ đã làm việc quá sức

Với dạng bài tập này tôi yêu cầu học sịnh đọc thật kĩ đề bài, phân tích đề bài và tìm ra phương án làm bài tập này

Hướng dẫn:

Trang 9

9

- Câu a: dùng chưa đủ cặp từ chỉ quan hệ trong câu ghép (tuy…nhưng…)

Có thể chữa lại bằng cách thêm một vế câu và từ chỉ quan hệ đúng cặp (ví dụ:

nhưng mẹ em trồng được rất nhiều rau xanh) câu chữa lại:

+Tuy vườn nhà em nhỏ bé và không có cây ăn quả nhưng mẹ em trồng được rất

nhiều rau xanh

- Câu b: đặt sai 2 vế nguyên nhân- kết quả trong câu ghép có cặp từ chỉ quan hệ

Vì…nên…

Có thể chữa lại bằng cách đổi lại vị trí 2 vế câu như sau:

+ Vì mẹ đã làm việc quá sức nên mẹ bị ốm

* Dạng bài tập về kĩ năng sử dụng dấu câu:

- Yêu cầu học sinh phải nhớ lại tác dụng của từng loại dấu câu sau đó vận dụng

để làm bài tập

Ví dụ:

Điền các dấu câu đã học (dấu phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm, dấu chấm cảm, dấu chấm hỏi, dấu gạch ngang) vào câu văn dưới đây và viết lại cho đúng chính tả Một chú công an vỗ vai em

cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm

cảnh vật xung quanh tôi đáng có sự thay đổi lớn hôm nay tôi đi học

Hướng dẫn:

Các câu văn đã điền dấu câu như sau:

Một chú công an vỗ vai em:

Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm!

Cảnh vật xung quanh tôi đáng có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học

* Dạng bài tập về cấu tạo từ:

Trang 10

10

- Tôi đã hướng dẫn học sinh cách phân biệt từ đơn, từ ghép và từ láy cần yêu cầu

học sinh nhắc lại những khái niệm cơ bản như:

+ Thế nào là từ đơn?

+ Thế nào là từ ghép?

+ Từ láy và từ ghép khác nhau ở chỗ nào?

Học sinh nhớ và trả lời đúng khái niệm sau đó mới yêu cầu học sinh làm bài

Ví dụ 1: Xếp các từ sau vào hai nhóm: từ ghép và từ láy

xa xôi, phẳng lặng, phẳng phiu, mong ngóng, mơ màng, mơ mộng, xa lạ

b Cho biết tên gọi của kiểu từ ghép và kiểu từ láy ở mỗi nhóm trên

Với bài tập này tôi đã yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, xác định yêu cầu đề bài, sau đó làm bài tập

Đáp án:

+ Từ ghép: xa lạ, phẳng lặng, mong ngóng, mơ mộng

+ Từ láy: xa xôi, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng

+ Nêu đúng tên gọi:

Kiểu từ ghép: có nghĩa tổng hợp

Kiểu từ láy: láy âm

Ví dụ 2: Hãy sắp xếp những từ sau thành các nhóm

núi đồi, rực rỡ, chen chúc, vườn, dịu dàng, ngọt, thành phố, ăn, đánh đập

Dựa vào cấu tạo (từ đơn, từ ghép, từ láy)

Hướng dẫn:

Dựa vào cấu tạo:

- Từ đơn: vườn, ngọt, ăn

Trang 11

11

- Nhóm 1: giàu đẹp, gấm vóc

- Nhóm 2: oanh liệt, vẻ vang

- Nhóm 3: quê hương, xứ sở, Tổ quốc, đất nước, non sông

- Nhóm 4: đi xa quê hương, chân trời góc bể

b Từ láy: vẻ vang, sâu sắc

Ví dụ 4:

Tìm từ đơn, từ ghép và từ láy có trong đoạn thơ sau:

Hai cha con bước đi trên cát

Bóng cha dài lênh khênh

Bóng con tròn chắc nịch

Hướng dẫn

+ Các từ đơn có trong đoạn thơ trên là: hai, bước, trên, đi, cát

+ Các từ ghép có trong đoạn thơ trên là: cha con, mặt trời, chắc nịch

+ Các từ láy có trong đoạn thơ là: rực rỡ, lênh khênh

Ví dụ 5: Dạng bài tập trắc nghiệm: Trong các từ sau đây, từ nào không

Ví dụ 7: Tìm từ láy đôi, láy ba, láy tư:

Từ láy đôi: long lanh, thấp thoáng

Từ láy ba: sạch sành sanh

Từ láy từ: hớt hơ hớt hải

Để giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu về khái niệm từ ghép và từ láy

và tạo hứng thú học tập, hướng dẫn học sinh thuộc lý thuyết, rèn cho các

em kĩ năng vận dụng, thực hành thành thạo các bài tập về từ ghép và từ

láy thông qua một số hình thức học tập, tôi thường thiết kế các câu hỏi

Trang 12

12

dưới dạng trắc nghiệm, trò chơi học tập Khi các em được tham gia vào

trò chơi thì các em sẽ hứng thú học tập, mạnh dạn, tự tin hơn và các em

được rèn kĩ năng hợp tác góp phần phát triển tư duy sáng tạo trong học

tập Trò chơi điển hình mà tôi sử dụng là Ai nhanh ai đúng?

*Dạng bài tập về từ loại và kĩ năng xác định từ loại:

Yêu cầu học sinh phải nhớ lại kiến thức Từ loại là gì? và kể tên các từ loại

Trang 13

13

Ví dụ 2: Hãy cho biết các từ "nhớ", "nỗi nhớ", "mong", "nỗi mong" khác nhau

như thế nào về từ loại trong ví dụ sau:

"Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha."

Đáp án:

- Động từ: nhớ, mong

- Danh từ: nỗi nhớ, nỗi mong

*Dạng bài giải nghĩa các thành ngữ tục ngữ:

+Giải nghĩa các thành ngữ tục ngữ sau:

+ Chịu thương chịu khó: chăm chỉ cần cù không ngại khó, không ngại khổ vượt

qua mọi khó khăn thử thách

a Truyền thống nhân ái: Môi hở răng lạnh, máu chảy ruột mềm

b Truyền thống lao động cần cù: Có công mài sắt có ngày nên kim

* Dạng bài về câu đơn, câu ghép, xác định chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ

Học sinh phải hình dung lại khái niệm, cách đặt câu hỏi để tìm chủ ngữ,

vị ngữ và tìm trạng ngữ Nắm chắc khái niệm về câu đơn và câu ghép sau đó vận

dụng để làm bài tập Câu có chủ ngữ và vị ngữ diễn đạt ngược với trật tự bình

thường đó là câu đảo ngữ, những câu đảo ngữ có tác dụng nhằm nhấn mạnh ý

nêu ở bộ phận vị ngữ

Ví dụ 1: Trong các câu dưới đây câu đơn và câu ghép?

a Người mặc chiếc áo màu xanh là cố giáo dạy tôi hồi lớp 5

b Mùa xuân đã đến, cây bàng đâm chồi nảy lộc Hướng dẫn:

Câu a là câu đơn, câu b là câu ghép

Ngày đăng: 19/06/2023, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w