Dạy văn miêu tả ở Tiểu học giúp các em học sinh biết quan sát và phát hiện ra những điều mới lạ, thú vị trong cuộc sống.. Để các em học sinh học được tốt văn miêu tả thì đò
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Bậc Tiểu học là một bậc học rất quan trọng Dạy văn miêu tả ở Tiểu học giúp các em học sinh biết quan sát và phát hiện ra những điều mới lạ, thú vị trong cuộc sống Một bài văn hay là một bài văn mà làm cho người đọc, người nghe như thấy hiện ra trước mắt mình đối tượng miêu tả đó, sống động như nó đang tồn tại ngay trước mắt
Để các em học sinh học được tốt văn miêu tả thì đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức của các môn học trong chương trình cùng với vốn sống, vốn
từ thực tế của bản thân Đối với học sinh Tiểu học, phân môn Tập làm văn quả là khó khăn Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, óc quan sát tinh tế Để học các em sinh học tốt văn miêu tả điều quan trọng đầu tiên là giúp cho học sinh biết tìm ra những hình ảnh, chi tiết nổi bật, riêng biệt, biết lựa chọn các từ ngữ miêu tả làm cho văn của mình sinh động, hấp dẫn hơn
Khi đọc các bài văn miêu tả của các em học sinh tôi nhận thấy rằng đa số bài làm của các em đều chuyển từ miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc Là người tham gia giảng dạy tôi nhận thấy tình trạng này diễn ra không phải là ít Vì thế, người giáo viên cần phải làm gì và làm như thế nào? để tiết học nhẹ nhàng hơn, các em hứng thú hơn và đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy, học tập Tập làm văn? Đây chính là lí do khiến tôi mạnh rạn
đưa ra sáng kiến “Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
2 Tên sáng kiến : Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
3 Các tác giả đồng sáng kiến.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Nhung.
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hải Lựu.
- Số điện thoại: 0963119635
E mail: t omkang22 @gmai.com
- Họ và tên : Đoàn Thị Phượng.
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Tiểu học Hải Lựu.
- Điện thoại: 0345403965
E mail: phuongdtk6tin@gmail.com
- Địa chỉ tác giả đồng sáng kiến: Trường Tiểu học Hải Lựu, Sông Lô, Vĩnh Phúc
Trang 24 Các chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Nhung, Đoàn Thị Phượng
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Áp dụng trong công tác giảng dạy học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, bổ sung kinh nghiệm và vốn hiểu biết cho bản thân
- Áp dụng trong quá trình dạy và học văn miêu tả
- Đối tượng: Học sinh lớp 4B1 trường TH Hải Lựu, xã Hải Lựu – Sông Lô – Vĩnh Phúc
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
- Tháng 9/2022 đến tháng 5/2023
7 Nội dung chính mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Mục đích áp dụng sáng kiến:
Tôi đưa ra biện pháp này với mong muốn:
- Rèn luyện kĩ năng viết các bài văn miêu tả cho học sinh
- Rèn kĩ năng quan sát, giao tiếp cho học sinh
- Nâng cao chất lượng học văn miêu tả cho học sinh lớp 4
7.2 Nghiên cứu thực trạng của lớp trước khi áp dụng sáng kiến:
Năm học 2022 - 2023 tôi được BGH nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4B1, trường Tiểu học Hải Lựu với tổng số học sinh là 27 em Chúng tôi nhận thấy:
7.2.1 Thuận lợi:
- Lớp có 27 học sinh Hầu hết các em đều ở gần trường thuận tiện cho việc
đi lại Ban giám hiệu nhà trường quan tâm đến các lớp đặc biệt là những đối tượng đặc biệt trong lớp
- Nhìn chung các em nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả
- Đa số phụ huynh đã quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình
7.2.2 Khó khăn:
- Do đặc điểm các em học sinh tiểu học vẫn còn mải chơi, chưa chú tâm vào việc học đặc biệt là nội dung văn miêu tả Khả năng vận dụng của một số em còn kém
- Một số em còn chưa phân biệt được đâu là mở bài, thân bài, kết bài Bài
văn của các em còn kém hấp dẫn, rập khuôn, ít cảm xúc
- Nhiều em chưa biết dùng các từ ngữ gợi cảm, gợi tả; vốn từ nghèo nàn, sử dụng chưa đúng dấu câu, liên kết câu chưa hợp lí, nhiều em còn lặp từ ngữ Bởi vậy bài văn của các em thường thiếu liên kết, cộc lốc, lủng củng,…
7 3 Thực trạng dạy học văn miêu tả lớp 4 hiện nay.
7.3.1 Thực trạng
Trang 3- Các em học sinh vẫn chưa phân biệt được cấu trúc 3 phần của bài văn Các
em dùng từ, viết câu chưa đúng, chưa biết viết câu văn hoàn chỉnh, chưa biết cách trình bày một cách mạch lạc, gãy gọn
- Nhiều em chưa có kĩ năng quan sát còn kém dẫn đến còn lúng túng khi tự quan sát, chủ yếu quan sát bằng mắt.
Ví dụ: Khi cho các em quan sát một cây bóng mát trên sân trường như cây xà cừ,
đứng trước một xà cừ cao lớn, cành lá sum suê có nhận xét về cây xà cừ đó thì các
em trả lời
Cây xà cừ rất to ạ! Cây xà cừ rất cao ạ! Cây xà cừ có nhiều cành nhánh ạ!
Khi trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra các em còn trả lời chung chung, chưa diễn tả được những nét nổi bật của cây xà cừ, chưa lựa chọn được từ ngữ phù hợp để miêu tả
- Việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật của các em còn hạn chế, các em
chưa biết cách sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm Đặc biệt các em còn sử dụng rất nhiều từ ngữ bị lặp, chủ yếu là liệt kê các bộ phận của sự vật, chưa nêu được các nét nổi bật của các bộ phận đó Bởi vậy bài văn thường cộc lốc, lủng củng, khô khan, không có sự liên kết giữa các câu văn
Ví dụ: Khi miêu tả chiếc cặp sách đã có học sinh viết : “Chiếc cặp của em có
chiều dài hai gang tay, chiều rộng một gang tay” hay khi tả con chó con, một học sinh đã viết “Con chó của em to bằng quả cam, cái đuôi như như cái ống nước”.
- Do ở vùng nông thôn nên việc sử dụng các vốn từ, vốn sống của các em cò
hạn chế
- Bài văn các em còn dập khuôn, máy móc, còn sao chép lại văn mẫu
Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài :
Nội dung cần đạt
Thời điểm khảo sát/Số học sinh đạt
Khi bắt đầu áp dụng đề tài
Giữa học
kì II
Cuối năm học
- Còn nhiều lúng túng khi lập dàn bài và
- Biết lập dàn bài, viết bài văn đủ 3 11 40,7%
Trang 4-Viết được bài văn hay, biết bám vào
các hình ảnh, kết hợp sự sáng tạo, sử
dụng biện pháp tu từ đơn giản của cá
nhân
Qua bảng khảo sát trên cho thấy chất lượng học văn miêu tả còn thấp
7.3.2 Nguyên nhân hạn chế:
- Một số giáo viên cung cấp ít vốn từ cho học sinh
- Kiến thức môn Tiếng Việt ở Tiểu học thiên về cấu trúc đồng tâm, các em phải liên kết được những kiến thức, kỹ năng mà mình đã học được ở những năm học trước với kiến thức mới học thì mới hoàn thiện được các kiến thức, kĩ năng cần thiết cho môn Tiếng Việt Chính vì lẽ đó, nhiều các em học sinh những kiến thức các lớp dưới của các em chưa nắm chắc, còn hổng nhiều nên khi lên các lớp trên sẽ khó khăn trong việc học Tiếng Việt và vận dụng, dẫn đến các em chán nản, không thích học môn Tiếng Việt nói chung và văn miêu tả nói riêng
- Ngoài ra, hiện nay sự hấp dẫn của các trò chơi hoặc các trang WEB, các nền tảng mạng xã hội như FACEBOOK, ZALO, TIKTOK trên INTERNET khiến các
em quên đi sự đa dạng của thế giới thiên nhiên xung quanh : ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, mưa gió,
7.4 Mô tả các giải pháp.
7.4.1 Giải pháp 1: Tổ chức, hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả
a) Hướng dẫn học sinh quan sát bằng nhiều giác quan
* Dùng mắt để quan sát
Dùng thị giác (mắt) quan sát sự vật, có thể phát hiện ra nhiều nét độc đáo tinh tế của sự vật
Ví dụ như Phạm Hải Châu đã quan sát cái áo bằng cách rất tỉ mỉ và tinh tế từ hình dáng, đường khâu, hàng khuy, cái cổ, cái măng sét đến cảm giác khi mặc áo, chân thật giản dị và gần gũi, đã tạo nên cái áo của ba thật ấn tượng, sâu sắc, đầy
cảm xúc: “Chiếc áo sờn vai của ba dưới bàn tay vén khéo của mẹ đã trở thành cái
áo xinh xinh, trông rất oách của tôi Cái cổ áo như hai cái lá non trông thật dễ thương Cái măng sét ôm khít lấy cổ tay tôi”.
Với đề bài: Tả một cây bóng mát mà em yêu thích
Trang 5Quan sát bằng thị giác (mắt), các em thấy được tầm thước của cây to, cao như thế nào, tán lá, cành cây, lá ra sao?
* Quan sát bằng tai
Dùng tai để có thể nghe được âm thanh nhịp điệu và gợi cảm xúc Để học sinh có khả năng quan sát bằng tai, tôi đưa ra các bài tập, như:
- Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh của tiếng ve trên các tán lá
* Quan sát bằng mũi:
Quan sát bằng khứu giác sẽ giúp các em hiểu sâu hơn về đối tượng quan sát,
từ đó biết chọn ra những nét tinh tế, đặc sắc của sự vật
Nếu biết quan sát một cách tinh tế thì chúng ta sẽ phân biệt được các mức độ khác nhau của mùi thơm đó Từ đó học sinh sẽ lựa chọn được từ ngữ miêu tả phù hợp, chính xác
* Quan sát bằng vị giác, xúc giác:
Ngoài ra cần giúp học sinh quan sát bằng xúc giác, vị giác
Tôi thường tổ chức cho các em quan sát bằng các câu hỏi gợi ý, như:
Khi cầm quai xách em cảm thấy như thế nào?
Khi sờ thân cây phượng em có cảm giác như thế nào?
b) Lựa chọn trình tự quan sát :
*Trình tự không gian : Thường quan sát từ bao quát đến chi tiết từng bộ
phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoài vào trong, từ
xa lại gần
Ví dụ : Khi miêu tả cái h: Tôi luôn hướng dẫn cho các học sinh quan sát đặc điểm
chung của cái cặp rồi quan sát các bộ phận nổi bật của cái cặp từ ngoài vào trong, cái cặp có màu gì, hình gì… Nó có mấy ngăn Các ngăn đó em đựng những gì?
* Trình tự thời gian : Miêu tả theo trình tự thời gian tạo cho bài văn logic
mà và lột tả được đặc điểm của sự vật
Để rèn luyện cho học sinh quan sát tốt tôi hướng dẫn các em quan sát cây bàng trong sân trường theo trình tự không gian, các em đã lập dàn ý theo sơ đồ tư duy như sau:
Trang 6c) Tìm ra được nét riêng biệt, nét tiêu biểu, nét độc đáo của sự vật
Nhà văn Tô Hoài đã từng nói: “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi chẳng cần đầy đủ sự việc, chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận như Một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ, mới bật lên và khi bật lên thì thấy thích thú hào hứng không ghi không chịu được.” (Trích
“sổ tay viết văn” – NXB tác phẩm mới 1977) Ví dụ:
Tả cây ăn quả: các em phải tập trung vào quả, quá trình phát triển, hương vị, hình dáng,…
Trang 7Tả cây hoa: các em phải tập trung vào tả vẻ đẹp rực rỡ của hoa, màu sắc, mùi hương của hoa
Tả cây bóng mát: các em phải tập trung tả lá, tán lá…
d) Sử dụng tranh ảnh để quan sát
Đồ dùng trực quan trong văn miêu tả chủ yếu là tranh ảnh, mẫu vật thật cho học sinh quan sát như cái bút, quyển sách, cái cặp, Tuy nhiên, nhiều đối tượng miêu tả không thể cho học sinh quan sát trực tiếp tại lớp, mà phải tự quan sát tại gia đình, ngoài xã hội (con chó, cây chuối đang có buồng, luống rau, vườn hoa…) Vì vậy, khi hướng dẫn tại lớp, muốn gợi mở dẫn dắt có hiệu quả thì phải sử dụng tranh, ảnh giúp học sinh nhớ lại những điều đã quan sát từ trước qua những bức tranh, những hình ảnh mà giáo viên thu thập bằng cách quay video, chụp hình … trình chiếu lên cho học sinh quan sát
Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh tả con lợn thì tôi sưu tầm hình ảnh lợn lhay
hình ảnh cây cam, cây bưởi khi miêu tả cây cam, cây bưởi,….để học sinh có thể tả một cách chi tiết sinh động hơn
7.4.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài văn miêu tả bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực.
Lập dàn ý là một việc làm quan trọng khi viết văn, đặc biệt là văn miêu tả Các em sẽ dựa vào dàn ý đó viết thành một bài văn đủ ý, mạch lạc và theo một trình tự nhất định
Để học sinh có kĩ năng lập dàn ý một bài văn miêu tả, tôi cho học sinh làm quen bằng việc rút dàn ý từ những bài tập đọc dạng miêu tả trong sách giáo khoa
Ví dụ : Bài Hoa học trò (Tiếng Việt 4 )
- Giáo viên cho các em học sinh đọc bài Hoa học trò của nhà văn Xuân
Diệu, yêu cầu các em thảo luận nhóm và thực hiện yêu cầu bài tập:
+ Xác định từng phần bài văn
+ Nêu các nội dung chính của từng phần bài văn
Sau khi học sinh thảo luận xong, giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh dàn ý của bài văn như sau:
- Mở bài: Giới thiệu về hoa phượng, những tán hoa như muôn ngàn con bướm thắm
- Thân bài:
+ Hoa phượng là hoa học trò
+ Mùa xuân cây phượng ra lá mát rượi, ngon lành như lá me non
+ Mùa hè đến hoa phượng bắt đầu nở
+ Hoa phượng nở bất ngờ như mang đến tin thắm
- Kết bài: Hoa phượng nở rộ báo hiệu mùa hè đã dến
Trang 8Sau khi các em hình thành dàn ý hoàn chỉnh, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng
sơ đồ tư duy để hoàn thiện dàn ý một số đề bài cụ thể
7.4.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn của bài văn miêu tả
a) Hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài :
Mở bài là phần mở đầu trong cấu trúc bài văn miêu tả
Có nhiều cách để mở bài, tùy đối tượng học sinh tôi hướng dẫn các em các cách mở bài khác nhau ( mở bài trực tiếp hay gián tiếp)
Ví dụ : Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loại cây ăn quả nhưng em thích
nhất là cây bưởi do ông em trồng
Tôi khuyến khích những học sinh có năng khiếu viết văn viết mở bài theo
cách gián tiếp Tức là hình thức mở bài bắc cầu.
Ví dụ : Với đề bài Tả cây hoa Học sinh viết: Mùa xuân là mùa của cỏ cây, mùa của trăm hoa khoe sắc muôn nơi Đào thì phơn phớt hồng, mai thì vàng rực dưới nắng còn những đóa hồng thì đỏ rực Thật là muôn màu muôn vẻ, hoa nào cũng đẹp, cũng rực rỡ Nhưng loài hoa em thích nhất là hoa cúc.
b) Hướng dẫn học sinh viết đoạn thân bài
Đây là phần quan trọng nhất của bài văn Phần thân bài có thể là một đoạn hoặc nhiều đoạn văn Mỗi đoạn có một nội dung nhất định
Trang 9Ví dụ : Với đề bài : Tả cây bàng trên sân trường em.
Dựa vào dàn ý phần tả cây bàng yêu cầu học sinh phát triển thành các đoạn văn :
- Mùa thu cây bàng thay lá, những chiếc lá bàng đỏ ối như đồng
- Đông sang, lá bàng rụng hết, chỉ còn lại những cành khẳng khiu trụi lá
- Xuân về những chồi non bắt đầu nhú
- Hè về những tán lá xanh um, lá bàng xanh màu ngọc bích
Để các em phát triển các ý hoàn chỉnh, tôi gợi ý các em bằng các câu hỏi : + Mùa thu, lá bàng chuyển màu gì ? Được so sánh với cái gì ?
+ Màu sắc có gì đẹp, hấp dẫn ? Học sinh thường nhặt những chiếc lá bàng để làm gì ?
+ Đông sang, lá bàng thay đổi ra sao ? Nhìn vào cây bàng ta cảm giác như thế nào ?
+ Xuân về cây hồi sinh ra sao ? các búp lá non nhú ra giống như cái gì ? màu
lá bàng non ra sao ?
+ Hè về, tán lá như thế nào? Được so sánh với cái gì ? Cảm giác ngồi dưới tán lá như thế nào ? Những kỉ niệm dưới tán lá ra sao? Cảnh vật xung quanh cây bàng (nắng, gió, chim chóc) ra sao ?
Dưới đây là đoạn văn hoàn chỉnh tả cây bàng của học sinh :
“Thu về, những chiếc lá bàng đỏ ối như đồng, chúng em thường nhặt những chiếc lá để làm những chú trâu, để làm quạt, để xếp các con vật, Đông sang, bàng bắt đầu thay lá, những chiếc lá vàng rơi khắp sân trường và để lại những cành cây trơ trọi như những cánh tay gầy guộc trông thật tội nghiệp Khi mùa xuân xinh đẹp về, cây bàng cựa mình thức giấc tràn đầy sức sống Trên những cành cây khẳng khiu, trơ trụi, những chồi non tươi mới bắt đầu nhú lên, xòe ra xinh xắn như tay của em bé Hè đến, cây bàng trở về dáng vẻ kiêu hãnh của mình Những tán lá xanh um che kín cả một khoảng sân trường giống như những chiếc ô xanh khổng lồ mát dịu che cho chúng em Giờ ra chơi chúng em thường ngồi dưới gốc bàng để chơi, ”
c) Hướng dẫn học sinh viết đoạn kết bài:
Kết bài là phần cuối cùng của bài văn miêu tả Tôi thường hướng dẫn học sinh viết kết bài theo kiểu mở rộng
Kết bài theo kiểu mở rộng, với đề bài “Tả cây phượng trên sân trường em”
có em học sinh đã viết: “ Cánh phượng hồng ngẩn ngơ, mùa hè đến trường khắc nỗi nhớ trên cây ” Lời bài hát “ Phượng hồng ”vang lên khiến lòng em mơn man cảm xúc khó tả Phượng đã tô điểm sân trường bằng những chùm hoa tươi thắm, tỏa bóng mát cho chúng em trong những giờ ra chơi Rồi mai đây xa phượng, em
sẽ buồn và nhớ lắm bác Phượng già ơi!”.
Trang 10Hay bài Tả cây đa, kết bài theo kiểu mở rộng có em viết:
“Thời gian cứ thế trôi đi mang theo bao đổi thay của quê em nhưng cây đa vẫn thủy chung gắn bó son sắt Dù ai đi xa quê vẫn không thể nào quên hình bóng cây đa già ở đầu làng, nơi mỗi lần về, họ đều ra quán nước dưới gốc cây đa Em mong cây đa mãi đứng sừng sững như vậy để bảo vệ, che chở xóm làng quê em”.
7.4.4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức văn học qua phân môn Tập đọc và các môn học khác để làm giàu vốn từ văn miêu tả.
a) Sử dụng kiến thức văn học qua phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu
Vốn từ ngữ phong phú có ý nghĩa quan trọng đối với việc viết văn miêu tả
Để học sinh có được vốn từ miêu tả phong phú và lựa chọn từ ngữ miêu tả thích hợp
Thông qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được vốn từ ngữ không hề nhỏ Ngoài ra, tôi thường cho các em ghi lại những câu văn hay trong bài, mang tính nghệ thuật cao vào mỗi cuối tiết Tập đọc để các em học sinh có thể đưa vào văn bản của mình
- Phân môn Luyện từ và câu ngoài giúp học sinh nhận biết từ mới còn giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của các từ, giúp học sinh phân biệt được từ cùng nghĩa, trái nghĩa cho phù hợp, biết dùng các từ tượng hình, tượng thanh, từ láy trong văn miêu tả
Ví dụ: Khi miêu tả vẻ đẹp của cây hoa thì học sinh sẽ biết dùng các từ gợi tả như : đẹp, xinh xắn, tươi tắn chứ không thể nhầm lẫn với từ xấu xa, bẩn thỉu…
c) Sử dụng kiến thức văn học từ vốn sống thực tế:
Từ những câu thành ngữ, tục ngữ từ xa xưa đến những lời hát ru của bà của mẹ để lại hay những lời ăn tiếng nói hay trong giao tiếp hàng ngày, những bài thơ hay, những bản nhạc, những câu chuyện hấp dẫn hay những sự việc hằng ngày diễn ra,… sẽ là những kiến thức rất quý giá giúp các em học sinh rèn luyện khả năng giao tiếp, khả năng sử dụng ngôn từ và khả năng tạo lập văn bản của bản thân
7.4.5 Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
a) Sử dụng biện pháp so sánh trong văn miêu tả:
So sánh là đối chiếu một sự vật hoặc sự việc, hiện tượng này với một sự vật
hoặc sự việc, hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm mục đích tăng sức gợi hình, gợi cảm, khiến sự vật được so sánh trở nên đẹp đẽ, sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn và gợi liên tưởng cho người đọc
* Tìm và nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.
Trong những giờ Tập đọc, tôi thường dành ra một số thời gian để yêu cầu học sinh tìm các câu văn có sử dụng biện pháp so sánh và yêu cầu học sinh nhận xét tác giả so sánh như vậy giúp các em cảm nhận được điều gì mới mẻ của sự vật
Ví dụ: