Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh của công ty cổ phần sữa việt nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, “ đầu tư” là một cụm từ rất phổ biến trong xã hội Đầu tư chính là sự hy sinh một cái gì đó có giá trị ở hiện tại với trông đợi được hưởng lợi từ sự hy sinh đó trongtương lai Con người sẽ phải đánh đổi sự tiêu dùng trong hiện tại của mình với mong ước kiếm lời trong tương lai Vì mang yếu tố ở tương lai nên đầu tư thường chứa rất nhiều rủi
ro không lường trước được Điều này khiến những nhà đầu tư phải suy xét kỹ càng, nhìn nhận vấn đề ở mọi khía cạnh, phân tích chuyên sâu, đánh giá đúng đắn và lựa chọn cẩn thận trước khi đi đầu tư Có rất nhiều loại hình đầu tư Nhà đầu tư thể đầu tư vào bất độngsản, đầu tư vào kinh doanh, đầu tư vào vàng hay bất cứ thứ gì mà họ nghĩ rằng nó có thể sinh lời trong tương lai, mức sinh lời càng nhiều càng thu hút nhiều nhà đầu tư Bất kì kênh đầu tư nào cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định và thị trường chứng khoán cũng không ngoại lệ Vì tính rủi ro nên kênh đầu tư này cũng mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư ra quyết định mua, bán hay giữ cổ phiếu đúng lúc Để có thể ra được quyết định chính xác, nhà đầu tư cần phải luôn có những thông tin chính xác về nền kinh tế Đánh giá đúng xu hướng và tác động của các thông tin này sẽ là công cụ hữu hiệu trong hành trình tiềm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư
Ngành sữa đang là một ngành có tiềm năng phát triển và có tầm ảnh hưởng lớn trong ngành thực phẩm nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Hơn nữa, sản phẩm sữa cònđóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của con người, vì vậy ngành sữa đang ngày càng khẳng định được sức mạnh của mình khi mà sữa tiếp tục là các sản phẩm tăng trưởng mạnh dẫn đầu ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) trong những năm gần đây Chính vì lẽ
đó mà cổ phiếu ngành sữa đặc biệt là cổ phiểu Vinamilk có sự ổn định, luôn giành ưu thế
và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 2Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin thông qua việc phân tích và đánh giá cổ phiếu,giúp nhà đầu tư đưa ra được những quyết định đúng đắn hơn, em đã chọn đề tài “ Phân tích
và đánh giá mà cổ phiếu VNM của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam giai đoạn 2010-2012”
Với kiến thức còn nhiều hạn chế, bài tiểu luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếusót nhất định Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô để bài tiểu luậncủa em được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ
PHẦN SỮA VIỆT NAM – VINAMILK
1.1 Khái quát chung
Tên gọi: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM DAIRY PRODUCTS JOINT STOCK
COMPANY
Trụ sở chính: 36-38 Ngô Đức Kế, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
Văn phòng giao dịch: 184-186-188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Tp Hồ Chí MinhĐiện thoại: (08) 9300 358
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập trên cơ sở quyết định số
155/2003QĐ- BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
Trang 4Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của Công ty số 4103001932 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003.
Cổ phiếu của công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh theo Giấy phép niêm yết số 42/ UBCK- GPYN do ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày 28/12/2005
1.2 Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất và kinh doanh sữa hộp, sữa bột, bột dinh dưỡng, bánh, sữa tươi, sữa đậu nành, nước giải khát và các chế phẩm khác từ sữa
- Kinh doanh thực phẩm công nghệ, thiết bị phụ tùng, vật tư, hóa chất và nguyên liệu
- Kinh doanh nhà, môi giới cho thuê bất động sản; kinh doanh kho bãi, bến bãi; kinh doanh vận tải bằng ô tô; bốc xếp hàng hóa;
- Sản xuất, mua bán rượu, bia, đồ uống, thực phẩm chế biến, chè uống, cafe phin-hòa tan;
rang-xay Sản xuất và mua bán bao bì, in trên bao bì;
- Sản xuất, mua bán sản phẩm nhựa
- Phòng khám đa khoa
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển:
Năm 1976, lúc mới thành lập, Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) có tên là Công ty Sữa – Cà Phê Miền Nam, trực thuộc Tổng Cục thực phẩm, bao gồm 4 nhà máy thuộc ngành
chế biến thực phẩm:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất;
- Nhà máy Sữa Trường Thọ;
- Nhà máy Sữa Dielac;
- Nhà máy Cà Phê Biên Hoà
Năm 1982, Công ty Sữa – Cà phê Miền Nam được chuyển giao về Bộ Công nghiệp thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê – Bánh kẹo I
Năm 1989, Xí Nghiệp Liên Hiệp Sữa – Cà phê – Bánh kẹo I chỉ còn 3 nhà máy trực
Trang 5thuộc:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất
- Nhà máy Sữa Trường Thọ
- Nhà máy Sữa Dielac
Tháng 3/1992, Xí Nghiệp Liên Hiệp Sữa – Cà phê – Bánh kẹo I chính thức đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) - trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ, chuyên sảnxuất, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa
Năm 1994, Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) đã xây dựng thêm một nhà máy sữa
ở Hà Nội để phát triển thị trường tại miền Bắc, nâng tổng số nhà máy trực thuộc lên 4 nhàmáy:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất
- Nhà máy Sữa Trường Thọ
- Nhà máy Sữa Dielac
- Nhà máy Sữa Hà Nội
Năm 1996, Xí nghiệp Liên doanh Sữa Bình Định tại Quy Nhơn ra đời, góp phần thuận lợi đưa sản phẩm Vinamilk phục vụ rộng khắp đến người tiêu dùng khu vực miền Trung
Năm 2000, Công ty đã tiến hành xây dựng thêm:
- Nhà máy sữa Cần Thơ
Trang 61.4 Cơ cấu tổ chức công ty:
Trang 7CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ
Đầu tư chứng khoán là loại đầu tư dài hạn Hoạt động của doanh nghiệp và thị trường chứng khoán diễn ra trong một mội trường kinh doanh nhất định, phản ánh các điều kiện hoặc yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và thị trường chứng khoán Nền kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị trường chứng khoán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hơn nữa, nền kinh tế vĩ mô tác động đến toàn bộ thị trường, quyết định rủi ro hệ thống của doanh nghiệp, tác động tới giá chứng khoán Bên cạnh đó, khi đi định giá chứng khoán đều sử dụng các biến số vĩ mô, vì thế trước khiphân tích các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp, cần đánh giá đúng ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài đến hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Phân tích kinh tế
vĩ mô nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế- xã hội và vai trò quan trọng trong việc phân tích và đầu tư chứng khoán; từ đó giúp các nhà đầu tư Việt Nam có giải pháp đầu tư phù hợpvà đạt được lợi nhuận cao Các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm:
2.1: Ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu (The Global Economy)
Năm 2010:
Sau khi trải qua cơn bão khủng hoảng năm 2008, nền kinh tế toàn cầu trở nên yếu đi,
và phục hồi một cách chậm chạp Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục mạnh trong nửa đầu năm 2010, nhưng sự ổn định tài chính sụt giảm mạnh do cuộc khủng hoảng nợ công vào quý II năm 2010 Quy mô hồi phục kinh tế có sự khác biệt giữa các quốc gia, khu vực với sự dẫn đầu thuộc khu vực châu Á Mỹ và Nhật Bản suy giảm đáng kể vào quý II, trong khi tăng trưởng được đẩy mạnh ở châu Âu và duy trì vững chắc ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển Các điều kiện tài chính toàn cầu đã bắt đầu đi vào ổn định, nhưng các định chế và thị trường vẫn còn yếu ớt
Cho tới giữa năm 2010, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn ra hết sức phức tạp Xu
Trang 8đầu là Trung Quốc và Ấn Độ đang đóng vai trò là động lực chính cho tiến trình phục hồi kinh tế thế giới) nhưng không đồng đều và không chắc chắn, tốc độ phục hồi của các nền kinh tế là rất khác nhau, những tín hiệu tốt xấu đan xem liên tục và những lo ngại về khủng hoảng nợ tại châu Âu vẫn chưa chấm dứt Kinh tế Mỹ và châu Âu dù đang khởi sắc nhưng vẫn chậm hơn so với dự báo trước đó, trong khi đó châu Á vẫn tiếp tục là độnglực và đang phục hồi nhanh chóng vượt trội Theo Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook) của IMF, công bố tháng 10/2010, tính cả năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới ước đạt 4,8%, trong đó, các nước phát triển tăng 2,7%, các nước đang phát triển tăng 7,1% Thương mại thế giới tăng 11,4%, lượng vốn tư nhân ròng (trong đó, FDI chiếm trên 40%) đổ vào các nền kinh tế mới nổi ước trên 800 tỉ USD, cao hơn 30% so với năm 2009, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh trước khủng hoảng đạt được vào năm 2007 khoảng 400 tỉ USD
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam
Trang 9Năm 2011:
Có thể nói, nợ công và thâm hụt ngân sách Chính phủ là chủ đề nóng trong suốt năm vừa qua, đặc biệt ở khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) Năm 2011 đã khởi đầu với một loạt các diễn biến tiêu cực xung quanh vấn đề giải cứu đồng Euro Hành động của Moody’s trong việc hạ mức tín nhiệm của Hi Lạp và Tây Ban Nha đã làm dấy lên những
lo ngại trong giới đầu tư, khiến chi phí vay nợ của những thành viên yếu nhất trong khu vực Eurozone này liên tục tăng cao Cùng với đó, thảm họa động đất và sóng thần ở NhậtBản xảy ra vào tháng 3 đã kéo lùi các thị trường tài chính trên thế giới Giá dầu bất ngờ tăng cao trong tháng 4 do lo ngại về sự giảm sút nguồn cung bởi bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi Những diễn biến phức tạp này đã khiến giá vàng liên tục thiết lập những mức kỉ lục mới trong giai đoạn từ tháng 7 tới tháng 9, khi giới đầu tư quốc tế vội
vã tìm kiểm một nơi trú ẩn tài chính an toàn, đặc biệt khi Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm của Mỹ từ AAA xuống AA+ vào tháng 8 Đáng chú ý, trong năm 2011 này, TrungQuốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới Trong bối cảnh hậu kích cầu, Chính phủ nước này đã phải liên tiếp tiến hành nâng các mức lãi suất điều hành
để ngăn ngừa lạm phát do lo ngại tăng trưởng đã trở nên quá nóng Chính phủ Trung Quốc cũng bắt đầu tái cân bằng nền kinh tế bằng việc khuyến khích tiêu dùng của dân cư
và giảm tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, qua Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 được công bố vào tháng 3 Theo IMF, kinh tế toàn cầu năm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm 2010 Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011 và 1,9% năm
2012, so với tăng trưởng 3,1% của năm 2010 Khu vực các nước đang phát triển và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm 2011 và 6,1% năm 2012, so với mức 7,3% năm 2010
Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới đã mất 1% điểm tăng trưởng, với GDP sẽ chỉ tăng 1,5% trong năm nay và 1,8% trong năm 2012 Với 17 nước thuộc khu vực đồng euro, tăng trưởng GDP sẽ giảm bớt khoảng nửa điểm, còn 1,1% vào năm 2012 Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong năm nay Trung Quốc tiếp tục là
Trang 10nước dẫn đầu với mức tăng trưởng 9% trong năm tới Nga, Mỹ Latin, châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi tăng trưởng sẽ thấp hơn so với dự báo trước đây.
Những dự báo mới cập nhật vào tháng 12 này đã được điều chỉnh giảm so vớinhững con số dự báo được công bố vào tháng 1 đầu năm 2011 Sự giảm tốc này là hậuquả của những bất ổn tài chính và nỗi lo sợ rủi ro nợ công lan tỏa ra bên ngoài phạm vinhững nền kinh tế châu Âu Các 3 biện pháp thắt lưng buộc bụng sẽ thay thế các chươngtrình kích thích của giai đoạn 2010-2011, và phần lớn các nước phát triển có sẽ có mứcGDP dưới sản lượng tiềm năng trong năm 2012 Mặc dù vậy, so với các nước phát triển,triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển sáng sủa hơn, bởi sự suy yếucủa cầu ngoại sinh được dự báo sẽ được bù đắp bởi cầu nội địa nhờ những chính sáchkinh tế linh hoạt của các Chính phủ
Năm 2012:
Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoát thì chưa thực sự rõ ràng, kinh tế Mỹ, Nhật Bản đều không mấy khả quan Các nền kinh tế mới nổi như TrungQuốc, Ấn Độ, Brazil đều không còn giữ được phong độ tăng trưởng lạc quan như khoảng 3 – 5 năm trước Mặc dù kết thúc quý 1, kinh tế toàn cầu trở nên bớt u ám hơn thể hiện ở sự phục hồi đôi chút tại các nền kinh tế đầu tàu Tuy nhiên, sự phục hồi này không bền vững trước những diễn biến bất lợi tiếp theo của kinh tế thế giới
Nhìn chung là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, nợcông nhiều hơn Đã có một số chuyên gia cao cấp ở một số lĩnh vực đưa ra dự báo vềkinh tế thế giới năm 2013 và đều nhận định là không mấy khả quan so với năm 2012,thậm chí còn có một số dự báo cho rằng khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ lên tới đỉnh điểmvào năm 2013
Dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế thì cho rằng tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Nhật Bảnthấp hơn năm 2012 còn đối với Trung Quốc và các nước ASEAN thì chỉ tăng cao hơn
Trang 11một chút Quan hệ về đầu tư và xuất nhập khẩu của các nước với Việt Nam về cơ bảnchưa có gì khởi sắc.
Trang 12Biểu đồ 2: Diễn biến kinh tế tác động đến toàn cầu
Tuy nền kinh tế của các nước đều có những khác biệt nhưng hầu hết đều bị ràng buộc vào nền kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ Đặc biệt với tính chất mở của nền kinh tế thì sự ảnh hưởng của thế giới lại càng sâu sắc hơn đối với Việt Nam Kinh tế thế giới hiện nay vẫn chưa thoát khỏi đà suy giảm và điều này sẽ có những tác động không tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam mà ảnh hưởng trực tiếp nhất là xuất nhập khẩu và kéo theo thị trường chứng khoán Việt Nam cũng biến động theo bởi đây là một thị trường nhạy cảm và có mối liên quan với nền kinh tế vĩ mô khá lớn.Hơn nữa, Việt Nam còn ghi nhận sự đầu tư vào thị trường chứng khoán của khối ngoại, nếu như kinh tế toàn cầu xấu đi đồng nghĩa với việc thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ mất đi khoản đầu tư béo bở này Cùng với sự biến động kinh tế toàn cầu, thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2010 gặp nhiều khó khăn, là một trong những thị trường sụt giảm mạnh nhất thế giới trong năm 2011 và tới năm 2012 thì chững lại Điều này cho thấy ổn định kinh tế vĩ mô toàn cầu chính là yếu tố quan trọng nhất để ổn định thị trường chứng khoán.
Trang 132.2: Ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô nội địa:
2.2.1: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và CPI Việt Nam thời kì 2000- 2012
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính theo giá thực tế, đạt 97,146 tỷUSD, tốc độ tăng trưởng 6,78% tăng hơn so với năm 2009 gần 7 tỷ USD cùng 1,48%.Đây là mức tăng ấn tượng nhất kể từ năm 2002
Năm 2011, tốc độ tăng trường GDP đạt 5,89% so với năm 2010 với tổng giá trị103,571 tỷ USD Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn mức tăng6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nướctập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khácao và hợp lý
Năm 2012, tốc độ tăng GDP năm 2012 chỉ đạt hơn 5,03% (thấp nhất trong nhiềunăm trở lại đây), chỉ cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 4,77% năm 1999 nhưng lại thấphơn cả tốc độ tăng 5,32% năm 2009 Rõ ràng những bất ổn kinh tế vĩ mô tích tụ trongmấy năm gần đây đã buộc Việt Nam phải chuyển trọng tâm chính sách từ ưu tiên tăngtrưởng kinh tế sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 14GDP là chỉ số dùng để phản ánh bức tranh thực của nền kinh tế một quốc gia Vì trong điều kiện các DN, các ngành sản xuất mà đi xuống thì GDP mà tăng lên là không
có cơ sở Tốc độ tăng trưởng GDP cao hay thấp sẽ phản ánh nền kinh tế phát triển ổn định hay không Hơn nữa thị trường chứng khoán lại được nuôi dưỡng trên một nền kinh
tế phát triển ổn định Nền kinh tế phát triển sẽ khuyến khích các DN hoạt động tốt hơn,
từ đó những nhà đầu tư mới có niềm tin vào lợi nhuận trong tương lai, họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán và thị trường này sẽ trở nên sôi nổi và thu hút hơn Ngược lại, nền kinh tế ảm đạm, DN không dám đầu tư phát triển, các nguồn lực trở nên yếu đi sẽ khiến cho những nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường chứng khoán và việc rút khỏi thị trường chỉ là trong nay mai.
Trang 15Năm 2011, tỷ lệ lạm phát là 18,13% Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thế giới, năm 2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng
Năm 2012, lạm phát có dấu hiệu giảm thấp hơn nhưng lại giảm trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế suy giảm Lạm phát đã giảm xuống chỉ còn 6.81%, Việt Nam vui vì đã hoàn thành tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm 2012 thấp hơn mức chỉ tiêu kế hoạch 7% mà Quốc hội đề ra Nhưng vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt đó là mức tăng trưởng GDP đang sụt giảm đáng kể
Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các yếu tố tâm lý
Tỷ lệ lạm phát cao thường gắn liền với những nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, lạm phát kéo theo lãi suất cao Lãi suất cao khiến cho những nhà đầu tư khó tiếp cận vs vốn hơn và ngại rủi ro khi quyết định đầu tư Lạm phát cao sẽ khiến các DN không dám đầu tư, k dám mở rộng quy mô Điều này làm cho thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng khi mà trái phiếu và cổ phiếu của các DN không còn hấp dẫn nữa.
Trang 162.2.3: Lãi suất
Biểu đồ 5 : Tỷ lệ lãi suất Việt Nam tính tới đầu năm 2013
Lãi suất huy động của các NHTM Việt Nam có dấu hiệu tăng mạnh trong nhữngnăm gần đây Đỉnh điểm của lãi suất là vào năm 2008 khi lãi suất huy động của cácNHTM VN có lúc lên tới 17 – 18%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1993 (22.04%) Lãisuất năm 2009 tuy có hạ xuống còn 8.5%, nhưng so với lãi suất huy động của năm 2000(3.65%) thì lãi suất huy động của các NH đã tăng tới 133% trong giai đoạn 2000 – 2009 Năm 2010, chính sách điều hành của chính phủ vẫn tập trung vào việc kiểm soát lạmphát, mục tiêu duy trì chỉ số CPI cả năm 2010 ở mức dưới 8% Đây là chính sách đúng vàhợp lý trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên việc đẩy lãi suất lên quá cao để thực hiệnchính sách tiền tệ thắt chặt không những không giúp thị trường ổn định mà còn khiếnkinh tế gặp khó khăn thực sự Thay vì chỉ cần áp mức lãi suất huy động và cho vay tươngứng là 10% và 13% thì lãi suất trên thị trường đã cao hơn lãi suất mục tiêu tới 4 – 5%.Lãi suất tiền đồng lên cao khiến doanh nghiệp phải đi “đường vòng” bằng cách vay ngoại
tệ với lãi suất thấp hơn rồi đổi ra tiền đồng để đưa vào sản xuất Điều này đã góp phần tạo
áp lực lên thị trường ngoại hối cuối năm Bước sang năm 2011, nhiều ngân hàng đã huyđộng vốn ở mức 13%, 14%, rồi 15%/năm…, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi
Trang 1714%/năm được đặt ra nhưng đến đầu 2011 lại tiếp tục bị phá vỡ Và ngày 3/3/2011, Ngânhàng Nhà nước ban hành Thông tư chính thức áp trần 14%/năm, buộc các tổ chức tíndụng phải thực hiện nghiêm quy định trần, một số ngân hàng bị xử lý do sai phạm một sốlại cho rằng bị các ngân hàng khác “cài bẫy“.
Lãi suất thực là mấu chốt của các khoản đầu tư kinh doanh bởi nó làm giảm hiện giá của các dòng tiền tương lai nên sẽ làm giảm tính hấp dẫn của cơ hội đầu tư Lãi suất có
lẽ được coi là yếu tố quan trọng nhất trong thị trường chứng khoán Đối với trái
phiếu, lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm giá thị trường của trái phiếu và ngược lại, giá thị trường của trái phiếu giảm thấp sẽ là cơ hội tốt cho nhà đầu tư trái phiếu Còn sự biến đổi giá của cổ phiếu khi khi lãi suất thị trường tăng lại không hoàn toàn như vậy
Cổ phiếu và lãi suất có mối quan hệ không trực tiếp bởi vì dòng tiền thu được từ đầu tư
cổ phiếu có thể thay đổi cùng với lãi suất và mức thay đổi này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức thay đổi của lãi suất Điều này sẽ khiến các nhà đầu tư cân nhắc kỹ càng hơn khi quyết định tham gia vào thị trường chứng khoán.
2.2.4 : Tỷ lệ thất nghiệp
Biểu đồ 6 : Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2002-2012
Trang 18Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam qua các năm đều giảm, ngày càng thấp, dù khủng hoảng kinh tế tác động Nhưng thực tế, số người thất nghiệp được tính theo cách loại trừ những người có công việc có thu nhập theo bất cứ hình thức nào mà pháp luật không cấm Việt Nam đang là một trong những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới (năm
2013 chỉ 2%) Mới nhìn qua thì đây được cho là một dấu hiệu đáng mừng nhưng đi sâu vào phân tích thì điều này chẳng có gì đáng mừng vì dù có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng Việt nam vẫn mãi là một nước nghèo Điều này có thể lý giải là người lao động Việt Namvẫn có việc làm, vẫn làm ra tiền nhưng số tiền kiếm ra được đó dưới cả mức chuẩn
nghèo
Nguồn lực con người là một yếu tố quan trọng, giữ vai trò chủ thể của mọi quá trình sản xuất Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp cho thấy các DN làm ăn hiệu quả hay không, nếu kinh doanh tốt thì họ sẽ tuyển thêm nhân công, còn không thì buộc phải cắt giảm Hơn nữa nếu tỷ lệ thất nghiệp cao thì số lượng người đầu tư sẽ bị hạn chế lại, thị trường chứng khoán vì thế mà cũng bị ảnh hưởng theo.
2.2.5: Thâm hụt ngân sách
Trang 19Năm 2011
Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, sau khi thảo luận đánh giá thực hiện ngân sách nhà nướcnăm 2010, dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với các Bộ, cơ quan Trung ương và 63tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 là120.600 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP
Năm 2012
Tính đến 15/10/2012, thâm hụt ngân sách nhà nước thậm chí đã lên đến 155,2 ngàn tỷđồng, vượt xa mức thâm hụt 140,2 ngàn tỷ đồng theo dự toán Đến hết năm 2012, do tìnhhình thu ngân sách nhà nước được cải thiện nên tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước đúngbằng mức dự toán là 140,2 ngàn tỷ đồng Tình hình tương tự có thể xảy ra trong năm
2013 với mức thâm hụt dự kiến là 162 ngàn tỷ đồng
Thâm hụt ngân sách kéo theo lạm phát, tác động đến lãi suất, thất nghiệp và tỷ giá Từ đó
sẽ gián tiếp ảnh hưởng lên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.3 : Ảnh hưởng của cú sốc cung cầu
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam luôn tạo ra những cú sốc bất ngờ cho nhiềunước trên thế giới Đây là động lực tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho cộng đồng doanhnghiệp Hiện nay các nước ASEAN có thị trường tại chỗ tiềm năng lớn với 600 triệungười, dân số trẻ chiếm phần lớn, đô thị hóa nhanh, số người có mức thu nhập từ 5.000 -35.000 USD/năm ngày càng tăng cao…, để kích cầu thị trường nội địa, các nước ASEANphải trang bị hệ thống tiếp vận, hậu cần, có chính sách hỗ trợ người tiêu dung, sản xuấthàng hóa với mức giá mà người tiêu dùng tiếp cận được, phát triển hệ thống bán lẻ…
Trang 20Dù thị trường nội địa tiềm năng như vậy, nhưng không dễ khai thác hết vì văn hóatiêu dùng của người châu Á theo lối “tích trữ phòng cơ”, do vậy không thể sớm chiều cóthể chuyển đổi vị trí giữa thị trường nội địa và xuất khẩu trong đóng góp vào ngân sáchcủa quốc gia Do đó, các nước ASEAN không thể bỏ lơ xuất khẩu, tập trung xuất khẩu sẽvẫn duy trì trong thời gian tới Bởi lẽ suốt thời gian dài vừa qua, 60% hàng hóa được sảnxuất tại khu vực này được xuất sang EU, Mỹ, Nhật Bản Bắt đầu từ ngày 1/10, Hiệp địnhđối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (EPA) đã chính thức có hiệu lực.Theo đó, trên 90%hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Nhật được hưởng mức thuế quan thấp hơn trước khánhiều.Dù hiện tại hoạt động xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn, nhưng mọi việc sẽ ổnkhi nền kinh tế thế giới phát triển trở lại.
Tại Việt Nam, việc giá xăng dầu liên tục tăng với tốc độ chóng mặt trong thời giangần đây đã khiến giá cả của các mặt hàng tăng theo.,giá điện cũng tăng theo xu hướngnày khiến nhiều doanh nghiệp đầu tư khó khăn trong quá trình sản xuất Ngoài ra cácnước thuộc khu vực Châu Á hang năm luôn đối mặt với các vấn đề thiên tai, lũ lụt, điềunày ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế
2.4 :Ảnh hưởng của các chính sách của Chính phủ
Năm 2010,
Trong năm chính sách tiền tệ và tài khóa đã không có sự phối hợp nhịp nhàng vàdấu ân rõ nét nhất là chính sách tài khóa đã tạo ra hiện tượng chèn lấn đối với khu vực tưnhân Trong quý I, việc NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ trong khi Bộ tài chính lại tăngcường phát hành trái phiếu đã khiến dòng vốn ngân hàng đổ vào trái phiếu chính phủ làmcho các doanh nghiệp khó tiếp cận được với nguồn vốn với mức lãi suất hợp lý chínhsách tiền tệ trong năm 2010 khó có thể nói là đã thắt chặt khi NHNN đã tăng tổngphương tiện thanh toán 25,3%, và tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng là29,81% so với năm 2010
Việc điều hành thiếu nhất quán và ổn định trong chính sách đã khiến các doanhnghiệp găp nhiều khó khăn hơn trong việc hoạch định kế hoạch và phương án kinh doanhcũng như giảm hiệu quả của chính sách Hệ quả là một trong những rủi ro được nhận diện
Trang 21trong năm 2010 là rủi ro về chính sách đồng thời cũng khiến Việt Nam không đạt đượcmục tiêu về ổn định vĩ mô và giá trị đồng tiền.
Năm 2011,
Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 02 ngày 03/03/2011 quy địnhmức lãi suất huy động VND tối đa của các tổ chức tín dụng ở mức 14% Tuy nhiên, dướisức ép của vấn đề thanh khoản, rất nhiều ngân hàng vẫn tìm cách vượt trần thông qua cáchình thức khuyến mại và hợp đồng ủy thácđầu tư Chỉ đến khi NHNN ban hành Chỉ thị
02 vào ngày 7/9/2011, trong đó quy định rõ các hình thức xử phạt cùng với việc NHNNkiên quyết xử lý tổ chức tín dụng huy động vượt trần,trong tháng 9/2011 lãi suất huyđộng VND mới chính thức quay về mức 14%
Những diễn biến kể trên đã khiến cho tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2011 đạt mức thấp kỷ lục kể từ năm 2000 trở lại đây
Năm 2012,
Ngày 19/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc gia hạn nộp thuế thêm 3 tháng đốivới số thuế TNDN phải nộp quý I, quý II năm 2011 của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanhnghiệp sử dụng nhiều lao động
Ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sảnxuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường
Ngày 21 tháng 6 năm 2012 Quốc hội ban hành một số chính sách Thuế nhằm tháo gỡ khókhăn cho tổ chức và cá nhân
Thực tế đã chứng minh sự ổn định của môi trường chính trị- xã hội của đất nước là yếu
tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế, doanh nghiệp và thị trường chứng khoán Sự mất ổn định chính trị- xã hội của đất nước, bất kể vì lý do gì cũng gây tổn hại, thậm chí làm gián đoạn hoạt động của thị trường chứng khoán Sự thay đổi về chính trị thường kéo theo những thay đổi về chính sách kinh tế- xã hội, chi tiêu ngân sách, ngoại giao, an ninh quốc phòng của quốc gia đó Nếu những sự thay đổi này thuận lợi thì sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến thị trường chứng khoán.
Trang 222.5: Ảnh hưởng của chu kì kinh doanh
Năm 2010
Mở đầu phiên giao dịch năm 2010, chỉ số VN-Index đã có bước tăng mạnh mẽ từ 494,8điểm lên 517,1 điểm (tăng 23,3 điểm) Trong suốt năm 2010, chỉ số VN-Index hầu nhưchỉ dao động trong khoảng 420-540 điểm, với đỉnh là 549,5 điểm ngày 06/05 và đáy là423,9 điểm ngày 25/08 Kết thúc năm 2010, chỉ số VN-Index chốt ở mức 484,7 điểm,giảm 10,1 điểm tương ứng 2,04%
Năm 2011
Chỉ số VN-Index mở đầu năm 2011 ở mức 484,7 điểm và chỉ có dấu hiệu đi lên trong 2tháng đầu năm với mức đỉnh là 522,5 điểm ngày 09/02 Sau đó là chuỗi ngày giảm điểmliên tục và dốc đứng, thậm chí từ ngày 12/05 đến 25/05 là 10 phiên giảm liên tục làm bốchơi gần 100 điểm (từ 482,1 điểm còn 386,4 điểm), sau đó tăng lên lại lại thành đồ thị
Trang 23hình nến ngược trong tháng 5 Trong giai đoạn từ 25/08 đến 14/09 là xu hướng ngược lạitháng 5 với 13 phiên tăng điểm liên tiếp từ 401,7 điểm lên 469,4 điểm Đó được coi làlần vụt sang duy nhất trong năm 2011, sau đó là chuỗi giảm thẳng để lập mức đáy mới là347,8 điểm Kết thúc giao dịch năm 2011, VN-Index chốt ở mức 351,6, giảm 133,1 điểmtương ứng 27,5 % so với đầu năm.
Năm 2012,
Trải qua một năm 2012 khó khăn nhưng VN-Index vẫn ghi nhận tăng 18% từ 350 điểm lên 413.7 điểm, còn HNX-Index lại có sự giảm nhẹ 0.7% từ 56.79 xuống 56.4 điểm.Thống kê cho thấy trong 710 mã chứng khoán trên cả hai sàn có 271 mã giảm giá, 7 mãkhông thay đổi so với mức giá đầu năm và 432 mã tăng giá Vốn hóa thị trường do thế
mà tăng 41% từ 524.2 ngàn tỷ lên 741 ngàn tỷ Trong đó vốn hóa của HOSE tăng mạnh
mẽ gần gấp rưỡi so với đầu năm
Nền kinh tế trong suốt xu hướng vận động dài hạn của nó phải trải qua nhiều chu
kỳ Mỗi chu kỳ đều gồm một giai đoạn mở rộng, tăng trưởng lên đến đỉnh điểm, sau đó là giai đoạn thu hẹp, suy thoái và chạm đáy Thị trường chứng khoán cũng vậy, luôn có tính chu kỳ và lấy nền kinh tế làm nền tảng.
Trang 24Dựa trên các cơ sở dữ liệu trên, các nhà phân tích có thể rút ra được những ảnh hưởng (tác động) tích cực hoặc tiêu cực của môi trường kinh tế vĩ mô đến sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như hoạt động của từng doanh nghiệp.
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH
3.1 Tổng quan ngành sữa Việt Nam
3.1.1: Đặc trưng ngành sữa Việt Nam
Ngành công nghiệp chế biến sữa là ngành công nghiệp thực phẩm thiết yếu phục
vụ đời sống nhân dân Các sản phẩm của ngành được chế biến từ nguồn nguyên liệu chính là sữa động vật (sữa bò, sữa dê) Chính vì thế, những sản phẩm từ sữa có hàm lượng dinh dưỡng cao đóng một vài trò quan trọng trong sự phát triển của con người từ khi sinh ra đến khi trường thành và cho tới khi già yếu
Ngành công nghiệp sữa cùng là một trong những ngành có sự đòi hỏi cao về công nghệ chế biến cũng như máy móc, thiết bị hiện đại nhằm tạo ra một sản phẩm sữa có chấtlượng và đảm bảo yếu tố vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, ngành công nghiệp sữacòn có đặc trưng là nguồn nguyên liệu lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khí hậu Bò sữa là nguồn nguyên liệu chính của ngành này nhưng Việt Nam không
có được điều kiện thuận lợi như những nước xứ lạnh khác nên việc chăn nuôi bò sữa gặp nhiều khó khăn Đây là nguyên nhân lý giải vì sao Việt Nam luôn trong tình trạng nguồn cung nguyên liệu trong nước thiếu hụt trầm trọng Năm 2008, cả nước có gần 100.000 con bò sữa, tổng sản lượng sữa đạt 235.000 tấn/năm, nhưng chỉ đáp ứng khoảng 20% nhucầu nguyên liệu sữa cho các nhà máy chế biến Mặc dù nước ta đưa ra mục tiêu đến nắm
2015 sẽ nâng tổng số lượng đàn bò sữa lên 500.000 con, tương ứng tạo ra 1,1 triệu tấn sữa/năm nhưng cũng chỉ đáp ứng 40% nhu cầu Điều này đồng nghĩa với việc các nhà máy chế biến sữa chỉ còn trông chờ vào 60- 80% nguồn nguyên liệu nhập ngoại từ các nước Úc, Newzealand, Mỹ, Ấn Độ…và nguồn này hoàn toàn là sữa bột nguyên liệu
Trang 25Có thể thấy, ngành sữa Việt Nam tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng vị trí của ngành đang ngày càng được khẳng định Ngành sữa được đánh giá là có tiềm năng phát triển trong tương lai khi mà Việt Nam đã và đang hòa nhập với nần kinh tế quốc tế.
1.2: Vai trò của ngành sữa Việt Nam
1.2.1: Đối với đời sống
Sữa là một sản phẩm dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe và cho sự phát triển của cơ thể con người từ khi sinh ra cho tới khi lớn lên Đối với người dân ở các nước phát triển thì các sản phẩm từ sữa là một trong những sản phẩm thiết yếu không thể thiếu được trong khẩu phần dinh dưỡng vì vậy mức tiêu thụ sữa ở những nước này rất lớn Đối tượngtiêu thụ sữa nhiều nhất đó chính là trẻ em nhưng những chất dinh dướng trong sữa như canxi, sắt, magie…thì cần thiết cho tất cả mọi lứa tuổi Nguồn dinh dưỡng trong sữa sẽ giúp cho con người đầy đủ sức khỏe, sự thông minh sáng suốt và cải tạo giống nòi
Xã hội Việt Nam vẫn còn ở trọng tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dâncòn thấp, thể chất người Việt Nam còn yếu và tuổi thọ trung bình đang có xu hướng giảmxuống Nguyên nhân chính là do vấn đề dinh dưỡng chưa được đảm bảo, người Việt Namchưa có ý thức tìm hiểu về dinh dưỡng và chưa có thói quen uống sữa
Hiện nay, khi xã hội đã phát triển hơn, đời sống người dân được cải thiện nhiều hơn, những sản phẩm sữa ngày càng dành được sự quan tâm của người tiêu dùng hơn vì vậy ngành công nghiệp sữa đã được nhìn nhận với vào trò quan trọng trong việc góp phầnnâng cao thể lực và tuổi thọ của người dân
1.2.2: Đối với sự phát triển kinh tế
Ngành công nghiệp sữa là một trong những ngành công nghiệp chế biến đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam Việc chất lượng sữa trong nước gần ngang bằng với chất lượng sữa thế giới mang đến cho ngành sữa Việt Nam một cơn gió mới và dự kiến sẽ mang lại lợi nhuận cho đất nước Thị trường sữa trong nước có thể
Trang 26tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới, do mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người của Việt Nam hiện tại vẫn đang ở mức thấp.
Ngành công nghiệp sữa ra đời giải quyết được việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời ngành sữa phát triển sẽ thúc đẩy một số ngành nghề khác phát triển như ngành chăn nuôi, mía đường, vận chuyển…thông qua mối liên kết ngược xuôi, gián tiếp
Ngành sữa Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trên bản đồ ngành công nghiệp sữa thế giới và sẽ cạnh tranh song phẳng với sữa ngoại để chiếm lĩnh thị trường trong cũng như ngoài nước
3.2 Sự nhạy cảm của chu kì kinh doanh
3.2.1: Độ nhạy cảm của doanh thu
Với đặc thù ngành hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, ngành sữa là một trong những ngành có tính ổn định cao, ít bị tác động bởi chu kì kinh tế Sữa vốn là hàng hóa thiết yếu nên mặc dù kinh tế suy thoái nhưng ngành này vẫn có tốc độ tăng trưởng khá tốt Trong những năm trở lại đây, sữa là một trong những ngành có tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh thu trung bình trong giai đoạn 2005-2009 đạt 18% /năm (EMI 2009)
Trang 27
Biểu đồ7: Doanh số sữa của Việt Nam giai đoạn 2004-2009 (Nguồn :EMI 2009)
Biểu đồ trên cho thấy tổng doanh thu các mặt hàng sữa tăng ổn định qua các năm Năm 2009, tổng doanh thu đạt hơn 18.500 tỉ VNĐ, tăng hơn 145 so với năm 2008 Điều này cho thấy rằng khủng hoảng kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến tiêu thụ sữa tại Việt Nam
Theo báo cáo của Euromonitor, doanh thu từ các sản phẩm sữa nước năm 2012 tăng trưởng 21% so với năm 2011, các sản phẩm sữa bột có mức tăng trưởng cao nhất với23% Doanh thu của ngành sữa vẫn được dự báo là tăng trong những năm tới bởi tiềm lựccủa ngành còn rất lớn
Với tốc độ phát triển nền kinh tế đất nước và sự cải thiện chất lượng cuộc sống người dân hiện nay nước ta đặt mục tiêu nâng mức sữa tiêu thụ bình quân đầu người/ năm đạt 20kg/người/năm và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh thúc đẩy làm tăng nhanh sản xuất sữa trong nước, cả nguyên liệu và thành phẩm Theo báo cáo mới nhất của công ty nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel Việt Nam, sữa và các sản phẩm từ sữa giữ vị trí dẫn đầu trong FMCG khi tăng trưởng 12% ở thành thị và 20% ở nông thôn, trong đó sữa chua men sống tăng 15% ở thành thị về khối lượng khi thu hút thêm 41.000 hộ mua và sữa chua ăn tăng 15% ở nông thôn nhờ thu hút được
Trang 28290.000 hộ mua mới.
Trong mấy năm qua giới chuyên gia đã nhận thấy thị trường sữa Việt Nam đang ở mức tăng trưởng rất nóng, với tốc độ bình quân khoảng 20%/năm và dự báo mức tăng trưởng này sẽ vẫn được duy trì trong tương lai
3.2.2: Đòn bẩy hoạt động
Cách thức để tăng lợi nhuận của các công ty trong ngành dựa chủ yếu vào tăng trưởng doanh số và các công ty thường sử dụng đòn bẩy hoạt động để tăng lợi nhuận bở có rất ít
“độc quyền giá” và lợi nhuận biên ở mức thấp Hơn nữa ngành công nghiệp chế biến sữa
là một ngành đòi hỏi cao về công nghê, máy móc, thiết bị hiện đại bởi vì các sảm phẩm của ngành này đòi hỏi sự đảm bảo vệ sinh thực phẩm rất cao Do đó để gia tăng lợi nhuận, các công ty thực hiện bằng cách đẩy mạnh doanh số bán
Nhưng khi thực hiện điều này cũng đồng nghĩa với việc các công ty chế biến sữa phải đầu tư sản xuất ở quy mô lớn, đầu tư nâng cấp công nghệ sản xuất, mua máy móc, thiết bịhiện đại và do đó, chi phí cố định cũng sẽ bị đẩy lên cao Ngoài ra, ngành sữa Việt Nam đang thiếu trầm trọng bộ phận các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu lâm sang để hằng ngày nghiên cứu tìm ra những vi chết mới bổ sung cho sản phẩm sữa nhưng để ngành sữa cũng không có đủ kinh phí dài hơi cho khoản đầu tư này Ngành sữa Việt Namlại đang phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyện liệu nhập khẩu nên gia nguyên liệu và vật tư đầu vào tăng cũng làm định phí của ngành tăng lên Lúc này, chi phí cố định cao trở thành vấn đề sống còn đối với các công ty Chỉ công ty nào có chi phí cố định thấp hơn sovới đối thủ ở cùng một quy mô sản xuất thì mới có thể gia tăng lợi nhuận và vượt qua khókhăn trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái Chi phí thấp sẽ là thế mạnh kinh tế của ngành, công ty nào có chi phí sản xuất thấp sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh bền vững
3.3 Chu kỳ sống của ngành
3.3.1: Giai đoạn khởi điểm (từ năm 1975 đến 1996)
Trang 29Ngành sữa Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn vì những hậu quả để lại của chiến tranh chưa khôi phục được hết Nền kinh tế của đất nước đang trong giai đoạn hồi phục như vẫn còn tình trạng đói kém và lạc hậu Lúc đó, sữa được coi là một mặt hàng xa xỉ vàngười dân Việt Nam chưa chú ý nhiều đến vấn đề dinh dưỡng vì vậy ngành sữa có khởi đầu không mấy thuận lợi
Nhưng sau đó, với sự ra đời của Công ty cổ phần sữa Việt Nam- Vinamilk được hợp nhất từ 3 nhà máy sữa của chế độ cũ là nhà máy sữa Thống Nhất, Trường Thọ và Dielac đã đưa ngành sữa Việt Nam bước sang một trang mới Cán bộ công nhân viên đã năng động hiến kế, nhiều giải pháp kỹ thuật ra đời như đổi hàng lấy nguyên liệu cho sản xuất; liên kết với các đơn vị trong nước vừa khôi phục nhà máy, vừa sản xuất và phân phối sản phẩm Ngành sữa từng bước được mở rộng, người tiêu dùng biết đến các sản phẩm sữa nhiều hơn
3.3.2: Giai đoạn phát triển
Từ năm 1996 đến 2006:
Ở giai đoạn này, một luồng gió mới đã thổi vào các doanh nghiệp ở Việt Nam Kéo theo đó là mức tăng trưởng bình quân mỗi năm của ngành sữa đạt 15,2% , chỉ thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc 16,1%
Tính thị phần theo giá trị thì Vinamilk và Dutch Lady hiện đang là 2 công ty sản xuất sữa lớn nhất cả nước, đang chiến gần 60% thị phần Sữa ngoại chiếm khoảng 22% thị phần với sản phẩm chủ yếu là sữa bột Còn lại thuộc về những công ty có quy mô nhỏ như Hanoimilk, Ba Vì…Giai đoạn này là giai đoạn sữa ngoại du nhập vào nước ta và các công ty sữa trong nước xuất hiện nhiều hơn với quy mô khác nhau khiến cho sức ép cạnh tranh trong ngành lớn hơn
Từ năm 2006 đến nay:
Trang 30Ngành sữa vẫn giữ vứng được tốc độ phát triển của mình với 2 “ông lớn” chiếm lĩnh thị trường là Vinamilk và Dutch Lady Thị trường sữa nước được đánh giá là thị trường có nhiều tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, và đây cũng là thị trường có biên lợi nhuận khá hấp dẫn Thị trường các sản phẩm sữa đặc được dự báo có tốc độ tăng trưởng chậm hơn do tiềm năng thị trường không còn nhiều, đồng thời biên lợi nhuận của các sản phẩm sữa đặc cũng tương đối thấp so với các sản phẩm sữa khác.
Hình 1: Cơ hội cho thị trường sữa VN (Nguồn: Kantar Worldpanel Việt Nam)
Như vậy, ngành sữa đang trong giai đoạn phát triển, hiện nay, nhu cầu về sữa ngày càng tăng và sản phẩm từ sữa trở thành sản phẩm thiết yếu hằng ngày Bên cạnh đó, với công nghệ ngày càng hiện đại, hệ thống kênh phân phối hiệu quả và giá cả hợp lý thì ngành sữa
sẽ là một ngành phát triển mạnh trong tương lai
3.4: Cơ cấu và kết quả ngành
Qu á trình phát triển một ngành cũng bao gồm những thay đổi đều đặn trong môi trường cạnh tranh của một doanh nghiệp Michael Porter đã làm rõ 5 yếu tố quyết
Trang 31định đến cạnh tranh và chúng ta sẽ cùng phân tích 5 yếu tố đó tác động như thế nào tới ngành sữa Việt Nam.
Hình 2: Phân tích cạnh tranh ngành sữa Việt Nam theo mô hình 5 lực lượng của Michael Porter.
3.4.1: Mối đe dọa xâm nhập
Đặc điểm ngành sữa là tăng trưởng ổn định, lợi nhuận cao, thị phần tương đối ổn định, chi phí gia nhập ngành tương đối cao đặc biệt là ở phân khúc sữa nước và sữa chua
Vì vậy để gia nhập ngành đòi hỏi các công ty mới phải có tiềm lực về vốn lớn đủ để vượt qua các hàng rào gia nhập như :
- Đặc trưng hóa sản phẩm: Thị trường sữa Việt Nam hiện nay đã có mặt của hầu hếtcác hãng sữa lớn trên thế giới, và các hãng này đã có một thị phần nhất định, ít thay đổi trong thời gian qua Do đó, các đói thủ mới muốn gia nhập phải đầu tư mạnh mẽ để mang đến một cái mới hơn, để thay đổi sự trung thành của các khách hàng hiện tại
- Yêu cầu về vốn: Ngành sữa đòi hỏi rất cao về công nghệ chế biến cũng như việc phải quảng bá rộng rãi hình ảnh sản phẩm nên các đối thủ muốn gia nhập thì phải
có vốn đủ lớn để chi trả cho nhu cẩu mua máy móc hiện đại, quảng cáo, nghiên
Trang 32- Kênh phân phối: Các kênh phân phối hiện tại của ngành sữa đã được các doanh nghiệp hiện có sử dụng Chính vì thế, các đối thủ khi gia nhập phải thuyết phục các kênh phân phối này bằng cách chấp nhận chia sẻ hoa hồng cho các nhà phân phối, điều này đồng nghĩa với việc phải nâng chi phí lên cao hơn.
Từ đó chúng ta có thể thấy, mối đe dọa từ những đối thủ mới muốn xâm nhập của ngành sữa là không đáng kể mà cạnh tranh sexdieenx ra chủ yếu trong nội bộ ngành
3.4.2: Cạnh tranh nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành sữa chính là cuộc chiến dành thị phần sát sao và duy trì tăng trưởng theo kịp tốc độ tăng trưởng ngành
Hiện tại, có khoảng 60 doanh nghiệp sữa tại Việt Nam cùng cạnh tranh với nhau, trong
đó chủ yếu là sữa nước Theo thống kê của Euromonitor, hiện có hơn 10 doanh nghiệp tham gia cuộc chơi dành thị phần sữa nước gồm: Vinamilk, FrieslandCampina, Hanoi Milk, Đường Quảng Ngãi, Sữa Ba Vì, Sữa Mộc Châu,… Tuy nhiên Vinamilk và
FrieslandCampina Việt Nam dành phần lớn sân chơi, các doanh nghiệp khác chỉ chiếm
được một góc nhỏ bên cạnh hai người khổng lồ Năm 2012, hai ông lớn này chiếm gần
66% thị phần toàn ngành.
Trang 33Hình 3: Thị phần các doanh nghiệp sữa năm 2012 (Nguồn: Euromonitor)
Ngành sữa Việt Nam đang chứng kiến cuộc dành thị phần giữa 2 “ông lớn” là Vinamilk và FrieslandCampina Việt Nam là công ty liên doanh thành lập từ năm 1995 tạiViệt Nam giữa công ty xuất khẩu tỉnh Bình Dương (Protrade) và Royal
FrieslandCampina-tập đoàn sữa lớn của Hà Lan Nhưng phần thắng đã thuộc về
Vinamilk Nếu như năm 2009, khoảng cách chênh lệch thị phần giữa hai công ty này chỉ hơn 13% thì đến năm 2012 đã nâng lên gần gấp đôi với con số 25,1% Vinamilk liên tục gặt hái được thành tựu khi doanh thu năm 2012 đạt 27.300 tỷ đồng, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt gần 180 triệu USD
Tốc độ tăng trưởng của VINAMILK hay Dutch Lady trong những năm qua tương đương với mức tăng trưởng của ngành, với mức trung b́nh khoảng 20%/năm (trong giai đoạn 2005-2009) Thị phần các hăng sữa có thay đổi nhưng không đáng kể Ở phân khúc sữa nước là cuộc đua giữa Vinamilk và Dutch Lady (FrieslandCampina) thì ở phân khúc sữa đậu nành sẽ là cuộc đua giữa Vinamilk và Đường Quảng Ngãi Đây sẽ là một đói thủ đáng gờm của Vinamilk đối với mảng kinh doanh sữa đậu nành hiện nay
Đứng cạnh những ông lớn trong ngành thì những doanh nghiệp nhỏ hơn như sữa Long Thành, TH Milk Tân Hiệp Phát, Casmilk,… liệu làm sao để tăng trưởng, tăng thị phần? Đây là câu hỏi khó cho các nhà quản lý của các doanh nghiệp này
3.4.3: Sức ép từ sản phẩm thay thế
Sức ép về sản phẩm thay thể trong ngành sữa là không nhiều hay có thể nói là chưa có sảm phẩm nào thay thế được sữa do nhiều đặc thù của sữa là sản phẩm bổ sung dinh dưỡng thiết yếu Tuy nhiên, sẽ có sự cạnh tranh giữa các sản phẩm trong ngành về thị phần như sữa đậu nành hay các sản phẩm đồ uống ngũ cốc, ca cao… có thể làm giảm thị phần của các sản phẩm sữa nước
3.4.4: Quyền lực của người mua
Trang 34- Các khách hàng cuối cùng, có khả năng gây áp lực lớn cho các công ty về chất lượng của sản phẩm
Hiện tại trên thị trường sữa các sản phẩm sữa rất đa dạng và có thể thay thế cho nhau,
và yếu tố giá cả không phải là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm sữa Các công ty sẽ phải cạnh tranh với nhau bằng chất lượng, sự đa dạng về sản phẩm, sức mạnh thương hiệu…rồi mới đến cạnh tranh bằng giá cả
- Các khách hàng trực tiếp là các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh
dưỡng…có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng
Các công ty sữa trong nước và các hãng sữa nước ngoài phải cạnh tranh để có được những điểm phân phối chiến lược, chủ yếu thông qua chiết khấu và hoa hồng cho đại lý bán lẻ Các điểm phân phối như trung tâm dinh dưỡng, bệnh viện, nhà thuốc…có thể dành được sức mạnh đáng kể trước các hãng sữa vì họ có thể tác động đến quyết định mua sản phẩm sữa nào của khách hàng mua lẻ (khách hàng cuối cùng) thông qua tư vấn, giới thiệu sản phẩm
Nhưng nhìn chung, năng lực thương lượng của người mua trong ngành sữa là thấp
3.4.5: Quyền lực của nhà cung cấp
- Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp nguyên liệu sữa trong nước hạn chế
Xét về quy mô ngành chăn nuôi bò sưa ở Việt Nam thì 95% số bò được nuôi tại các hộ gia đình, chỉ 5% được nuôi tại các trang trại chuyên biệt với quy mô từ 100-200 trở lên (VEN,2009) Điều này cho thấy người dân nuôi bò tự phát, dẫn đến việc không đảm bảo
số lượng và chất lượng và làm giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước Việc thiếu kinh nghiệm quản lý, quy mô trang trại nhỏ, kiến thưc chăn nuôi chưa cao…khiến người chăn nuôi bò sữa rất bất lợi Đó chính là nguyên nhân làm cho các công ty sữa trong nước năm được thế chủ động trong việc thương lượng giá thu mua sữa trong nước
- Phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá cả và nguồn nguyên liệu nước ngoài
Do hơn 70% nguyên liệu của ngành là nhập khẩu (chủ yếu là sữa bột), giá sữa bột thế giới sẽ gây áp lực lên ngành sản xuất sữa Việt Nam Trong thời gian tới, giá sữa bột có xu
Trang 35hướng tăng Đồng thời nguồn cung cấp từ các nước xuất khẩu chủ yếu từ New Zealand, Úc…sẽ tăng nhẹ trong khi cầu nhập khẩu từ các nước châu Á tăng lên, đặc biệt là Trung Quốc Do đó, việc kiểm soát các hợp đồng mua sữa bột cả về số lượng lẫn chất lượng là rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của các công ty Tuy nhiên với diễn biến giá sữa khó nắm bắt như hiện nay, các nhà sản xuất trong nước vẫn ở trong thế bị động khi phản ứng chậm với diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Từ đó cho thấy năng lực thương lượng của nhà cung cấp trong ngành này là tương đối cao
3.5: Mức độ sinh lời của ngành
Ngành sữa được đánh giá là ngành có mức sinh lời cao Giá sữa bán lẻ của Việt Nam cao hơn so với giá sữa trung bình thế giới Mức giá sữa bán lẻ cho người tiêu dùng tại Việt Nam hiện ở mức khoảng 1,1 USD/lít, cao gần tương đương so với các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao như khu vực Bắc Mỹ, Châu Đại Dương và cao hơn hẳn
so với các nước có thu nhập bình quân đầu người tương tự như Việt Nam
Hình 4: Mức sinh lợi của ngành sữa (Nguồn: Jaccar, BVSC)
Nhìn chung ngành sản xuất sữa tại Việt Nam có mức sinh lời khá cao, tuy nhiên mức sinhlời giữ các nhóm sản phẩm có sự khác biệt khá lớn Sản phẩm sữa bột trung và cao cấp hiện đang là nhóm sản phẩm dẫn đầu về hiệu quả sinh lời, với mức sinh lời đạt khoảng 40%/giá bán lẻ, sữa nước và sữa chua có mức sinh lời đạt khoảng 30%/giá bán lẻ Phân
Trang 36khúc thị trường sữa đặc do nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ngày một giảm dần, nên có mức sinh lới thấp nhất và đạt khoảng 12%/giá bán lẻ.
Theo Kantar Worldpanel, hiện nay, sữa và các sản phẩm từ sữa chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngân sách dành cho FMCG ở thành thị, và gần đây đã phát triển đột phá ở khu vực nông thôn so với các ngành hàng FMCG khác
Công ty này dự đoán trong 3 năm tới, ngành hàng sữa sẽ có vai trò ngày càng quan trọng hơn đối với người tiêu dùng Việt Nam, khi người tiêu dùng ngày càng quan tấm nhiều đến sức khỏe, cộng thêm việc ngày càng nhiều gia đình sở hữu tủ lạnh ở nhà
Với tiềm năng phát triển còn rộng mở ở nhiều ngành hàng sữa khác nhau, chuyển từ phục vụ thị trường đại chúng sang phục vụ theo từng phân khúc thị trường và bắt kịp sự thay đổi trong nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng sẽ là chìa khóa thành công trên thị trường sữa Việt Nam Đây là một lĩnh vực đầu tư mà các nhà đầu tư nên cân nhắc đầu tư vào bở tiềm năng ngành sữa là rất lớn.
Trang 37CHƯƠNG IV : PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
4.1: Khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn của Vinamilk từ năm 2010 đến 2012
4.1.1: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CỦA VINAMILK TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2011
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Vinamilk)
tiền 613.472.368.080 3.156.515.396.990 1.252.120.160.804
Các khoản tương đương tiền 364.000.000.000 2.366.000.000.000 400.000.000.000
Các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn 1.742.259.762.292 736.033.188.192 3.909.275.954.492
Đầu tư ngắn hạn 1.812.917.431.792 815.277.431.792 4.039.304.630.112
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn -70.657.669.500 -79.244.243.600 -130.028.675.620
Các khoản phải thu ngắn hạn 1.124.862.162.625 2.169.205.076.812 2.246.362.984.001
Phải thu khách hàng 587.457.894.727 1.143.168.467.855 1.269.841.759.012Trả trước cho người bán 354.095.973.554 795.149.182.591 576.619.318.260Các khoản phải thu khác 183.904.850.455 232.805.433.796 403.754.490.615
Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi -596.556.111 -1.918.007.430 -3.852.583.886
TÀI SẢN DÀI HẠN 4.853.229.506.530 6.114.988.554.657 8.587.258.231.415 Các khoản phải thu dài hạn
Trang 38Giá trị hao mòn lũy kế -3.242.213.012 -16.995.199.921 -20.952.098.370
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 1.141.798.415.275 846.713.756.424 284.428.762.040
Đầu tư vào công ty liên kết, liên
Đầu tư dài hạn khác 1.036.146.073.800 783.646.073.800 80.840.000.000
Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn -108.580.084.548 -142.350.792.629 -14.355.884.467
Lợi thế thương mại 19.556.808.664 15.503.335.522 13.662.186.598 Tài sản dài hạn khác 162.461.317.098 107.338.146.303 150.152.345.194
Chi phí trả trước dài hạn 97.740.813.322 25.598.314.795 41.073.978.122Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 62.865.036.536 80.643.411.508 108.001.947.072
Phải trả người lao động 33.549.296.245 44.740.312.110 106.150.509.860Chi phí phải trả 264.150.983.635 260.678.009.293 365.103.636.850Các khoản phải trả, phải nộp ngắn
Quỹ khen thưởng, phúc lợi 259.394.970.699 346.372.825.269 406.397.724.109
Nợ dài hạn 163.583.454.306 158.929.338.768 59.781.521.230
Phải trả dài hạn khác 92.000.000.000 92.000.000.000
Trang 394.1.2: BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
VINAMILK TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2012
TÀI SẢN
Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ 16.081.466.183.586 22.070.557.490.766 27.101.683.739.278
Các khoản giảm trừ doanh thu 328.600.184.161 443.128.597.657 540.109.559.314
Doanh thu thuần về bán hàng
và cung cấp dịch vụ 15.752.865.999.425 21.627.428.893.109 26.561.574.179.964 Giá vốn hàng bán 10.579.208.129.197 15.039.305.378.364 17.484.830.247.188 Lợi nhuận gộp về bán hàng và
cung cấp dịch vụ 5.173.657.870.228 6.588.123.514.745 9.076.743.932.776
Doanh thu hoạt động tài chính 448.530.127.237 680.232.453.133 475.238.586.049
Chi phí bán hàng 1.438.185.805.872 1.811.914.247.629 2.345.789.341.875Chi phí quản lý doanh nghiệp 388.147.124.772 459.431.997.199 525.197.269.346
Trang 40Lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh 3.642.656.452.833 4.750.579.813.688 6.629.824.778.189
Thu nhập khác – số thuần 608.785.500.303 237.226.032.153 287.317.067.635 Phần lãi/(lỗ) trong liên doanh,
4.1.3: Phân tích bảng cân đối kế toán
BIẾN ĐỘNG TÀI SẢN, NGUỒN VỐN CỦA VINAMILK QUA 3 NĂM 2010-2012