Và trong sáng kiến kinhnghiệm này, xin trình bày các giải pháp cụ thể qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Giúp học sinh tự tin trình bày trước lớp kể về một trải nghiệm của bản thân” III.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I BỐI CẢNH CỦA SÁNG KIẾN
Năm học 2021-2022 là một dấu mốc quan trọng trong hành trình cải cáchchương trình giáo dục phổ thông cấp THCS Đây là năm đầu tiên cấp THCSthực hiện thay đổi sách giáo khoa lớp 6 theo lộ trình cải cách của chương trìnhgiáo dục phổ thông tổng thể đề ra từ năm 2018 Theo đó, chương trình được xâydựng theo định hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp với xu thế phát triểncủa thời đại góp phần tạo ra những chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng
và hiệu quả giáo dục phổ thông: kết hợp dạy chữ, dạy người, định hướng nghềnghiệp, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh Chương trình mới coitrọng tính thực tiễn, coi trọng những hoạt động trải nghiệm của người học Nhưvậy, nền giáo dục nước nhà đang hướng đến mục tiêu góp phần đào tạo ra nhữngcon người tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức, lànhững con người học để làm, học để sống hòa nhập, học để chung sống theomục tiêu chung của UNESCO
Một trong những phẩm chất và năng lực rất cần thiết của con người thờiđại mới chính là sự tự tin Sự tự tin được ví như một chiếc chìa khóa vô cùngquan trọng làm nên thành công cho mỗi người Do đó, đây là điều quan trọngcần hình thành và phát triển ngay từ khi còn nhỏ Với học sinh lớp 6, đây cũng
là thời điểm thích hợp để rèn luyện đức tính tự tin để các em có đủ khả năng tiếpnhận nội dung chương trình mới theo phương pháp dạy học mới hiện nay
II LÝ DO CHỌN VÀ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN:
Đối với môn Ngữ văn lớp 6 mới, mỗi bài học trong chương trình đượcthiết kế đủ 4 kĩ năng: Đọc, viết, nói và nghe Mục đích của chương trình làkhông chỉ phát triển năng lực văn học cho học sinh mà còn phát triển năng lựcngôn ngữ và nhiều phẩm chất khác nữa, trong đó có sự tự tin Đây là điểm khácbiệt căn bản trong cách xây dựng chương trình Ngữ văn hiện hành so vớichương trình trước đây Vì các tiết học hiện nay được tổ chức dưới sự dẫn dắtcủa giáo viên, còn học sinh đóng vai trò là chủ động tiếp nhận bài học thông quacác phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực Trong các phương pháp đó,không thể không kể đến các hoạt động nhóm, trạm học tập, thảo luận nhóm lớn,nhóm nhỏ yêu cầu học sinh phải tự bộc lộ ý kiến, quan điểm hay tự báo cáo cácnội dung của bài học Do đó các em cần có phong cách thuyết trình tự tin, thoảimái trước lớp Nói đến 4 kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, sự tự tin thể hiện quahoạt động nói và nghe rõ rệt nhất Chương trình Ngữ văn 6 có 10 bài học trong 1năm Tương ứng với số bài đó là có ít nhất 10 tiết nói và nghe Trong tiết học
Trang 2này, học sinh nói là chủ yếu Vậy, nếu các em không đủ tự tin để trình bày trướclớp thì coi như giờ học chưa thành công Qua các tiết nói và nghe thực hiện từđầu Học kì I ở lớp 6 trường THCS, tôi nhận thấy các em còn rụt rè, e ngại khinói trước lớp vì vậy mà giờ học trở nên tẻ nhạt, học sinh chưa hào hứng học bài.Như vậy, giờ học chưa thể đảm bảo mục tiêu dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh Vì vậy, tôi đã nghiên cứu một số giải pháp để giúp học sinh
tự tin trình bày bài nói trước lớp qua các tiết luyện nói Và trong sáng kiến kinhnghiệm này, xin trình bày các giải pháp cụ thể qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
“Giúp học sinh tự tin trình bày trước lớp kể về một trải nghiệm của bản thân”
III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA SÁNG KIẾN
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Các giải pháp để giúp học sinh lớp 6 trường THCS tự tin trình bày trướclớp trong tiết nói và nghe về một trải nghiệm của bản thân (Bài 1, Bài 3 mônNgữ văn 6, bộ sách “ Kết nối tri thức với cuộc sống” Học kì I)
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 6 trường THCS: Nghiên cứu năng lực nói của học sinh nóichung và sự tự tin khi nói
- Các giải pháp giúp học sinh tự tin khi nói theo chủ đề kể lại một trảinghiệm đáng nhớ của bản thân
- Các cách tổ chức hoạt động cho tiết “ Nói và nghe kể về một trải nghiệmcủa em”
IV MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN
Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm tổng hợp những giải pháp giúp học sinhlớp 6 trường THCS với mục đích sau:
- Đảm bảo giờ dạy theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất chohọc sinh
- Giúp học sinh có kĩ năng nói một cách tự tin trước tập thể chủ động trìnhbày được trải nghiệm đáng nhớ của mình cho cả lớp cùng nghe
- Tạo hứng thú và không khí học tập sôi nổi trong giờ nói và nghe theochủ đề trên
- Rèn luyện sự tự tin cho học sinh không chỉ cho riêng giờ Ngữ văn màcho cả các môn học khác, góp phần hình thành và phát triển kĩ năng mềm trongtương lai
B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU
Trang 3sự tự tin là thành tố quan trọng quyết định sự thành công của mỗi con người Do
đó, mỗi học sinh cần rèn luyện cho mình sự tự tin ngay tự khi còn ngồi trên ghếnhà trường
Trong giao tiếp tự tin thể hiện qua cách nói năng, cử chỉ, điệu bộ, nét mặtkhi giao tiếp với người khác Người tự tin trong giao tiếp luôn luôn có trạng tháithoải mái khi trò chuyện, khiến người nghe dễ dàng bị thuyết phục trước điều họtrình bày và đem lại sự hài lòng trong cuộc giao tiếp đó Đối với học sinh, môitrường học tập là môi trường lí tưởng nhất để rèn luyện sự tự tin cho các em, bởi
ở đó các em có nhiều cơ hội để học hỏi thầy cô và bạn bè về phong thái tự tinkhi giao tiếp Các em cần có sự tự tin khi các em trả lời câu hỏi, khi thuyết trìnhnội dung bài học và nhất là trong các tiết “Nói và nghe”, sự tự tin là vô cùng cầnthiết, nó quyết định kết quả của phần trình bày của học sinh Để thực hiện hànhđộng nói trước lớp, học sinh cần có đủ tự tin để nói dõng dạc, mạch lạc thì cáchọc sinh khác mới cảm thấy có sức thuyết phục Thêm nữa, khi nói năng tự tin,học sinh mới có thể kết hợp với các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt (Yếu tố phi ngônngữ, ngôn ngữ cơ thể) để tăng sự hấp dẫn cho bài nói Để có được điều đó, giáoviên cần có giải pháp để học sinh rèn luyện, thực hành, rút kinh nghiệm thì mới
có kết quả khả quan
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để rèn luyện sự tự tin trong giaotiếp nói chung Các ý kiến đều tập trung vào việc giảm bớt áp lực từ các yếu tốchi phối sự tự tin của người nói như: Giọng nói (Giọng khàn, giọng quá cao, lạcgiọng ); hoặc cách phát âm (Phát âm lẫn lộn hai phụ âm L và N), cách ăm mặcv.v Hay họ cũng bàn về cách lấy lại sự tự tin trong giao tiếp bằng cách luônsuy nghĩ và hành động tích cực Những ý kiến đó chính là một trong những gợi
ý để giáo viên có thể tham khảo và vận dụng vào việc giúp học sinh của mìnhrèn luyện sự tự tin trong học tập
2 Cơ sở thực tiễn
Học sinh lớp 6 trường tôi đa số là học sinh ngoại thành, nên các emthường dè dặt trong giao tiếp, chưa phát huy được năng lực của bản thân Đểtiến hành nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã khảo sát về những hạnchế của học sinh lớp 6 qua thực tế giảng dạy tiết nói và nghe ở Bài 1,3,qua đó
Trang 4mong muốn cả giáo viên và học sinh cùng đánh giá được thực trạng để việc trìnhbày bài nói được thực hiện tốt hơn khi học các bài học tiếp theo.
Lớp/
Sĩ số Nội dung nói tốt
Không chủđộng xin trìnhbày
Nội dung nói sơ
Phát âmsai/nói lắp(L - N)Lớp
Sốlượng Tỉ lệ %
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng Tỉ lệ %
Câu hỏi khảo sát: Em hãy tự chấm điểm về mức độ tự tin của em khi trình
bày trước lớp các vấn đề của bài học trong tiết nói và nghe vào phiếu khảo sát.Kết quả tổng hợp thu được như sau:
Chưa tự tin lắm(5-6 điểm)
Thiếu tự tin(1- 4 điểm)
Không tự tin(0 điểm)Số
lượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
6F/
Tìm hiểu nguyên nhân các hạn chế trên tôi nhận thấy như sau:
Về nội dung bài nói sơ sài có hai nguyên nhân chủ yếu: Một là do họcsinh chuẩn bị nội dung bài nói không kĩ, hoặc có những học sinh băn khoănkhông biết bài làm của mình đã đúng yêu cầu chưa; hai là do tâm lí học sinhkhông tốt nên khi trình bày bai nói học sinh không nhớ được hết các nội dung đểtrình bày
Đối với vấn đề học sinh không chủ động xung phong nguyên nhân chủyếu là tâm lí rụt rè, e ngại việc đứng trước tập thể
Còn những em học sinh nói lắp bắp, nói nhỏ một phần là do bản tính, mộtphần là do tâm lí
Trang 5Như vậy có thể thấy vấn đề tâm lí ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả bàinói Và đó cũng là nguyên nhân chính của việc thiếu tự tin Với số lượng 34,6 %
số học sinh thiếu tự tin và không tự tin để trình bày bài nói, đó sẽ là một khókhăn cho giáo viên khi tổ chức hoạt động trong giờ học nói và nghe
Một nguyên nhân khác nữa là do các em học sinh lớp 6 năm nay tiếp cậnvới chương trình và sách giáo khoa mới với tâm lí hết sức bỡ ngỡ Ở lớp 5, các
em học môn Tiếng Việt, trong đó cũng có Văn bản, có Tiếng Việt, có Tập làmvăn nhưng yêu cầu và cách thức học hoàn toàn khác so với môn Ngữ văn cấpTHCS Gần như khi làm văn ở cấp tiểu học, các em mới tập tạo lập văn bản viếtvới những bài Tập làm văn ngắn theo kiểu trả lời câu hỏi gợi ý Tiết nói và nghetrong chương trình là hoàn toàn mới mẻ với học sinh Do đó, các em mới đangdần làm quen với các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lựchọc sinh nên có nhiều em chưa bắt nhịp được ngay, vì thế mới có những tồn tại,hạn chế như trên
Riêng về lỗi phát âm sai hai phụ âm “ L và N”, đây là hạn chế chung củahọc sinh thuộc khu vục tôi đang giảng dạy Điều này cũng có tác động khá lớnđối với sự tự tin Bởi khi các em phát âm sai, các em dễ bị bạn cười nhạo khiếncác em có tâm lí ngại trình bày vấn đề Nếu sau này ra hòa nhập vào môi trườnggiao tiếp với người ở địa phương khác cũng sẽ thành rào cản lớn trong giao tiếp,khiến các em không được thoải mái, tự nhiên
Có thể nói, với các nguyên nhân đã trình bày ở trên nên giờ nói và nghe
dù ở bất kì chủ đề nào cũng cần được cải thiện để giờ học trở nên sôi nổi, họcsinh tích cực và tự tin trong khi trình bày bài nói Chính vì vậy, tôi dã nghiêncứu các giải pháp và thực hiện áp dụng ở một số tiết nói và nghe theo các chủ đề
ở từng bài, trong đó có tiết: Nói và nghe “ Kể về một trải nghiệm của bản thân”
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1.1 Khuyến khích học sinh xem và học hỏi kĩ năng nói từ các bài nói mẫu
Đối với các học sinh còn thiếu tự tin khi trình bày trước lớp, giáo viên nênkhuyến khích học sinh thường xuyên xem các video của những người có cáchnói, cách hùng biện hay, thu hút được sự chú ý của người nghe Gần gũi với các
em học sinh lớp 6 và kểu bài kể lại một trải nghiệm của em nhất là các video họcsinh thi tuyên truyền sách hoặc thi kể chuyện Ở các video này, học sinh thường
có phong cách nói tự tin, truyền cảm, hấp dẫn người nghe Cho nên giáo viêncũng có thể dùng các video đó làm tư liệu để khởi động giờ nói và nghe hoặc
Trang 6mở rộng phạm vi kiến thức bài học Sau khi cho các em xem, giáo viên có thểcho học sinh nhận xét về kĩ năng nói, về sự tự tin khi nói, và cách thức để cótrình bày cuốn hút như vậy Từ đó các em sẽ tìm cách học hỏi, thể hiện phongthái chuyên nghiệp của họ.
1.2 Giúp học sinh biết được thế mạnh của mình và động viên học sinh phát huy thế mạnh.
Để giúp học sinh tự tin, việc giúp học sinh nhận ra thế mạnh của bản thân
vô cùng có ý nghĩa Bởi vì đó sẽ là cơ sở để học sinh có niềm tin vào khả năngcủa mình và giảm bớt cảm giác tự ti, rụt rè Giáo viên có thể gợi ý để học sinhnhận ra các em giỏi điều gì, hài lòng về điều gì ở bản thân, em có thể làm tốtđiều gì Bên cạnh đó, khi nhận xét, đánh giá phần trình bày của học sinh giáoviên nên tế nhị đưa vào lời khen lời động viên để học sinh không cảm thấy thấtvọng về mình Nguyên tắc vận dụng kiểu “ hai lời khen, một góp ý” là mô hìnhvừa góp ý vừa động viên học sinh rất tốt Ví dụ: Giọng kể của em rất hay (khen),lời kể rõ ràng, mạch lạc, (khen), nếu em thêm những câu văn miêu tả sự việc đónữa thì bài kể của em sẽ rất tốt (góp ý) Bên cạnh đó, có một số học sinh phảidùng “ chiêu” “ khích tướng” học sinh, tức là chạm vào tự ái, sĩ diện của họcsinh để lấy đó làm đòn bẩy kích thích học sinh Ví dụ: Bạn A mọi khi phát biểurất sôi sổi, rất tốt tại sao hôm nay con lại trầm thế (Cũng là vận dụng nguyên tắckhen vừa góp ý) v.v
1.3 Giúp học sinh hiểu rõ kiểu bài
Tiêu đề của bài học là: Kể lại một kỉ niệm đáng nhớ đối với bản thânTrước bài học này, học sinh đã có tiết viết bài Ngay từ tiết viết bài, giáoviên cần củng cố cho học sinh về khái niệm: “Kể về một trải nghiệm”
Kể là dùng phương thức tự sự là chủ yếu Trong đó có việc sử dụng ngôi kể,thứ tự kể, nội dung kể phải hàm chứa các sự việc xảy ra theo một diễn biến nhấtđịnh Nói như vậy để học sinh không nhầm lẫn với phương thức miêu tả mà họcsinh đã học từ cấp tiểu học “Kể về một trải nghiệm” là khái niệm về kiểu bài đãđược sách giáo khoa cung cấp như sau: Kể về một trải nghiệm là kiểu bài trong đóngười viết kể về diễn biến của sự việc mà mình đã trải qua và để lại nhiều ấn tượng,cảm xúc Nếu chỉ nêu định nghĩa như vậy, rất nhiều học sinh vẫn còn mơ hồ về haichữ “ trải nghiệm” Qua tực tế điều tra trước khi thực hiện đề tài, tôi có khảo sáthọc sinh bằng câu hỏi “ Con hiểu như thế nào là một trải nghiệm?”, hai phần batrong số học sinh được hỏi trả lời với ý: Trải nghiệm là đi đâu đó và trải nghiệm làhoạt động gì đó có ý nghĩa lớn lao lắm Như vậy, trong suy nghĩ của học sinh các
em hiểu chưa đúng nghĩa khái niệm sách giáo khoa đưa ra Điều đó dẫn đến việc
Trang 7học sinh không biết chọn chuyện gì để kể, chuyện đó có đúng là “một trải nghiệm”
mà đề yêu cầu hay không Vậy, giải pháp đầu tiên ở đây là giáo viên cho học sinhlấy ví dụ cụ thể về những trải nghiệm đó bằng cách cho học sinh hoạt động nhóm.Các thành viên trong nhóm nói cho nhau biết mình có trải nghiệm gì Qua mỗi ýkiến của các thành viên trong nhóm học sinh sẽ được mở rộng khái niệm về “trảinghiệm” và giáo viên cần củng cố bằng cách nhấn mạnh: Trải nghiệm được chọn
kể là những hoạt động mà bản thân em tham gia thực hiện hoặc được chứng kiếntrong cuộc sống hàng ngày để lại cho em nhiều ấn tượng, cảm xúc, hoặc có ý nghĩavới em, với cuộc sống Đó có thể là những hoạt động ở trường, lớp với bạn bèhoặc ở trong gia đình với người thân Do đó, trong câu chuyện em vừa là người kểchuyện vừa là nhân vật chính (hoặc là người chứng kiến) Yêu cầu ở bài 3 là kể lạitrải nghiệm đáng nhớ là muốn nhấn mạnh ấn tượng và cảm xúc của người tham giatrải nghiệm nên giáo viên cũng cần nhắc nhở học sinh chú ý yêu cầu này để bài kểđáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra (Thực tế nhiều học sinh “bỏ quên” yêu cầu này)
1.4 Chuẩn bị kĩ càng cho bài kể
Trước hết, để học sinh tự tin khi trình bày bài kể lại một trải nghiệm trướclớp, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu bài học Như đã nói ở trên, phầnnói và nghe ở bài 1 có chủ đề trùng với phần nói và nghe ở bài 3 Với mục đíchyêu cầu học sinh tiếp tục sử dụng kĩ năng đã có ở bài 1 để kể lại một trải nghiệm
có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn mình và có thêm cách thể thể hiện cảm xúcđối với sự việc được kể Như vậy, bài học vừa có tính kế thừa, vừa có yêu cầumới cần phải phát huy Thêm nữa, ở bài kể này, học sinh cần khắc phục đượcnhững nhược điểm đã nêu ở giờ trước để thực hiện tốt hơn Đó cũng chính làmục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm này Vì vậy trước khi dạy và học cần chohọc sinh nắm được các yêu cầu cụ thể của bài nói một cách chi tiết như sau:
Chuẩn bị
nội dung
Xác định đề tài Chia sẻ với mọi người về một trải nghiệm của bản
thânMục đích nói Rèn luyện khả năng diễn đạt khả năng nói trước
đám đông
Người nghe Thầy /cô giáo và các bạn cùng lớp
Thời gian Vào tiết học Ngữ văn (phần trình bày từ 07ph-10ph)Không gian nói Nói trên lớp
- Tự tập trình bày trước gương
- Tập trình bày trước một nhóm bạn, người thân để
họ nhận xét, góp ý hoàn thiện bài nói hơn
Trang 8Bằng cách đưa ra những gợi ý cụ thể như vậy, học sinh sẽ có thêm ýtưởng cho bài nói, tránh được nội dung sơ sài hoặc sai yêu cầu bài nói Và khihọc sinh hiểu yêu cầu của bài kể lại có sự chuẩn bị kĩ các nội dung cũng sẽ là cơ
sở cho sự tự tin khi học sinh trình bày
Bên cạnh đó, học sinh cũng cần hiểu rõ các nhiệm vụ cần thực hiện trongbài nói “ Kể về một trải nghiệm của bản thân”:
Bảng 1: Những yêu cầu khi trình bày nói
Yêu cầu Cách thức/ nội dung thể hiện
Mở đầu bài nói
và cũng là năng lực lập kế hoạch của học sinh trước khi tiến hành công việc.Việc định hướng tốt sẽ giúp học sinh tự tin hơn khi nói
Bảng 2: Những yêu cầu sau khi nói
Người nói Thái độ
Hành động
Người nghe Thái độ
Hành động Bảng này tích hợp cả hai nội dung vì mỗi học sinh đều cần trả lời vào bảng
để hiểu kĩ càng các tiêu chí đánh giá bài kể Khi nắm được các tiêu chí này, họcsinh có thể tự điều chỉnh nội dung và hình thức bài kể, tránh được tâm lí lo lắngbài kể không đạt yêu cầu Đặc biệt, phần nghe cũng có vai trò quan trọng để họcsinh có thể tự rút kinh nghiệm và tự tin hơn với phần trình bày của mình Đócũng là cách nhằm phát huy năng lực phản biện của học sinh vì người có tư duyphản biện tốt là người sẽ tự tin trong giao tiếp
Bảng 3: Phiếu đánh giá tiêu chí nói
Trang 9Với mỗi bài nói trong từng chủ đề, phiếu đánh giá tiêu chí này sẽ cụ thểhóa theo nội dung của bài nói trong chủ đề đó thành điểm số cụ thể để học sinh
tự đánh giá mức độ thực hiện phần trình bày bài nói trước lớp Do đây là sángkiến nghiên cứu về sự tự tin của học sinh nên phiếu đánh giá này có thêm khảosát về việc đánh giá tiêu chí “tự tin” của người trình bày bài kể lại một trảinghiệm của bản thân như sau:
đạt
Nội dung
Bài trình bày có đủ ba phần: giới thiệu, nội dung và kết
thúc
Câu chuyện kể về trải nghiệm của người nói
Câu chuyện được giới thiệu rõ ràng về các nhân vật,
không gian, thời gian xảy ra
Các sự việc được kể theo trình tự hợp lí
Câu chuyện được kể theo ngôi thứ nhất và nhất quán
trong cách xưng hô từ đầu đến cuối bài nói
Thể hiện rõ cảm xúc về sự việc đã xảy ra
Nêu được ý nghĩa của trải nghiệm với bản thân
Hình
thức
Giọng nói to, rõ, mạch lạc
Giọng điệu kể linh hoạt phù hợp với nội dung và cảm
xúc của người nói
Người nói tự tin, nhìn vào người nghe khi nói, sử dụng
giọng kể, nét mặt cử chỉ hợp lí
Thông qua phiếu này học sinh được làm quen với việc đánh giá đồngđẳng (học sinh tự đánh giá lẫn nhau) để tự hoàn thiện bản thân Đó là một trongnhững điểm mới trong dạy học phát triển năng lực hiện nay
1.5 Kích thích học sinh tích cực tương tác để rèn luyện sự tự tin
Với các em học sinh còn thiếu tự tin, việc tương tác với giáo viên, với họcsinh sẽ giúp các em có cơ hội được trình bày trước tập thể để rèn luyện sự tự tin.Bằng cách thực hành nói nhiều lần, học sinh sẽ có kĩ năng nói tốt hơn, chủ độnghơn Muốn học sinh tích cực phát biểu hoặc xin trình bày ý kiến một cách chủđộng, giáo viên cần tăng cường cho học sinh thảo luận nhóm, tập nói trongnhóm trước khi tập nói trước lớp Khi đó, các thành viên sẽ có sự bổ sung góp ýcho nhau để học sinh lên trình bày trước lớp sẽ tự tin thực hiện tốt phần trìnhbày của mình
1.6 Thay đổi hình thức tổ chức giờ học và các hoạt động học tập
Trang 10Trong thực tế, tiết nói và nghe không dễ để tổ chức sinh động, hấp dẫnnhư các tiết đọc hiểu văn bản hay thực hành Tiếng Việt Đặc biệt, nếu học sinhkhông hợp tác tốt giáo viên khó có thể thực hiện dạy học theo định hướng pháttriển năng lực với các mục tiêu và nội dung như đã đề cập ở trên Và đa phầncác giờ học đều được tổ chức bằng cách truyền thống: Giáo viên là người tổchức và hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động Do đó nếu chúng ta cócách thay đổi thì sẽ giúp học sinh chuyển trạng thái học tập và có tâm thế họctập tốt hơn, hào hứng tương tác, sôi nổi tranh luận và phản biện Chẳng hạn:
Thay đổi không gian học tập: Với những trường có cơ sở vật chất đầy
đủ và nhiều phòng học, có phòng học bộ môn, giáo viên có thể mượn khônggian học tập ở phòng học khác để tổ chức tiết học trên Với không gian phònghọc mới, học sinh sẽ có tâm lí hào hứng hơn Đặc biệt nếu lớp học trang trí theochủ đề của bài học, có thêm các thiết bị khác hỗ trợ như loa, micro, máy chiếu,bảng thông minh để học sinh có thể trình chiếu hình ảnh, âm thanh kết hợpvới bài kể thì cũng tạo ra hiệu ứng tốt Khi đó, người nghe không chỉ nhìn chămchăm vào người nói mà sẽ huy động cả nghe, nhìn kênh hình khiến học sinhtrình bày vấn đề cũng không bị mất bình tĩnh
Giáo viên hướng dẫn một học sinh trong lớp điều khiển tiết học: Việc
này giống như thay đổi khẩu vị trong những bữa ăn hàng ngày Thường ngày, họcsinh quen nghe và làm theo sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên nên khi thayviệc đó bằng cách cho học sinh khác thực hiện thay giáo viên, học sinh vừa có sự
tò mò muốn xem hôm nay bạn đó làm như thế nào, vừa đón nhận giờ học với tâm
lí thoải mái hơn Khi các em tương tác với nhau các em sẽ cảm thấy cởi mở, tự tinhơn Qua các tiết luyện nói khác nhau, giáo viên có thể mời những học sinh khácnhau thực hiện nhiệm vụ trên Đây cũng là việc để rèn luyện sự tự tin, khả năngnói trước đám đông của chính học sinh được gọi lên điều khiển tiết học
Tập trung vào nhiều đối tượng học sinh, nhất là học sinh còn nhút nhát, rụt rè: Tâm lí của nhiều giáo viên khi dạy tiết thực hành nói và nghe là
muốn giờ học đảm bảo về thời gian và nội dung cần đạt được thực hiện đầy đủtrong một tiết học nên thường dành phần nói cho những học sinh ưu tú tronghoạt động này Như thế chúng ta vô tình coi nhẹ vai trò của các học sinh khác,không cho các em có cơ hội được thể hiện năng lực của bản thân thì từ đó các
em không thể xác định được năng của các em đang ở mức độ nà Vậy, để giờ
“Nói và nghe” có tác dụng phát triển năng lực cho nhiều học sinh, giáo viên cầnlưu ý: Học sinh được chọn để trình bày vấn đề không nhất thiết phải là những
Trang 11học sinh có năng lực nói tốt, giáo viên có thể chọn ngẫu nhiên bằng cách bắtthăm hoặc quay vòng quay kì diệu (có ghi tên học sinh).
Việc này khiến học sinh tập trung chú ý cao hơn, có ý thức chuẩn bị bài
và ý thức hợp tác tốt hơn vì như vậy là giáo viên đang tạo tâm thế và định hướngcho học sinh
Tổ chức giờ học bằng cách sân khấu hóa: Đây là giải pháp giúp giờ học
trở nên nhẹ nhàng, tránh được tâm lí học bài căng thẳng, đưa các em vào tâm thếcủa việc xem kịch, đồng thời tạo hứng thú, giúp học sinh chú ý vào trải nghiệmđược kể Để thực hiện điều này, giáo viên cần có sự chuẩn bị kì công hơn Đó làphải giao nhiệm vụ cho các nhóm chuyển thể trải nghiệm của một thành viêntrong nhóm thành một kịch bản, có phân công các vai diễn và có thời gian tậpluyện kịch bản
1.7 Một số bài tập giúp học sinh phát âm đúng các phụ âm “ L và N”
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do cách phát âm của địa phương.Lỗi phát âm sai do tiếng địa phương không phải dễ khắc phục được ngay dothường ngày các em và mọi người xung quanh đều nói như vậy Song khôngphải là không sửa được nếu các em biết cách tập và chịu khó tập luyện Sửađược lỗi phát âm này cũng giúp học sinh trở nên tự tin hơn khi nói Sau đây làmột số bài tập luyện phát âm đúng phụ âm “ l- n” dùng cho tất cả các học sinhmắc lỗi phát âm sai hai phụ âm này:
Nói năng nên luyện luôn luôn, Lời nói lưu loát luyện luôn lúc này
Lẽ nào nao núng lung lay Lên lớp lú lẫn lại hay nói lầm"
Trang 12Đọc phương châm luyện nói: Nói lẫn lần này nên nói lại Nói lẫn lần nữa lại nói lại, nói lúc nào lưu loát hết lầm lẫn là lên lớp nói luôn
(sưu tầm: nguồn Internet )
Dạng bài tập luyện phát âm đúng hai phụ âm “ L - N” trên Internet có rấtnhiều bài tập khác nhau, giáo viên có thể giới thiệu để học sinh tự tìm và tự tậpluyện Bài tập trên cũng có thể tổ chức thành trò chơi khởi động trong giờ “ Nói
và nghe” hoặc lúc kết thúc giờ học hoặc yêu cầu luyện tập ở nhà đối với nhữnghọc sinh mắc lỗi (Có thể phân cặp đôi cùng luyện sẽ có hiệu quả hơn) Giáo viên
có thể ra quy định chấm điểm như sau:
- Đọc đúng và nhanh: 3 điểm
- Đọc đúng và chậm: 2 điểm
- Đọc sai 1 lỗi: 1 điểm
- Đọc sai nhiều hơn 1 lỗi: 0 điểm
Để thực hiện nghiêm túc việc luyện tập, có thể tiến hành cả trong các giờ truy bài, hoặc tổ chức thành một trò chơi trong giờ sinh hoạt lớp Giáo viên gợi
ý cho học sinh lập nhật kí tập luyện và tự theo dõi sự tiến bộ thông qua bảng chấm điểm như trên
Bên canh đó, giáo viên cũng khuyên các em khi nói nên nói chậm rãi, giữtâm lí thoải mái, đừng nghĩ đó là một sự tồi tệ, làm mình phiền muộn Và cũngđừng nghĩ người khác đang soi mói hay để ý đến hạn chế của mình Những suynghĩ tích cực sẽ giúp học sinh thêm quyết tâm và nhanh tiến bộ Đối với các họcsinh khác không mắc lỗi, giáo viên nhắc nhở học sinh không nên có thái độ nhạobáng, nói lời khiếm nhã mà cần lắng nghe và giúp bạn sửa lỗi
2 Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến vào thực tiễn
Bảng so sánh trước và sau khi thực hiện đề tài
- Trước khi thực hiện
Chưa tự tin lắm(5-6 điểm)
Thiếu tự tin(1- 4 điểm)
Không tự tin(0 điểm)Số
lượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%
Sốlượng Tỉ lệ%