Dạy chữ cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật cũng chính là dạy cho học sinh biết về lòng tự trọng của bản thân m
Trang 1Phụ lục II
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 khắc phục lỗi sai chính tả
1 Mô tả bản chất của sáng kiến:
Chính tả là một trong những phân môn có đóng góp một phần không
nhỏ trong quá trình rèn chữ viết và rèn luyện cho học sinh những phẩm chất
đạo đức tốt như tính cẩn thận, tinh thần kỷ luật, óc thẩm mĩ như lời cố vấn
Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người Dạy
chữ cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho
học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật cũng chính là dạy cho học sinh biết về
lòng tự trọng của bản thân mình cũng như đối với thầy cô và các bạn đọc,
làm mọi người cảm thấy hài lòng khi đọc bài vở của mình”.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nhiều trường Tiểu học, đa số học sinh
viết đúng mẫu chữ theo quy định, cách trình bày sạch đẹp, viết đúng chính
tả Song bên cạnh đó vẫn còn tình trạng học sinh chữ viết chưa đẹp, chưa
đúng mẫu, còn sai lỗi chính tả.Trong các kì thi, vẫn còn học sinh bị điểm
kém do nguyên nhân chữ viết và trình bày tuỳ tiện, cẩu thả Bên cạnh đó,
tình hình viết sai lỗi chính tả của các em còn khá phổ biến Điều đó ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em Do đó để góp phần
nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh tôi đã chọn đề tài: "Một số biện
pháp giúp học sinh lớp 3 khắc phục lỗi sai chính tả" để nâng cao chất
lượng phân môn chính tả
I.1 Các giải pháp thực hiện, các bước và cách thức thực hiện:
Trang 2Là sáng kiến có nhiều biện pháp, giải pháp, các quy tắc chính tả đã được áp dụng có hiệu quả trong giảng dạy nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập Để sáng kiến mang lại hiệu quả tôi đã nghiên cứu và thực hiện các bước sau:
Tìm hiểu phân loại mức độ hoàn thành bài tập của từng đối tượng học sinh, tìm ra nguyên nhân và các lỗi chính tả thường hay mắc phải
Nguyên nhân:
- Lỗi do cẩu thả của người viết
- Lỗi do hạn chế vốn từ ngữ
- Lỗi do phát âm sai của địa phương
- Lỗi do không viết hoa danh từ riêng, chữ đầu câu, chữ đầu đoạn
- Lỗi do không nắm chắc quy tắc chính tả mà hệ thống chữ quốc ngữ đã ấn định
* Các biện pháp thực hiện:
- Biện pháp 1: Phân hóa đối tượng học sinh và xây dựng nề nếp học tập
- Biện pháp 2: Tổ chức dạy học theo nhóm đối tượng học sinh
- Biện pháp 3: Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học
- Biện pháp 4: Hướng dẫn cách viết cho từng trường hợp mắc lỗi
- Biện pháp 5: Hướng dẫn trình bày bài viết và sửa lỗi
*Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp:
Để thực hiện các giải pháp của sáng kiến có kết quả cao Đòi hỏi người giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần nhiệt huyết trong công tác giảng dạy Phải nắm vững nội dung chương trình chính tả lớp 3 hiện hành, chuẩn bị phiếu bài tập cho từng tiết dạy đồng thời phải luôn sáng tạo
và thay đổi các hình thức dạy học như thực hành, trò chơi để gây hứng thú cho học sinh học tập Mặt khác, cần phải có sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhằm giúp cho kết quả học tập của học sinh được nâng lên
I.2 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
*Ưu điểm: Sáng kiến: "Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 khắc phục
lỗi sai chính tả" là sáng kiến có tính sáng tạo và hiệu quả cao trong công tác
Trang 3dạy học Bằng cách đưa ra những biện pháp và việc làm cụ thể để giải quyết những vấn đề mà học sinh hay mắc phải trong khi viết chính tả nhằm giúp giáo viên có phương pháp giúp đỡ phù hợp Để từ đó giúp học sinh hình thành được ý thức tích cực, tự giác, tự tin, chủ động và sáng tạo trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh, giúp học sinh hoàn thành tốt kiến thức trong chương trình môn học và hoạt động giáo dục *Nhược điểm: Sáng kiến kinh nghiệm trên vẫn còn nhiều mới mẻ cho nên trong quá trình áp dụng vào thực tiễn trong những tuần đầu học sinh chưa quen cách học, học sinh vẫn còn rụt rè, thiếu tự tin Mặt khác, một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình, dụng cụ học tập của học sinh còn thiếu Do vậy kết quả học tập của các em trong những tuần đầu chưa như mong đợi
1.3 Nội dung cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại:
Để sáng kiến mang lại hiệu quả tôi định hướng và làm một số việc sau:
- Ngay từ đầu năm học tôi tiến hành tìm hiểu phân loại mức độ hoàn thành bài tập của từng đối tượng học sinh Theo dõi các em trong quá trình làm bài tập để tìm ra nguyên nhân học sinh thường mắc lỗi chính tả Trong quá trình giảng dạy tôi thấy rằng học sinh lớp 3B Trường Tiểu học Đoàn Nghiên tôi đang trực tiếp giảng dạy các em còn mắc nhiều lỗi chính tả Để nắm được mức độ sai lỗi chính tả của lớp, tôi đã tiến hành khảo sát trên một số bài chính tả và bài tập làm văn rồi phân loại, tìm ra nguyên nhân mắc lỗi để có biện pháp khắc phục
Các lỗi chính tả các em hay mắc phải.
- Lỗi phụ âm đầu
Các em hay mắc lỗi này ở các dạng: gi / d; ng / ngh; g / gh; c / k.
Ví dụ:
+ gi / d: giội rửa viết thành dội rửa
tranh giành viết thành tranh dành
giày da viết thành dày dày gia
Trang 4lưỡi dao viết thành lưỡi giao
+ ng / ngh củ nghệ viết thành củ ngệ
ghé nhìn viết thành gé nhìn
suy nghĩ viết thành suy ngĩ
+ c / k kì cọ viết thành cì cọ
cái kìm viết thành cái cìm
đàn kiến viết thành đàn ciến
Loại này thường mắc ở bài tập làm văn
Ví dụ: sông ngòi viết thành sông ngoài
trang hoàng viết thành trang hàng
- Lỗi âm chính.
Lỗi này trong bài viết rất nhiều, chủ yếu là nguyên âm đôi viết thành nguyên âm đơn và ngược lại
Ví dụ:
+ uôi / ui cúi xuống viết thành cuối xuống
đồi núi viết thành đồi nuối
dòng suối viết thành dòng súi
+ uơ / ơ thuở xưa viết thành thở xưa
huơ vòi viết thành hơ vòi
+ iê / i lúa chiêm viết thành lúa chim
kim tiêm viết thành kim tim
tiêm chủng viết thành tim chủng
+ uôm / ôm nhuộm vải viết thành nhộm vải
ao chuôm viết thành ao chôm
thuyền buồm viết thành thuyền bồm
- Lỗi âm cuối
Lỗi này tập trung chủ yếu ở ba dạng n / ng; c / t; n / nh; nh/ng; t/ch
Ví dụ:
+ n / ng con ngan viết thành con ngang
Trang 5vươn vai viết thành vương vai
bức tường viết thành bức tườn
+ c / t đo đạc viết thành đo đạt
đạo đức viết thành đạo đứt
cắt cỏ viết thành cắc cỏ
rét buốt viết thành rét buốc
+ n / nh bệnh nhân viết thành bện nhân
con nhện viết thành con nhệnh
lênh đênh viết thành lên đên
+ nh / ng đánh giặt viết thành đáng giặt
buổi sáng viết thành buổi sánh
+ t/ch mũi hếch viết thành mũi hết
đông nghịt viết thành đông nghịch
- Lỗi về dấu thanh.
Đa số các em viết mắc lỗi này ở dạng viết thanh “ hỏi” thành thanh
“ngã” và ngược lại
Ví dụ:
tập võ viết thành tập vỏ
vỏ cây viết thành võ cây
thư ngỏ viết thành thư ngõ
ngõ phố viết thành ngỏ phố
sạch sẽ viết thành sạch sẻ
chim sẻ viết thành chim sẽ
san sẻ viết thành san sẽ
đám giỗ viết thành đám giổ
- Lỗi viết hoa.
Đây là lỗi phổ biến nhất trong bài viết của các em Trong tất cả các bài viết của học sinh ở lớp chỉ có bài viết của học sinh học tốt là không mắc lỗi này Lỗi viết hoa của các em thường có hai trường hợp
Trang 6+ Không viết hoa chữ đầu câu, đầu đoạn, tên riêng ( chỉ người, địa danh )
+ Lỗi viết hoa tuỳ tiện: Đa số lỗi này thường gặp ở học sinh chưa hoàn thành
Nguyên nhân mắc lỗi.
- Lỗi do cẩu thả của người viết
- Lỗi do hạn chế vốn từ ngữ
- Lỗi do phát âm sai của địa phương
- Lỗi do không viết hoa danh từ riêng, chữ đầu câu, chữ đầu đoạn
- Lỗi do không nắm chắc quy tắc chính tả mà hệ thống chữ quốc ngữ
đã ấn định
Từ nguyên nhân đó tôi tìm tòi nghiên cứu các phương pháp dạy học
để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng tạo và đạt hiệu quả cao trong học tập
* Các bước thực hiện giải pháp:
Biện pháp 1: Phân hóa đối tượng học sinh và xây dựng nề nếp học
tập
Mục đích: Giúp giáo viên nắm bắt thông tin cần thiết về học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên tiến hành phân hóa đối tượng học sinh, xây dựng
nề nếp lớp học để có phương pháp dạy phù hợp nhất
Tôi tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm phân hóa đối tượng học
sinh và xây dựng nề nếp lớp học Bố trí chỗ ngồi cho từng đối tượng học
sinh để tiện việc theo dõi Phân chia đôi bạn học tập theo địa bàn dân cư tạo điều kiện để các em luyện tập và giúp đỡ nhau
Họp phụ huynh đầu năm nêu rõ những đặc điểm của từng học sinh đến phụ huynh, yêu cầu phụ huynh có trách nhiệm đối với học sinh
Lập thời gian biểu cụ thể để các em có thời gian viết lại bài tập đọc, bài chính tả sau khi học, tìm truyện sách báo đọc thêm…
Xây dựng nền nếp, thói quen, thái độ học tập đúng đắn, khoa học Đặc
biệt là phát động và duy trì thường xuyên phong trào “Vở sạch, chữ đẹp”
Trang 7tuyên dương nêu gương điển hình, động viên khuyến khích học sinh kịp thời
Biện pháp 2 : Tổ chức dạy học theo nhóm đối tượng học sinh.
- Đối với giáo viên: Phân hóa đối tượng học sinh để đưa ra những
phương pháp dạy học phù hợp
Xác định từ khó viết mà học sinh hay mắc lỗi
Phát âm chuẩn những từ mà học sinh hay nhầm lẫn, chữ viết của giáo viên phải chuẩn, đúng quy trình, trình bày bảng khoa học
Nêu được sự khác nhau ở từng vùng, từng miền về cách phát âm cho học sinh rõ để học sinh biết được hạn chế về phương ngữ trong khi phát âm
Khi vận dụng vào thực tiễn giảng dạy thì tôi lựa chọn những nội dung sát thực tế, phải xuất phát từ thực tế học sinh thường hay mắc lỗi
Tôi coi trọng phần đọc trước, đọc từng câu cho học sinh viết, đọc lại cho học sinh sửa lỗi Tôi dùng một số kí hiệu sau trên bài bằng bút chì trước khi đọc cho học sinh viết
Dấu “/” nghỉ ngắt hơi
Dấu “//” nghỉ hơi dài
Dấu “ ” lên giọng
Dấu “ ” xuống giọng
Dấu “….” đọc dài, đọc chậm, đọc kéo dài
Tiếng khó phát âm gạch dưới một gạch “ ”
Tiếng khó viết gạch dưới hai gạch “ ”
Thường xuyên thiết kế, sử dụng hợp lí phiếu bài tập cho từng loại bài trong giờ học chính tả trên lớp, ra thêm bài tập về nhà cho học sinh để tăng cường luyện tập thực hành Chấm trả bài cho học sinh, nhận xét ngay tại lớp
để học sinh nhận thấy khuyết điểm của mình và rút kinh nghiệm
- Đối với học sinh:
Yêu cầu các em cần đọc nhiều sách, báo, truyện thiếu nhi, nhi đồng để
có thêm vốn từ Đọc bài và chuẩn bị bài trước khi học bài mới, không quên xem lại bài cũ đã học
Trang 8Mỗi học sinh có 2 cuốn vở ô li (một cuốn học ở lớp, một cuốn luyện viết ở nhà), 1 cuốn sổ nhật ký chính tả viết lại những từ hay nhầm lẫn
Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập như: bút, bảng con, phấn, khăn lau, bút chì, gom tẩy…
Biện pháp 3: Lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học.
Chọn nội dung: Ngay từ đầu năm tôi điều tra để nắm đặc điểm phát
âm và lỗi chính tả học sinh của lớp tôi Tiếp đến tôi nghiên cứu chương trình
và lựa chọn nội dung sát với thực tiễn của lớp hay mắc lỗi đem ra trao đổi trong tập thể tổ chuyên môn để chọn nội dung kiến thức dạy cho từng bài, từng đối tượng
Ví dụ: Một số bài tập mà học sinh hay nhầm lẫn:
đỗ / đổ: thi đỗ, đổ rác
giã / giả: giã gạo, giả vờ ( giả đò)
iêc / iêt: làm việc, bữa tiệc, thời tiết, thương tiếc.
im / iêm: chim sâu, lúa chiêm, trái tim, kim tiêm
Chọn phương pháp dạy học: Để giúp học sinh viết đúng chính tả, khắc
phục tồn tại do phát âm theo phương ngữ, rèn tính cẩn thận Trong quá trình giảng dạy tôi vận dụng linh hoạt các phương pháp sau:
+ Phương pháp trực quan: Cho học sinh quan sát mẫu
Tôi viết sẵn các từ khó viết vào giấy cứng, vào bảng con có khi viết lên bảng lớp Học sinh quan sát, bằng sự ghi nhớ thị giác các em sẽ nắm được cách viết của các từ đó
Ví dụ:
Đính các từ: cố gắng, gắng sức, gắn bó ghi sẵn ở giấy cứng đính lên bảng Học sinh nhận xét được trong từ cố gắng, gắng sức thì vần ăng có âm
“gờ”, trong từ gắn bó thì vần ăn không có âm “gờ” ở phía sau.
Từ đó các em nhận diện ghi nhớ âm vần Tôi nhận thấy rằng phương pháp này rất tốt trong việc hình thành kĩ năng viết chính tả cho học sinh
+ Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng
nhiều trong loại bài chính tả
Trang 9Khi dạy tôi cho học sinh phân tích, so sánh các từ phát âm dễ lẫn lộn Tôi gợi ý giải thích mẫu một vài từ, sau đó cho học sinh thực hiện ở bảng phụ hoặc phiếu bài tập (băng giấy) khoảng 2 đến 3 học sinh, số học sinh còn lại làm vào vở bài tập Những em làm ở bảng phụ hoặc phiếu bài tập xong thì đính lên bảng lớp và đọc kết quả Cả lớp cùng giáo viên nhận xét về nội dung lời giải, phát âm, chữ viết… Cả lớp sửa chữa bài theo lời giải đúng Cũng có thể giáo viên phát các băng giấy ghi sẵn nội dung yêu cầu bài tập cho các nhóm thảo luận, ghi kết quả rồi cử đại diện của nhóm trình bày trước lớp Sau đó giáo viên và cả lớp nhận xét sửa sai
+ Phương pháp giải thích:
Phương pháp này nhằm khắc sâu ghi nhớ cho học sinh Việc giải thích thường tập trung vào mặt ngữ nghĩa
Ví dụ: Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu sự khác biệt nghĩa của các
từ:
mở / mỡ, nửa / nữa……
Tôi có thể giải thích như sau:
“Nửa” là một trong hai phần bằng nhau của một cái gì đó “Nửa quả cam” “Nữa” là thể hiện sự tiếp tục “Còn nữa”
Trường hợp sai lỗi do cẩu thả của người viết
Tôi luôn chú ý nhắc nhở để giúp các em có tính cẩn thận Sau bài tập đọc, tôi cho các em về tập chép lại để rèn luyện kĩ năng viết chữ Luyện viết nhiều ở bảng con, bảng lớp, luyện viết ở vở tập viết, không dùng bút bi khi viết bài, tư thế ngồi viết phải đúng, chữ viết ngay ngắn cẩn thận
Trường hợp sai lỗi do hạn chế từ ngữ.
Tìm đọc nhiều sách báo, truyện thiếu nhi, nhi đồng để có thêm vốn từ, làm các bài tập có sẵn Kết hợp với các tiết Tập làm văn, Luyện từ và câu, tôi yêu cầu các em tìm tiếng có thể ghép với tiếng có sẵn để tạo thành từ Sau khi học sinh ghép xong tôi tiến hành sửa sai và giải nghĩa
Trang 10Ví dụ: Tìm tiếng ghép với tiếng “uốn” hay ghép với tiếng “uống” để
tạo thành từ có nghĩa
uốn: uốn dẻo, uốn cong, uốn nắn… nghĩa là làm biến đổi hình dạng
so với hình dạng ban đầu
uống: uống thuốc, uống nước, ăn uống nghĩa là đưa một vật gì đó
vào miệng rồi nuốt
Với hình thức này kết hợp với giải nghĩa từ Học sinh thấy được chữ sai để loại bỏ, hiểu và hình thành đúng, ghép đúng và viết từ có nghĩa
Trường hợp sai lỗi do phát âm sai của địa phương.
Trong giảng dạy tôi thường xuyên luyện đọc cho các em, rèn các em thói quen viết đúng, học sinh nào phát âm sai tôi sửa ngay tại chỗ bất cứ lúc nào
Ví dụ: Học sinh đọc từ “giàu có” thành “giày có” Tôi giải thích cho
học sinh hiểu đó là do phát âm tiếng địa phương Chúng ta cần luyện đọc đúng thì viết mới đúng theo quy trình được
Trường hợp sai lỗi do không viết hoa: Tôi hướng dẫn các em quy
tắc viết hoa
- Đối với các chữ đầu câu, đầu đoạn ta phải viết hoa chữ cái đầu của chữ đầu câu, đầu đoạn đó
- Đối với danh từ riêng của nước ta: Viết hoa chữ cái đầu của mỗi chữ tạo nên chữ đó
Ví dụ: Điện Bàn, Đại Lộc,
- Đối với danh từ riêng của nước ngoài: Viết hoa chữ cái đầu tiên của chữ đầu tiên, giữa các chữ có gạch nối
Ví dụ: Sô - phi, Ác - xi- mét, Đác - uyn, Ê - đi - xơn.
- Đối với viết hoa tên cơ quan tổ chức đoàn thể Tôi hướng dẫn các
em viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng Đồng thời thông qua các tiết Tập làm văn, Luyện
từ và câu, tôi cũng hướng dẫn cách viết cho các em
Ví dụ: Trường Tiểu họcĐoàn Nghiên.