Mục đích của đề tài : - GV tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơntrong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảmtrong giao t
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lí do chọn đề tài : 1
2 Mục đích của đề tài : 1
3 Nhiệm vụ thực hiện đề tài: 1
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Phạm vi, đối tượng và thời gian nghiên cứu: 2
PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Cơ sở lí luận: 2
II Cơ sở thực tiễn: 2
III Tìm hiểu thực trạng: 2
IV.Biện pháp và các cách ứng dụng: 4
V Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng: 18
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ: 19
1 Kết luận : 19
2 Các đề xuất và khuyến nghị: 20
Trang 2PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài :
Như chúng ta đã biết chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nóichung và lớp 1 nói riêng yêu cầu coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viếttrong dạy học Tiếng Việt Trong đó 2 kĩ năng nghe - nói đã được quan tâm mộtcách thoả đáng Thông qua luyện nói sẽ giúp các em mạch dạn hơn, tự tin hơntrong giao tiếp Biết nói năng lưu loát rõ ràng, có nội dung, có lô gíc, có hìnhảnh đúng ngữ pháp Tiếng Việt và giúp học sinh có khả năng sử dụng các loạicâu phong phú trong lời nói Đặc biệt là kĩ năng sử dụng các trợ từ, liên từ ….lờinói có sắc thái biểu cảm Đồng thời qua luyện nói học sinh có cơ hội để thể hiệnnhững tâm tư tình cảm và nuôi dưỡng những ước mơ hoài bão của mình Luyệnnói cho học sinh giúp học sinh có khả năng sử dụng từ đúng nghĩa trong từnghoàn cảnh phát ngôn Thông qua đó giáo viên nắm bắt được mức độ phát triển
tư duy của mỗi học sinh ở từng giai đoạn cụ thể Qua luyện nói còn giúp các em
có lời nói hay cử chỉ đẹp thể hiện nếp sống thanh lịch văn minh của người Việtnam nói chung và người con của thủ đô Hà Nội nói riêng :
“ Chẳng thơm cũng phải hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
- Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, thểhiện được nếp sống thanh lịch văn minh tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài :
“Một số kinh nghiệm hình thành và phát triển kĩ năng nói mạch lạc cho học sinh lớp 1”
2 Mục đích của đề tài :
- GV tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơntrong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảmtrong giao tiếp, trong các giờ luyện nói của các tiết Học Vần (Tập Đọc) trongchương trình SGK lớp 1
- Giúp HS yêu thích môn Tiếng Việt
- Học sinh mạnh dạn trong giao tiếp với bạn bè nói chung và có ý thức tự phê,
tự chữa, tự đánh giá …
- HS có kĩ năng trong giao tiếp và nâng cao tính tự giác trong học tập
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Học Vần (Tập Đọc) lớp 1theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
- Giúp học có lời nói hay, cử chỉ đẹp và thể hiện nếp sống thanh lịch văn minh
3 Nhiệm vụ thực hiện đề tài:
- Nghiên cứu các bài Học Vần và Tập Đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1
Trang 3- Nâng cao chất lượng rèn kĩ năng nói cho học sinh.
- Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh luyện nói được tốt hơn
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra – so sánh
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thực hành luyện tập
5 Phạm vi, đối tượng và thời gian nghiên cứu:
- Tôi đã thực hiện đề tại này ở lớp 1D tại trường Tiểu học Thái Hòa
- Phạm vi nghiên cứu phần luyện nói trong giờ Học Vần và Tập Đọc
- Thời gian thực hiện trong năm học 2018 – 2019
PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận:
- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người.Ngônngữ tồn tại dưới dạng: nói và viết: Kĩ năng nói – một điều mà bất cứ người giáoviên nào khi đứng trên bục giảng cũng mong muốn ở học sinh mình dạy luônthực hiện tốt Không chỉ giáo viên mà ngay cả khi nghe người khác nói đúng,nói đủ, nói trọng tâm sẽ giúp người nghe dễ hiểu nội dung câu chuyện Cónhững người còn có giọng nói truyền cảm sẽ dễ đi vào lòng người hơn Và tronggiao tiếp ngôn ngữ nói là phương tiện giao tiếp thông dụng và quan trọng nhất
Mà trong một tiết học, hoạt động tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh đềuthông qua ngôn ngữ nói sau đó mới thực hành viết Như vậy góp phần khẳngđịnh nói là kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp của con người Vì vậy tôi
nghiên cứu đề tài này:
- Đảm bảo cho học sinh có kĩ năng giao tiếp
- Đảm bảo mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh 4 kĩ năng cơ bản:nghe, nói, đọc , viết
II Cơ sở thực tiễn:
- Hệ thống chủ điểm của các bài luyện nói vừa mang tính khái quát vừa mangtính trừu tượng, góp phần cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên,
xã hội, con người Qua các bài chủ đề về luyện nói, học sinh được cung cấpthêm về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt và những hiểu biết về các chủ đề luyện nóiđơn giản Từ đó năng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ Tiếng Việt nóiriêng
III Tìm hiểu thực trạng:
Trường Tiểu học tôi đang dạy nằm ở địa bàn dân cư có mặt bằng dân tríchưa cao Do chưa có sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của cha mẹ nên các em học
Trang 4sinh ở đây có một thực tế rất đáng quan tâm đó là các em ngại giao tiếp, giaotiếp kém hoặc có thì nói năng cộc lốc, không biết cách diễn đạt hết ý của mình.
Nghiên cứu thực trạng trẻ lớp 1 hiện nay có kiến thức, ý thức ra sao tronggiao tiếp hàng ngày cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân, trướcnhững vấn đề mà trẻ phải tự bộc lộ bản thân qua những lời nói, lời phát biểu trảlời theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ởlớp
Sau khi tôi nhận nhiệm vụ dạy lớp 1, tôi tiến hành điều tra khảo sát thực
tế 201 học sinh của 6 lớp: 1a,1b, 1c, 1d, 1g, 1e tại trường Tiểu học Thái Hòa.Qua thăm lớp dự giờ trong năm tôi thấy học sinh rất sợ học môn Tiếng Việt,không thích học môn Tiếng Việt nhất là phần luyện nói Khi khảo sát tôi thấy sốtrẻ nói năng chưa mạch lạc chiếm một tỉ lệ tương đối lớn
Số liệu cụ thể tại lớp 1D tôi chủ nhiệm là :
Mức độ
Số trẻ
được điều tra
Rất mạchlạc Mạch lạc
Có mạchlạc Chưa mạch lạc
- Qua phiếu điều tra và trực tiếp trao đổi với phụ huynh học sinh cũng nhưtrao đổi với hai đồng chí giáo viên chủ nhiệm lớp 1a, 1c thì thấy rất rõ rằng sốtrẻ nói chưa mạch lạc chủ yếu rơi vào những trẻ thiếu các hình thức khẩu ngữmang tính chuẩn mực, trẻ ít có điều kiện để thực hành ngôn ngữ Những trẻ này
ít có điều kiện trò chuyện giao tiếp với bạn bè cũng như với người lớn Khi đượchỏi, những bậc cha mẹ của các trẻ này thường trả lời là ít khi đọc truyện hoặc kểchuyện cho con nghe trước khi đi ngủ hoặc là họ không trò chuyện chơi với con
vì công việc quá bận rộn hoặc không có thói quen này
- Thông qua thực tế lớp lớp mình phụ trách và các đồng nghiệp trong khốichúng tôi đều có chung một nhận xét là trẻ nói năng không mạch lạc thường rơivào những trẻ trầm tính, ít nói có khi là rất ngại nói trước đông người nếu gọi trẻnói thì thường nói nhỏ, không tự tin, ấp úng cô phải sửa rất nhiều Đây chính làcốt lõi vấn đề vì sao phần luyện nói nói riêng và môn tiếng Việt nói chung rấtkhó với học sinh Trẻ lớp 1, trước khi đến trường đã: “ biết nghe, biết nói” TiếngViệt, song vẫn chưa thật sự thành thạo và thực tế hoạt động nói năng của các emvẫn còn hạn chế, vốn ngôn ngữ tiếp nhận được trước khi đến trường còn ít ỏi… ,vốn sống còn ít Mà học sinh lớp 1 lần đầu tiên được tiếp xúc với chữ cái, họcâm- vần, luyện nói thành câu, đoạn, do đó vốn từ của học sinh còn rất ít, khảnăng diến đạt còn hạn chế nên khi luyện nói thì đây cũng là một trở ngại khôngnhỏ đối với các em Mặt khác học sinh lớp 1 chưa đi xa nhiều, khả năng nhìn
Trang 5nhận, quan sát sự việc xung quanh còn rất hạn chế, do tâm lí còn rụt rè, e ngại,
sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười nên học sinh cũng rất ít thể hiệnmình…
- Xuất phát từ thực trạng trên mà tôi trăn trở phải làm như thế nào để giúptrẻ khắc phục được những khó khăn này Tôi tự tìm cho mình một giải pháp đólà:
“Một số kinh nghiệm hình thành và phát triển kĩ năng nói mạch lạc cho học sinh lớp 1” làm đề tài nghiên cứu của mình.
IV.Biện pháp và các cách ứng dụng:
Muốn giúp trẻ phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói, trước
tiên tôi phải nắm được yêu cầu kỹ năng nói đối với học sinh lớp 1 Sau đó tôithống kê nội dung dạy kỹ năng luyện nói và nhất là phần luện nói tổng hợp trongchương trình Tiếng Việt lớp 1 tôi đã và đang dạy Cụ thể:
* Về yêu cầu kỹ năng nói đối với học sinh lớp 1:
+ Phát âm đúng, rõ các âm, vần và tiếng được học (trừ các tiếng có vần khó ítdùng) và chữa các lỗi về phát âm theo hướng dẫn của giáo viên
+ Phát âm liền mạch một lời nói (không lặp, không thiếu tiếng), biết nói to đủnghe trong giờ học tiếng Việt và các giờ học khác
* Về nội dung dạy kỹ năng luyện nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 1:
+Phần Học Vần: cuối mỗi bài đều có phần luyện nói theo chủ đề
+ Phần luyện nói tổng hợp được bố trí các bài theo tuần với 3 chủ điểm lớn: Nhàtrường , Gia đình, Thiên nhiên- Đất nước (từ tuần 23 trở về sau) Qua nội dungcác bài học , học sinh vừa được ôn các chữ cái đã học (các âm, vần, các chữ thểhiện âm, vần) vừa được học cái mới ( vần khó, chữ viết hoa, luật chính tả)
Các bài học trong tuần đều tập trung vào chủ điểm của tuần đó nhằm tạo ra sựtích hợp Việc quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt mà vòngsau phát triển, mở rộng hơn vòng trước Từ những yêu cầu về kỹ năng nói đốivới học sinh lớp 1 tôi đã đưa ra giải pháp khắc phục cho phù hợp đối với họcsinh và giúp học sinh phát triển ngôn ngữ nói ngay từ đầu cấp học Qua thực tế
giảng dạy theo tôi giúp trẻ nói mạch lạc phải đảm bảo yếu tố sau đây :
Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp thực hành luyện tập (Nhiều học sinh được thực hành).Như phần đầu tôi đã nêu thông qua phần luyện nói trẻ sẽ dần dần biết nóinăng lưu loát rõ ràng, có lôgic có hình ảnh, đúng ngữ pháp Tiếng Việt …mà cònphát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Vì thế để đánh giá mức độ phát triển lời nói
Trang 6mạch lạc của trẻ cần dựa vào những tiêu chí cụ thể Qua thực tế giảng dạy tôi đãxây dựng được 4 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ như sau : + Kĩ năng hiểu nghĩa từ
+ Kĩ năng sử dụng từ để nói thành câu
+ Kĩ năng kể lại chuyện vừa nghe
+ Kĩ năng quan sát tranh tự miêu tả bằng ngôn ngữ những hình ảnh trong tranh
Tổng số điểm 4 tiêu chí trên là 10 điểm
Trong đó: tiêu chí 1 tối đa là: 1 điểm, tiêu chí 2 tối đa là: 2 điểm, tiêu chí
3 tối đa là: 3 điểm, tiêu chí 4 tối đa là: 4 điểm
Dựa vào việc phân bố các thang điểm cho từng tiêu chí nêu trên mà việcđánh giá kĩ năng phát triển lời nói mạch lạc của trẻ lớp 1 được thực hiện theo 4mức độ : Rất mạch lạc là những trẻ đạt từ 9-> 10 điểm
Mạch lạc là những trẻ đạt từ : 6-> 8 điểm
Có mạch lạc là những trẻ đạt điểm 5
Chưa mạch lạc là những trẻ điểm từ 4 trở xuống
Đây chính là cơ sở để tôi có kết quả như đã nêu ở phần khảo sát thực trạng
Sau đây là một số giải pháp nhằm “Một số kinh nghiệm hình thành và phát triển kĩ năng nói mạch lạc cho học sinh lớp 1”(Tập Đọc)”.
Quá trình dạy môn Tiếng Việt tôi luôn xoáy vào 4 tiêu chí trên để dựng nềntảng giúp các em thực hiện tốt phần luyện nói qua đó phát triển ngôn ngữ mạchlạc cho trẻ và áp dụng một số phương pháp cụ thể như sau:
Phương pháp 1: Phương pháp quan sát:
- Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục Nhằmquan sát giờ dạy của giáo viên và học tập của học sinh trên lớp Đánh giá kếtquả học tập của học sinh thông qua những lời phát biểu của học sinh trong giờluyện nói của mỗi tiết học, qua lời nói của học sinh với mọi người xung quanhmọi nơi, mọi lúc qua các bài tập thực hành trong vở bài tập Tiếng Việt in
- Biện pháp thực hiện:
+ Ngoài những sổ sách do nhà trường quy định, giáo viên có thêm một quyển
sổ ghi chép những điều quan sát, nhận xét từng học sinh trong lớp Đó là cuốn
sổ “Theo dõi đánh giá hành vi học sinh” Trong cuốn sổ này, giáo viên ghi chépnhững hành vi, lời nói giao tiếp, những thói quen tốt và cả những điểm cònkhiếm khuyết của học sinh, để từ đó có cái nhìn khái quát về việc sử dụng vốnngôn ngữ biểu cảm của học sinh Từ đó giáo viên dễ dàng phân loại khả nănggiao tiếp của từng học sinh trong lớp, qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng caocho học sinh giỏi và học sinh xuất sắc, luyện kĩ năng nói sao cho đạt trình độ
Trang 7chuẩn cho học sinh khá và học sinh trung bình Quan sát phản ánh khá trungthực tình trạng của học sinh.
+ Ưu điểm của phương pháp này là: Sau khi phân loại học sinh, giáo viên chọnlọc những câu hỏi, câu gợi mở sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh đểcác em phát huy hết khả năng giao tiếp của bản thân trong phần luyện nói củatiết học môn Học Vần (tập đọc) và các môn khác trong chương trình
Phương pháp 2: Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Qua những ghi chép cá nhân của giáo viên và những số liệu thống kê, giáoviên xử lý những thông tin ấy bằng cách phân tích, tổng hợp những mẫu lời nóithu thập được từ phía học sinh Từ đó có thể có sự đánh giá sát thực hơn về tìnhtrạng học sinh
- Biện pháp thực hiện:
Giáo viên tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh theo các nhóm sau:
a Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc Biết thể hiện lời nói biểu cảmtrong giao tiếp Đây chính là những nhóm trưởng, những người dẫn chươngtrình trong các giờ luyện nói trên lớp, những nhân vật nòng cốt trong các tiểuphẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh tham gia rèn luyện kĩ năng nói trênlớp
b Nhóm học sinh có lời nói tương đối trôi chảy, rõ ràng tuy nhiên chưa thể hiệnđược lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét
c Nhóm học sinh ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp kém, hầu như không biết sửdụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp
- Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinhtrong lớp, giáo viên tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bốđều khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm
- Ưu điểm của biện pháp này là: Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tậpcủa học sinh là việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan Như ta từng nói:
“Học thầy không tày học bạn’
- Sự phấn khích trong qua trình học tập, đua thầy, đua bạn sẽ giúp trẻ mạnh dạnnăng động hơn rất nhiều trong qua trình rèn nói
- Sự cổ vũ động viên của các bạn trong nhóm, trong tổ sẽ giúp trẻ tự tin hơntrước lời phát biểu của mình
Phương pháp 3: Phương pháp thực hành luyện tập:
- Với phương pháp này, học sinh thương xuyên được thực hành luyện tập “nói”trong tất cả các tiết học Học Vần và tập đọc Chính vì vậy khả năng giao tiếpcủa các em càng ngày càng được hoàn thiện Việc “nói” sao cho trôi chảy, mạch
Trang 8lạc, lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cách chínhxác khả năng học tập của học sinh.
* Biện pháp thực hiện:
1 Sử dụng trực quan(tranh minh họa, mẫu phát ngôn)
- Phương pháp sử dụng trực quan này giáo viên là người hướng dẫn học sinhquan sát tranh minh hoạ, đọc phát ngôn Từ đó, học sinh hiểu được nội dungluyện nói và thực hiện tạo lập lời nói Ngoài ra, từ mẫu quan sát đó, giáo viên cóthể đặt những câu hỏi gợi ý xung quanh đề tài, từ gợi ý phát ngôn mẫu để hướnghọc sinh thực hành
- Tôi thường nghiên cứu kỹ bài dạy – xác định những kiến thức cần cung cấptrong bài luyện nói – liên hệ để vận dụng cách tạo tiếng, tạo câu có âm, có vầnmới học nhằm tận dụng tối đa dụng ý bài luyện nói
Cụ thể ở giai đoạn đầu (10 tuần đầu) Khi dạy phần luyện nói tôi thường đặt câuhỏi để hướng dẫn học sinh nói theo các khía cạnh của chủ đề nhằm mở rộng nộidung luyện nói ( Với mỗi khía cạnh của chủ đề tôi có thể xây dựng 1, 2 câu hỏi)
* Giúp học sinh chuyển tải kênh hình sanh kênh tiếng một cách linh hoạt – cụthể mà vẫn đảm bảo nội dung theo chủ đề
Ví dụ: ở bài: âm g, gh
Chủ đề luyện nói: Nhà bà có tủ gỗ – ghế gỗ Yêu cầu học sinh quan sáttranh – đặt câu hỏi phát vấn để nhận ra đồ đạc trong nhà bà có tủ gỗ – ghế gỗ
Qua đó rút ra quy tắc chính tả: viết gh với e, ê,i
* Giúp học sinh phân biệt để diễn đạt đúng các khái niện ban đầu về: Từ, câu,dấu chấm, dấu phẩy trong câu
Ví dụ: Tiếng sách – từ quyển sách – câu: Đây là quyển sách của em
Hoặc: Dì Na đi đò, bé và mẹ đi chợ
Yêu cầu : Học sinh đọc thành câu rõ tiếng Khi đọc câu hoặc trả lời cần nghỉ hơi
ở dấu phẩy, dấu chấm
Trang 9* Cĩ yêu cầu tăng dần đối với kỹ năng diễn đạt của trẻ theo thời gian và dunglượng bài học:
Ví dụ: Để cĩ sách vở đẹp, khơng quăn gĩc chúng ta phải làm gỉ?
* Trong khi dạy tơi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan và kết hợplinh hoạt các phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh cĩ hứng thú và tiếp thubài theo hướng tích cực nhất
Ví dụ: Tận dụng mơ hình, tranh ảnh vẽ, sưu tầm… Để học sinh quan sát – thơngqua hiệu ứng quan sát tranh, trẻ sẽ diễn đạt đúng và phong phú hơn
* Cụ thể tơi phát huy trí tưởng tượng và ĩc sáng tạo trong loại bài quan sát tranh nĩi về chủ đề :
Ví dụ 1 : Học vần lớp 1 (tập 1) ở bài 49 , luyện nghe – nĩi về chủ đề « Biển cả »
Biển cả
Trước tiên tơi cho học sinh quan sát tranh sau đĩ tơi đã đặt một số câu hỏi gợi dẫn như sau :
- Câu hỏi hướng dẫn quan sát tranh
1 Tranh vẽ cảnh gì ? ( Tranh vẽ cảnh biển cả)
2 Cái gì đang lướt trên mặt biển ? ( những con thuyền đang lướt trên mặt biển)
3 Những con chim gì đang bay trên biển ? ( Những con chim Hải Âu đang bay trên biển
4 Sĩng biển di chuyển nhanh hay chậm, cĩ thành từng đợt sĩng hay khơng ?
Trang 10(Sóng biển di chuyển nhanh, thành từng đợt sóng mạnh vào bờ)
5.Quan sát sóng biển, em thấy gió trên biển thổi mạnh hay yếu ?
( Gió biển thổi mạnh )
* Câu hỏi mở rộng :
1 Nước biển mặn hay ngọt ? ( Nước biển mặn)
2 Người ta dùng nước biển để làm gì ? ( Người ta dùng nước biển để làm muốiăn)
3 Khoảng đất đá nổi lên ở giữa biển gọi là gì ? ( khoảng đất đá nổi lên giữa biểngọi là đảo )
4 Con có thích biển không ? ( Con rất thích biển )
5 Con được bố mẹ cho đi tắm biển lần nào chưa ? Ở đấy con làm gì ?
( Con được bố mẹ cho đi tắm biển hè năm ngoái Ở đấy con được tắm, đượcnghịch cát, bắt con dã tràng trên bãi biển…)
Ví dụ 2 : Khi dạy bài 66 luyện nói theo chủ đề: Ong, bướm, chim, cá cảnh
Ong, b ím, chim, c¸ c¶nh ¬m
HS đã tự đặt câu hỏi, yêu cầu bạn trả lời :
1 Bạn cho biết tranh vẽ những gì ?
2 Con chim sâu có ích lợi gì bạn có biết không ?
3 Theo bạn, con bướm thích gì ?
4 Bạn biết những loại chim nào ?
5 Bạn thích nhất con chim nào trong các con ong, bướm, chim, cá cảnh? Vìsao?
6 Nhà bạn nuôi những con gì ? …
* Nâng cao: “ Thi nói về những con vật mà mình thích”
Cách chơi : Gọi 6 học sinh chia thành 2 đội Học sinh sẽ tự thảo luận với nhau
Sau đó mỗi đội sẽ phải nói khoảng 3- 5 câu văn về một con vật mà nhóm mìnhyêu thích