Vì thế cái khó trong việc dạy Văn nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luận văn học là làm sao hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm để các em không những làm đư
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi tác phẩm văn chương là thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ thuộc một thời kì văn học nhất định Tác phẩm dù nhỏ nhất là một câu tục ngữ, một bài
ca dao hay lớn hơn là một bài thơ, một truyện ngắn đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó Làm thế nào giúp học sinh đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm vụ của giáo viên dạy Ngữ văn
Lep Tôn- xtôi nói: “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nào để
biết được quả đất tròn” Chân lí là quý báu, nhưng cách tìm ra chân lí còn quý bàu hơn nhiều Vì thế cái khó trong việc dạy Văn nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luận văn học là làm sao hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm để các em không những làm được bài văn đúng mà còn phải viết được bài văn hay Thế nhưng một thực tế là số học sinh lớp 9 nắm chắc phương pháp, có
kĩ năng làm bài rất ít Ý nghèo nàn, chữ viết cẩu thả, khả năng diễn ý hành văn kém Các em học văn một cách thụ động, thường dựa vào bài văn mẫu hoặc ý thầy
cô cho sẵn, chưa tự mình tìm ra các ý mới, ý sâu sắc do chính bản thân cảm nhận được Rồi hiện tượng học sinh lười học Văn, không yêu thích môn Văn cũng là vấn
đề nan giải Vậy làm thế nào giúp học sinh hiểu rõ kiểu bài Nghị luận văn học và yêu thích môn Tập làm văn Điều này quả là khó đối với giáo viên dạy Văn Từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, ôn luyện cho học sinh thi vào lớp 10, và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn khiến tôi rất trăn trở Những trăn trở này thôi thúc tôi phải tìm tòi, nghiên cứu tìm giải pháp để dạy học sinh lớp 9 làm bài văn nghị luận văn học hiệu quả Và sau một năm thực nghiệm phương pháp dạy học sinh lớp 9 làm bài Nghị luận văn học của mình, tôi đã đúc rút được kinh nghiệm quý báu Kinh nghiệm ấy được kết hợp với những nguyên tắc lí thuyết nhằm đưa ra một phương pháp phù hợp để giúp học sinh xây dựng được một bài văn hoàn chỉnh, bài làm đạt chất lượng cao Đề tài: “Phương pháp làm bài nghị luận văn
học lớp 9” là tôi trình bày những sáng kiến, những suy nghĩ của mình về việc dạy
học sinh lớp 9 viết đúng, tiến tới viết hay bài nghị luận văn học Từ đó giúp các em nắm chắc những yêu cầu cơ bản, có kiến thức đầy đủ về kiểu bài, có kĩ năng làm bài tốt Các em thêm yêu quý môn Văn, tự tin khi làm bài Tập làm văn
làm cho việc học Văn, thi Văn của các em ngày càng đạt kết quả cao
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài “Phương pháp làm bài nghị luận văn học lớp 9” với mục đích của tôi là rèn kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh Cụ thể là cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản nhất về kĩ năng, phương pháp làm bài nghị luận văn học Từ chỗ làm được bài văn đúng tiến tới làm được bài văn hay theo
Trang 2một quy trình hoàn chỉnh: từ tìm hiểu đề, tìm ý đến lập dàn ý, các yêu cầu về diễn
ý, hành văn sau đó là thể hiện thành đoạn văn, bài văn
3 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu là phân môn Tập làm văn kiểu bài nghị luận văn học Nghiên cứu phương pháp, cách làm để tìm ra giải pháp tối ưu nhất cho việc dạy học sinh cách làm bài nghị luận văn học đạt kết quả trong nhà trường Trung học cơ sở
4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm
- Đối tượng khảo sát khi chưa áp dụng đề tài: Học sinh lớp 9D năm học 2017-2018
- Đối tượng khảo sát khi áp dụng đề tài: Học sinh lớp 9B năm học
2018-2019, (học sinh đại trà và học sinh giỏi)
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Hiểu và nắm chắc đặc điểm, yêu cầu của một bài văn nghị luận văn học
- Đọc, nghiên cứu phân môn Tập làm văn trong chương trình Ngữ văn 9, tìm đọc các sách tham khảo, các tài liệu liên quan đến kiểu bài Nghị luận văn học
- Khảo sát, nắm tình hình thực tế học sinh
- Rút kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy hàng năm, kết hợp với nguyên tắc lí thuyết cơ bản để tìm ra giải pháp
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu đề tài
- Đề tài được nghiên cứu trong năm học 2018-2019
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 5 năm 2019
B NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Yêu cầu của bài văn đúng
1.1.1 Đúng yêu cầu của đề
Trước một đề văn học sinh phải xác định được yêu cầu của đề Yêu cầu của
đề văn nghị luận thể hiện ở hai phương diện: Yêu cầu về phạm vi nội dung cần nghị luận và yêu cầu về cách thức nghị luận Học sinh xác định yêu cầu đề bài
bằng cách trả lời các câu hỏi: Đây là nghị luận xã hội hay nghị luận văn học? Nếu
là nghị luận văn học thì đề yêu cầu làm sáng tỏ phạm vi nội dung nào? Thao tác nghị luận chính là gì?
1.1.2 Đúng những kiến thức cơ bản
Kiến thức cơ bản thể hiện tầm văn rộng hẹp của người viết Để viết được một bài nghị luận văn học đúng người viết phải sử dụng rất nhiều loại kiến thức cơ bản khác nhau Một số kiến thức cơ bản cần phải phải nắm chắc trước khi làm văn nghị luận là: Kiến thức văn học sử (các giai đoạn, các thời kì trong tiến trình phát
Trang 3triển lịch sử văn học); kiến thức tác phẩm (với thơ phải thuộc, với tác phẩm văn xuôi phải nắm được chi tiết, sự kiện, nhân vật, cốt truyện…); kiến thức ngôn ngữ (dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, tạo lập văn bản); kiến thức làm văn (xác định kiểu
bài, bố cục, tìm ý, lập ý, diễn ý, hành văn, lập luận…)
1.2 Hiểu và phân tích được cái hay của văn
Tác phẩm văn học chứa đựng tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ lớn lao của người nghệ sĩ Cách diễn đạt nội dung ấy được thông qua một loạt các hình ảnh, nhân vật, nhịp điệu… Muốn phân tích một tác phẩm, một đoạn trích tương đối hoàn chỉnh trong tác phẩm người viết phải tuân thủ các bước:
- Bước 1: Phải đọc tác phẩm nhiều lượt, vừa đọc vừa suy ngẫm để cảm thụ tinh thần chung của tác phẩm và những nét tài nghệ lớn của tác giả Nếu là thơ trữ tình thì sự cảm thụ nên hướng nhiều hơn về tình cảm Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ chi phối mạnh mẽ ở hình ảnh, màu sắc, nhịp điệu… còn nếu là tác phẩm truyện ngắn hay thơ tự sự thì cảm thụ hướng nhiều về cốt truyện và khắc họa tính cách nhân vật
- Bước 2: Phân tích, bình giảng chi tiết Đó là phân tích, bình giảng từng phần,
từng mặt của các đặc sắc nghệ thuật lớn trong tác phẩm: một nhân vật, một tình tiết, một hình ảnh, một câu, một từ, một âm điệu, một thủ pháp nghệ thuật nào đó… Các chi tiết được chọn cũng không nên phân tích bình giảng một cách bình quân mà có đậm, có nhạt tùy theo vị trí quan trọng của chi tiết ấy đối với cái tinh thần chung và những nét đặc sắc nghệ thuật lớn cũng tùy theo yêu cầu của đề bài Tuy nhiên phân tích chi tiết không được lạc ra ngoài sự cảm thụ tổng quát ban đầu
về tinh thần chung và đặc sắc nghệ thuật chung của tác phẩm, của từng đoạn Nó chẳng qua là đi vào thâm nhập sâu hơn, tỉ mỉ hơn mà thôi
2 Thực trạng của đề tài
2.1 Quan điểm về cách dạy Làm văn nghị luận
Nội dung chính của Làm văn nghị luận là dạy cho học sinh biết cách tạo ra
ý, làm phong phú ý và biết lập luận, phản bác, để bảo vệ ý kiến của mình… Nghĩa
là tăng cường rèn luyện tính chủ động, tích cực trong suy nghĩ của người học Học sinh phải có năng lực vận dụng các thao tác làm văn một cách linh hoạt, sáng tạo như: phân tích, giải thích, bình luận, so sánh… Những thao tác nghị luận này phải được kết hợp nhuẫn nhuyễn trong bài văn Học sinh được thực hành, ứng dụng làm bài văn nhiều hơn, bớt lí thuyết về các kiểu bài, tăng cường cung cấp kiến thức liên quan đến việc đọc- hiểu các văn bản tương ứng để thực hiện dạy học tích hợp
2.2 Thực trạng học sinh (khảo sát thực tế)
Làm văn kiểu bài Nghị luận văn học là học sinh tìm ra được cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm, học sinh phải có kĩ năng làm bài Nhưng thực tế số học sinh lớp 9 nắm chắc phương pháp, có kĩ năng làm bài rất ít Ý nghèo nàn, chữ viết cẩu
Trang 4thả, khả năng diễn ý hành văn kém Các em học văn một cách thụ động, thường dựa vào bài văn mẫu hoặc ý thầy cô cho sẵn chưa tự mình tìm ra các ý mới, ý sâu sắc do chính bản thân cảm nhận được Các em còn mắc rất nhiều lỗi trong quá trình làm bài như: lẫn lộn các giai đoạn, các thời kì phát triển lịch sử văn học, không nhớ hoặc nhớ sai hoàn cảnh ra đời tác phẩm; không thuộc hoặc thuộc quá ít thơ, không nắm được chi tiết, sự kiện, nhân vật, cốt truyện…, lẫn lộn giữa tác phẩm này với tác phẩm khác; hiểu sai từ, viết sai câu, không nắm được đoạn văn,
bố cục bài văn… Rồi hiện tượng học sinh lười học Văn, không yêu thích môn Văn đang là vấn đề nan giải
Năm học 2017-2018 tôi tiến hành khảo sát 30 học sinh lớp 9D làm bài văn nghị luận văn học Kết quả là: số học sinh nắm tốt kĩ năng làm bài là 16,7%; học sinh chưa nắm được kĩ năng là 36,6 %
2.3 Về phía giáo viên
Đa số giáo viên cho rằng dạy phân môn Tập làm văn đặc biệt là dạy văn nghị
luận là rất khó Để dạy cho các em biết làm đúng, làm hay kiểu bài nghị luận văn học đòi hỏi giáo viên phải có năng lực thẩm thơ văn, bình luận tốt, nắm vững kĩ năng, phương pháp, kiểu bài Giáo viên phải thực hiện tích hợp được các phân môn Văn- Tập làm văn- Tiếng Việt trong bài giảng văn, tạo điều kiện cho học sinh luyện tập bình giảng trong tiết Đọc- hiểu văn bản Muốn làm được như thế giáo viên phải đầu tư thời gian, trí tuệ trong từng bài giảng Nhưng thực tế không phải giáo viên nào cũng có những điều kiện ấy
Trước những cơ sở lí luận và thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu, tìm giải pháp
để dạy học sinh lớp 9 làm tốt bài nghị luận văn học
3 Nội dung cụ thể của đề tài (Giải pháp để giải quyết vấn đề)
3.1 Tìm hiểu đề, tìm ý
Đây là khâu đầu tiên rất quan trọng trong tiến trình làm bài văn nghị luận Ở phần này tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ý bằng cách đặt và trả lời câu hỏi
3.1.1 Tìm hiểu đề
- Đề yêu cầu kiểu bài gì? Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?
- Giải quyết vấn đề ấy cần đến kiến thức nào?
3.1.2 Tìm ý
- Trả lời các câu hỏi:
+ Tác phẩm (nhân vật, tình huống ) hay ở chỗ nào ? Nó xúc động ta ở ý gì ? + Cái hay ấy được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật nào (cốt truyện, chi tiết,… hình ảnh, nhịp điệu,…)? Hình thức đó được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật gì?
- Để tìm ý được phong phú, tôi dạy học sinh cách tích lũy “vốn ý” từ những giờ giảng văn trên lớp của thầy, từ việc đọc những bài văn hay của các nhà văn, nhà lí luận phê bình để vừa học cách viết cụ thể vừa học cách lập ý, sau đó tập tóm tắt
Trang 5bài viết ấy thành một dàn ý theo hệ thống Ví dụ như: Bài viết về vấn đề gì? Mở bài đến đâu và nêu luận đề gì lớn? Thân bài gồm mấy phần, mỗi phần có mấy ý lớn, trong mỗi ý lớn có thể phân chia thành mấy ý nhỏ? Kết bài nêu ý gì?
Ví dụ: Tìm hiểu đề, tìm ý cho đề bài:
“Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”.
* Tìm hiểu đề: Đặt và trả lời câu hỏi:
Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?
- Đề yêu cầu nêu những suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của
Kim Lân Nêu được tình yêu làng gắn với lòng yêu nước của ông Hai, một nét rất mới trong đời sống tinh thần của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp
Giải quyết vấn đề ấy cần đến kiến thức nào?
- Tư liệu chính là truyện ngắn Làng của Kim Lân Tuy nhiên để làm nổi bật
được thứ tình cảm mới mẻ của người nông dân trong kháng chiến, học sinh phải
mở rộng vùng tư liệu ở các tác phẩm khác như truyện “Lão Hạc”, đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” để so sánh làm nổi bật vấn đề của đề bài
Đề yêu cầu kiểu bài gì?
- Kiểu bài nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm: Nêu suy nghĩ, nhận xét,
đánh giá về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai
* Tìm ý: Đặt và trả lời câu hỏi
Nét nổi bật nhất ở nhân vật ông Hai là gì ?
- Nét nổi bật nhất ở nhân vật ông Hai là tình yêu làng, yêu nước thống nhất với tinh thần kháng chiến
Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào?
- Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai được bộc lộ rõ nhất ở tình huống khi ông nghe tin đồn làng mình theo giặc và khi nghe tin cải chính
Tình cảm ấy có đặc điểm, ý nghĩa gì trong hoàn cảnh thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?
- Tình cảm ấy là biểu hiện của tình yêu nước, niềm tin vào cách mạng, vào Đảng, nhiệt tình tham gia ủng hộ kháng chiến
Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị tình yêu làng
và lòng yêu nước ấy của ông Hai?
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Việc lựa chọn tình huống truyện độc đáo là sự thử thách bên trong bộc lộ chiều sâu tâm trạng nhân vật Miêu tả tâm lí nhân vật cụ thể, gợi cảm qua các diễn biến nội tâm, qua ý nghĩ Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại sinh động, giàu tính khẩu ngữ, thể hiện rõ cá tính nhân vật
3.2 Lập dàn ý
Không thể viết được một bài văn vừa đủ ý vừa hay nếu không có một đề cương Là học sinh đang ở giai đoạn học tập và rèn luyện vì thế dứt khoát tôi yêu
Trang 6cầu các em lập dàn ý trước khi viết bài Mục đích chính của việc lập dàn ý là buộc học sinh phải động não, phải suy nghĩ trước khi viết Có hai loại dàn ý là dàn ý tổng quát và dàn ý chi tiết Dàn ý tổng quát là nhìn vào đó thấy được những luận điểm lớn nhất của bài viết Dàn ý chi tiết là được phát triển từ dàn ý tổng quát, chi tiết cho từng phần, từng luận điểm, luận cứ, luận chứng
Ví dụ: Lập dàn ý chi tiết cho đề bài:
“Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”.
A Mở bài
Phần mở bài tôi hướng dẫn học sinh: giới thiệu khái quát về truyện ngắn
“Làng” và nhân vật ông Hai, nhận định đây là một trong những nhân vật thành công bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp Mở bài gồm các ý cơ bản sau:
- Kim Lân là nhà văn am hiểu cuộc sống nông thôn và người nông dân, ông
thường viết về đề tài người nông dân
- Truyện ngắn “Làng” được sáng tác trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp
đang bùng nổ trên quy mô toàn quốc
- Nhân vật ông Hai là một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất về người nông
dân thời kì kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, yêu nước hòa quyện, gắn bó
B Thân bài
Tôi hướng dẫn học sinh tìm hệ thống luận điểm, luận cứ để sáng tỏ tình yêu
làng, yêu nước của nhân vật ông Hai và nghệ thuật đặc sắc của nhà văn
- Luận điểm 1: Ông Hai là một người nông dân đi tản cư trong kháng chiến
chống Pháp, có tình yêu làng quê, yêu nước rất đặc biệt
+ Luận cứ 1: Làng chợ Dầu luôn là niềm tự hào, kiêu hãnh của ông Hai Làng
không chỉ đẹp mà còn tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc (dẫn chứng, phân tích)
+ Luận cứ 2: Ở nơi tản cư ông Hai đau đáu nhớ quê, nhớ anh em du kích (dẫn chứng, phân tích, nhận xét)
+ Luận cứ 3: Ông Hai luôn tìm cách theo dõi tin tức kháng chiến, ruột gan sung
sướng khi nghe được nhiều tin hay, tin chiến thắng của quân ta (dẫn chứng, phân tích, nhận xét)
- Luận điểm 2: Tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai
được bộc lộ sâu sắc và cảm động khi ông nghe tin làng mình theo giặc
+ Luận cứ 1: Phản ứng tâm lí khi ông Hai mới nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:
bàng hoàng, sững sờ, tủi thẹn (dẫn chứng, phân tích, nhận xét)
+ Luận cứ 2: Nỗi ám ảnh day dứt trong lòng ông Hai từ khi cái tin dữ xâm chiếm
trở thành sự sợ hãi lo lắng (dẫn chứng, phân tích, nhận xét).
Trang 7+ Luận cứ 3: Xung đột nội tâm khi ông Hai phải lựa chọn giữa tình yêu quê hương
và tình yêu Tổ quốc (dẫn chứng, nhận xét).
+ Luận cứ 4: Cuộc trò chuyện với con khẳng định tình yêu quê hương vẫn chan chứa trong lòng ông Hai
- Luận điểm 3: Niềm vui khi nghe tin cải chính.
+ Luận cứ 1: Ông Hai đi khoe tin làng ông bị giặc đốt, nhà ông bị giặc đốt
+ Luận cứ 2: Ông Hai mua quà chia cho các con (dẫn chứng, phân tích, nhận xét)
- Tiểu kết: Khẳng định vẻ đẹp của tình yêu làng, yêu nước của ông Hai gắn bó,
bền chặt, thiêng liêng
- Liên hệ, so sánh: So sánh với nhân vật Lão Hạc (“Lão Hạc” - Nam Cao), để thấy được những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn tình cảm và tính cách của người nông dân khi có ánh sáng của Đảng, Bác Hồ giác ngộ
- Luận điểm 4: Nghệ thuật miêu tả nhân vật.
+ Lựa chọn tình huống truyện độc đáo là sự thử thách bên trong bộc lộ chiều sâu tâm trạng
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế
+ Ngôn ngữ nhân vật sinh động, giàu tính khẩu ngữ, thể hiện rõ cá tính nhân vật
C Kết bài:
Giáo viên hướng dẫn học sinh kết bài theo các ý:
- Đánh giá chung về thành công của tác phẩm, sức hấp dẫn của nhân vật, ý nghĩa
biểu tượng của hình tượng nhân vật
- Cảm nghĩ của mình từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, về tâm hồn, tình
cảm của nười dân Việt Nam
3.3 Làm bài văn
Một nhà phê bình văn học nói rằng giải một bài toán, tìm được đáp số là xong nhưng làm một bài văn, tìm được đáp số công việc xem như mới được một nửa Đọc một bài thơ, một đoạn văn, một cuốn sách nhiều khi ai cũng thấy hay nhưng hay ở chỗ nào? Vì sao như thế lại hay? Nói cho ra nhẽ đã khó, đặt bút xuống viết, diễn tả cho hết những cảm nghĩ của mình để người đọc cũng thấy là hay còn khó hơn Trong quá trình làm văn đa phần học sinh gặp tình huống này, ý
đã có rồi mà văn cứ tắc lại, nhiều khi viết ý rời rạc, lời lẽ nhạt nhẽo Vậy làm thế nào để hướng dẫn các em viết được bài văn không những đúng mà còn phải hay Sau đây là những yêu cầu cần thiết mà tôi rèn luyện học sinh khi làm bài văn
3.3.1 Các yêu cầu về diễn ý, hành văn
3.3.1.1 Yêu cầu về giọng văn và sự thay đổi giọng văn
Trong một bài văn nghị luận, người viết bao giờ cũng thể hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng của mình trước một vấn đề mà mình đang thảo luận Giọng văn là sự thể hiện màu sắc biểu cảm đó Khi viết văn, người viết phải linh hoạt trong việc
Trang 8hành văn Tránh kiểu viết một giọng đều đều tạo cảm giác đơn điệu Đây là việc làm quan trọng mà tôi luôn chú ý luyện tập cho các em Ví dụ khi phân tích nhân
vật ông Hai trong truyện ngắn Làng, nên dùng các từ ngữ về nhân vật như: ông Hai, lão nông, người nông dân ấy, con người chất phác ấy… Khi gọi tên một tác
giả, nhiều học sinh từ đầu đến cuối chỗ nào cũng thấy dùng một từ, nhà thơ, nhà văn hoặc tác giả… mà không biết thay đổi cách gọi Ví dụ như viết về nhà văn
Kim Lân, có thể dùng: Kim Lân, nhà văn, tác giả, tác giả truyện ngắn Làng, nhà văn có sở trường về truyện ngắn …
3.3.1.2 Viết câu linh hoạt
Bài văn hay là bài văn vận dụng linh hoạt được các kiểu câu Tùy từng lúc, từng đoạn mà có những loại câu tương ứng để diễn đạt cho phù hợp Ví dụ như cùng đoạn văn nhưng có câu ngắn, có câu lại rất dài Lúc diễn đạt tình cảm thái độ của mình có thể dùng câu cảm thán Khi muốn gây chú ý cho người đọc có thể dùng câu nghi vấn Câu nghi vấn ở đây như là đặt vấn đề, rồi sau đó lại tự trả lời,
tự làm sáng tỏ Một loại câu cũng được vận dụng làm thay đổi giọng văn trong bài
nghị luận là loại câu hô - ứng Chúng thường theo lối kết cấu: Tuy…nhưng, càng…
càng, không những… mà còn…, loại câu này nhằm nhấn mạnh một ý nào đó và ý
đó luôn nằm ở vế thứ hai Trong một bài văn nghị luận, học sinh phải biết viết câu linh hoạt, để người đọc cảm thấy cái hay của sự diễn đạt trong bài Nhiệm vụ của giáo viên là giúp các em làm được điều đó
Ví dụ : “Càng yêu làng, ông Hai càng đau khổ, uất ức khi nghe tin làng theo
giặc”
Hoặc: “ Ta không chỉ yêu quý anh thanh niên ở niềm say mê công việc, mà ta còn
rất mến anh ở sự cởi mở, chân thành với mọi người”
Trong nhiều trường hợp, câu khẳng định được diễn đạt bằng câu phủ định của phủ định nhằm nhấn mạnh sự khẳng định
Ví dụ: “ Một trong những điểm tạo nên sức hấp dẫn của truyện Chiếc lược ngà
mà ta không thể không nói tới là cách xây dựng một cốt truyện khá chặt chẽ, có những yếu tố bất ngờ, tự nhiên nhưng hợp lí”.
3.3.1.3 Viết văn có hình ảnh
Văn nghị luận là loại văn của tư duy, ý tứ cần chặt chẽ, sáng sủa, lập luận phải chắc chắn độ chính xác cao Bài văn nghị luận hay là vừa giàu sức thuyết phục, vừa giàu hình ảnh Biện pháp cơ bản để bài viết có hình ảnh là người viết biết dùng
phép so sánh, liên hệ, đối chiếu Đây là một yêu cầu cao giáo viên phải dành thời
gian thích đáng để hướng dẫn các em biết vận dụng trong bài văn của mình
Ví dụ : Để làm nổi bật nét tinh tế, độc đáo khi viết về mùa thu trong bài thơ “Sang
thu” của Hữu Thỉnh, ngay phần mở bài có thể dùng phép so sánh như sau:
Trang 9“Trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, có thể nói mùa thu được chú ý nhiều hơn cả Mùa thu đã sớm định hình trong trạng thái ổn định như mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du, hoặc có vận động nhưng có cái gì đó phân chia như trong thơ Huy Cận, Xuân Diệu Còn đến “Sang thu” của Hữu Thỉnh, cách lựa chọn khoảnh khắc thời gian đã khác Chưa có một sự định hình, nó bắc cầu giữa cái “không” và cái “có” Chính cái cảm giác mơ hồ và tinh tế này chuyên chở hồn thu theo cái cách của mùa thu Nhạy cảm, nhẹ nhàng, mùa thu đến vừa lạ vừa quen, nó đánh thức tâm hồn ta những gì da diết”.
3.3.1.4 Lập luận sắc sảo, chặt chẽ
Lập luận là dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đề người đọc tin, hiểu và đồng tình với mình Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả, trần thuật mà chủ yếu dùng loại câu nghi vấn, khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết là các phán đoán hoặc những nhận xét, đánh giá sâu sắc
Để học sinh biết lập luận chặt chẽ, giáo viên dạy các em biết và sử dụng các từ ngữ
lập luận như: thật vậy, đúng thế, cho nên, không chỉ, mà còn, trước hết, sau cùng, tóm lại,… Có thể gọi chung là hệ thống từ lập luận
Ví dụ: “ Đúng thế, đời Kiều là một tấm gương oan khổ, một câu chuyện thê thảm
về vận mệnh con người trong xã hội cũ Dựng lên một con người, một cuộc đời như vậy là một cách Nguyễn Du phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề của thời đại Lời phát biểu ấy trước hết là một tiếng kêu thương Tiếng kêu não nùng đau đớn suốt trong tác phẩm lúc nào cũng văng vẳng bên tai.”
3.3.1.5 Dẫn chứng và trình bày dẫn chứng
Nội dung bài nghị luận được tạo nên bởi những lí lẽ và dẫn chứng, cả hai cùng
có một mục đích là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận Nếu như lí lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu thì dẫn chứng thiên về phía làm cho người ta tin Vậy là cả hai đều có tầm quan trọng ngang nhau Một bài văn không thể không chú ý tới vấn
đề dẫn chứng Vậy cách chọn dẫn chứng, sắp xếp dẫn chứng, phân tích dẫn chứng,
đó là những điểm hết sức cơ bản và cần thiết của kĩ năng này mà tôi luôn chú ý rèn luyện cho học sinh
*Phân biệt dẫn chứng
Giáo viên phải cho học sinh phân biệt hai loại dẫn chứng trong bài văn nghị luận đó là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng Dẫn chứng bắt buộc là nằm trong phạm vi yêu cầu của đề Dẫn chứng mở rộng là ở ngoài phạm vi của đề do người viết đưa ra để liên hệ, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc Học sinh phải biết về hai loại dẫn chứng ấy để khi cần dẫn chứng mở rộng thì phải
có, một mặt để liên hệ, mặt khác cũng chứng tỏ kiến thức văn của các em
Ví dụ: Lấy dẫn chứng cho đề bài:
Trang 10Truyện ngắn “Làng” gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới
mẻ trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.
Ở đề này, tác phẩm “Làng” của Kim Lân là tư liệu mà người viết buộc phải trích dẫn Tuy vậy học sinh biết liên hệ với các tác phẩm khác cũng viết về hình
ảnh người nông dân như: truyện “Lão Hạc” của Nam Cao, đoạn trích “Tức nước
vỡ bờ” của Ngô Tất Tố… để làm nổi bật vấn đề của đề bài
*Tỉ lệ dẫn chứng và lí lẽ
Trong quá trình viết bài nghị luận, người viết phải tùy từng vấn đề, từng kiểu bài mà xác định tỉ lệ giữa lí lẽ và dẫn chứng cho phù hợp Bài viết chỉ có lí lẽ hoặc dẫn chứng quá ít sẽ trở lên khô khan, tạo cảm giác nặng nề cho người đọc Trái lại, nếu bài nghị luận toàn dẫn chứng, lí lẽ quá ít sẽ trở lên hời hợt và nhạt nhẽo Vì vậy phải kết hợp được cả hai yếu tố: lí lẽ và dẫn chứng Không nên hiểu một cách máy móc rằng chứng minh là dùng dẫn chứng nhiều lí lẽ ít; giải thích là lí lẽ nhiều dẫn chứng ít Lí lẽ và dẫn chứng nhiều hay ít phụ thuộc vào từng nội dung vấn đề cần nghị luận Loại đề mà các em học sinh lớp 9 hay gặp là phân tích, bình giảng một đoạn trích, một tác phẩm văn học thì lí lẽ nghiêng về việc chỉ ra tác phẩm ấy hay ở chỗ nào Còn dẫn chứng là tất cả những chi tiết, câu chữ, hình ảnh, nhân vật… trong tác phẩm ấy Như vậy phải linh hoạt trong việc xác định dẫn chứng cũng như cách đưa dẫn chứng: Khi nào thì trích nguyên văn, khi nào chỉ cần tóm tắt dẫn chứng, khi nào trích một số từ ngữ chi tiết tiêu biểu Muốn vậy học sinh phải đọc nhiều, nhớ nhiều thì sẽ chọn được những dẫn chứng tiêu biểu Dẫn chứng thường được tích lũy theo đề tài, chủ đề, hình tượng, hay theo hệ thống chi tiết, nhân vật cùng loại nào đó
Ví dụ : Dẫn chứng về hình tượng người phụ nữ trong xã hội cũ gồm có: Truyện
Kiều của Nguyễn Du, Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ…, dẫn chứng về hình ảnh người phụ nữ hiện đại có: truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, bài thơ Khúc hát ru những em
bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm,… dẫn chứng về đề tài người nông dân có “Lão Hạc” của Nam Cao, “Làng” của Kim Lân…
* Yêu cầu về dẫn chứng
Dẫn chứng phải được phân tích cho hay và gắn nó với lí lẽ mà nó cần sáng tỏ Một bài văn có dẫn chứng la liệt chỉ mới chứng tỏ người viết chăm học, có trí nhớ Một bài văn hay là người viết phải biết phân tích dẫn chứng một cách sắc sảo, sâu sắc Đây có lẽ là công đoạn tốn nhiều thời gian nhất mà tôi dành cho học sinh
3.3.2 Yêu cầu viết câu, đoạn chuyển tiếp
3.3.2.1 Cách “nối”
Đây là cách dùng từ nối, câu nối, đoạn nối để nối ý này với ý kia, phần, đoạn này với phần, đoạn kia nhằm chuyển tiếp