Từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 làm tốt các bài tập về dấu câu trong phân môn Luyện từ và... Nhiệm vụ nghiên cứu : - Góp phần gi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài:
phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng, thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, các cấp quản lý giáo dục đã liên tục phát động phong trào nghiên cứu, cải tiến phương pháp dạy – học Qua đó, các phương pháp dạy – học truyền thống được cải tiến và vận dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Vì vậy, việc sắp xếp tổ chức theo đối tượng học sinh hơn, phát huy được khả năng của học sinh khá giỏi mà không ảnh hưởng đến sự tiến
bộ của học sinh trung bình, yếu, kém
Nhưng thực tế cho đến nay việc thực hiện đổi mới phương pháp cũng còn mặt hạn chế nhất định Trong tất cả các môn học ở cấp tiểu học môn Tiếng Việt là một môn công cụ, một môn mang tính nhân văn, góp phần hình thành nhân cách của con người lao động mới, đồng thời làm tăng tính thiết dụn của môn học với người học, giúp học sinh có nhiều cơ hội vận dụng những gì đã học vào thực tế cuộc sống
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Trường Tiểu học là :
- Hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
và cung cấp những kiến thức sơ giản nhằm tạo cho học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp
- Góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản
- Cung cấp những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người: về văn hóa, văn học, văn nghệ Việt Nam và nứơc ngoài Từ đó bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất tốt, rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và
có khả năng thích ứng với cuộc sống sau này Đồng thời hình thành lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
Trong môn Tiếng Việt được tích hợp các phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Kể chuyện, Tập làm văn Trong phân môn Luyện từ và câu lại có mảng kiến thức về dấu câu Ở lớp 3 học sinh chủ yếu được học các dấu : dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy và dấu hai chấm Thực tế cho thấy khi dạy các bài tập về dấu câu, giáo viên thường lúng lúng vì trong sách giáo viên chỉ có đáp án chứ không có hướng dẫn cách dạy Do vậy, giáo viên thường dạy theo cách học sinh cảm nhận ngôn ngữ vì phần lớn các em là trẻ bản ngữ, hoặc cũng chỉ hỏi “câu đã hết ý chưa”, “câu đã chọn vẹn chưa” , chứ ít khi giải thích được cho học sinh hiểu vì sao phải sử dụng dấu câu như vậy
Từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 làm tốt các bài tập về dấu câu trong phân môn Luyện từ và
Trang 2câu.” Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, đồng thời làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, học sinh có hứng thú nhiều trong học tập góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở thực tiễn giảng dạy và học tập phân môn Luyện từ và câu của
GV và HS, đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của GV , tính tích cực chủ động, sáng tạo tìm tòi kiến thức mới của học sinh Từ đó học sinh làm đúng các bài tập về dấu câu và biết dùng dấu câu đúng khi nói và viết, ngoài ra còn giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc, tập Tập làm văn…
3 Đối tượng nghiên cứu :
- Học sinh lớp 3A1 và 3A2 Trường Tiểu học BaTrại B.
+ Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 3A1
+ Đối tượng đối chứng: Học sinh lớp 3A2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Góp phần giúp học sinh hiểu khái niệm về các dấu câu đồng thời thấy được tác dụng của các dấu câu từ đó làm tốt các bài tập về dấu câu
- Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với Sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có các phương pháp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng các dấu câu cho đúng
5 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp phân tích – tổng hợp (các văn bản, tài liệu, sách báo)
- Phương pháp điều tra
- Phương phápthực nghiệm khoa học giáo dục
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng kết – rút kinh nghiệm sư phạm
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu :
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2022 đến tháng 3/ 2023
- Đề tài được áp dụng tại lớp 3A1, năm học 2022 - 2023, Trường Tiểu học Ba Trại B
Trang 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số căn cứ khoa học :
1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ phân môn Tiếng Việt lớp 3
+ Mục tiêu:
- Luyện từ và câu là môn học cung cấp vốn từ và ngữ pháp Tiếng Việt cho học sinh Nó có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ Luyện từ và câu giữ vai trò chủ đạo, tạo điều kiện cho học sinh học tốt các môn và phát triển toàn diện
+ Nhiệm vụ:
- Làm phong phú, chính xác và tích cực hóa vốn từ của học sinh, cũng như cung cấp cho học sinh một số từ vựng cơ bản, cụ thể: dạy nghĩa từ, mở rộng vốn từ,…
- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức ngữ pháp sơ giản, cơ bản, tối thiểu, cần thiết, vừa sức với lứa tuổi học sinh Trang bị cho học sinh hệ thống khái niệm, sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ
- Các dạng bài tập về dấu câu trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có nhiệm vụ giúp học sinh bước đầu bước đầu biết dùng dấu câu ngắt, tách các câu, các đoạn theo cấu trúc ngữ pháp và vận dụng vào việc đặt câu, viết đoạn văn, vận dụng trong giao tiếp bằng ngôn ngữ có ngữ điệu phù hợp với nội dung
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 3
Ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của trẻ đều chịu sự
chi phối của sự phát triển tâm sinh lí Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy Luyện từ
và câu nói riêng, giáo viên cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để từ đó tìm ra phương hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp
§ối với học sinh lớp 3, tư duy, cách suy nghĩ mang tính chất cảm tính, hình tượng cụ thể Tuy nhiên các em đã bước đầu suy nghĩ một cách trìu tượng
và khái quát hơn Nhng trong cùng một độ tuổi, cùng học một lớp, một trường,
sự phát triển tâm lí ở trong học sinh có sự khác nhau, không đồng đều Trí nhớ của trẻ lớp 3 vẫn dựa trên hình tượng trực quan sinh động Các em chưa biết ghi nhớ một cách khoa học
Vì vậy để có phương pháp đúng đắn , khoa học, phù hợp với trình độ của học sinh và bài giảng có sức cuốn hút, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm tâm sinh lí
lứa tuổi nổi bật của trẻ Có như vậy dạy Luyện từ và câu mới đạt kết quả.
1.2 Một số khái niệm cơ bản:
1.2.1 Dấu chấm
Dấu chấm thường để kết thúc một câu, đó là câu tường thuật Nó được đặt ở cuối câu, sau đó bắt đầu một câu khác với chữ cái viết hoa Nếu ở cuối một đoạn
Trang 4văn thì dấu chấm cũng là dấu kết thúc đoạn văn đó Đoạn văn sau được bắt đầu bằng chỗ xuống dòng với chữ cái viết hoa và viết thụt đầu dòng
Trong việc dùng dấu chấm phải chú ý:
- Những câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán không được dẫn trực tiếp mà được dẫn gián tiếp trong câu tường thuật thì cuối câu vẫn dùng dấu chấm chứ không dùng dấu chấm hỏi hay chấm than
VD: Mọi người đều hiểu anh ấy nói về cái gì và thái độ của anh ấy ra sao
Ở ví dụ này không thể dùng dấu chấm hỏi sau từ cái gì và ra sao, mà chỉ dùng một dấu chấm ở cuối câu Vì xét toàn câu đó vẫn là câu tường thuật
Trong một số trường hợp, có thể dùng dấu chấm để tách thành một câu riêng biệt một bộ phận vốn là thành phần của câu đi trước, làm cho nó mang trọng lượng thông tin riêng, khiến cho người đọc phải chú ý đến nội dung của nó
1.2.2 Dấu chấm hỏi
Dấu chấm hỏi là dấu thường để kết túc một câu nghi vấn Nó vừa kết thúc một câu, vừa làm dấu hiệu cho mục đích nghi vấn Ngoài ra, dấu chấm hỏi còn có thể dùng giữa một câu sau những từ ngữ chứa đựng những nội dung mà người viết cho là đáng ngờ, đáng nghi vấn, đáng phải xem xét lại Lúc này nó chỉ thực hiện mục đích biểu hiện sự nghi vấn, chứ không đánh dấu sự kết thúc câu và được đặt trong ngoặc đơn
Trong những đoạn văn đối thoại, dấu chấm hỏi còn có cách dùng khá đặc biệt Nó có thể thay thế cho cả một lời nói của một nhân vật để biểu hiện sự khó hiểu, sự nghi ngờ của người đó về nội dung câu trước đó Sự nghi ngờ xen lẫn với ngạc nhiên làm cho người đó chưa thể (hoặc không thể) biểu hiện bằng những ý nghĩ, tình cảm của mình
1.2.3 Dấu chấm than
Dấu chấm than dùng để kết thúc một câu cảm thán hay một câu cầu khiến,
ở đó sự bộc lộ rõ rệt cảm xúc, tình cảm, thái độ, nguyện vọng, ý chí của người nói hay người viết
Có những trường hợp câu có dùng các từ nghi vấn, nhưng mục đích của câu không phải là câu nghi vấn mà để bộc lộ cảm xúc, tình cảm hay biểu lộ một yêu cầu, một mệnh lệnh thì cuối câu vẫn dùng câu chấm than Như vậy, sử dụng dấu chấm than có những điểm giống việc sử dụng dấu chấm hỏi Không phải chỉ để kết thúc câu và bộc lộ mục đích của câu nói, mà còn gắn với việc biểu lộ thái độ và tình cảm của bản thân người viết Cho nên có những trường hợp cả hai dấu câu được sử dụng đồng thời, dấu hỏi để biểu thị thái độ hoài nghi, còn dấu chấm than thì bày tỏ thái độ châm biếm , mỉa mai
Trang 51.2.4 Dấu phẩy
Dấu phẩy được dùng rất phổ biến trong câu Nó có tác dụng để ngăn cách các từ, các cụm từ
- Về mặt ngữ âm, nó thường được dùng để đánh dấu chỗ ngắt nhỏ trong câu
- Về mặt ngữ pháp, nó ngăn cách các thành phần sau đây của câu:
+ Ngăn cách các thành phần đẳng cấp, đồng chức, nhất là khi giữa các thành phần này không dùng quan hệ từ
+ Ngăn cách các thành phần phụ, thành phần biệt lập với nòng cốt của câu Khi thành phần phụ hoặc thành phần biệt lập chen vào giữa các thành phần nòng cốt của câu thì cần dùng dấu phẩy cở trước và ở sau thành phần đó để ngăn cách nó với thành phần nòng cốt Trong một dãy nhiều từ hay cụm từ có quan hệ đẳng cấp với nhau thì trước thành phần đẳng lập cuối cùng thường dùng quan hệ từ và thay cho dấu phẩy
1.2.5 Dấu hai chấm
Dấu hai chấm dùng ở trong câu để biểu hiện rằng bộ phận câu đi sau có tác dụng giải thích, cụ thể hóa, nêu dẫn chứng hay liệt kê các phương diện khác nhau… của nội dung mà bộ phận đi trước biểu hiện
* Những trường hợp sử dụng dấu hai chấm
- Trước một loạt các thành phần liệt kê
- Trước một lời dẫn nguyên văn Trong trường hợp này dấu hai chấm được dùng để phối hợp với dấu ngoặc kép
- Trước lời nói hoặc nội dung suy nghĩ của một người, một nhân vật nào
đó (dùng phối hợp với dấu ngoặc kép, hoặc dấu gạch đầu dòng)
- Trước bộ phận giải thích cho nội dung của bộ phận đi trước
- Trước cả một đoạn văn hay một phần văn bản có tác dụng cụ thể hóa nội dung các phần văn bản đi trước Cách sử dụng này ta thường gặp nhiều văn bản thuộc các loại khác nhau
Nhìn chung dấu hai chấm được dùng để báo hiệu cho một bộ phận văn bản đi sau có quan hệ giải thích hay cụ thể hóa cho nội dung của bộ phận câu hay bộ phận đi trước
CHƯƠNG 2 : ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG
2.1 Một vài nét về đặc điểm và thực trạng :
*2.1.1 Đối với học sinh:
Qua thực tế giảng dạy và trao đổi với các giáo viên trong khối, tôi nhận thấy :
-Trình độ nhận thức của học sinh không được đồng đều, học sinh chưa có thói quen sử dụng dấu câu trong khi viết và thể hiện ngữ điệu lời nói trong giao tiếp
Trang 6- Hiệu quả học tập của học sinh về các bài tập dấu câu cũng còn nhiều hạn chế Mỗi bài tập đều yêu cầu học sinh xác định dấu câu đúng theo cấu trúc ngữ pháp mà bản thân học sinh chưa rõ được tác dụng của các loại dấu câu, phải dùng dấu câu đặt vào chỗ thích hợp để làm gì, làm sao để chọn dấu câu đặt vào chỗ thích hợp Thật khó cho giáo viên khi giảng dạy, đối với chuẩn kiến thức kỹ năng của lớp 3 giáo viên không thể hướng dẫn học sinh đi sâu hơn về khái niệm, tác dụng của các dấu câu để cho học sinh có kiến thức về dấu câu Thực tế đối với học sinh là khi thực hiện các bài tập có yêu cầu đặt câu, các em có đặt đúng câu Tuy nhiên khi viết lên thì việc đặt dấu câu chưa đúng cấu trúc ngữ pháp, không xác định được ngữ điệu khi đọc Ngoài ra còn hạn chế hơn nữa là đối với môn tập làm văn khi gặp những yêu cầu là viết một đọan văn ngắn theo chủ đề thường các em không xác được phải đặt dấu câu như thế nào là cho đúng Như vậy sẽ làm hạn chế nội dung bài viết khi đọc lên (đọc đúng theo dấu câu học sinh đã đặt)
2.1.2 Đối với các thầy cô giáo
Người giáo viên còn gặp khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học
và tài liệu tham khảo còn ít Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt
2.2 Mục đích và yêu cầu của điều tra thực trạng:
2.2.1 Mục đíchcủa điều tra thực trạng:
Phát hiện những hạn chế của học sinh trong việc nhận biết và sử dụng các dấu câu
2.2.2 Yêu cầu của điều tra thực trạng:
Điều tra thực trạng một cách khách quan, đảm bảo tính chính xác của thực trạng.
2.3 Nội dung và cách tiến hành điều tra thực trạng:
Điều tra thông qua hoạt động dạy và học các tiết Luyện từ và câu trong chương trình và bài khảo sát thực tế sau:
Bài 1: Điền dấu phảy vào chỗ thích hợp trong các câu sau:
a/Hè về những cành phượngxuất hiện những chùm hoa đỏ rực
b/Trường em có phòng họp phòng thư viện phòng học
c/Cây khoai cây dong nói chuyện bằng củ bằng rễ
Bài 2: Chọn dấu câu thích hợp để điền vào ô trống:
a/ Mẹ em đang nấu cơm
b/ Bạn đã chuẩn bị bài chưa
c/Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao
Trang 72.4.Kết quả điều tra thực trạng:
-Qua điều tra tụi thấy khả năng nhận biết biện và sử dụng cỏc dấu cõu của học sinh cũn gặp nhiều hạn chế
- Học sinh chưa hứng thỳ khi làm cỏc bài tập về dấu cõu
-Khụng khớ học tập của lớp ớt sụi nổi khi học sinh khụng thực hiện được yờu cầu của giỏo viờn
Tụi đó tiến hành khảo sát chất lợng về kỹ năng làm cỏc bài tập về dấu cõu của học sinh lớp 3A1 đầu học kỳ I năm học 2022 - 2023 và đã thu đợc kết quả nh sau:
lượng
Lớp 3A1
( Lớp
thực
nghiệm)
42
Lớp 3A2
(Lớp đối
chứng)
2.5 Đề xuất giải phỏp:
-Tỡm hiểu nội dung chơng trình và phõn loại bài tập
- Dạy đỳng quy trỡnh
-Dạy theo cỏc dạng bài tập
- Dạy tớch hợp vào cỏc mụn học
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM
3.1 Mục đớch và yờu cầu của thực nghiệm khoa học:
3.1.1 Mục đớch:
Đưa ra được những giải phỏp để hướng dẫn sinh lớp 3 làm tốt cỏc bài tập về dấu cõu
3.1.2 Yờu cầu:
Cỏc giải phỏp đề ra phải phự hợp với cỏc đối tượng học sinh
3.2 Nội dung và cỏch tiến hành thực nghiệm khoa học:
Giải phỏp1.Tỡm hiểu nội dung chơng trình và Phõn loại cỏc dạng bài tập
Trang 8Bài tập về cỏc dấu cõu đợc đa vào giảng dạy trong chơng trình lớp 3 phân môn Luyện từ và câu gồm có 15 tiết (bắt đầu từ tuần 3 đến tuần 34) đợc hệ thống theo mạch kiến thức sau :
Tuầ
n
Dựa vào nội dung chương trỡnh tụi đó phõn loại cỏc bài tập về dấu cõu
theo 2 dạng bài :
*Dạng 1: Bài tập điền một loại dấu cõu
*Dạng 2: Bài tập điền nhiều loại dấu cõu ( dấu chấm, dấu phảy,dấu chấm than…)
Giải phỏp 2 Dạy đỳng quy trỡnh:
Để học sinh làm tốt cỏc bài tập về dấu bất cứ một bài tập nào, GV cũng cần phải làm theo cỏc bước sau:
- Bước 1: Cho HS đọc kỹ đề bài
- Bước 2: Xỏc định đỳng yờu cầu của bài
-Bước 3: Phõn tớch yờu cầu của bài (Hướng dẫn mẫu)
- Bước 4: Học sinh làm bài
- Bước 5: So sỏnh đối chiếu kết quả của học sinh với đỏp ỏn (HS phải lớ giải được đỏp ỏn của mỡnh)
- GV phải giải thớch cho học sinh rừ vỡ sao cú đỏp ỏn đú
Vớ dụ : Khi dạy bài “Dấu phảy” (Trang35 Sỏch Tiếng Việt 3 Tập 2) tuần 22
- Mục tiờu: HS điền đỳng dấu phảy vào sau bộ phận trả lời cõu hỏi Ở đõu?
Bài tập: Em đặt dấu phẩy vào chỗ nào trong mỗi cõu sau
a) Ở nhà em thường giỳp bà xõu kim
Trang 9b) Trong lớp Liên luôn luôn chăm chú nghe giảng.
c) Hai bên bờ sông những bãi ngô bắt đầu xanh tốt
d) Trên cánh rừng mới trồng chim chóc lại bay về ríu rít
Bước 1: GV cho học sinh đọc toàn bộ nội dung bài tập
Bước 2: Xác định yêu cầu của đề:
- Đặt dấu phảy vào chỗ nào trong mỗi câu.
Bước 3: Phân tích bài tập( Hướng dẫn mẫu):
Để giúp học sinh nhận diện được những cụm từ,từ cần phân cách bằng dấu
phẩy - GV có thể đặt câu hỏi
Câu a: Em thường giúp bà xâu kim ở đâu? (ở nhà)
Vậy ta điền dấu phảy vào chỗ nào? ( Điền dấu phảy vào sau từ ở nhà)
Trong câu a các con vừa điền dấu phảy sau bộ phận trả lời cho câu hỏi nào?
( sau bộ phận trả lời câu hỏi Ở đâu?
GV chốt: Dấu phảy đứng sau bộ phận câu chỉ địa điểm, nơi chốn
Bước 4: HS làm bài ( tương tự phần a)
Bước 5:- Học sinh lên bảng làm các phần còn lại ( có giải thích cách làm) - HS
khác nhận xét
- Giáo viên chốt và đưa ra đáp án đúng - HS đối chiếu kết quả với bảng sau: a) Ở nhà, em thường giúp bà xâu kim
b) Trong lớp, Liên luôn luôn chăm chú nghe giảng
c) Hai bên bờ sông, những bãi ngô bắt đầu xanh tốt
d) Trên cánh rừng mới trồng, chim chóc lại bay về ríu rít
Giải pháp 3: Dạy theo các dạng bài tập.
Bài tập về dấu câu lớp 3 được chia làm 2 dạng:
Dạng 1: Bài tập điền một loại dấu câu:
Dạng bài tập này gồm 3 kiểu loại : Bài điền dấu phảy; bài điền dấu chấm;
bài điền dấu hai chấm
* Bài tập điền dấu phảy (,):
Chương trình lớp 3 tập trung nhiều và chủ yếu là dấu phảy Khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập sử dụng dấu phảy điều đầu tiên Giáo viên phải giúp cho học sinh nhận ra được chức năng của dấu phẩy thể hiện trong câu Giáo viên hiểu dấu phẩy có nhiều công dụng :ngăn cách các danh từ với cụm danh từ ,động từ với cụm động từ đi liền nhau trong câu ;ngăn cách các thành phần nòng cốt của câu với thành phần phụ trạng ngữ ngăn cách hai hay nhiều chủ ngữ song song , vị ngữ song song Nhưng khái niệm này GV chưa nói cho học sinh biết
mà học sinh chỉ biết với những tên gọi cụ thể là từ chỉ hoạt động ,trạng thái ,từ chỉ sự vật , từ chỉ tính chất khái niệm chủ ngữ ,vị ngữ cũng không được giới
Trang 10thiệu tường minh mà chỉ nhận diện các mẫu câu như Ai? Làm gì?; Cái gì?; Như thế nào ? Mặt khác trạng ngữ chỉ được hỏi theo cách tương tự với những từ hỏi: ở đâu? Khi nào? để làm gì? Do vậy khi dạy các bài tập sử dụng dấu phẩy , giáo viên cần lưu ý HS các điểm sau:
-Dấu phảy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu, cụ thể là: + Đánh dấu ranh giới giữa các thành phần phụ của câu với bộ phận chính của câu
Ví dụ: Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng tôi lại nao
nức những kỉ niệm mơn man cuả buổi tựu trường
+ Đánh dấu ranh giới giữa một từ ngữ với bộ phận chú thích của nó
Ví dụ: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu
yếm nắm tay tôi dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp
+ Đánh dấu ranh giới giữa các vế của câu ghép( ít được sử dụng ở các bài tập
về dấu câu lớp 3)
Sau khi nắm vững các điều cần lưu ý, giáo viên áp dụng vào việc thực hiện dạy làm các bài tập về dấu câu theo các cách sau:
Cách 1: Giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp giúp học sinh phát hiện
ra chỗ cần đặt dấu câu.
Ví dụ 1: thêm dấu phảy vào chỗ thích hợp trong câu sau:
a/ Ông em bố em và chú em đều là thợ mỏ
b/ Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan trò giỏi
c/ nhiệm vụ của Đội viên là thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy tuân theo điều lệ Đội Đối với bài tập này để giúp học sinh điền dấu phảy đúng chỗ, giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau:
- Những ai đều là thợ mỏ? ( Ông em- bố em và chú em)
- Vậy chúng ta có thể đặt dấu phảy ở đâu ?( Ông em, bố em)
GV chốt: Dấu phảy ngăn cách giữa các từ chỉ sự vật( chỉ người) đứng liền nhau trong câu
Trường hợp cụm từ có từ “và” đứng trước thì không cần phân cách bằng dấu phảy Tương tự với cách đặt câu hỏi như vậy với câu b, c
- Các bạn mới được kết nạp vào Đội là người như thế nào? ( con ngoan – trò giỏi)
Từ câu trả lời đó HS biết tự đặt dấu phảy ở vị trí “con ngoan, trò giỏi”
- Nhiệm vụ của Đội viên là gì?( thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy- tuân theo điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội)
Học sinh sẽ tự đặt được dấu phảy ở vị trí “…thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, tuân theo điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội.”
Ví dụ 2: Có thể đặt dấu phảy vào những chỗ nào trong những câu sau:
a/ Ếch con ngoan ngoãn chăm chỉ và thông minh