Trong giai đoạn hiện nay xu hướng của sự đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng là làm sao để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là ngư
Trang 1A.MỞ ĐẦU I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với người Việt Nam,Tiếng Việt rất quan trọng trong cuộc sống , trong giao tiếp,trong học tập sinh hoạt.Trong trường tiểu học,môn tiếng việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tiếng Việt vừa là môn học chính,vừa là môn công cụ giúp học sinh tiếp thu các môn học khác Dạy và học Tiếng Việt nhằm sử dụng ngày một tốt hơn tiếng mẹ đẻ của mình vào các hoạt động giao tiếp
Các em học sinh lớp 2 vốn hiểu biết về tiếng việt còn rất sơ sài , viết câu văn còn cụt lủn hoặc câu có thể đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng.Việc trình bày , diễn đạt ý của các em còn ở mức độ sơ lược , đặc biệt là khả năng miêu tả Dạy cho học sinh lớp 2 làm văn chính là cho các em biết cách ứng xử các tình huống xảy ra trong cuộc sống nhằm giúp các em có khả năng hiểu tiếng việt hơn , biết dùng từ một cách phù hợp trong các tình huống ( chia vui , chia buồn , an ủi , đề nghị , xin lỗi )
Trong giai đoạn hiện nay xu hướng của sự đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng là làm sao để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động
và huy động vốn hiểu biết của bản thân vào việc chiếm lĩnh tri thức mới Việc vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào phân môn tập làm văn lớp 2 không phải dễ dàng bởi lẽ phân môn này hoàn toàn mới mẻ đối với các em học sinh lớp
2
Nội dung tập làm văn lớp 2 cung cấp cho học sinh các kĩ năng nói, viết , nghe, phục vụ cho học tập và giao tiếp Ngoài ra còn rèn cho các em kĩ năng diễn đạt.ở lớp 1, thông qua môn tiếng việt học âm vần , học sinh được luyện nói từng câu ngắn , được tập kể lại câu chuyện.Tuy nhiên do vốn từ của các em còn ít nên việc diễn đạt hạn chế , viết câu còn lủng củng không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý
Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào
để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp mình
Đây là lý do tôi chọn và áp dụng “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt dạng
Trang 2bài kể ngắn và viết đoạn văn trong môn tập làm văn”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua sáng kiến kinh nghiệm này, nhằm:
- Hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng việt (như nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
- Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc,bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tốt đẹp thông qua nội dung bài dạy
- Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy,
từ đó giúp học sinh chiếm lĩnh các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết
- Tạo lập văn bản đơn giản Góp phần nâng cao chất lượng dạy phân môn tập làm văn
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nhiệm vụ chính của phân môn tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản Ở đây thuật ngữ “văn bản” được dùng được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Đó không nhất thiết phải là một bài văn gồm nhiều câu ; nhiều đoạn cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là loại văn kể chuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật Trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể , sản phẩm lời nói hoàn chỉnh mà một người tạo lập được có thể chỉ là một câu chào , một lời cảm
ơn hay một vài dòng thăm hỏi , chúc mừng trên tấm thiếp…Đối với lớp 2 , dạy tập làm văn là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng phục vụ học tập và giao tiếp hằng ngày
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 2A trường tiểu học cẩm Lĩnh
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng các phương pháp sau:
-Phương pháp quan sát- hỏi đáp
-Phương pháp phân tích – tổng hợp
-Phương pháp thực hành luyện tập
Trang 3-Phương pháp hoạt động nhóm.
-Tham khảo tài liệu
VI.PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN
-Lớp 2A trường tiểu học Cẩm lĩnh - Năm học 2019 -2020
B NỘI DUNG ĐỀ TÀI I.CƠ SỞ LÍ LUẬN
Điều kiện kinh tế - xã hội đã có những thay đổi quan trọng, nhiều thành tựu
đổimới của các ngành khoa học đã xuất hiện những điều kiện đòi hỏi phải xây dựng lại chương trình môn Tiếng Việt Bước vào thế kỷ XXI, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Đây là một quá trình lâu dài, gian khổ, phức tạp, từ đây trên thế giới cũngnhư đất nước ta bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề mới như kinh tế, tri thức, sự phát triển củacông nghệ thông tin, hội nhập vào nền kinh tế , văn hóa của thế giới Học sinh nắm được chương trình mới đạt được kết quả tốt là vấn đề nan giải vì chương trình cũ Tập làm văn đưa ra kiến thức có sẵn, học sinh dựa vào kiến thức đã đưa ra để học sinh điền vào, hoạt động tích cực của học sinh còn rất
ít, học sinh chưa có sự sáng tạo trong học tập, giao tiếp nghi thức tối thiểu như: chào hỏi, lời động viên, an ủi làrất xa lạ đối với trẻ Khi khách đến nhà, học sinh chưa biết có lời chào như thế nào, khi bố mẹ bảo "Con chào bác đi!" con trẻ chỉ đáp lại với lời chào chưa gãy gọn, ngượng ngùng Lời cảm ơn, xin lỗi đối với trẻ
là rất viễn vông
Nhưng đối với chương trình mớitôi rất hài lòng và hứng thú,
học sinh nắm được nghi thức sử dụng chúng trong mọi tìnhhuống giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơi công cộng Qua đó bồi dưỡng và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Chính vì thế trong hệ thống giáo dục quốc dân tiểu học là bậc học có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng Ngày nay với sự quan tâm của Đảng và nhà nước, bậc tiểu học đã coi trọng và đầu tư rất nhiều cả
về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, con người, trang thiết bị và sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy Bậc tiểu học được coi là bậc nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Chất lượng này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở tiểu học Người giáo viên tiểu học phải chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên, đồng thời
có trách nhiệm xây dựng một nền móng dân trí tối thiểu cho cả dân tộc thực hiện
Trang 4tốt luật giáo dụcphổ cập tiểu học và các mục tiêu chương trình đề ra.
Phân môn tập làm văn có tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, sửdụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác củamôn tiếng việt đảm nhiệm ( kỹ năng đọc, nghe nói, viết chữ, viết chính
tả, dùng từ đặt câu ) Tập làm văn còn đòi hỏi học sinh huy động với kiến thức nhiều mặt (Từ hiểu biếtvề cuộc sống đến tri thức về văn học, khoa học thường thức ) có liên quan đến đề bài.Bài tập làm văn là sản phẩm tổng hợp của vốn sống, vốn văn học, năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc
sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo của cánhân học sinh Qua bài tập làm văn (kết quả học tập phân môn tập làm văn) ta sẽ thấy được trình độ sử dụng tiếng việt, những tri thức và hiểu biết về cuộc sống của học sinh
Là môn học công cụ, phân môn tập làm văn lớp 2 giúp cho học sinh nắm vững đơn vị tri thức cơ bản của khoa học việt ngữ Trên cơ sở hình thành kỹ năng: nghe, nói,đọc, viết đạt đến trình độ đúng, tạo điều kiện học sinh nắm được tri thức khoa học mới
Vì vậy, dạy học sinh tiếp thu được chương trình mới, kiến thức tập làm văn
là góp phần không nhỏ vào việc hình thành mục tiêu giáo dục và đào tạo
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN
Năm học 2019 – 2020, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2A trường tiểu học Cẩm Lĩnh Lớp 2A do tôi chủ nhiệm có tổng số là 48 học sinh trong đó có 26 học sinh nữ
Trong năm học có những thuận lợi và gặp nhữngkhó khăn như sau:
1 Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của cấp ủy đảng, ban giám hiệu nhà trường
- Là giáo viên giảng dạy nhiều năm nên có nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm
- Được đào tạo chuẩn hoá về chuyên môn
- Được sự giúp đỡ của đồng chí, đồng nghiệp trong công tác giảng dạy
- Cơ sở vật chất cũng như đồ dùng dạy học cũng được nhà trường trang bị tương đối đầy đủ phục vụ cho việc dạy và học
- Sách vở và đồ dùng học tập của học sinh được phụ huynh mua sắm đầy đủ
2 Khó khăn:
Trang 5- Học sinh trường tiểu học Cẩm Lĩnh đa số là con em nông dân Vì vậy ít nhiều còn khó khăn về điều kiện học tập
- Phụ huynh đa số ít có điều kiện quan tâm đến việc học tập sinh hoạtcủa con em mình và cứ là “trăm sự nhờ cô”
- Là lớp đầu cấp (sau lớp 1) nên các em còn hạn chế khả năng giao tiếp, ngôn ngữ còn hạn hẹp về vốn từ , kĩ năng viết văn chưa có
III.THỰC TRẠNG BAN ĐẦU
Do đặc điểm tình hình địa phương là vùng nông thôn, điều kiện kinh tế khó khăn nên việc học của các em ít được phụ huynh quan tâm Do vậy, gây không ít khó khăn cho giáo viên, đòi hỏi người giáo viên phải tìm mọi cách để giúp đỡ các em Qua thực tế giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm nhiều năm, tôi nhận thấy rằng, muốn học sinh kể tốt , viết tốt đoạn văn, trước hết học sinh phải viết đúng yêu cầu và nhận thức được tầm quan trọng của môn tập làm văn
Chính vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp đúc rút từ kinh
nghiệm của bản thân về việc giúp học sinh kể ngắn ; viết đoạn văn để cùng trao đổi với đồng nghiêp, hi vọng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình đem lại kết quả khả quan cho học sinh Để từ đó, giúp các em học sinh lớp 2A trường tiểu học Cẩm Lĩnh ngày càng học giỏi phân môn tập làm văn hơn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục
Trong thực tế hiện nay, việc rèn cho học sinh kĩ năng kể ; viết đoạn văn tốt chưa được giáo viên chú tâm nhiều Bên cạnh đó, nhiều học sinh khi kể còn thiếu tự tin , ấp úng ; viết bài còn viết bừa, viết ẩu thả, không đúng yêu cầu, viết lan man, không đủ số câu, sai ý, trình bày ý lộn xộn, thiếu tự nhiên, sai nhiều chính tả, … Hơn thế nữa, một số em thiếu tự tin trong giờ tập làm văn dễ dẫn đến hậu quả là các em chán nản, thiếu quyết tâm trong học tập Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi người giáo viên phải có kinh nghiệm và sáng tạo trong giảng dạy, phải thật kiên trì và nhẫn nại, giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của môn học Từ đó, giáo dục cho các em ý thức rèn luyện bài viết của mình đạt yêu cầu cao hơn
Qua giảng dạy hai tháng kết quả khảo sát như sau
Trang 69; 10 % 7; 8 % 5; 6 % Dưới 5 %
IV.NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
*Biện pháp 1 : Lập nội dung chương trình giảng dạy
Chương trình tập làm văn lớp 2 gồm ba dạng bài cơ bản : Dạng bài luyện tập về nghi thức lời nói tối thiểu ; dạng bài luyện tập các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày ; dạng bài kể ngắn sau đó vận dụng để viết đoạn văn.Ba dạng này có mối liên hệ hữu cơ với nhau Bài tập của dạng này ngoài tác dụng rèn luyện kĩ năng cho chính bài đó nó còn hỗ trợ cho dạng bài khác
Ví dụ : Bài 1 (tuần 1) : Tự giới thiệu – Câu và bài
Bài này ngoài việc rèn luyện kĩ năng về nghi thức lời nói (tự giới thiệu) còn có tác dụng hỗ trợ cho việc rèn kĩ năng nói , kể Chẳng hạn
Bài tập 2 : Nghe các bạn trong lớp trả lời các câu hỏi ở bài tập 1, nói lại những điều em biết về một bạn
Hay bài tập 3 : Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1; 2 câu để tạo thành một câu chuyện ( dành cho học sinh khá giỏi )
Để tiện việc nghiên cứu , soạn bài và chuẩn bị tốt cho các tiết dạy dạng bài
kể ngắn tôi lập nội dung chương trình như sau: Ví dụ
1 Tự giới thiệu – câu và bài Bài tập 3 có tác dụng rèn kĩ năng kể
3 Sắp xếp câu trong bài – lập danh
sách học sinh Bài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể
5 Luyện tập về mục lục sách Bài tập 1 có tác dụng rèn kĩ năng kể
7 Kể ngắn theo tranh – luyện tập về
8 Mời nhờ, yêu cầu, đề nghị – kể
ngắn theo câu hỏi Bài tập 2: kể ngắn
10 Kể về người thân Trọng tâm cả tiết là rèn luyện kĩ năng
kể ngắn
13 Kể về gia đình Trọng tâm cả tiết là rèn luyện kĩ năng
kể ngắn
15 Chia vui – kể về anh, chị, em Bài tập 3 có tác dụng rèn kĩ năng kể
Trang 716 Khen ngợi – kể về con vật – lập
*Biện pháp 2: Lập hệ thống từ then chốt
Chúng ta biết rằng tư duy trừu tượng của học sinh lớp 2 còn rất hạn chế Việc yêu cầu học sinh kể ngay một sự việc nào đó dù là ngắn cũng rất khó khăn với các em Bởi vì vốn từ của các em còn hạn chế và nhất là việc sắp xếp ý vận dụng chuyên đề phân môn kể chuyện , tôi tổ chức cho học sinh lập hệ thống từ then chốt để phục vụ cho việc kể ngắn
Ví dụ : Dạy bài kể về gia đình em Cuối tiết tập làm văn trước tôi dặn dò học sinh về nhà dựa vào câu hỏi gợi ý lập hệ thống từ then chốt ( khoảng 6-từ).Trong tuần , trước khi học tập làm văn , tôi thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở việc lập
hệ thống từ then chốt của học sinh.Ngoài việc tổ chức học sinh lập hệ thống từ then chốt , tôi cũng lập một hệ thống từ then chốt ra bảng phụ để chuẩn bị cho tiết dạy
Ví dụ : dạy bài kể về gia đình
Hệ thống từ then chốt : Ông bà nội ; ông bà ngoại ,cha , mẹ, anh, em ; nông dân, cần cù,vui tính,học giỏi,yêu quý,tự hào.Đến giờ tập làm văn tôi cho học sinh mang hệ thống từ đã chuẩn bị để kể
Đối với học sinh khá giỏi tôi khuyến khích các em thoát li hệ thống từ then chốt để kể tự nhiên hơn
Đối với học sinh yếu tôi cho học sinh nhìn vào hệ thống từ then chốt trên bảng phụ để kể.Để đánh giá hiệu quả của biện pháp này tôi mời giáo viên trong
tổ dự giờ, góp ý bài dạy : Kể về người thân
Qua tiết dạy các đồng chí trong tổ nhận xét biện pháp đạt hiệu quả tốt và đồng tình vận dụng vào thực tế dạy học
*Biện pháp 3: Hướng dẫn học tốt các bài “trả lời câu hỏi”; “tập nói”
Để làm nền và giúp học sinh kể tốt Tôi tổ chức cho học sinh thực hiện tốt các bài tập trả lời câu hỏi ( tuần 1, tuần 5, tuần 8 và tuần 14) Bài tập “ nói lại –nhắc lại ” ở tuần 1, tuần 2.Sau đó nâng lên cho học sinh làm các bài tập sắp xếp lại thứ
tự các tranh và dựa theo nội dung các tranh để kể lại câu chuyện ; sắp xếp lại các
Trang 8câu cho đúng thứ tự của truyện.Ngoài việc yêu cầu học sinh trả lời đúng nội dung các em còn phải trả lời đầy đủ câu
Ví dụ : Bài tập làm văn tuần 5
+Câu hỏi : Bạn trai đang vẽ ở đâu?
+Trả lời : Đang vẽ ở trên tường ( đây là câu cụt)
Với câu hỏi trên tôi yêu cầu học sinh trả lời đầy đủ như sau :
+Trả lời đầy đủ : Bạn trai đang vẽ ở trên tường
Thực hiện nhiều lần như thế , kết quả cho thấy đã các em đã có thói quen trả lời thành câu đầy đủ Đây cũng là cơ sở để các em kể chuyện tốt
*Biện pháp 4: Tăng cường củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh
Trong quá trình giảng dạy tôi liên hệ những nội dung kiến thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn tập đọc, Luyện từ và câu với phân môn tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp Giúp học sinh có hiểu biết
về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt kết quả
Ví dụ:Khi học về chủ đề “ Ông bà”, “Cha mẹ”, “Anh em” (từ tuần 10 đến tuần 16), với rất nhiều những bài đọc thắm đượm tình cảm thương yêu trong gia đình, cùng với những tiết học phân môn luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình
là những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho học sinh thông qua các nhân vật trong bài tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hướng cho học sinh liên hệ đến bản thân, gia đình, người thân của mình, tôi còn cung cấp thêm từ ngữ, hướng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp với đề tài (ông bà, cha mẹ, anh em) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới (viết về người thân), tôi luôn nói với các em sự cần thiết phải học thuộc và lựa chọn những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi
và kích thích tinh thần học tập của các em
*Biện pháp 5: Tích cực hóa hoạt động nhóm trong học sinh
Nhóm, tập thể có vai trò rất lớn trong việc hình thành nhân cách học sinh
Người xưa có câu: “Không thầy đố mày làm nên” nhưng cũng có câu “học thầy không tày học bạn” Thông qua nhóm học sinh được trao đổi bày tỏ ý kiến của
Trang 9riêng mình Nếu ý kiến đúng sẽ được sự đồng tình của các bạn trong nhóm Ngược lại , nếu ý kiến chưa đúng , chưa đủ sẽ được các bạn góp ý và bổ sung để sửa chữa Có thể nói học theo nhóm là một phương pháp hay được giáo viên đưa vào nhiều tiết học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Mặt khác phương pháp học nhóm cũng khẳng định rõ vai trò của nó trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.Nhận thức được vấn đề này , tôi đã lựa chọn cách tổ chức sao cho hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao nhất , khắc phục được tình trạng học sinh lười suy nghĩ, ỷ lại Phương châm chia nhóm của tôi là: Làm sao cho tất cả các học sinh trong nhóm đều được tham gia hoạt động để khám phá kiến thức theo yêu cầu của giáo viên Tùy theo nội dung từng bài tập , tôi lại có các cách chia nhóm khác nhau
Ví dụ : Khi dạy nội dung xin lỗi (tuần 4)
Với BT2: Nói lời đáp của em trong mỗi trường hợp sau:
a.Em lỡ bước giẫm vào chân bạn
b.Em mải chơi ,quên làm việc mẹ đã dặn
c.Em đùa nghịch ,va phải một cụ già
Để giúp học sinh thực hành tốt các tình huống , tôi đã phân nhóm 2
Trong đó : HS1: Nói lời xin lỗi
HS2: Nói lời đáp
Còn với bài tập 1bài : Đáp lời chào – Lời tự giới thiệu (tuần 19) tôi lại chia học sinh theo nhóm 5( 1 em vai chị phụ trách sao ; 4em khác vai các em nhỏ trong sao nhi dồng )
Với cách phân nhóm như vậy , các em đã tham gia thực hành tốt Em nào cũng
cố gắng thể hiện tình huống một cách tự nhiên Giờ học nhờ đó sôi nổi , các em rất thích thú khi tham gia đống vai
Để hoạt động nhóm có hiệu quả , phát huy tính tự giác tích cực của học sinh thì vai trò người định hướng , bao quát lớp của giáo viên rất quan trọng, bên cạnh
đó , giáo viên cần quan tâm đến việc tuyên dương , khen ngợi kịp thời những nhóm hoặc cá nhân thực hành tốt Đồng thời nhắc nhở khéo với những học sinh chưa tập chung hoạt động nhóm
Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh còn được thể hiện trong quá trình nghe và nhận xét ý kiến của các bạn nhóm khác Khi đã lắng nghe và nhận xét được các
Trang 10ý kiến của bạn tức là các em đã tập trung cao vào hoạt động nhận thức Lời nhận xét đúng , đầy đủ là các điều kiện đánh giá học sinh đó có tập trung vào bài hay không
Nhận thức được vấn đề này , trong quá trình giảng dạy tôi luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến nhận xét của học sinh, giúp các em tự tin trong quá trình học tập
Từ những việc làm trên , tôi đã thu được một kết quả đáng khích lệ, cho đến nay đại đa số các em học sinh lớp 2A của tôi đều tích cực tham gia hoạt động nhóm
Dù vẫn còn những ý kiến chưa đúng , chưa đầy đủ song em nào cũng rất
hàohứng tham gia các hoạt động của nhóm Có những em nhút nhát như em Nguyệt ,Thùy Dương , Thảo, Dũng thế mà giờ đây đã mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình về nội dung tình huống thảo luận nhóm Em nào cũng thích mình được thực hành trước lớp và nói năng rõ ràng , có cử chỉ, thái độ phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể
*Biện pháp 6: Dạy theo quan điểm tích hợp
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn ( Tập đọc , Kể chuyện, chính tả, Luyện
từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.Thực hiện tốt quan điểm tích hợp góp phần khắc phục tình trạng “nghèo ý tưởng và vốn từ cho học sinh, giúp học sinh diễn đạt tốt , viết văn hay” Khi dạy phân môn Tập đọc, trong khâu củng cố tôi khắc sâu một số kiến thức nhằm chuẩn bị cho HS học phân môn tập làm văn
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc” Cô giáo lớp em”, trong khâu củng cố, tôi cho nhiều
HS, nhất là các em còn yếu nhắc lại hình ảnh cô giáo (Cô đến lớp sớm, cô rất chịu khó, thương yêu HS, luôn tươi cười với HS), tình cảm của HS đối với cô giáo (yêu quý cô giáo, ngắm mãi những điểm mười cô cho) để phục vụ cho tiết tập làm văn “Kể ngắn về cô giáo” Nhờ thực hiện biện pháp này trong tiết tập làm văn, học sinh khá giỏi kể chuyện mạch lạc, tự nhiên Khi viết đoạn văn các
em viết câu đúng đủ ý và hay Dạy tốt phân môn Luyện từ và câu để phục vụ cho HS làm bài tập làm văn
Ví dụ: Tuần 1, phân môn luyện từ và câu có bài tập 3: