CỘNG HÒA XÃ HỘI CỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Tên sáng kiến “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT, KỸ NĂNG, TƯ D
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến
“ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT, KỸ NĂNG, TƯ DUY SÁNG TẠO, ĐẠO ĐỨC, THẨM MỸ CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MỘT SỐ HỆ THỐNG CHUYỂN ĐỘNG KHI DẠY NỘI DUNG THẾ NĂNG TRỌNG
TRƯỜNG VẬT LÍ LỚP 10 THPT”
ĐỒNG TÁC GIẢ
1 Vũ Đắc Toàn - Hiệu trưởng trường THPT Kim Sơn A
2 Đặng Thị Huyền - Giáo viên Vật lí trường THPT Kim Sơn A
3 Trần Thị Thanh - Giáo viên Vật lí trường THPT Kim Sơn A
4 Nguyễn Thị Nghĩa - Giáo viên Vật lí trường THPT Kim Sơn A
5 Lê Thanh An - Giáo viên Vật lí trường THPT Kim Sơn A
Kim Sơn, tháng 5 năm 2022
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng công nhận sáng kiến cấp ngành
Chúng tôi gồm:
STT Họ và tên tháng Ngày
năm sinh
Nơi công
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ % đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
1 Vũ Đắc Toàn 19/8/1981
Trường THPT Kim Sơn A
Hiệu trưởng Thạc sĩ 10%
2 Đặng Thị Huyền 04/10/1984 THPT KimTrường
Sơn A Giáo viên Cử nhân 60%
3 Trần Thị Thanh 01/12/1980 THPT KimTrường
Sơn A Giáo viên Cử nhân 10%
4 Lê Thanh An 27/03/1983 THPT KimTrường
Sơn A Giáo viên Cử nhân 10%
5 Nguyễn Thị Nghĩa 27/07/1980 THPT KimTrường
Sơn A Giáo viên Cử nhân 10%
I Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất, kỹ năng, tư duy sáng tạo, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh thông qua việc thiết kế, chế tạo một số hệ thống chuyển động ứng dụng thế năng trọng trường vật lí 10 THPT ”
- Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục
- Thời gian áp dụng: tháng 2 và đầu tháng 3 năm 2021 phạm vi 2 lớp, năm 2022 cấp trường với 11 lớp khối 10
II Mô tả bản chất của sáng kiến
II.1 Về nội dung
II.1.1 Giải pháp cũ thường làm:
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với kĩ thuật, có rất nhiều ứng dụng thực
tế Tuy nhiên việc giảng dạy kiến thức Vật lí cho học sinh ở nhiều trường, nhiều giáo viên
Trang 3vẫn còn tiến hành xây dựng bài giảng theo hình thức “thông báo - tái hiện” Qua trao đổi tôi biết được có nhiều trường còn bỏ hẳn các tiết thí nghiệm thực hành, rất ít tổ chức cho học sinh các chủ đề dạy học theo hình thức thiết kế, chế tạo các sản phẩm vật lí từ việc vận dụng các kiến thức đã được học, điều này làm cho học sinh phổ thông có quá ít cơ hội để nghiên cứu, sáng tạo, phát triển năng lực tiềm ẩn của mình, không khơi dậy được niềm đam mê nghiên cứu, say mê khoa học kĩ thuật từ việc học môn Vật lí Hệ quả là khả năng vận dụng kiến thức được học của các em vào trong thực tế đời sống còn rất nhiều hạn chế, học mà không đi đôi với hành, học mà không biết vận dụng vào thực tiễn
Thực trạng của vấn đề dạy học nội dung bài Thế năng trong chương trìnhVật lí 10 THPT đang diễn ra hiện nay trong các trường THPT trong và ngoài tỉnh theo tôi quan sát và điều tra đang diễn ra như sau:
- Kế họach bài giảng nặng về phương pháp truyền thụ đơn thuần: học lí thuyết, giải bài tập, nêu tên một số ứng dụng, dặn học sinh về nhà tìm tòi, mở rộng kiến thức liên quan dưới dạng hình thức cho có lệ
- Giờ học nhàm chán, đơn điệu, áp đặt, không gây hứng thú với học sinh (HS) Giáo viên (GV)chưa tạo được tính giải trí trong học tập để học sinh đón nhận kiến thức một cách
tự nhiên, nhiệt tình, hứng thú Khi dạy học nội dung thế năng trọng trường, trường hấp dẫn thông thường các GV đang dạy theo hình thức rất đơn điệu Ví dụ như khi dạy nội dung bài
“Thế năng” giáo viên thường liệt kê 2 loại thế năng trọng trường, thế năng đàn hồi, công của lực thế và độ giảm thế năng, GV có nhắc đến trường hấp dẫn là trường thế như một cách thông báo tới học sinh Còn các nội dung liên quan như “Động năng”, “Cơ năng” cũng chỉ dừng lại ở mức nêu định nghĩa động năng, cơ năng và đưa ra các kết luận về bảo toàn cơ năng khi nào, viết công thức tính động năng, cơ năng, nếu có ngoại lực như lực ma sát thì
cơ năng không bảo toàn mà chuyển hóa một phần thành nhiệt
- Trong các kế hoạch bài dạy này hầu như GV không giao nhiệm vụ cho học sinh tự tìm
ý tưởng để đưa kiến thức được học vào việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm, các chi tiết, các
hệ thống chuyển động, các mô hình có ứng dụng thực tiễn cao
- Kế họach dạy học của GV thường xây dựng kiểu thuần túy đơn môn, không có tích hợp liên môn, không lồng ghép, tích hợp các nội dung khác nhau, GV môn nào chỉ dạy môn
đó, các môn học khoa học, công nghệ, toán học, tin học đang được dạy học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, do đó học sinh chưa học được kiến thức khoa học tổng thể phục
vụ cho cuộc sống và nghề nghiệp sau này
- Với mục tiêu của ngành giáo dục đang hướng tới là đề cao đến việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho người học Tuy nhiên bài học mà đa số các GV xây dựng chưa chú ý đến việc đề cao phong cách học tập sáng tạo, chưa đặt HS vào vai trò của một nhà phát minh, HS chưa hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; chưa biết cách mở rộng kiến thức; chưa biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề cần giải quyết GV chưa chú ý đến việc phát hiện và bồi dưỡng sự khéo léo
và khả năng sáng tạo của các HS, không kích thích các em phát minh ra những ý tưởng và
dự án mang tính sáng tạo và đổi mới
- GV ít dạy cho học sinh cách giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng các kỹ năng tư duy
phản biện, chưa dạy HS cách phân tích các vấn đề và lên kế hoạch để giải quyết chúng GV khi dạy học ít lồng ghép giáo dục học sinh tính kiên trì, bền bỉ, không cho học sinh thường xuyên thử nghiệm, HS không thấy được giá trị của sự thất bại trên con đường thành công, khiến cho các em chưa biết coi trọng thất bại và khó khăn trên con đường thành công của các em sau này nên HS sẽ khó chấp nhận nó
Trang 4- GV còn ít tổ chức cho HS làm việc nhóm đặc biệt là nhóm có nhiều thành viên, trong khi mỗi thành viên có một trình độ nhất định, ít cho HS hoạt động nhóm để xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh cho một nhiệm vụ nào đó với đầy đủ các bước như thu thập dữ liệu, lên ý tưởng, tìm hiểu thực tiễn, tra cứu thông tin, viết báo cáo, thuyết trình, báo cáo và giới thiệu sản phẩm
- GV chưa chú ý tạo điều kiện cho HS được tiếp cận với công nghệ mới, chưa thường xuyên dạy các em sẵn sàng đón nhận những cái mới trong công nghệ, chưa chú trọng việc dạy các em các kĩ năng biết thích nghi với cuộc sống
- Trong giờ tự chọn bám sát GV thường hệ thống công thức, nêu và đưa ra phương pháp giải các dạng bài tập thường gặp thế năng trọng trường, tính công của trọng lực Nhiệm vụ về nhà của học sinh chủ yếu là làm bài tập, học thuộc công thức, khái niệm, định nghĩa, định luật, rèn kĩ năng vận dụng tính toán
- Về hình thức kiểm tra đánh giá chủ đề đang nặng về kiểm tra trí nhớ, kiểm tra kĩ năng giải bài tập, chưa đề cao việc kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn
đề, việc kiểm tra hầu hết đơn phương do giáo viên tự ra đề, chấm và đánh giá
* Ưu điểm:
- GV không mất quá nhiều thời gian để xây dựng kế hoạch dạy học và không mất nhiều thời gian truyền thụ kiến thức cần học tới học sinh
- Học sinh nhớ lại kiến thức đã học, xâu chuỗi mối quan hệ của các kiến thức đã học
- Giải được các dạng bài tập liên quan đến kiến thức đã học và hình thành được kĩ năng giải bài tập, kĩ năng tính toán tốt
- Đáp ứng được yêu cầu của các đề thi và kiểm tra theo hình thức ghi nhớ, giải bài tập
- Học sinh học thuộc các công thức, định nghĩa, nắm được đặc điểm công của trọng lực, và năm được một số kiến thức vật lí liên quan đến nội dung bài học
- Biết đến một số ít ứng dụng của vật lí trong khoa học và đời sống
* Nhược điểm:
- HS không có cơ hội hình thành và phát triển năng lực của bản thân như: năng lực thực hành, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tự nghiên cứu
HS khó tiếp cận với thời đại công nghệ mới, không có kĩ năng thuyết trình, tư duy, phản biện, kĩ năng thiết kế, kĩ năng làm báo cáo, kĩ năng làm việc nhóm
- Nội dung bài giảng đơn điệu, nhàm chán, không kích thích sự ham học hỏi, tìm tòi, khám phá ở học sinh, không phát hiện được năng lực tiềm ẩn bên trong học sinh, không góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài để có định hướng nghề nghiệp tương lai từ nội dung bài học Nhiều học sinh rất có năng khiếu và đam mê kĩ thuật, nhưng nếu không được đặt vào tình huống có vấn đề các em sẽ không biết được bản thân có những năng khiếu và sở trường đó để phát huy
- Học sinh không biết ứng dụng thực tế của kiến thức được trang bị vào trong cuộc sống, HS không biết phát triển những kiến thức đã học vào phục vụ cuộc sống, không biết thiết kế hay chế tạo ra bất kì một loại máy móc nào hỗ trợ cho việc giảng dạy và sinh hoạt hàng ngày của gia đình và xã hội
- Không gây được hứng thú học tập cho học sinh cho nên có nhiều học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức: Lười suy nghĩ, lười hoạt động, chỉ ngồi nghe thầy giảng rồi ghi
Trang 5chép lại Đa số các em cho rằng Vật lí là môn học khó, khô khan, nhàm chán, kiến thức hàn lâm, GV dạy học kiểu áp đặt
- Nhiều học sinh chưa hiểu hết được các khái niệm như thế năng trọng trường, trường thế mà chỉ học thuộc như một cái máy, học mà không hiểu nội dung, học mà không biết nó
có vai trò như thế nào trong thực tiễn cuộc sống
- Nhiều em thiếu tự tin với kiến thức vốn có của mình, các em không dám chắc kiến thức mình có là đúng hay sai, không biết trả lời các câu hỏi lí thuyết, định tính, giải thích hiện tượng liên quan đến thực tế, đặc biệt với kì thi đánh giá năng lực hiện nay thì vấn đề thực tiễn được đưa vào bài thi nhiều nhưng học sinh hầu như không thể trả lời được
- Kế hoạch bài dạy không trú trọng đến rèn luyện kĩ năng thuyết trình của HS, nhiều HS khi được gọi lên trình bày một vấn đề nào đó còn nói lắp bắp, thiếu tự tin, diễn đạt lộn xộn không thành ý
- Hầu hết giáo viên đã và đang rất quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực cho HS, tuy nhiên với nội dung bài học này thì
GV thấy rất khó, mơ hồ, bế tắc nên đa số chọn các dạy học truyền thống kiểu thuyết trình, thông báo
Chính vì những phân tích ở trên tôi nhận thấy phương pháp dạy học (PPDH) hiện nay của hầu hết GV chỉ mới đáp ứng được về mặt ghi nhớ kiến thức, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải bài tập Trong khi mục tiêu giáo dục mà toàn ngành giáo dục cũng như cả nước đang hướng tới
là phát triển được năng lực toàn diện, tư duy sáng tạo, kĩ năng mềm Đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông mới được bắt đầu áp dụng vào năm học 2022 -2023 có 1 chủ đề bắt buộc là “Trường hấp dẫn” thì sáng kiến này như mở ra một ý tưởng rất sáng tạo cho việc xây dựng kế hoạch dạy học của chủ đề, nó đáp ứng được tất cả các mục tiêu mà toàn ngành giáo dục đang hướng tới
II.1.2 Giải pháp mới cải tiến.
Sáng kiến “Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất, kỹ năng, tư duy sáng tạo, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh thông qua việc thiết kế, chế tạo một số hệ thống chuyển động ứng dụng thế năng trọng trường vật lí 10 THPT ” của
chúng tôi đặc biệt được xây dựng giúp HS khi học tập sẽ phát triển đầy đủ các phẩm chất và năng lực như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; Những năng: năng lực
tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Bên cạnh đó nó còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh, định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong tương lai
II.1.2.1 Mục tiêu của chủ đề
Mục tiêu của chủ đề dạy học trong sáng kiến chúng tôi đặt đặt lên hàng đầu là: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển các phẩm chất nhân cách và năng lực của học sinh một cách toàn diện Đặc biệt trong sáng kiến này chú trọng năng lực vận dụng kiến thức của bài học vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn từ đó học sinh biết áp dụng được những gì đã học vào thực tế cuộc sống Điều này nhằm hình thành năng lực giải quyết các vấn đề cuộc sống và nghề nghiệp, biết thích ứng với những thay đổi của cuộc sống sau này của HS Phương pháp dạy học mà sáng kiến hướng tới là tạo ra những giờ học thú vị, sôi động và cuốn hút, học sinh được chủ động tham gia vào các hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức
Trang 6Từ đó phát triển các kỹ năng học tập của học sinh một cách toàn diện để giải quyết vấn đề,
dụng kiến thức giải quyết các nhiệm vụ gắn thực tiễn Tức là, HS có khả năng làm được gì sau khi học (vận dụng kiến thức) Phương pháp giáo dục dạy học mà SK đề cập tới sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc “tức thì” trong môi trường làm việc có tính sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi trí óc của thế kỷ 21 Điều này rất phù hợp với cách tiếp cận tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới
(Xem phụ lục I)
II.1.2.2 Kế hoạch dạy học của chủ đề.
Kế hoạch dạy học được xây dựng có sự kết hợp đa dạng các PPDH, các kỹ thuật dạy học tích cực Nội dung dạy học: ngoài các nội dung quy định trong chương trình thì còn có tích hợp liên môn với toán học, tin học, công nghệ, văn học và những trải nghiệm từ thực tiễn cuộc sống
Trong mỗi tiết học của chủ đề, học sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa học là thiết kế, chế tạo các hệ thống chuyển động gắn với nội dung của chủ đề, các hệ thống này sẽ trở thành mô hình dạy học của chủ đề, các mô hình này có thể được mở rộng phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của
HS Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức nền, tìm hiểu nhu cầu thực tế liên quan đến kiến thức của chủ đề (qua sách giáo khoa, học liệu, mạng internet, thiết bị công nghệ…) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra Các kiến thức
và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lí mà còn có thể thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày
Trong sáng kiến này GV đã đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là phong cách học tập sáng tạo Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người học
sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết Sự thẩm thấu kiến thức theo cách như vậy chính là một trong những định hướng giáo dục mà sáng kiến này của chúng tôi đề cập tới để khắc phục những nhược điểm của giải pháp cũ đã làm
II.1.2.3 Nội dung của chủ đề.
Thế năng trọng trường là một nội dung kiến thức rất quan trọng trong chủ đề các định luật bảo toàn và có khá nhiều ứng dụng thực tế, tuy nhiên khi học về nội sung này thì rất ít thí nghiệm, dường như không có thí nghiệm kiểm chứng, không tường minh hay riêng lẻ trong 1 sản phẩm nào đó, trong quá trình học không kích thích được hứng thú học tập từ học sinh Bài học trở lên gượng ép, nội dung không hấp dẫn và đặc biệt học sinh không biết vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống Xây dựng chủ đề dạy học này thông qua việc thiết kế, chế tạo các hệ thống chuyển động ứng dụng thế năng trọng trường sẽ giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo, kĩ thuật, tính toán, và đặc biệt là giúp học sinh hình thành các kĩ năng rất quan trọng trong cuộc sống hiện tại và sau này của các em như: kỹ năng tính toán;
kỹ năng lên kế hoạch; kỹ năng quan sát; kỹ năng thực hành; kỹ năng đánh giá; kỹ năng giao tiếp Để đạt được những mục tiêu, kế hoạch đề ra, trong sáng kiến này chúng tôi tổ chức kế hoạch dạy học thông qua việc thiết kế và chế tạo các hệ thống chuyển động ứng dụng thế năng trọng trường gồm:
Trang 7+ Hệ thống guồng nước giã gạo
+ Xe thế năng chạy bằng nước
+ Bộ thí nghiệm mô tả sự chuyển hóa giữa động năng và thế năng trọng trường + Mô hình thuỷ điện mini
Hình ảnh chi tiết cho các sản phẩm:
Trang 8Chi tiết kế hoạch hoạt động, bối cảnh thực tế và mục tiêu cụ thể:
(xem phụ lục II.1; II.2)
Kế hoạch giáo dục của chủ đề được xây dựng gồm 5 hoạt động chính:
(xem phụ lục II.3)
Dự trù thiết bị và vật tư cần thiết: (xem phụ lục II.4)
II.1.2.4 Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học của chủ đề:
* Hoạt động 1: Xác định yêu cầu thiết kế sản phẩm
(xem phụ lục II.4)
- Giáo viên phân tích và giao nhiệm vụ tới học sinh, hỗ trợ học sinh để học sinh hiểu rõ
yêu cầu cụ thể của chủ đề: “Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất, kỹ năng, tư duy sáng tạo, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh thông qua việc thiết kế, chế tạo một số hệ thống chuyển động ứng dụng thế năng trọng trường vật lí
10 THPT ” gồm:
+ Thu thập thông tin từ các nguồn học liệu khác nhau như: sách, báo, internet, từ thực tiễn cuộc sống…để tìm hiểu một số mô hình chuyển động dựa có sự chuyển hóa từ thế năng trọng trường sang các dạng năng lượng khác thông qua một số từ khóa: như guồng nước dân tộc, xe thế năng, trạm phát thủy điện mini…
+ Đưa ra được ý tưởng và phương án thiết kế sản phẩm của nhóm: thiết kế gì? mô hình hay sản phẩm cụ thể nào, các sản phẩm hay mô hình đó có cấu tạo như thế nào, nguyên tắc hoạt động dựa trên kiến thức vật lí nào, vật liệu, vật tư để làm được mô hình hay sản
phẩm đó giá cả ra sao? (Xem phụ lục III.1)
- GV xây dựng tiêu chí đánh giá sản phẩm và phổ biến tới học sinh để các em có định hình vè mô hình hay sản phẩm mình đưa ra cho phù hợp với yêu càu và tiêu chí đó
* Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền, đề xuất giải pháp
GV hướng dẫn HS nghiên cứu các kiến thức nền về bộ môn Vật lí, Toán học, Công nghệ, Tin học liên quan đến nội dung của chủ đề Về kiến thức Vật lí, học sinh cần nghiên cứu toàn bộ kiến thức nền chương “Các định luật bảo toàn” vật lí 10 THPT tổng hợp dưới dạng sơ đồ tư duy gồm các nội dung sau:
- Công và công suất (Bài 25 – Vật lí lớp 10)
- Động năng (Bài 25 – Vật lí lớp 10);
- Thế năng(Bài 26 – Vật lí lớp 10);
- Cơ năng, bảo toàn cơ năng, bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (Bài 27 – Vật lí 10);
Đồng thời, HS phải vận dụng các kiến thức cũ của các bài học:
- Chuyển động tròn đều (Bài 5 – Vật lí lớp 10);
- Lực ma sát (Bài 13– Vật lí lớp 10);
- Lực hướng tâm (Bài 14– Vật lí lớp 10);
Trang 9- Lực đàn hồi (Bài 12– Vật lí lớp 10);
- Bản vẽ kĩ thuật (môn công nghệ)
(Xem phụ lục III.2)
* Hoạt động 3: Đề xuất các bản thiết kế, lựa chọn phương án thiết kế sản phẩm
Trong hoạt động này chúng tôi tổ chức cho các nhóm học sinh:
+ Họp nhóm, mỗi cá nhân học sinh đưa ra được phương án thiết kế của mình, trình bày phương án trước nhóm về bản thiết kế của mình
+ Vận dụng các kiến thức nền đã được học và tìm hiểu để đưa ra ý kiến thảo luận, phản biện, chất vấn về cơ sở khoa học, nguyên tắc hoạt động, tính khả thi, dự trù kinh phí, vật tư vật liệu cần thiết nếu lựa chọn thiết kế của mình
+ Giáo viên hỗ trợ, ghóp ý, đặt câu hỏi về các giả thuyết tình huống phát sinh khi thiết
kế, chế tạo sản phẩm của từng nhóm, lưu ý HS nghiên cứu kĩ cấu tạo, công dụng, nguyên tắc hoạt động của một số sản phẩm như xe thế năng, guồng nước, mô hình thủy điện mini, các từ đó lựa chọn được phương án thiết kế tối ưu
+ Nhóm thống nhất và lựa chọn được phương án thiết kế tối ưu nhất cho sản phẩm của nhóm mình
+ Nhóm lên kế hoạch phân công nhiệm vụ đối với từng thành viên trong nhóm, chi tiết từng phần việc cụ thể, thời gian, địa điểm… để chuẩn bị cho việc bắt tay vào thiết kế, chế tạo sản phẩm
(xem phụ lục III.3)
* Hoạt động 4: Chế tạo và thử nghiệm sản phẩm
Các nhóm HS trực tiếp bắt tay vào chế tạo các sản phẩm của nhóm mình căn cứ trên bản thiết kế đã chỉnh sửa Giáo viên yêu cầu các nhóm nộp bản kế hoạch chi tiết cho việc thiết kế, chế tạo sản phẩm để theo dõi, nhắc nhở, động viên, hỗ trợ kịp thời Yêu cầu các nhóm cùng nhau đoàn kết, hết mình, hỗ trợ nhau cùng chế tạo sản phẩm
Sau khi chế tạo xong HS các nhóm thử nghiệm sản phẩm, phát hiện những lỗi sai để cùng nhau tìm cách khắc phục để có thể hoàn thiện được sản phẩm của nhóm mình
GV hướng dẫn, trợ giúp HS khi gặp khó khăn, giúp HS phân tích vấn đề sau mỗi lần thử nghiệm không thành công để rút ra cách khắc phục và sửa chữa nó
(Xem phụ lục III.4)
* Hoạt động 5: Trưng bày sản phẩm, thuyết trình báo cáo và phản biện
+ Trưng bày và báo cáo sản phẩm:
Trang 10- HS trình bày bản thiết kế, vật tư, kinh phí, tóm tắt kết quả các lần thử nghiệm, lưu ý, cách vận hành và thao tác vận hành được hệ thống chuyển động guồng nước giã gạo, máy phát điện mini, xe thế năng trực tiếp trước toàn bộ GV và HS về dự chuyên đề
- Giải thích được sự thành công hoặc thất bại của sản phẩm
- Đề xuất các ý tưởng cải tiến và phát triển sản phẩm với quy mô lớn hơn
- Trả lời câu hỏi phản biện của giám khảo và các thành viên về dự buổi báo cáo
(Xem phụ lục III.5)
+ Tổ chức cuộc thi đua xe: thi xe đi nhanh nhất và xe đi xa nhất
- GV tổ chức cho các nhóm đua xe thế năng với hai nội dung trao giải: xe đi nhanh nhất
và xe đi xa nhất từ đó rút ra kinh nghiệm trong thiết kế: muốn xe đi nhanh nhất phải lưu ý những gì trong thiết kế; muốn xe đi xa nhất thì phải lưu ý gì trong thiết kế
GV phổ biến hình thức đánh giá và tiêu chí đánh giá hoạt động Việc đánh giá hoạt động được xây dựng rất chi tiết theo từng tiêu chí cụ thể Tiêu chí đánh giá các hoạt động:
(Xem phụ lục IV)
+ Hình thức đánh giá: đánh giá đồng đẳng gồm GV đánh giá và HS đánh giá:
Học sinh đánh giá: GV tổ chức, hướng dẫn học sinh đánh giá dựa vào các bảng tiêu chí cụ thể của từng nội dung, vì đây là hình thức đánh giá mới nên GV có thể hỗ trợ giải thích cụ thể các tiêu chí cho các em nếu các em còn thấy băn khoăn, sau đó tiến hành việc đánh giá, có thể trên lớp hoặc ở nhà
Giáo viên đánh giá: Căn cứ vào mục tiêu của hoạt động về kiến thức, kĩ năng, thái
độ, năng lực cần đạt được thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo; căn cứ vào bảng mô tả các mức độ của quá trình thực hiện chủ đề (bảng 04 phụ lục IV), giáo viên đánh giá học sinh theo mẫu (mẫu 05 phụ lục IV)
(Xem phụ lục IV và hình ảnh minh hoạ phụ lục V)
Tính mới của sáng kiến : Thông qua việc tham gia vào các hoạt động giáo dục này,
học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ việc tìm kiếm thông tin, lên ý tưởng cho sản phẩm, thống nhất ý tưởng, tìm hiểu kiến thức nền, xây dựng bản thiết kế, lựa chọn thiết kế, vẽ thiết kế, chuẩn bị vật liệu, dụng cụ, dự trù kinh phí, chế tạo, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm, xây dựng kế hoạch báo cáo và giới thiệu sản phẩm, thuyết trình sản phẩm trong hội thi, theo dõi đánh giá kết quả hoạt động, tất cả các khâu đều rất phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của HS Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, được tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng sáng tạo và kĩ năng thích ứng với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống sau này Các hoạt động dạy học lôi cuốn học sinh tham gia chủ động, tích cực, hứng thú khiến cho việc ghi nhớ kiến thức được lâu hơn, sâu hơn Các môn toán học, tin học, công nghệ được tích hợp cùng trong chủ đề giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về lĩnh vực khoa học công nghệ từ đó tăng kĩ năng mềm cũng như các kĩ năng chuyên biệt của bộ môn