1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Skkn 2023) một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp một trong giờ học vần

18 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp Một trong giờ học vần
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 62,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.PHẦN MỞ ĐẦUI.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có vai trò quan trọng đó là cơ sở giúp các em học tốt tiếng mẹ

Trang 1

A.PHẦN MỞ ĐẦU

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có vai trò quan trọng đó là cơ sở giúp các em học tốt tiếng mẹ đẻ, có khả năng giao tiếp và tiếp thu các môn học khác được tốt hơn đồng thời nó còn góp phần trong việc rèn luyện tư duy, phương pháp suy luận, cách giải quyết vấn đề linh hoạt sáng tạo; giúp cho việc hình thành các phẩm chất cần thiết của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí và làm việc khoa học …

Học sinh Tiểu học nói chung, đặc biệt là học sinh lớp Một nói riêng với khả năng chú ý còn thấp, các em không thể tập trung vào một vấn đề nào đó trong một thời gian lâu Các em rất hiếu động, tò mò, thích khám phá, thích chơi hơn thích học Trong quá trình giảng dạy nếu giáo không cải tiến phương pháp dạy học, chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong Sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc, ít sáng tạo sẽ không động viên khích lệ các em kịp thời dẫn đến tình trạng học sinh học tập một cách thụ động, thiếu tự giác; giờ học diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao, gây nên tình trạng chán học, ở một số học sinh học lực yếu kém.Vì vậy muốn các em học tốt môn Tiếng Việt thì trong trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải

có những biện pháp hình thức và phương pháp dạy học có hiệu quả nên tôi đã

mạnh dạn đưa ra “ Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp Một trong giờ Học vần ”

II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu thực trạng về việc dạy học Tiếng Việt lớp một phần Học vần Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy và học Tiếng Việt ở lớp I phần Học vần

- Tìm ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh trong tiết Học vần lớp Một

III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học vần

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Tìm hiểu và điều tra thực trạng về việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lớp Một trong giờ Học vần

- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó

- Biện pháp khắc phục

Trang 2

- Áp dụng các biện pháp đó vào thử nghiệm cho học sinh.

- Những kết quả thu được

- Những kết luận và ý kiến đề nghị

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt lớp Một ( phần Học Vần)

- Phương pháp điều tra quan sát

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm

VI PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.

a Phạm vi áp dụng: Đề tài được thực hiện trong các giờ Học Vần với 29

học sinh ở lớp 1A4

b.Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022.

VI KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

cực, chủ động như thế nào trong giờ Học vần

+ Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới kết quả như đã quan sát

phục

+ Các giải pháp, tự rút kinh nghiệm

- Tháng 11/2021 đến

tháng 4/2022

+ Hội thảo tổ chuyên môn về các giải pháp đã thực hiện

+ Khảo sát kết quả và so sánh đối chiếu kết quả với thời gian trước khi vận dụng sáng kiến

+ Rút ra bài học kinh nghiệm

+ Đề xuất các ý kiến để phát huy tính tích cực, chủ động cho học sinh trong toàn trường

- Tháng 3/2022 đến

tháng 4 /2022

Hoàn thành việc trình bày sáng kiến kinh nghiệm

Trang 3

B.PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp Một:

Học sinh Tiểu học đang ở giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ về thể chất và tư duy Các em đọc sách, học bài nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng rất dễ quên do trẻ mải chơi hoặc do không tập trung vào việc học tập Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tạo hứng thú học tập cho các em Muốn vậy giáo viên phải áp dụng và sử dụng nhiều hình thức và phương pháp dạy học mới, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ Trong giờ dạy giáo viên phải gây chú ý cho học sinh bằng cách giúp trẻ vừa được học vừa được chơi với phương châm: “Học

mà chơi, chơi mà học” “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”

2 Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học

Ở lớp Một, mục tiêu dạy học Học vần được cụ thể hóa thành những yêu cầu

cơ bản về kiến thức và kỹ năng đối với học sinh như sau:

-Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: Yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn, yêu thích cái đẹp, cải thiện và có cảm xúc lành mạnh, có hứng thú học tập, ham thích lao động, thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống, có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh

- Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết,nói, nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản, hiểu được nội dung thông tin chính của văn bản liên hệ so sánh ngoài văn bản, viết đúng chính tả, ngữ pháp, viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn( Chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói

- Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện, nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật, có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học,

3 Yêu cầu cần đạt của chương trình Tiếng Việt lớp 1

Ở lớp Một yêu cầu cần đạt của dạy học Tiếng Việt được cụ thể hoá thông qua bốn kĩ năng: đọc, viết,nói, nghe như sau:

- Đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu( có thể đọc chưa thật đúng một số tiếng có vần khó ít dùng Đọc đúng rõ ràng đoạn văn hoặc văn bản ngắn Tốc độ đọc khoảng 40

- 60 tiếng trong 1 phút).Biết ngắt hơi ở chỗ có dấu phẩy, dấu kết thúc câu hay ở chỗ

Trang 4

kết thúc dòng thơ Bước đầu biết đọc thầm, đọc hiểu nội dung của bài: Hỏi và trả lời được những câu hỏi đơn giản liên quan đến các chi tiết được thể hiện tường minh.Trả lời được các câu hỏi đơn giản cơ bản về nội dung cơ bản của văn bản dựa vào gợi ý hỗ trợ

- Viết đúng chữ thường,chữ số ( từ 0 đến 9), biết viết chữ hoa Đặt dấu thanh đúng

vị trí Viết đúng quy tắc các tiếng mở đầu bằng các chữ c, k, g, gh, ng, ngh.Viết đúng chính tả đoạn thơ, đoạn văn có độ dài khoảng 30 – 35 chữ theo các hình thức nhìn – viết (tập chép), nghe – viết trong thời gian 15 phút Bước đầu trả lời được những câu hỏi như viết về ai? Viết về cái gì, việc gì?

- Nói và nghe: Nói rõ ràng thành câu Biết nhìn vào người nghe khi nói Đặt được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng vào nội dung câu hỏi Nói và đáp lại lời chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, phù hợp với đối tượng ngồi nghe Biết giới thiệu ngắn về bản thân, gia đình, đồ vật yêu thích dựa trên gợi ý Kể lại được một đoạn hoặc cả câu chuyện đơn giản đã học, xem hoặc nghe ( dựa vào tranh minh họa và lời gợi ý dưới tranh

-Nghe : Có thói quen và thái độ chú ý nghe người khác nói Đặt một vài câu hỏi để hỏi lại những điều chưa rõ Nghe hiểu các thông báo, hướng dẫn, yêu cầu, nội quy trong lớp học

- Nghe một câu chuyện và trả lời được các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu?

4.Nội dung chương trình và sách giáo khoa phần Học Vần lớp 1 ( Tập I bộ sách Kết nối tri thức).

4.1.Nội dung chương trình:

Mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở cấp Tiểu học, được “phân giải” thành các yêu cầu

cần đạt đối với các hoạt động: đọc, viết, nói, nghe Ngoài các kĩ năng Tiếng Việt , mục tiêu về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cũng đạt được thông qua các hoạt động này Để đạt được các yêu cầu về đọc, viết, nói, nghe ở mỗi lớp Chương trình quy định một số nội dung dạy học tối thiểu, bao gồm những kiến thức về Tiếng Việt, văn học và định hướng lựa chọn ngữ liệu

4.2.Cấu trúc sách giáo khoa:

Ở tập I gồm 83 bài: Ngoài các bài học ở Tuần mở đầu ( giúp HS làm quen với môi trường và hoạt động học ở lớp 1) và Tuần ôn tập, 16 tuần còn lại có 80 bài, mỗi tuần có 5 bài gồm cả bài Ôn tập và kể chuyện ở cuối tuần.Mỗi bài dạy trong 2 tiết, trình bày trong 2 trang sách, 1 trang chẵn và một trang lẻ Ngoài ra mỗi tuần còn có hai tiết tập viết tăng thêm ngoài thời gian tập viết trong các bài học Mỗi bài

Trang 5

gồm một hoặc một số âm- chữ( chữ cái và dấu thanh) hoặc vần; số lượng và độ khó của các âm – chữ, và vần trong một bài được tăng dần tương ứng với kĩ năng mà học sinh đã học được Các âm – chữ và vần được sắp xếp dựa vào một số căn cứ ,

cụ thể:

-Khả năng dùng các âm- chữ tổ hợp nên các tiếng, từ ngữ, câu gần gũi , thông dụng để học xong những chữ cái và dấu thanh đó có thể đọc và viết được nhiều tiếng, từ ngữ, câu

-Trình tự các con chữ trong bảng chữ cái và tính chất đồng dạng của chữ và vần; Chẳng hạn những chữ cái được dạy học đầu tiên là a,b,c…Các vần được chia theo nhóm gần nhau về âm và chữ viết như :an, ăn, ân, on, ôn ,ơn en,ên,in,un, am,

ăm, âm;…

-Độ thông dụng và độ khó của đơn vị ngôn ngữ cần học Những vần thông dụng nhưng có cấu trúc phức tạp khó đọc và viết thì được xếp vào cuối tập một.Những vần ít thông dụng ,đặc biệt là vừa ít thông dụng vừa khó ,thì được đưa vào tập hai

5 Phương pháp dạy học tích cực

5.1.Những dấu hiệu cơ bản của dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh:

- Coi trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh

- Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp nhận tri thức

- Tạo điều kiện để học sinh chủ động

- Chú ý hình thành khả năng tự học của học sinh

5.2.Tác dụng của dạy học phát huy tính tích cực của học sinh:

- Hợp với quy luật hoạt động họctập; Phát huy tính độc lập sáng tạo, hình thành thói quen tự học

- Nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể là làm cho học sinh:

+ Nắm vững, hiểu sâu và bền vững hơn về kiến thức

+ Luôn củng cố và phát triển cách học của mình

+ Giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể

+ Có tinh thần hợp tác với bạn bè

Trang 6

II THỰC TRẠNG

1.Thuận lợi:

- Chương trình sách giáo khoa được biên soạn trên cơ sở của việc đổi mới phương pháp dạy học Ở tập một, mỗi bài học trong 4 bài học hàng tuần đều được bắt đầu bằng hoạt động nhận biết âm - chữ hoặc vần chuẩn bị học Hoạt động này được thiết kế dưới dạng yêu cầu học sinh quan sát tranh , nhận biết nội dung tranh và nói hoặc đọc theo giáo viên câu thuyết minh tranh Câu này có chứa các âm chữ hoặc vần được học trong bài và thường thể hiện các sự việc, trạng thái có thể minh họa bằng hình ảnh trực quan Hoạt động nhận biết này tạo cho học sinh có hứng thú khám phá bài học sau hoạt động nhận biết là hoạt động đọc âm / vần, tiếng, từ ngữ; cuối tiết 1 là viết bảng mở đầu tiết 2 là viết vào vở Sau tập viết vào vở học sinh đọc câu / đoạn ngắn , cuối cùng là nói ( và nghe) theo nghi thức lời nói hay theo chủ điểm gắn với một nội dung của bài học.Phần đọc câu đoạn ngắn yêu cầu học sinh không chỉ có kĩ năng đọc thành tiếng mà còn có kĩ năng đọc hiểu mức độ đọc tăng dần theo nội dung học Từ tuần 1 đến tuần 10, bài 1 và bài 3 của mỗi tuần, phần nói dành để học sinh thực hành các nghi thức lời nói cơ bản được quy định trong chương trình, giúp các em phát triển kĩ năng chào hỏi, giới thiệu, cảm

ơn, xin lỗi, xin phép Trong bài ôn tập và kể chuyện cuối mỗi tuần , phần ôn tập giúp học sinh củng cố, phát triển kĩ năng đọc âm – chữ/vần và tiếng, từ ngữ, câu hoặc đoạn chứa âm – chữ/ vần được học trong tuần , viết chính tả từ tuần 1 đến 6: viết cụm từ , từ tuần 7 đến 16: viết câu ngắn) Phần kể chuyện giúp học sinh phát triển kĩ năng nghe, nói tưởng tượng, suy luận

- Được sự quan tâm của Bộ -Sở -Phòng Giáo dục và đặc biệt là trực tiếp Ban giám hiệu của nhà trường quan tâm đến việc đổi mới phương pháp (Tổ chức các tiết dạy chuyên đề, chốt lại quy trình tiết dạy, các băng đĩa hình minh hoạ, cách dạy từng dạng bài cụ thể )

- Việc học tập của học sinh hiện nay cũng được các bậc phụ huynh rất quan tâm

2.Khó khăn:

a Học sinh: Do trình độ học sinh nhận thức không đồng đều:Một số em bị

khuyết tật, một số em tiếp thu chậm, một số em tăng động chưa có ý thức học tập Những em này thường học trước quên sau, không nhớ hết âm và chữ cái, không biết ghép âm, vần thành tiếng, còn nhút nhát, tự ti, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động

Trang 7

b Giáo viên: Giáo viên còn sử dụng phương pháp dạy học và hình thức dạy học

chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao, chưa thu hút, lôi cuốn khiến học sinh chưa tự giác học tập gây nên tình trạng chán học ở một số học sinh yếu kém

3 Khảo sát thực tế

Khi chưa thực hiện đề tài này tôi đã khảo sát giờ Tiếng Việt (phần Học vần) của lớp Một kết quả như sau :

động học tập

Học sinh chưa thường xuyên chủ động học tập

Học sinh không tích cực chủ động học tập

Dựa vào kết quả trên, tôi nhận thấy tính tích cực, chủ động của học sinh còn kém

4.Nguyên nhân của thực trạng

*Về phía giáo viên:

- Còn nặng nề về cung cấp các kiến thức, chưa có biện pháp phù hợp, chưa chú ý đến việc tạo điều kiện giúp cho học sinh tự tìm tòi tiếp thu kiến thức

- Chưa chú ý động viên học sinh mạnh dạn, tích cực học tập

*Về phía học sinh:

- Các em vừa ở lớp mẫu giáo lên, quen với nếp vui chơi tự do, thoải mái theo

sở thích của mình Nhưng khi đi học, các em phải bước vào khuôn khổ, làm việc có nội quy, kỷ luật, có trách nhiệm là bước ngoặt khó khăn, bỡ ngỡ với các em

- Các em còn hay đãng trí, khó tập trung chú ý lâu, nhất là khi phải chú ý các đối tượng trừu tượng, ít hấp dẫn

5 Giải pháp:

- Từ thực trạng trên, tôi đưa ra một số giải pháp sau:

+ Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học

+ Sử dụng hệ thống câu hỏi hợp lí

+ Tổ chức “trò chơi học tập”

+ Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học

Trang 8

III.TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP

Biện pháp 1: Sử dụng đồ dùng dạy học Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu

được trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, học sinh nhận thức bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên có sự hỗ trợ của các đồ dùng dạy học Đồ dùng dạy học đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, quy tắc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo Đối với học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng

đồ dùng dạy học đặc biệt quan trọng vì nó giúp các em quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan cụ thể, giúp học sinh nhận thức sâu hơn nội dung bài học

1.Các loại đồ dùng dạy học môn TiếngViệt lớp Một:

- Tranh ảnh (Tranh vẽ, tranh sưu tầm, tranh động, tranh trong sách giáo khoa )

;Mô hình; Vật thật; Chữ mẫu;Bộ thực hànhTiếngViệt; Băng đĩa; Sách giáo khoa

2.Tác dụng của việc sử dụng đồ dùng dạy học:

- Đảm bảo được các thông tin chủ yếu về các hiện tượng, sự vật liên quan đến nội dung bài học

- Làm tăng hứng thú nhận thức của học sinh

- Đảm bảo tính trực quan, tạo cho học sinh tiếp cận nội dung bài học

- Tạo điều kiện mở rộng nội dung SGK cho học sinh

- Tạo điều kiện cho học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo

3 Một số lưu ý khi sử dụng đồ dùng dạy học: Việc sử dụng đồ dùng dạy học

cần:

- Gắn với nội dung của bài học Phù hợp với hình thức dạy học bộ môn Phù hợp với kế hoạch bài học: Đúng mục đích, đúng lúc, đúngchỗ

- Khi sử dụng: Cần định hướng cho HS quan sát; Khai thác triệt để đồ dùng dạy học

4.Cách sử dụng: Đồ dùng dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện

yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sau đây là một vài cách sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ học vần lớp

4.1.Cách sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật.

a Sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật để giải nghĩa từ

* Ví dụ dạy bài76: oan, oăn, oat, oăt

Trang 9

Khi học đến tiếng mới( xoan).Tôi cho học sinh quan sát cây xoan và giải nghĩa:Xoan là một lọai cây thân gỗ cây trưởng thành cao từ 7 đến 12 m Hoa xoan

có 5 cánh sắc tím nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành chùm Hoa có hương thơm Trong đoạn đọc có từ: chích bông Tôi cho học sinh quan sát hình ảnh con chim chích bông và giải nghĩa: chích bông là loại chim sống ở khu vực nhiệt đới tại Châu

Á Loại chim này thường có màu sáng với phần trên cổ có màu xanh lục

b Sử dụng tranh ảnh để minh hoạ cho câu/ đoạn ngắn

* Ví dụ dạy bài 11: I i- K k Khi học đến phần đọc : “ Kì đà bò ở kẽ đá “ Giáo viên treo tranh: ” “ Kì đà bò ở kẽ đá " và nói: Đây là bức tranh vẽ con kì đà Các em hãy quan sát bức tranh và cho cô biết:Kì đà bò ở đâu? Con biết gì về con kì đà ? Học sinh nhìn tranh sẽ trả lời dễ dàng Sử dụng tranh ảnh khi dạy câu ứng dụng, giúp học sinh hiểu thêm về nội dung câu ứng dụng

c Sử dụng tranh ảnh để giúp học sinh tái hiện nội dung ở phần luyện nói

* Ví dụ cũng ở bài 11: I i- K k Khi dạy chủ đề luyện nói " Giới thiệu " giáo viên

có thể tiến hành theo các bước:

- GV yêu cầu học sinh đọc chủ đề luyện nói trong SGK " Giới thiệu ”

- Hướng dẫn học sinh quan sát tranh minh hoạ (SGK) sau đó gợi mở bằng câu hỏi

để học sinh luyện nói theo chủ đề

- Nhận xét kết quả luyện nói của học sinh ( chú ý biểu dương học sinh mạnh dạn nói )

+ Lựa chọn và sử dụng ảnh minh hoạ đúng mục đích, đúng yêu cầu, nêu bật nội dung chủ đề luyện nói

d Sử dụng tranh ảnh trong Tiết ôn tập kể chuyện

4.2.Sử dụng các đồ dùng dạy học khác.

a Sử dụng mẫu chữ trong dạy tập viết:

* Ví dụ dạy viết chữ: h - Giáo viên đưa mẫu chữ h.Yêu cầu học sinh nhận xét độ cao của chữ h; phân tích.chữ h gồm mấy nét? Là những nét nào? Sử dụng mẫu chữ trong tập viết, giúp cho các em ghi nhớ được cách viết chữ bằng nhiều giác quan ( mắt nhìn, tai nghe ), giúp các em ghi nhớ lâu

b Sử dụng bộ đồ dùng dạy họcTiếngViệt

* Ví dụ dạy bài 32: on - ôn –ơn Giáo viên đưa lệnh yêu cầu học sinh:

+ Ghép vần on - ôn –ơn

+ Ghép tiếng khoá con Sau khi học các vần trên, giáo viên cho học sinh tự tìm và ghép tiếng, (có nghĩa) mang vần đã học Việc làm này giúp các em luyện tập thực

Trang 10

hành để vận dụng kiến thức,kĩ năng đã học một cách tích cực và sáng tạo,có khả năng phát triển vốn từ

Học sinh có thể ghép được rất nhiều tiếng, từ mang vần vừa học Chẳng hạn:

+ vần on: bón, đòn, gọn, lon ton

+ vần ôn: nôn, xôn, chốn ,

+ vần ơn: lợn, rờn, chờn, mơn mởn…

Sử dụng bộ thực hành TiếngViệt không những giúp học sinh nắm được cấu tạo của từ, viết được từ mà còn phát triển tư duy, các em được sử dụng tất cả các giác quan như mắt nhìn, tay cầm do đó các em sẽ ghi nhớ lâu; không những thế việc sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt còn làm giảm bớt sự khô khan của việc tìm từ mà còn làm lớp học thêm sinh động

c.Sử dụng sách giáo khoa: Ngoài việc cho học sinh quan sát tranh ảnh, mẫu chữ

trên bảng, thì việc khai thác các kênh hình, kênh chữ trong SGK là việc làm rất cần thiết Sách giáo khoa là một đồ dùng học tập không thể thiếu được trong mỗi tiết học Việc hướng dẫn các em biết cách sử dụng SGK, giúp các em phát huy được tính tích cực chủ động trong học tập; phát triển năng lực tự học - tạo nền móng cho việc học ở các lớp trên Việc dùng SGK còn giúp các em tiếp cận trực tiếp với văn bản, hiểu đúng văn bản Sách giáo khoa còn giúp giáo viên tiện lợi hơn trong việc thiết kế các hoạt động dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học

* Ví dụ: Khi dạy đọc tiếng, từ (câu) ứng dụng, giáo viên có thể cho học sinh đọc theo nhóm đôi các từ, câu trong sách giáo khoa, để nhiều em được luyện đọc hơn hay khi luyện nói, học sinh có thể dựa vào tranh ảnh trong sách giáo khoa để nói theo định hướng của tranh trong sách giáo khoa

Biện pháp 2: Sử dụng hệ thống câu hỏi.

1.Tầm quan trọng của việc sử dụng câu hỏi: Việc sử dụng câu hỏi trong dạy học

giúp phát huy trí lực của học sinh; là cơ hội để giáo viên hiểu học sinh của mình.Làm giờ học đỡ đơn điệu, tạo mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò

- Giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung phù hợp với các đối tượng học sinh; đưa ra những câu hỏi gợi ý tuỳ theo câu trả lời của học sinh mà không thoát ly khỏi mục tiêu bài học

- Trẻ em ham hiểu biết, hiếu động, việc đưa câu hỏi sẽ giúp các em suy nghĩ và hứng thú khi được trả lời ý kiến của mình

Ngày đăng: 19/06/2023, 15:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w