1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Skkn 2023) phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn thể dục

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục
Tác giả Nguyễn Xuân Tuấn
Trường học Trường Tiểu học Lãng Công
Chuyên ngành Thể dục
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2023
Thành phố Lãng Công
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 53,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là tác giả của SKKN: Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục.. Tôi xin cam đoan sáng kiến “Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục” là do

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÔNG LÔ

TRƯỜNG TIỂU HỌC LÃNG CÔNG

3 Biên bản triển khai SKKN

4 Biên bản đánh giá SKKN của HĐ cấp trường

5 Báo cáo SKKN

Lãng Công, năm 2023

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Sông Lô

Tên tôi là: Nguyễn Xuân Tuấn

(Có Báo cáo Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến và minh chứng kèm theo)

Sáng kiến của cá nhân đã được đăng tải trên Websize với link như sau : https://quantripgd.vinhphuc.endu.vn//Admin/Login.aspx?Key=pgđt

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật, nộidung SK không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toàn chịutrách nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn

Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BẢN CAM KỂT

Kính gửi: Hội đồng chấm SKKN cấp cơ sở huyện Sông Lô

Tên tôi là: Nguyễn Xuân Tuấn Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị: Trường Tiểu học Lãng Công

Là tác giả của SKKN: Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục

Tôi xin cam đoan sáng kiến “Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập

môn Thể dục” là do tác giả Nguyễn Xuân Tuấn nghiên cứu, tuyệt đối không sao

chép, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác, không sao chép sáng kiến của bản thân đã đề nghị công nhận từ những năm học trước

Ý kiến của nhà trường:

………

………

………

………

………

………

HIỆU TRƯỞNG

TÁC GIẢ

Nguyễn Xuân Tuấn

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

Họ và tên tác giả: Nguyễn Xuân Tuấn Chức vụ: Giáo viên

Trang 4

Đơn vị công tác Trường Tiểu học Lãng Công

Tên SK: Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục

2- Xây dựng hình ảnh người thầy chuẩn mực, gần gũi với học sinh

Kết quả chấm HĐ cấp trường:…… điểm

Xếp loại:………

HIỆU TRƯỞNG

TÁC GIẢ

Nguyễn Xuân Tuấn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

GIẤY XÁC NHẬN

Về việc áp dụng thử nghiệm các sáng kiến tại đơn vị

Kính gửi: BGH trường Tiểu học Lãng Công Tên tôi là: Nguyễn Xuân Tuấn

Trang 5

Sáng kiến này không chỉ khuyến khích sự tương tác tích cực và pháttriển tư duy sáng tạo của học sinh, mà còn tạo ra sự liên kết giữa môn thể dục

và các môn học khác, giúp học sinh nhận thức về sự tương quan và ứng dụngcủa kiến thức Tập luyện, giao lưu đối kháng các nội dung học cũng là mộtphần quan trọng trong sáng kiến này, giúp tạo ra môi trường học tập hiện đại vàhấp dẫn Nhờ vào sáng kiến này, giáo viên có thể tạo ra những hoạt động thực

tế, đồng thời khuyến khích học sinh khám phá và áp dụng kiến thức, kỹ năng

về sức nhanh, mạnh, khéo léo… vào cuộc sống hàng ngày

Tổng quan, sáng kiến kinh nghiệm " Phương pháp phát huy tính tự giác,tích cực học tập môn Thể dục" mang đến tính mới và tính sáng tạo trong việcgiảng dạy môn Thể dục Nó khuyến khích học sinh tương tác với thực tế, pháttriển tư duy sáng tạo, kết nối kiến thức và khám phá các ứng dụng của môn Thểdục trong cuộc sống, trong hoạt động TDTT Đồng thời, sáng kiến này cũng tạonên tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục

3 Quy mô áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến:

Sáng kiến kinh nghiệm " Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực họctập môn Thể dục" có khả năng áp dụng và nhân rộng trên quy mô rộng Đầu tiên, nó có thể được áp dụng trong giảng dạy môn thể dục trên toàn quốc,

không bị giới hạn bởi cấp học, địa lý hay cơ sở vật chất Các biện pháp và phương pháp trong sáng kiến có thể được thích nghi và áp dụng linh hoạt cho các môi trường giảng dạy khác nhau

Trang 6

Sáng kiến có khả năng nhân rộng bởi vì nó không chỉ áp dụng cho mộtgiáo viên cụ thể mà còn có thể được chia sẻ và đào tạo cho nhiều giáo viênkhác nhau Giáo viên có thể học từ kinh nghiệm và thực hiện các biện pháptrong sáng kiến, sau đó chia sẻ với các đồng nghiệp trong cùng trường hoặcđồng nghiệp cùng bộ môn Điều này tạo ra một hiệu ứng lan truyền và nhânrộng sáng kiến, giúp nâng cao tính ứng dụng thực tế trong giảng dạy môn Thểdục ở nhiều cấp học.

Ngoài ra, sáng kiến có khả năng được mở rộng đến cấp huyện, tỉnh, và

cả quốc gia thông qua các chương trình đào tạo và hỗ trợ từ phía chính quyền

và các tổ chức giáo dục Việc đẩy mạnh sự nhân rộng của sáng kiến này có thểmang lại lợi ích rất lớn cho hệ thống giáo dục, tạo ra sự thay đổi tích cực trongphương pháp giảng dạy môn Thể dục trên quy mô rộng

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị

(Ký tên, đóng dấu)

Lãng Công, ngày 22 tháng 5 năm 2023

Người xin xác nhận

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN CẤP TRƯỜNG

Trang 7

I Đánh giá nhận xét:

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

II Kết quả: Điểm chấm: …… điểm – Xếp loại:………

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết, TDTT là một bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại, là tổng thể các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội được sáng tạo nên và sử dụng hợp lý

Trang 8

nhằm hoàn thiện thể chất cho con người Đồng thời TDTT còn là một bộ phận quantrọng của giáo dục, nó xuất hiện cùng với xã hội và phát triển tuân theo các quy luậtphát triển xã hội Mục đích của thể dục thể thao là nhằm hoàn thiện thể chất và tinhthần cho nhân dân góp phần tích cực vào sự nghiệp" nâng cao dân chí đào tạo nhânlực và bồi dưỡng nhân tài ".

Ngay từ khi mới thành lập Nhà nước, cho đến ngày nay các hoạt động TDTT đangđược Đảng nhà nước quan tâm, đầu tư, phát triển mạnh mẽ Đặc biệt công tác giáodục thể chất trong nhà trường, với mục tiêu của giáo dục là phát triển học sinh mộtcách toàn diện

Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy hiệu quả của những giờ Giáo dục thể chất trong nhàtrường là chưa cao Nhiều học sinh thể hiện rõ sự căng thẳng, mệt mỏi… Nguyênnhân chính là do nhận thức của học sinh chưa thực sự sâu sắc về môn học Từ đó họcsinh không tạo cho mình hứng thú học tập, không phát huy được tính tự giác, tích cựctrong học tập

Định hướng trong đổi mới giáo dục là phát huy tính tự giác, tích cực, tự lực và sángtạo, phát triển năng lực hành động, năng lực công tác làm việc của người học là mụctiêu của cải cách giáo dục Nghị quyết trung ương 4 khóa VII, khóa VIII, Điều 28.2của Luật giáo dục là: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh”

Trong đời sống lao động, học tập, vui chơi….việc gì cũng phải có sự hưng phấn, tinhthần tự giác: tự giác học tập, tự giác lao động, vui chơi…

Đó củng chính là lý do tôi mạnh dạn nghiên cứu và làm Đề tài này với mong muốn làgiúp học sinh có được hứng thú và động cơ học tập đúng đắn phát huy tốt tính tự giáctích cực trong học tập môn thể dục, góp phần đưa hiệu quả của công tác giáo dục thểchất trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầu mà mục tiêu giáo dục đã đề ra

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Đề tài này với mục đích xác định thực trạng biểu hiện tính tự giác, tích cực trong giờhọc Thể dục của các em học sinh và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó,trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp phù hợp và áp dụng vào trong các giờ học Thểdục của học sinh trường tiểu học Lãng Công, nhằm giúp các em tự giác, tích cực hơntrong các giờ học môn Thể dục.

3 Tên sáng kiến:

Phương pháp phát huy tính tự giác, tích cực học tập môn Thể dục

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng:

+ Học sinh khối 2,3,5 trường TH Lãng Công huyện Sông Lô.

- Phạm vi:

+ Đề tài áp dụng cho các hoạt động tập luyện Thể dục thể thao nói chung

và công tác giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để học sinh say mê, hứng thú, tự giác học tập tôi đi sâu vào 5 phương pháp, 3vận dụng và 2 nguyên tắc sau:

- Xây dựng hình ảnh người thầy chuẩn mực, gần gũi với học sinh

6 Thời gian nghiên cứu:

Trang 10

Đề tài này đã được nghiên cứu và thử nghiệm từ năm học 2022- 2023

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I Cơ sở lý luận:

Xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về bản chất của conngưòi Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội,vừa là sản phẩm của hoạt động thực tiễn chính bản thân mình hoạt động của conngười luôn luôn có ý thức – mà ý thức là tiền đề phát minh tính tự giác tích cực, songbên cạnh đó cũng xuất phát từ mối quan hệ hữu cơ giữa hai mặt của quá trình dạyhọc Trong đó hoạt động dạy của giáo viên giữ vai trò chủ đạo, lãnh đạo điều khiểnhoạt động của người học Còn người học vừa là chủ thể, vừa là khách thể, hoạt độngtích cực, độc lập, sáng tạo Đây là yếu tố trực tiếp quyết định đến tính tự giác tíchcực Phát huy tính tự giác tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học không phảitập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phươngpháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy học thụ động

II Cơ sở thực tiễn:

Qua thực tế cho thấy hiệu quả của những giờ học tập, giảng dạy Giáo dục thểchất trong nhà trường là chưa cao Nhiều học sinh thể hiện rõ sự căng thẳng, mệt mỏi,chán nản không có hứng thú đối với môn học thường cảm thấy mệt mỏi sau mỗibuổi học tập mà chưa hiểu biết được về những biến đổi của các trạng thái sinh lý diễn

ra trong cơ thể trước vận động, trong vận động và sau vận động Nguyên nhân chính

là do nhận thức của học sinh chưa thực sự sâu sắc về môn học.Từ đó học sinh khôngtạo cho mình hứng thú học tập, không phát huy được tính tự giác, tích cực trong tậpluyện Ngoài ra giáo viên chưa thể hiện rõ vai trò của mình để giúp học sinh phát huytính tự giác, tích cực trong luyện tập

Trang 11

1.Tìm hiểu thực trạng công tác Giáo dục thể chất của học sinh khối 2,3,5 Trường TH Lãng Công.

Trong những năm qua, Trường TH Lãng Công luôn hoàn thành tốt và đầy đủ

chương tŕnh GDTC do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Nhà trường hiện nay có 02giáo viên giảng dạy môn Thể dục có tŕình độ đạt chuẩn, đây là những giáo viên cókinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt Đó là điều kiện thuận lợi cho các em tiếpthu được ý nghĩa quan trong của việc tập luyện thể dục thể thao thông qua những giờhọc trên lớp từ đó giúp các em tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất cũng nhưtham gia những hoạt động thi đấu thể thao Ngoài ra, hàng năm nhà trường đều thamgia đầy đủ các giải thể thao do ngành tổ chức và đă đạt được nhiều thành tích đángkhích lệ ở một số môn như: Đá cầu, Cầu lông, Bơi, bóng đá, cờ vua, điền kinh…Tuyvậy, hiện tại cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy môn Thể dục c ̣òn hạn chế Đó lànhững yếu tố làm ảnh hưởng đến các giờ học cũng như đến động cơ và hứng thú họctập của các em

2 Mức độ biểu hiện tính tự giác, tích cực trong môn Thể dục và các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ đó của học sinh khối 2,3,5 Trường TH Lãng Công.

Để t́ìm hiểu vì sao tình trạng thể chất của các em chưa cao như vậy chúng tôi đangtiến hành xác định thái độ của các em đối với môn học Thể dục và thu được kết quảnhư sau:

Môn học không có ý nghĩa, hình thức tập luyện nghèo nàn, xã hội đánh giá thấp, điềukiện sân bãi tập không phù hợp, không phải là môn học chính, thiếu dụng cụ tậpluyện, không có nhà đa năng…

Kết quả điều tra trên cho thấy số học sinh cho rằng “Điều kiện sân băi tập không phùhợp”, “Không có năng khiếu”, “Thiếu dụng cụ tập luyện” chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiênđây là những lí do xuất phát từ yếu tố khách quan nên có thể khắc phục được Các ýkiến xuất phát từ yếu tố chủ quan như “Không phải là môn học chính”, “Khó học”

Trang 12

hay “Môn học không có ý nghĩa” đây là những ý kiến theo chúng tôi là phản ánhđúng tâm tư và suy nghĩ của các em nhất nhưng đây thực sự là một trở ngại lớn tronggiảng dạy đòi hỏi giáo viên phải giải thích, phân tích cho các em hiểu để các em cóhứng thú hơn với môn học này Các ý kiến c ̣òn lại đều chiếm tỷ lệ thấp nên khôngđược xem là lý do chủ yếu Như vậy, qua tìm hiểu tôi đã rút ra được những lý dokhiến các em không thích học môn Thể dục, từ đó sẽ giúp tôi đưa ra các giải phápchính xác hơn.

III Các phương pháp nghiên cứu, thực hiện:

Để học sinh say mê, hứng thú, tự giác học tập tôi đi sâu vào 5 phương pháp, 3 vậndụng và 2 nguyên tắc sau:

*Trong phương pháp ngôn ngữ gồm 6 bước sau:

- Bước 1: Giảng giải:

Là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của phương pháp sử dụng ngôn ngữtrong dạy học TDTT

Trang 13

Phương pháp ngôn ngữ chủ yếu để cho giáo viên sử dụng ngôn ngữ để thuyếtminh cho học sinh hiểu rõ nhiệm vụ dạy học, tên động tác, kỹ thuật động tác và tácdụng của nó.

Cụ thể với mỗi bài học, giáo viên giảng giải cho học sinh nhận ra lợi ích củanội dung bài học và sau khi học xong một môn học, các em sẽ được những gì và nếunhư không học thì chúng sẽ không có những gì

Ví dụ:

Sau khi học xong nội dung trò chơi sẽ giúp học sinh có sức nhanh, sức mạnh,

sự khéo léo, tính độc lập, tình đoàn kết…

Trong mỗi giờ học, giáo viên làm mẫu động tác và phân tích chi tiết từng độngtác, tác dụng của mỗi động tác đến sự phát triển của cơ thể và thực tế đời sống …

Yêu cầu đối với phương pháp giảng giải chúng ta cần thực hiện 4 yêu cầu sau:

1 Giảng giải cần có mục đích chính xác và có ý nghĩa giáo dục

2 Giảng giải cần chính xác có tính khoa học

3 Giảng giải cần đơn giản, dễ hiểu Ngôn từ phải gần gũi với đời sống của cácem

4 Giảng giải cần có tính gợi mở

-Bước 2: Phân tích làm nổi bật chủ đề:

Là phương pháp nhấn mạnh vấn đề chủ yếu khi dạy học nhằm làm nổi bậttrọng điểm, điểm khó, mấu chốt và tồn tại

Ví dụ: 5 giai đoạn đá bóng, thì tiếp xúc bóng là quan trọng nhất? Vậy tiếp xúcbóng đá chúng ta cần chú ý điều gì? Để học sinh nắm được điều quan trọng đó

Ví dụ: Đá bóng gồm mấy giai đoạn? Mời học sinh trả lời? Khi học sinh trả lời

sẽ khắc sâu được kiến thức

Trang 14

- Bước 5: Liên hệ thực tế:

Là phương pháp giảng giải có thể liên hệ với thực tế Phương pháp này có tínhhấp dẫn với người nghe, làm cho học sinh có được sự gợi ý cụ thể, sinh động và hiệuquả

Ví dụ:

Học về Đội hình đội ngũ thì GV lấy hình ảnh Lực lưỡng vũ trang, hình ảnh anh

Bộ đội cụ Hồ duyệt đội hình đội ngũ ở ngoài thao trường hoặc trên thế giới các nướcphô trương sức mạnh Quân sự thông qua Đội hình đội ngũ…từ đó các em hiểu đượctầm quan trọng của môn học

- Bước 6: Sử dụng lời khen, lời động viên:

Khen ngợi là phần thưởng tinh thần to lớn với trẻ Đối với trẻ nhỏ, việc ghi nhận

và khen thưởng những hành vi tốt là một điều hết sức quan trọng Trẻ ở lứa tuổi nàychưa đủ vốn sống và kinh nghiệm để phân biệt hành vi của chúng là đúng hay sai, tốthay chưa tốt

Vì vậy, cần có sự ghi nhận và định hướng của người lớn Khi được khen ngợi, trẻchắc chắn sẽ hơn với những hành vi và khả năng của mình Từ đó, học sinh sẽ mạnhdạn, tự tin và được củng cố niềm tin, có động lực phấn đấu hơn

Khi trẻ làm chưa đúng, chưa tốt, giáo viên đưa ra các lời động viên giúp các emkhông tự ti và có sự nỗ lực cố gắng hơn nữa trong học tập để mình tốt hơn

2 Phương pháp trực quan:

Là phương pháp giáo viên làm mẫu hoặc dùng tranh, ảnh để hướng dẫn họcsinh từng giai đoạn kỹ thuật động tác cụ thể Phương pháp này giúp học sinh nắmđược các động tác một cách nhanh nhất

Phương pháp trực quan gồm có 3 bước sau:

a Bước 1: Thị phạm động tác:

Phương pháp trực quan là phương pháp thường dùng trong môn học thể dục

Nó có tác dụng giúp học sinh kiến lập biểu tượng động tác Thị phạm động tác cầnđẹp, nhẹ nhàng, chính xác… để góp phần gây hứng phấn cho học sinh luyện tập

Yêu cầu với Thị phạm động tác

- Thị phạm động tác phải chính xác và tách biệt 3 loại thị phạm dưới đây trong quá trình dạy học môn thể dục:

Câu hỏi đặt ra là:

Ngày đăng: 19/06/2023, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w