Các loại hàng hoá điển hình cho cửa hàng tiện ích có thể kể đến ở đây là các loại đồ ăn vặt đóng gói như kẹo, bánh, các loại đồ uống có ga, nước lọc, nước đóng chai như trà, cà phê, ngoà
Trang 1KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2NACs National Association of
Convenience Stores
Hiệp hội các cửa hàng tiện ích
Mỹ SKUs Stock Keeping Units
each of the distinct products and services that can be ordered from a
supplier
Mã hàng
POS Point of Sale/ Point of Service Hệ thống gồm phần mềm và các
thiết bị quản lý hàng hóa và
quản lý bán hàng
ATM Automated Teller Machine Máy rút tiền tự động WTO World Trade Oganization Tổ chức thương mại thế giới AVR Association of Vietnamese
FMCGs The Fast Moving Consumer Goods Nhóm hàng tiêu dùng nhanh
GRDI Global Retail Development Index Chỉ số tăng trưởng bán lẻ toàn
cầu
Trang 3I Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Thị trường bán lẻ Việt Nam hiện được tập đoàn tư vấn thị trường AT Keaney của Mỹ đánh giá là hấp dẫn hàng đầu trên thế giới, với mức chi tiêu cho các loại hàng tiêu dùng tăng 20% mỗi năm và tăng 23% năm 2007
Là thị trường hấp dẫn trong con mắt các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, sắp tới đây vào 1/1/2009 khi nước ta cho phép các nhà kinh doanh bán lẻ nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, dự kiến
sẽ có 3 tập đoàn bán lẻ lớn là Wal Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp) và Tesco (Anh) gia nhập thị trường Đây sẽ là sức ép cạnh tranh lớn cho các nhà bán
lẻ trong nước Trước tình hình đó, các doanh nghiệp bán lẻ trong nước đã
có nhiều biện pháp khác nhau nhằm nâng cao sức cạnh tranh, có doanh nghiệp đổi mới hiện đại hoá kinh doanh bán lẻ theo hình thức chuỗi siêu thị, nhưng cũng có không ít các doanh nghiệp chọn mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích hoặc kinh doanh hỗn hợp chuỗi siêu thị và cửa hàng tiện ích, đây là những bước đi đáng hoan nghênh nhằm hiện đại hoá trong kinh doanh cũng như giữ vững thị phần của các nhà bán lẻ trong nước
Mô hình cửa hàng tiện ích đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở nước ta một vài năm gần đây Đặc biệt năm 2006 chứng kiến sự nở rộ của mô hình này ở Việt Nam với sự ra đời hàng loạt chuỗi cửa hàng tiện ích Sự ra đời của một loạt các chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam là sự học hỏi của các nhà quản lý từ kinh nghiệm phát triển các chuỗi cửa hàng tiện ích tại các quốc gia như Thái Lan, Singapore và cũng
là đúc kết từ bài học thất bại của chuỗi cửa hàng đi trước như Masan Mart Vậy cửa hàng tiện ích là gì?Tại sao các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ này lại chọn mô hình cửa hàng tiện ích thay cho siêu thị và tại sao mở các chuỗi cửa hàng tiện ích vào thời điểm này?
Trang 4hình thức bán lẻ hiện đại này, tác giả quyết đinh chọn đề tài “ Chuỗi cửa hàng tiện ích và triển vọng phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích ở Việt Nam” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình Tác giả mong rằng
bài khoá luận tốt nghiệp của mình sẽ góp phần nào đó vào sự phát triển mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích nói riêng và hệ thống bán lẻ hiện đại ở Việt Nam nói chung
II Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khoá luận là dựa trên cơ sở lý luận và nghiên cứu phân tích thực tiễn sự phát triển của mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích trên thế giới cũng như các nước trong khu vực bên cạnh việc xem xét thành công của một số chuỗi cửa hàng tiện ích điển hình để từ đó phân tích triển vọng phát triển của các chuỗi cửa hàng tiện ích ở Việt Nam cũng như
đề ra một số giải pháp nhất định cho sự phát triển của mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về chuỗi cửa hàng tiện ích, nghiên cứu thực tiễn phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích tại một số quốc gia, phân tích các cửa hàng tiện ích thành công trên thế giới, khoá luận sẽ đánh giá triển vọng và đề xuất giải pháp nhằm phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích tại Việt Nam
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là mô hình
chuỗi cửa hàng tiện ích trong hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại cả về lý luận và thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của khoá luận giới hạn ở các
quốc gia tiêu biểu trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc
Trang 5những nước có hệ thống phân phối phát triển, Mỹ là quốc gia đầu tiên khai sinh ra mô hình siêu thị và cửa hàng tiện ích Còn Nhật Bản là đất nước có ngành kinh doanh cửa hàng tiện ích phát triển nhất trên thế giới với các tập đoàn kinh doanh cửa hàng tiện ích tiêu biểu được đề cập trong bài khoá luận là 7- Eleven và Family Mart Các quốc gia như Thái Lan và Trung Quốc có những bước phát triển rất gần với Việt Nam, là hai quốc gia mà hiện nay mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích kinh doanh khá thành công Đây
là hai quốc gia mà Việt Nam có thể tham khảo các chính sách vĩ mô của nhà nước về phát triển thị trường cũng như bảo hộ hợp lý cho ngành bán lẻ trong nước
IV Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của khoá luận dựa trên việc áp dụng phép duy vật biện chứng cùng các phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp và vận dụng sơ đồ, bảng biểu, đồ thị…
V Bố cục của khoá luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về chuỗi cửa hàng tiện ích
Chương II: Thực trạng chuỗi cửa hàng tiện ích ở Việt Nam
Chương III: Triển vọng phát triển và các giải pháp nhằm phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích ở Việt Nam
Trang 6Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo TS Lê Thị Thu Thuỷ_giáo viên hướng dẫn, người đã tận tình chỉ bảo và cho em nhiều lời khuyên quý báu, giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc
tế cùng toàn thể các thầy cô trong trường Đại học Ngoại Thương vì đã trang
bị cho em những kiến thức quý báu trong 4 năm học tại trường Cũng xin cảm
ơn gia đình và bạn bè vì những khích lệ động viên trong suốt quá trình em làm bài khoá luận Do hiểu biết, thời gian cũng như kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên bài khoá luận này không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và ý kiến đóng góp từ các thầy cô và bạn bè
để bài khoá luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHUỖI CỬA HÀNG TIỆN ÍCH
1 Khái niệm cửa hàng tiện ích và chuỗi cửa hàng tiện ích
1.1 Khái niệm cửa hàng tiện ích
1.1.1 Khái niệm
Tên gọi cửa hàng tiện ích hay còn gọi là cửa hàng tiện lợi là xuất phát từ
từ Convenience store hay c- store trong tiếng Anh Đúng như tên gọi của nó đây
là loại hình cửa hàng nhỏ và mở cửa với ưu tiên chính là tạo sự thuận lợi cho
những người mua hàng dù có nhiều khái niệm khác nhau về cửa hàng tiện ích
Các khái niệm đó được thể hiện như sau:
Theo từ điển tiếng Anh hiện đại bỏ túi Oxford (The Oxford Pocket
Dictionary of Current English) thì cửa hàng tiện ích là “một cửa hàng với giờ
mở cửa được kéo dài và ở một vị trí thuận tiện, cung cấp một số lượng hữu hạn
các loại rau quả và hàng tiêu dùng” Từ điển kinh doanh1 định nghĩa cửa hàng
tiện ích là “loại cửa hàng quy mô nhỏ đặt ở khu trung tâm, có đặc trưng là địa
điểm thuận lợi, mở cửa khuya và sắp đặt các loại hàng hoá hữu hạn cho sự thuận
tiện của người mua Các cửa hàng này có mặt bằng giá cả cao hơn so với các
siêu thị nơi cung cấp nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau” Còn theo Random
House Unabridged Dictionary 1997 cửa hàng tiện ích là “cửa hàng bán lẻ cung
cấp sự lựa chọn hữu hạn các loại hàng hoá cơ bản như đồ hộp và thuốc men và
nó mở cửa với thời gian dài để thuận tiện cho người mua”
Wikipedia đưa ra khái niệm cửa hàng tiện ích là những cửa hàng nhỏ,
thường được đặt bên cạnh những con đường đông dân cư hay ở cạnh trạm xăng
Nó có thể ở dưới dạng các trạm xăng cung cấp thêm dịch vụ bán lẻ cho
khách mua xăng hoặc là các cửa hàng tiện ích bán xăng bên cạnh các hàng hoá
Educational Series, Inc
Trang 8mà các cửa hàng này cung cấp Chủ yếu, các cửa hàng tiện ích thường ở những
khu vực dân cư đông đúc Ngoài ra nó có thể xuất hiện trong cả ga xe lửa Hàng
hoá mà cửa hàng tiện ích cung cấp thường là những mặt hàng thuận tiện, các
loại hàng hoá thiết yếu có tính năng sử dụng cao Các loại hàng hoá điển hình
cho cửa hàng tiện ích có thể kể đến ở đây là các loại đồ ăn vặt đóng gói như kẹo,
bánh, các loại đồ uống có ga, nước lọc, nước đóng chai như trà, cà phê, ngoài ra
có thể có kem, xổ số, báo và tạp chí.2
NACs_hiệp hội các cửa hàng tiện ích quốc gia Mỹ định nghĩa cửa hàng
tiện ích là mô hình kinh doanh bán lẻ với đặc trưng cơ bản là cung cấp cho
khách hàng một địa điểm thuận tiện nơi có thể mua một cách nhanh chóng các
hàng hóa tiêu dùng ( chủ yếu là thực phẩm hoặc thực phẩm và xăng) cũng như
dịch vụ
Tổng hợp các khái niệm trên, có thể đưa ra định nghĩa: “cửa hàng tiện ích
là loại hình cửa hàng nhỏ được đặt ở các địa điểm thuận lợi, có giở mở cửa dài
hơn so với các loại hình kinh doanh thương mại khác và cung cấp các mặt hàng
thiết yếu với chủng loại và số lượng có giới hạn”
Với các khái niệm được đưa ra trên, ta nhận thấy cửa hàng tiện ích chính
là một loại hình phân phối bán lẻ do hàng hoá được cung cấp đến tận tay người
tiêu dùng cuối cùng, hơn thế nữa cửa hàng tiện ích là mô hình kinh doanh bán lẻ
hiện đại bán hàng theo phương thức tự phục vụ : khách hàng tự do lựa chọn
hàng hoá và tự ra thanh toán tiền, toàn bộ quá trình mua hàng hoàn toàn không
cần đến sự xuất hiện của nhân viên bán hàng
1.1.2 Đặc điểm cửa hàng tiện ích
Dù khác biệt về quy mô hay số lượng hàng hóa thì một cửa hàng tiện ích
cũng luôn có những đặc điểm sau:
2
http://en.wikipedia.org/wiki/Category:Convenience_stores
Trang 9 Địa điểm đặt cửa hàng tiện ích là ở những vị trí thuận lợi: những khu vực
tập trung đông dân cư, trạm xe, ga tàu hỏa và được thiết kế thuận tiện cho
khách hàng, có chỗ đỗ xe hay lối đi thuận tiện cho người đi bộ vào cửa
hàng
Cửa hàng tiện ích có quy mô nhỏ Theo NACs dù khác nhau rõ rệt về quy
mô thì một cửa hàng tiện ích điển hình sẽ có diện tích từ 5000 feet vuông
(150 m2) trở xuống
Cửa hàng tiện ích có thời gian mở cửa dài và mở cửa cả 7 ngày trong tuần,
mở cửa đến đêm khuya, thường thì các cửa hàng này mở cửa phục vụ
khách hàng khoảng 16 tiếng trong ngày, đóng cửa vào lúc 12 giờ và mở
cửa vào 6 giờ sáng hôm sau nhưng tại các nước phát triển như Mỹ và
Nhật Bản và gần đây là nhiều nước khác nhiều chuỗi cửa hàng tiện ích mở
cửa 24/24
Số hàng hóa trong cửa hàng tiện ích luôn ở mức lớn hơn hoặc bằng 500
SKUs
Hàng hóa bày bán ở các cửa hàng tiện ích là các hàng hóa thiết yếu, thuận
tiện cho nhu cầu sử dụng của khách mua hàng, thường đó là thực phẩm
đóng hộp, đồ uống, đồ ăn vặt, sách báo tạp chí, hàng tạp hóa, đồ dùng vệ
sinh cá nhân có khi còn có cả đồ văn phòng, đồ mỹ phẩm Các cửa hàng
tiện ích cũng cung cấp cả đồ ăn nhanh như sandwichs, hamburger, bánh
mỳ baguettes Nhưng có những loại hàng hóa sau là đặc trưng của cửa
hàng tiện ích, đó là: hàng tạp hóa, đồ uống, đồ ăn nhẹ và thuốc lá.3
1.1.3 Vị trí của cửa hàng tiện ích
Bên cạnh các loại hình phân phối khác trong quá trình phân phối hàng hóa
dịch vụ, cửa hàng tiện ích đóng vai trò 1 kênh phân phối bán lẻ đưa hàng hóa từ
phía các nhà cung cấp đến trực tiếp tận tay khách hàng
3
http://www.nacsonline.com/NACS/Resource/IndustryResearch/what_is_a_cstore.htm
Trang 10Qua sơ đồ dưới đây, ta có thể thấy vị trí của loại hình cửa hàng tiện ích
trong hệ thống phân phối hiện đại Là một mắt xích trong hệ thống phân phối,
của hàng tiện ích trực tiếp cung cấp các loại hàng hoá đến tay những người tiêu
dùng cuối cùng, bên cạnh các siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng bách hoá, cửa hàng
đại hạ giá, các trung tâm thương mại
Sơ đồ 1 :Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng hiện đại
Tổng hợp theo Marketing Essential_giáo trình Marketing căn bản (Philip
Kotler,NXB Thống Kê , 1999)
1.2 Khái niệm chuỗi cửa hàng tiện ích
Chuỗi cửa hàng tiện ích là tập hợp các cửa hàng tiện ích của cùng một nhà
phân phối, được đặt ở các địa điểm khác nhau nhưng cùng thống nhất với nhau
Nhà sản xuất
Đại lý, môi giới
Người bán buôn
Người bán lẻ Người bán buôn
CH bách hoá
Cửa hàng đại
hạ giá
CH thông thường
Trung tâm thương mại
CH chuyên doanh
Người tiêu dùng
Trang 11về cỏc yếu tố: biển hiệu, giỏ cả, cỏc loại hàng hoỏ, phương thức quản lý quầy
hàng, cỏch thức trưng bày hàng hoỏ cũng như hỡnh thức cửa hàng
2 So sỏnh cửa hàng tiện ớch với siờu thị
Cửa hàng tiện ớch Siờu thị
Chủng loại hàng húa Hạn chế, chủ yếu là hàng tạp
húa, đồ ăn nhẹ và đồ uống, bỏo và tạp chớ, xăng là mặt hàng thường thấy
Phong phỳ, nhiều chủng loại, số lượng hàng gấp nhiều lần cửa hàng tiện ớch, khụng bỏn xăng
Thời gian khỏch
hàng mua hàng
Ngắn (thường dưới 10 phỳt) Dài (cú thể lớn hơn 20
phỳt đến 1, 2h)
thông th-ờng
Ngang bằng hoặc cao hơn giá hàng ở chợ, thấp hơn
so với cửa hàng tiện ích
dịch vụ Giao hàng hóa tận nhà, gói
quà, chuyển phát nhanh, đặt
vé tàu xe, trả hóa đơn điện, n-ớc, điện thoại
Không có các dịch vụ này
Khả năng tiếp cận Dễ vì th-ờng gần khu đông
dân c-, có lối đi dễ dàng cho ng-ời đi bộ vào cửa hàng
Khó hơn vì th-ờng nằm trong khu buôn bán hoặc
xa khu trung tâm do diện tích rộng
Trang 12Bãi đỗ xe Hẹp, có thể có hoặc không,
đỗ nhiều nhất 8~10 ôtô với cửa hàng tiện ích quy mô lớn
Rộng, có thể chứa hàng trăm ôtô
3 Ưu điểm và nh-ợc điểm của chuỗi cửa hàng tiện ích
3.1 Ưu điểm
Cửa hàng tiện ích khác biệt vì những -u điểm sau đây:
Ưu điểm nổi bật của loại hỡnh cửa hàng tiện ớch là thời gian mở cửa kộo
dài, từ 16~24h/ ngày, khỏch hàng cú thể mua hàng bất cứ thời điểm nào
tại những cửa hàng tiện ớch gần nơi họ sống vỡ cỏc cửa hàng này thường
được đặt trong cỏc khu dõn cư tiện cho nhu cầu của khỏch hàng
Thuận tiện cho khỏch hàng cần mua hàng nhanh chúng, khỏch hàng cú thể
dễ dang tỡm thấy thứ mỡnh cần chỉ trong một vài phỳt ở cỏc cửa hàng tiện
ớch trong khi họ sẽ mất nhiều thời gian hơn ở cỏc cửa hàng thụng thường
Dịch vụ đa dạng so với cỏc loại hỡnh bỏn lẻ hiện đại khỏc, cỏc cửa hàng
tiện ớch cú dịch vụ đưa hàng đến tận nhà, gúi quà tặng, bỏn vộ, thẻ điện
thoại, dịch vụ thư tớn, chuyển phỏt nhanh , những dịch vụ khú thấy ở cỏc
siờu thị, cửa hàng bỏch húa, trung tõm thương mại
So với cỏc mụ hỡnh cửa hàng truyền thống thỡ hàng húa trong cửa hàng
tiện ớch được niờm yết rừ ràng, khụng gian sạch sẽ, hàng bày bỏn cú
nguồn gốc xuất xứ rừ ràng, khỏch hàng tự do lựa chọn hàng húa
3.2 Nhược điểm
Tuy nhiờn cỏc cửa hàng tiện ớch cũng cú những nhược điểm nhất định, đú là:
Hàng húa ở cửa hàng tiện ớch cú số lượng và chủng loại hạn chế nếu so với
siờu thị hay cửa hàng bỏch húa, cỏc loại hàng húa như vật dụng gia đỡnh, đồ
Trang 13dùng nhà bếp thường không có, vì vậy mà lượng khách hàng và khối lượng
hàng hóa bán được không thể so sánh được với các loại hình bán lẻ này
Giá cả các mặt hàng ở cửa hàng tiện ích thường cao hơn giá thông thường
của hàng hóa ở siêu thị hay chợ, đây là điểm khiến một số người tiêu dùng
có thu nhập thấp hoặc vừa phải không thích loại hình này
Đặc điểm cơ bản của loại cửa hàng này là vị trí thuận tiện, ở nơi đông dân
cư nên giá thuê mặt bằng là không hề nhỏ, tốc độ quay vòng vốn lại chậm
do hàng hóa chủ yếu là hàng bách hóa
4 Các dạng cửa hàng tiện ích
Theo NACs (hiệp hội cửa hàng tiện ích Mỹ), trước đây, hầu hết các cửa
hàng tiện ích đều giống nhau ít ra là về quy mô_2400 feet vuông( xấp xỉ 72m2)
với các loại hàng hóa đóng gói, nhưng đến nay, các doanh nghiệp trong ngành
công nghiệp này đã tiếp cận thị trường với những loại hình cửa hàng tiện ích
khác nhau cũng như những loại hình hàng hóa khác nhau Xuất hiện các cửa
hàng tiện ích mini, các cửa hàng tiện ích với quy mô truyền thống nhưng dịch vụ
ăn uống đa dạng hóa và cả những cửa hàng tiện ích ở dạng “hyper”, quy mô lớn
với nhiều loại hàng hóa và chỗ ngồi cho khách hàng dành cho việc ăn uống ngay
trong cửa hàng Đến nay, phân đoạn được coi tăng trưởng nhanh nhất trong
ngành kinh doanh cửa hàng tiện ích chính là các cửa hàng “không truyền
thống”_chính là các cửa hàng thiết kế với diện tích khác biệt với con số 2400
feet vuông, hoặc lớn hơn, hoặc nhỏ hơn
NACs chia các cửa hàng tiện ích hiện nay thành sáu dạng, đó là:
1) Ki ốt (Kiosk)
2) Cửa hàng tiện ích mini (Mini Convenience Store)
3) Cửa hàng tiện ích hàng hóa hạn chế (Limited Selection Convenience
Store)
Trang 144) Cửa hàng tiện ích dạng truyền thống (Traditional Convenience Store)
5) Cửa hàng tiện ích mở rộng (Expanded Convenience Store)
6) Cửa hàng tiện ích cấp cao (Hyper Convenience Store)
Dưới đây là chi tiết về các dạng cửa hàng tiện ích nói trên:
4.1 Ki ốt (Kiosk)
Kiosk là dạng cửa hàng tiện ích với diện tích ít hơn 800 feet vuông
( khoảng 24m2) bán một số hàng hóa phụ trội bên cạnh việc bán xăng ở các cửa
hàng dạng này xăng dầu mới là hàng hóa chính và chủ sở hữu loại hình cửa hàng
này thường là các công ty hoặc nhà phân phối xăng dầu Hàng hóa bày bán là
các loại thuốc lá, đồ uống, đồ ăn nhẹ, bánh kẹo Các loại hàng tạp hóa cũng như
dịch vụ ăn uống hoàn toàn không có Doanh thu từ bán xăng chiếm khoảng 9
phần, phần thu về từ các loại hàng hóa trong cửa hàng chỉ chiếm 1/10 Nơi đỗ xe
của cửa hàng luôn là tại chỗ bơm xăng Giờ mở cửa của loại hình cửa hàng này
khác nhau tùy theo địa điểm và sự ưu tiên của người chủ sở hữu Khách mua
hàng chủ yếu là người qua đường hay người dân địa phương lái xe vào mua
xăng
4.2 Cửa hàng tiện ích mini (Mini Convenience Store)
Loại hình cửa hàng này với diện tích từ 800 đến 1200 feet vuông
(24m2~36m2) cực kỳ phổ biến với các công ty xăng dầu và cũng với mục đích
để bán xăng Tuy nhiên, ở những nơi như các cửa hàng này, người chủ sở hữu
nó coi việc bán hàng hóa là một phần quan trọng của doanh thu và lợi nhuận Có
hàng tạp hóa nhưng hạn chế và dịch vụ ăn uống đa phần là sandwiches làm sẵn
Thường không có chỗ đỗ xe nào khác ngoài chỗ bơm xăng dù một số cửa hàng
có chỗ đỗ xe hẹp và giờ mở cửa thường từ 18 giờ/ ngày đến 24 giờ/ ngày Khách
hàng thường xuyên của loại cửa hàng tiện ích này là những người mua xăng
nhưng cũng có những cửa hàng với quy mô như vậy trong nội thành không bán
xăng
Trang 154.3 Cửa hàng tiện ích hàng hóa hữu hạn (Limited Selection Convenience Store)
Ngày càng xuất hiện nhiều các cửa hàng tiện ích loại này với diện tích từ
1500~ 2200 feet vuông (45m2~66m2), thường đi với trạm xăng dưới dạng một
điểm 2 dịch vụ, cả xăng và hàng hóa bán trong cửa hàng đều là những phần
quan trọng của lợi nhuận nhưng chúng khác các cửa hàng tiện ích mini ở chỗ
danh mục hàng hóa đa dạng hơn và bán cả hàng tạp hóa (dù vẫn ít hơn nếu so
với cửa hàng tiện ích dạng truyền thống) Các cửa hàng dạng này cũng bán thức
ăn như hotdog, bắp rang bơ Mặc dù khách mua xăng vẫn là nhóm khách hàng
chính nhưng những khách mua hàng quen thuộc kiểu cửa hàng tiện ích truyền
thống cũng rất quan trọng với các cửa hàng này Giờ mở cửa dài và bãi đỗ xe
cũng là những đặc điểm của các cửa hàng loại này
4.4 Cửa hàng tiện ích truyền thống (Traditional Convenience Store)
Hầu hết các cửa hàng tiện ích rơi vào loại này với diện tích từ 2400 ~
2500 feet vuông (72m2~75m2) và hàng hóa đa dạng với các loại bơ sữa, bánh
mỳ, đồ ăn nhẹ, đồ uống, thuốc lá,hàng tạp hóa, dược phẩm và mỹ phẩm, bánh
kẹo, có cả đồ ăn nhanh, thịt tươi và đông lạnh, xăng, một số hàng hóa riêng biệt
của cửa hàng và nhiều dịch vụ Hầu như các cửa hàng này có từ 6 đến 12 chỗ đỗ
xe ôtô và các lối đi thuận tiện cho người đi bộ vào cửa hàng Giờ mở cửa kéo dài
nếu so với các loại hình bán lẻ khác với phần lớn các cửa hàng mở cửa 24 giờ
trong ngày Những cửa hàng loại này thường thuộc về các chuỗi cửa hàng tiện
ích, nhưng một số công ty xăng dầu cũng xây dựng hay có được một số các cửa
hàng loại này
4.5 Cửa hàng tiện ích mở rộng (Expanded Convenience Store)
Các cửa hàng loại này có quy mô từ 2800 đến 3600 feet vuông
(84m2~108m2) và cũng đang tăng lên về số lượng Chúng có thêm nhiều không
gian cho hàng tạp hóa các loại cũng như nhiều loại đồ ăn nhanh và thêm nhiều
ghế ngồi cho khách hàng Các cửa hàng tiện ích dành nhiều diện tích cung cấp
các loại hàng tạp hóa đa dạng đang có được lợi thế khi mà quy mô của các siêu
Trang 16thị ngày càng mở rộng đến hơn 40.000 feet vuông(1.200m2) Một số chuỗi cửa
hàng tiện ích lớn đang tận dụng ưu thế này trong khi phần nhiều các chuỗi cửa
hàng tiện ích lại sử dụng không gian để thu lợi nhuận từ đồ ăn nhanh Lý do là vì
sự gia tăng nhanh chóng số lượng các cửa hàng tiện ích loại vừa và nhỏ (nguyên
nhân chính là từ các công ty xăng dầu) nên nhiều chuỗi cửa hàng tiện ích cho
rằng việc chuyển đổi thêm các đồ ăn nhanh là cần thiết Các hàng hóa và dịch vụ
của các cửa hàng này ngoài điểm khác biệt trên thì cũng giống như một cửa
hàng tiện ích thông thường Bãi đỗ xe của loại cửa hàng này thường có từ 10 đến
20 chỗ đỗ xe ôtô Các cửa hàng loại này có giờ mở cửa kéo dài và thu hút
không chỉ những khách hàng điển hình của cửa hàng tiện ích mà còn cả các gia
đình, phụ nữ và người về hưu
4.6 Cửa hàng tiện ích cấp cao (Hyper Convenience Store)
Những cửa hàng cực kỳ rộng này sắp xếp hàng hóa và dịch vụ theo từng
gian hàng Trong các cửa hàng loại này có sự phân biệt rõ rệt: quầy bánh mỳ,
khu nhà hàng, gian thuốc Có nhiều cửa hàng dạng này bán xăng và lượng nhân
viên mỗi ca làm việc là khá nhiều đặc biệt là khi trong cửa hàng có một nhà
hàng nhỏ Bãi đỗ xe rộng rãi và thì giờ khách hàng dành cho những cửa hàng
này cũng nhiều hơn so với các loại cửa hàng tiện ích còn lại Giờ mở cửa kéo dài
và khách hàng cũng đa dạng như là loại hình cửa hàng tiện ích mở rộng 4
II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH CỬA HÀNG TIỆN ÍCH TRÊN THẾ GIỚI
1 Sự ra đời của cửa hàng tiện ích
Các cửa hàng tiện ích là mô hình tiếp theo mang nhiều đặc tính của rất
nhiều các dạng cửa hàng tồn tại ở những thập niên đầu thế kỷ 20: các cửa hàng
rau quả, cửa hàng bơ sữa, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng bán đá (ở thời kỳ chưa có
tủ lạnh) và còn mang cả đặc điểm của siêu thị thời kỳ này
4
http://www.nacsonline.com/NACS/Resource/IndustryResearch/what_is_a_cstore.htm
The following information is taken from the NACS research report Convenience Store Industry Marketing Strategies and Store Formats
prepared by Gene Gerke of Gerke & Associates, Inc
Trang 17The Southland Ice Company_một công ty bán đá được công nhận là đã
khai sinh ra cửa hàng tiện ích đầu tiên vào tháng 5 năm 1927 ở góc số 12 đường
Edgefield khu Oak Cliff thuộc thành phố Dallas bang Texas của Mỹ Jefferson
Green, người điều hành cửa hàng của Southland ở Oak Cliff nhận thấy thỉnh
thoảng khách hàng cần mua những thứ như bánh mỳ, trứng, sữa sau khi các cửa
hàng tạp phẩm địa phương đã đóng cửa Không giống như các cửa hàng tạp hóa
ở Oak Cliff, cửa hàng của Green mở cửa 16 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần
vì thế ông quyết định nhập một số loại hàng thiết yếu và ý tưởng này xem ra rất
thuận tiện cho các khách hàng
Joseph C Thompson, một trong những người sáng lập và sau này là chủ
tịch hội đồng quản trị tập đoàn Southland đã nhận ra tiềm năng từ ý tưởng của
Jefferson Green và bắt đầu bán những dòng sản phẩm tương tự ở các cửa hàng
đá khác của công ty, sau đó các cửa hàng này cũng mở cửa từ 7 giờ sáng cho
đến 11 giờ đêm cả 7 ngày trong tuần
Thêm vào sự phát triển cửa hàng tiện ích của công ty đá Southland, các
dạng khác của cửa hàng tiện ích bắt đầu xuất hiện Trong thập niên 20 có các
cửa hàng được gọi là “midget” (tức là vật rất nhỏ) hay là “motorterias”_các cửa
hàng tiện ích lưu động Tuy nhiên, sự phát triển của các cửa hàng này chỉ ở mức
khiêm tốn cho đến tận chiến tranh thế giới thứ 2 Sự kết thúc chiến tranh và sự
tăng lên của việc sở hữu ôtô kéo theo sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành
công nghiệp này vào thập niên 50 Sự phát triển của lượng ôtô/ người cùng với
sự hoàn thiện về đường xá, thuận tiện trong giao thông đã thúc đẩy nhiều người
dân chuyển nhà đến các vùng ngoại ô nơi có nhiều không gian rộng rãi cho cuộc
sống và chăm sóc con cái, nhưng các ngôi nhà như vậy lại ở xa các khu mua
sắm Điều này thúc đẩy sự phát triển của các cửa hàng tiện ích khi mà khách
hàng cần sự mua sắm thuận tiện ở ngay các cửa hàng tạp hoá lân cận và các cửa
hàng này được mở ra ngày một nhiều ở các khu vực ngoại ô cũng như các khu
đô thị quá hẹp về diện tích cho sự xuất hiện của siêu thị
Trang 18Mặt khác, các cửa hàng bách hoá có quy mô ngày càng phình to không
thích hợp với những khách hàng muốn mua hàng nhanh chóng Các cửa hàng
tiện ích đã khắc phục điểm này Còn các gia đình có 2 ôtô, 2 vợ chồng cùng đi
làm ngày càng nhiều lên tức là ngày càng nhiều người có nhiều tiền hơn cũng
như ít thời gian cho siêu thị hơn, sự tăng lên của số lượng phụ nữ đi làm cũng
đồng nghĩa với việc thời gian đi mua sắm cho gia đình giảm sút Vì thế các cửa
hàng ở địa điểm thuận tiện nơi khách hàng có thể đỗ xe trước cửa hàng, để trẻ
em trong xe trong khi vẫn có thể để mắt đến chúng ngày một tăng về số lượng
Không những có các hàng hoá cơ bản mà mua hàng ở các cửa hàng này còn
không phải xếp hàng Việc nhượng quyền thương mại cũng bắt đầu xuất hiện
trong các chuỗi cửa hàng tiện ích khi mà chi phí mở một cửa hàng mới trở nên
đắt đỏ Bằng franchise, các cửa hàng tiện ích mở rộng phạm vi xuất hiện của nó
lên khu vực miền bắc của nước Mỹ và tiếp tục phát triển, mở rộng trên phạm vi
toàn cầu thông qua sáp nhập, mua lại hay xây mới
Song song với việc tăng lên về số lượng trên nhiều khu vực trên thế giới,
các cửa hàng tiện ích cũng tiếp tục cải tiến, cạnh tranh với không chỉ siêu thị,
cửa hàng tạp hoá, cửa hàng thực phẩm mà còn cả cửa hàng dược phẩm, các
chuỗi cửa hàng bán đồ ăn nhanh và cả các trạm xăng
2 Sự phát triển của mô hình cửa hàng tiện ích trên thế giới
2.1 Sự phát triển của mô hình cửa hàng tiện ích trên thế giới nói chung
Ngành kinh doanh cửa hàng tiện ích trên thế giới đã đạt doanh thu 523.9
tỷ đô la vào năm 20065, tăng trưởng 12% so với năm 2005, trong đó doanh thu
từ các cửa hàng (không kể đến doanh thu từ xăng) tăng trưởng 9,6 % Thêm vào
đó, doanh thu bán hàng trên một cửa hàng tăng 7,3% đạt mức 1.099.992 đôla
( đã tính cả yếu tố tăng giá nhập đầu vào xăng và sự tăng số lượng các cửa hàng
tiện ích 3,2 % so với năm 2005) vượt qua ngưỡng 1 triệu đô la vào năm thứ 2
Trang 192.2 Sự phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích tại một số nước phát triển
2.2.1 Tại Mỹ
Từ lâu ở Mỹ các cửa hàng tiện ích đã trở thành địa điểm quen thuộc nơi
người Mỹ có thể mua xăng, cà phê và đồ ăn nhẹ Cửa hàng tiện ích còn là địa
điểm chủ yếu nơi có thể tìm thấy các đồ tạp phẩm trong các trạm xe điện ngầm
Thời gian trung bình một khách hàng vào các cửa hàng tiện ích ở Mỹ để mua
hàng được ước tính từ khoảng 3 đến 4 phút
Tại Mỹ cửa hàng tiện ích được định nghĩa là một loại hình kinh doanh bán
lẻ ở một địa điểm thuận tiện mà hàng hóa đặc trưng là đồ ăn và xăng Một đặc
điểm khác của cửa hàng tiện ích là quy mô nhỏ với diện tích thường có ít hơn
5000 feet vuông (khoảng 150m2) so với một siêu thị trung bình thường có diện
tích khoảng 45.500 feet vuông (khoảng 1400m2), nơi thuận tiện cho người đi bộ
và có chỗ đỗ xe Cửa hàng tiện ích có thời gian mở cửa tương đối lâu và một số
mở cửa 24/24, hàng hóa chủ yếu là các loại hàng tạp phẩm như bia, đồ ăn nhẹ,
thuốc lá Số hàng hóa thường trực trong cửa hàng được ước tính ít nhất khoảng
500 mã hàng hóa (stock- keeping units_SKUs) so với số lượng hàng hóa trung
bình của 1 siêu thị tại Mỹ ước tính năm 2004 là 45.000 mã hàng hóa
Vào năm 2006 có 146.294 cửa hàng tiện ích tại Mỹ với doanh thu bán
hàng 569,4 tỷ đôla trong số đó có hơn 405,8 tỷ đôla là doanh thu từ việc bán
xăng cho xe mô tô với mức tăng trưởng 15% do sự tăng giá xăng dầu năm 2006
Các cửa hàng tiện ích Mỹ chiếm 3/4 trong số lượng xăng tiêu thụ toàn nước Mỹ
và là địa điểm chính nơi khách hàng mua nhiên liệu.Tuy vậy lợi nhuận của các
chuỗi cửa hàng tiện ích Mỹ vào năm 2006 đã giảm 23,5% xuống còn 4,8 tỷ đôla
so với năm 2005 do sự suy giảm của Mỹ trong dự trữ xăng dầu và sự leo thang
của phí thẻ tín dụng
Mười mặt hàng tiêu thụ chủ yếu tại các chuỗi cửa hàng tiện ích Mỹ
(không bao gồm các loại nhiên liệu) gồm các mặt hàng sau::
Trang 207 Salty snacks (đồ ăn nhẹ mặn)
8 General merchandise (hàng bách hóa)
9 Fluid milk products (các loại sữa)
10 Packaged sweet snacks (đồ ăn nhẹ ngọt)
Cứ trong 10 người Mỹ lại có 1 người mua đồ ăn tại một cửa hàng tiện ích
trong khoảng thời gian 2 tuần Một số cửa hàng tiện ích còn đi kèm các nhà hàng
bán đồ ăn nhanh mà theo NACs (hiệp hội cửa hàng tiện ích quốc gia Mỹ) các thực
đơn phổ biến nhất là bánh sandwiches, pizza, gà rán, hamburger và đồ ăn Mexico
Chuỗi cửa hàng tiện ích đầu tiên tại Mỹ mở cửa tại Dallas, Texas vào năm
1927 bởi công ty Southland Ice, sau này trở thành Seven Eleven nổi tiếng Kể từ
thời điểm đó có rất nhiều chuỗi cửa hàng tiện ích ra đời và phát triển theo hình
thức đồng sở hữu hoặc Franchise
Hàng hóa bán ở các cửa hàng tiện ích Mỹ thường khá giống nhau cho dù
khác nhau về tên gọi của chuỗi cửa hàng, và luôn có các loại sữa, bánh mỳ, đồ
uống có gas, thuốc lá, thẻ điện thoại, đồ chơi trẻ em, cà phê, các loại kẹo và đồ
ăn kiểu mỹ như hot dog, doughnuts, ngoài ra có kem, khoai tây chiên, thịt bò
khô, một số ít cửa hàng cũng có bán sandwiches, bánh pizza và đồ đông lạnh,
bên cạnh đó có các đồ dùng vệ sinh cá nhân, thậm chí cả thức ăn cho chó mèo
Hầu như tất cả các cửa hàng tiện ích của Mỹ đều có máy ATM và có một
điểm riêng là ở các cửa hàng này cũng có bán sổ xố của từng bang riêng biệt
Một số cửa hàng tiện ích ở Mỹ cũng bán cả xăng và phụ tùng ôtô
Trang 21Vì luật hạn chế các loại đồ uống có cồn khác nhau theo từng bang nên ở
Mỹ có sự khác nhau rõ rệt trong sự có mặt của các loại đồ uống như bia, rượu
vang và các loại rượu mạnh Trong khi các cửa hàng tiện ích ở Alaska,
Pennsylvania và New Jersey không được bán bất cứ một loại đồ uống có cồn
nào thì các cửa hàng ở Nevada và California có thể bán tất cả các loại đồ uống
có cồn, còn các cửa hàng tiện ích ở Virginia, Washington hay Oregon có thể bán
bia hay rượu vang, nhưng không được phép bán rượu mạnh Sheetz, chuỗi cửa
hàng tiện ích có trụ sở đặt tại Altoona thuộc bang Pennsylvania đã tìm cách
“lách luật” vào năm 2007 bằng cách biến một phần của một trong những cửa
hàng mà họ mở đầu tiên tại khu vực này thành một nhà hàng nơi bán đồ uống
chứa cồn Tuy nhiên, tòa án bang Pennsylvania đã bãi bỏ ý định này
Các cửa hàng tiện ích của Mỹ thường trở thành mục tiêu của bọn cướp
Lý do chính vì các cửa hàng này chỉ có một nhân viên duy nhất làm việc vào
đêm khuya và hầu hết các giao dịch mua bán hàng đều bằng tiền mặt, thêm vào
đó các loại hàng hóa như rượu, vé xổ số hay thuốc lá lại là những loại hàng dễ
bán lại Vì thế hầu hết các cửa hàng tiện ích ở Mỹ thường có các ngăn đút tiền
an toàn và camera để phòng ngừa trộm cắp
Nhiều cửa hàng tiện ích ở Mỹ còn liên kết với các hãng bán đồ ăn nhanh
Theo đó một số chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh như Chick-fil-a đặt một quầy hàng
ở các cửa hàng tiện ích, đồ ăn không chế biến tại các cửa hàng tiện ích mà được
chuyển đến từ cửa hàng chi nhánh của Chick-fil-a trong vùng
NACs_hiệp hội cửa hàng tiện ích quốc gia Mỹ được thành lập ngày 14 tháng
8 năm 1961, là tổ chức thương mại quốc tế với 2.200 nhà bán lẻ và 1800 nhà
cung cấp thành viên Các thành viên của NACs tiến hành việc kinh doanh ở gần
50 quốc gia trên thế giới trong đó phần lớn thành viên đặt trụ sở tại Mỹ Kể từ
khi thành lập đến nay, NACs đã cung cấp các thông tin, kiến thức và sự kết nối
để đảm bảo cho khả năng cạnh tranh và phát triển của các thành viên của tổ chức
Nhiệm vụ của NACs là giới thiệu về ngành công nghiệp này và trợ giúp các
thành viên nhằm hoạt động có hiệu quả và tăng lợi nhuận bằng các hoạt động:
Trang 22 Cung cấp kiến thức, giải pháp và những sự kết nối cần thiết cho các thành viên
Quảng bá hình ảnh của ngành công nghiệp kinh doanh cửa hàng tiện ích
Tác động đến chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho ngành với sự tham
gia tích cực của các thành viên
Dự báo và tác động đến các biến cố đảm bảo khả năng phát triển của
ngành
Duy trì hoạt động với tư cách một tổ chức độc lập về mặt tài chính
Thúc đẩy quan hệ với các nhà cung cấp
2.2.2 Tại Nhật Bản
Mặc dù bắt nguồn từ Mỹ nhưng mô hình chuỗi cửa hàng tiện ích lại phát
triển một cách mạnh mẽ ở Nhật Bản Những cửa hàng tiện ích kiểu Nhật
Bản(trong tiếng Nhật là Kombini tức là sự thuận tiện) cũng tạo ảnh hưởng lớn đến
các quốc gia Châu Á khác như Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc hay Trung Quốc
Tính đến năm 2005, có 43.667 cửa hàng tiện ích ở Nhật Bản6rải khắp toàn
đất nước Trong số đó, Seven Eleven dẫn đầu thị trường với 11.310 cửa hàng,
tiếp theo đó là Lawson và Family Mart.Với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các
chuỗi cửa hàng tiện ích Seven Eleven, Lawson và Family Mart, các cửa hàng
tiện ích của Nhật Bản ngày càng trở nên tiện lợi hơn theo đúng nghĩa của nó với
nhiều sản phẩm và dịch vụ mới mẻ, sáng tạo và thuận tiện cho khách hàng
Ở Nhật, các cửa hàng tiện ích mọc lên vô số ở những nơi công cộng, từ
trạm xe lửa cho đến bệnh viện, và sự lựa chọn sản phẩm linh động hơn nhiều so
với Mỹ Nước Mỹ có diện tích lớn gấp 24 lần Nhật Bản, với dân số gấp 2,3 lần
dân số Nhật nhưng số cửa hàng Seven Eleven lại ít hơn 2 lần so với Nhật Bản Ở
Tokyo mỗi góc đường đều có một cửa hàng tiện lợi
6
http://en.wikipedia.org/wiki/Convenience_store
Trang 23Seven Eleven Nhật Bản là chuỗi cửa hàng tiện ích đầu tiên của Nhật phát
triển hệ thống POS, nhờ vào hệ thống này tên tuổi, địa chỉ khách hàng được
lưu trữ cho phép thực hiện những giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng
Hầu hết các cửa hàng tiện ích tại Nhật đều mở cửa 7/7 và 24/24 với các
loại thực phẩm khá phong phú: bánh snack, cơm nắm, bánh mỳ, bánh gạo, khoai
tây chiên, cơm hộp, salad, mỳ ăn liền, bơ, phó mát, đồ đông lạnh, sôcôla, bánh
bao, oden Đồ uống thì có nước tăng lực, trà , cà phê, đồ uống có gas, nước quả,
nước khoáng, sữa với cả hai loại nóng và lạnh Nhiều cửa hàng tiện ích ở Nhật
bán cả các đồ uống có cồn như rượu sake, shochu, rượu vang và bia Các loại
hàng hóa khác bao gồm đồ dùng vệ sinh cá nhân, mỹ phẩm, dược phẩm, các loại
pin, đĩa CD và băng trắng, ô, báo, tạp chí, truyện tranh ở một số cửa hàng, đặc
biệt là các cửa hàng ngoài các khu vực trung tâm thành phố còn có cả nhà vệ
sinh
Các dịch vụ mà các cửa hàng tiện ích Nhật Bản cung cấp rất đa dạng Cụ thể:
Dịch vụ ATM: Máy ATM đặt tại các cửa hàng tiện ích của Nhật giúp
khách hàng có thể thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác nhau như rút tiền,
chuyển khoản nhưng các máy này không chấp nhận thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ
của nước ngoài Các máy ATM có thể là máy đa năng
Dịch vụ copy/Fax: Máy photocopy và máy fax có tại hầu hết các cửa hàng
tiện ích , có thể là loại máy đa năng
Dịch vụ đặt vé: Vé cho các sự kiện thể thao, các buổi hòa nhạc, vé vào
các công viên giải trí, vé các tuyến xe buýt chính và các dịch vụ du lịch khác có
thể được mua ở các máy đa năng (vừa là máy ATM vừa bán vé hoặc vừa là máy
photocopy, máy Fax vừa có chức năng bán vé)
Trang 24Dịch vụ in ảnh kỹ thuật số: Có thể in ảnh kỹ thuật số bằng cách cho thẻ
nhớ máy ảnh vào máy đa năng và phụ thuộc vào các cửa hàng tiện ích khác nhau
mà có thể in ảnh luôn hoặc lấy ảnh sau7
Dịch vụ thanh toán các loại hóa đơn: Rất nhiều loại hóa đơn trong đó bao
gồm cả hóa đơn điện, nước, gas, điện thoại, thậm chí cả hóa đơn điện thoại di
động và hóa đơn bảo hiểm có thể thanh toán thông qua các cửa hàng tiện ích
Dịch vụ giao nhận: Rất nhiều cửa hàng tiện ích tại Nhật Bản cho phép
khách hàng gửi và nhận bưu phẩm và hàng hóa Các cửa hàng này cũng bán cả
tem và bưu thiếp để thuận tiện cho khách hàng
7
http://www.japan-guide.com/e/e2071.html
Trang 25Sơ đồ 2: Sơ đồ một cửa hàng tiện ích điển hình ở Nhật Bản 8
Số lượng các cửa hàng tiện ích đã gia tăng nhanh chóng kể từ khi mô hình
cửa hàng tiện ích du nhập vào Nhật từ Mỹ hơn 30 năm về trước Thế nhưng gần
đây thị trường cho cửa hàng tiện ích ở những khu vực đông dân cư tại Nhật Bản
đã đạt đến giai đoạn bão hòa, số lượng cửa hàng và doanh số bán hàng đang có
chiều hướng chững lại Trong hoàn cảnh này, các chuỗi cửa hàng đã đưa ra
nhiều chiến lược mới, chuyển tầm ngắm từ những người trẻ tuổi sang những
người trung niên, về hưu hay nội trợ:
Lawson Inc, nhà quản lý một trong những chuỗi cửa hàng tiện ích lớn
nhất Nhật Bản đã mở chuỗi cửa hàng Natural Lawson bán những đồ chăm sóc
sắc đẹp và sức khỏe cho khách hàng với đối tượng nhắm đến là những người có
tuổi và phụ nữ Cửa hàng được thiết kế với sự chau chuốt nội thất, gỗ tự nhiên
thay vì nhân tạo, đèn chiếu sáng êm dịu thay vì đèn neon, nhân viên được huấn
Trang 26luyện để tư vấn sức khỏe cho khách hàng, mỹ phẩm làm từ các thành phần thiên
nhiên, các loại cà phê hữu cơ, cơm hộp 600 calo Tháng 1 năm 2006 có 40 cửa
hàng Natural Lawson ở trung tâm Tokyo và Kansai và Lawson dự định mở rộng
quy mô thành vài trăm cửa hàng trong những năm sau
Một chuỗi cửa hàng khác, Am/Pm Japan Co, đã mở cửa hàng mang tên
Happily với phương châm” của, cho, và bởi phụ nữ” (nguyên văn: of, for, and
by women) để tạo cho phụ nữ sự vui thích và thoải mái khi mua sắm, cửa hàng
đã bán rất nhiều các sản phẩm chăm sóc da cũng như đồ ăn kiêng, cửa hàng
cũng có một phòng trang điểm với bàn trang điểm, tấm gương lớn Không khí
trong cửa hàng có mùi tinh dầu thơm Bên cạnh đó năm 2005 Am/Pm Nhật Bản
cũng mở chuỗi Am/Pm Renta, bán sách và cho thuê DVD bên cạnh các tiện ích
thông thường của một cửa hàng tiện ích nhắm vào những cặp và những người
độc thân có thu nhập trung bình
Một cửa hàng tiện ích đặc biệt với những hàng hóa các loại về cô mèo
Hello Kitty rất được giới nữ, đặc biệt các cô gái trẻ yêu thích đã được mở ở khu
Harajuku, Tokyo vào tháng 12 năm 2005 Cửa hàng của Family Mart Co, đã
nhận được chấp thuận từ phía Sanrio Co_công ty sở hữu nhân vật Hello Kitty để
kinh doanh các loại hàng này
Cũng có rất nhiều nhà quản lý cửa hàng tiện ích thử xây dựng “các cửa
hàng 100 yên” (100 yên~0.8 đôla Mỹ) theo mô hình cửa hàng tiện ích với tình
hình kinh doanh khả quan Có thể kể đến Lawson với Store 100, Am/Pm Nhật
Bản với Food Style, Circle K Sunkus Co với Circle K Sunkus, chuỗi siêu thị Uni
Co cũng mở Kyu Kyu Ichiba, những cửa hàng tiện ích mà mọi hàng hóa đều chỉ
có giá 99 yên
Những cửa hàng kiểu mới này không chỉ là những cửa hàng tiện ích với
những hàng hóa giá cả phải chăng, hàng một giá mà còn đóng vai trò như những
siêu thị mini bán cả rau quả và các loại hàng hóa khác nhau Bằng cách đó, các
nhà điều hành những chuỗi cửa hàng này hi vọng thu hút những người trung tuổi,
Trang 27phụ nữ độc thân và đi làm_những nhóm người trước giờ vẫn ít đến cửa hàng tiện
ích nhất
2.3 Sự phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích tại các nước đang phát triển Châu Á
2.3.1 Sự phát triển của các chuỗi cửa hàng tiện ích tại Châu Á nói chung
Châu Á trong sự phát triển nhanh chóng về kinh tế cũng như thương mại
đã và đang chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành phân phối bán lẻ
cũng như sự phát triển của loại hình cửa hàng tiện ích Trong ở khu vực Đông Á,
Nhật Bản dẫn đầu về số lượng cửa hàng bán lẻ so với dân số, ước tính khoảng
700 cửa hàng bán lẻ các loại/ 1 triệu dân, con số cao hơn rất nhiều lần so với Ấn
Độ với 3 cửa hàng/ 1 triệu dân
Trong năm 2004 nhóm hàng tiêu dùng nhanh (FMCGs_The Fast Moving
Consumer Goods) tiêu thụ mạnh ở khu vực Đông Nam Á nếu so sánh với khu
vực Nam Á Và trong ngành bán lẻ, khu vực Đông Nam Á có tốc độ tăng trưởng
nhanh chóng nhất, đặc biệt là Indonesia, Malaysia, Philipine với mức tăng
trưởng 2 con số, Thái Lan cũng có mức tăng trưởng cao với 8%
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng bắt kịp với xu hướng bán lẻ tòan
cầu về cấu trúc ngành bán lẻ với các mô hình bán lẻ tự phục vụ tiếp tục tăng
trưởng dẫn đầu trên thị trường Đến hết năm 2005 khoảng 2/3 số cửa hàng tạp
hóa phát triển theo mô hình bán lẻ hiện đại Trung Quốc có 54000 cửa hàng tự
phục vụ, là thị trường phát triển nhanh nhất khu vực Đông Á
Trong ngành kinh doanh cửa hàng tiện ích, kể từ năm 2003, các cửa hàng
tiện ích liên tục phát triển về số lượng với hơn 10.000 cửa hàng mới mở cửa vào
năm 2004 chỉ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tăng 14% so với năm 2003
Mô hình cửa hàng tiện ích đặc biệt phát triển ở Trung Quốc với hơn 60% cửa
hàng tiện ích mới mở cửa thuộc về thị trường này và hơn 20.000 cửa hàng tiện
ích trên toàn đất nước
Trang 28Hầu hết các quốc gia Châu Á tăng trưởng ở mức 10% về số lượng cửa
hàng mới mở, chỉ trừ Nhật Bản với sự tăng trưởng rất ít, tuy vậy Nhật lại là
nước dẫn đầu thị trườngvới số lượng cửa hàng tiện ích gần 43.000 (năm 2004)
Trong khi đó, nơi có mật độ cửa hàng tiện ích dày đặc nhất lại là Đài Loan với
8000 cửa hàng trên toàn vùng lãnh thổ và mật độ 2800 người dân/ mỗi cửa hàng
tiện ích Theo nghiên cứu ShopperTrends của ACNielsen năm 2004 thì có 80%
người dân khu vực thành thị ở Đài Loan mua sắm ở cửa hàng tiện ích mỗi tuần,
số lượng khách mua hàng bình quân mỗi tháng đạt 14 người Năm 2004 cửa
hàng tiện ích tiếp tục phát triển ở Hồng Kông, thống kê có 10% trên tổng số
khách hàng mua sắm ở các cửa hàng tiện ích Hồng Kông mỗi tuần
Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước dẫn đầu về phát triển cửa
hàng tiện ích với 10% hàng hóa phân phối được bán qua loại hình này Một nửa
số khách hàng ở khu vực thành thị mua sắm ở các cửa hàng tiện ích Thái Lan
mỗi tuần với số lần đến cửa hàng là 2 đến 3 lần một tuần, Với mật độ 64 cửa
hàng tiện ích trên 1 triệu dân, loại hình cửa hàng tiện ích sẽ còn phát triển hơn
nữa ở đất nước này
2.3.2 Trung Quốc
2.3.2.1 Các chuỗi cửa hàng tiện ích tại Trung Quốc
Thị trường bán lẻ Trung Quốc là một trong những thị trường bán lẻ vào
loại lớn nhất thế giới Năm 2006 quy mô thị trường bán lẻ Trung Quốc vào
khoảng 520 tỷ USD (4,16 nghìn tỷ RMB) tăng trưởng 157,41% so với năm 1999
với mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 19,68 %.Dự báo đến năm 2020
quy mô thị trường bán lẻ Trung Quốc sẽ là khoảng2, 4 nghìn tỷ USD
Thị trường cửa hàng tiện ích Trung Quốc phát triển một cách nhanh
chóng, mạng lưới các cửa hàng tiện ích đã vượt xa khỏi 3 thành phố lớn Bắc
Kinh, Quảng Châu và Thượng Hải khi nhiều nhà kinh doanh cửa hàng tiện ích
mở rộng hoạt động kinh doanh tới các đô thị loại 2 và loại 3 ở Trung Quốc Sự
xuất hiện ngày càng nhiều các chuỗi cửa hàng ở các thành phố này kéo theo việc
Trang 29các nhà bán lẻ lớn thôn tính những nhà bán lẻ nhỏ hơn và nhiều chuỗi cửa hàng
phải cạnh tranh vất vả để thu được lợi nhuận
Các chuỗi cửa hàng tiện ích nước ngoài như 7- Eleven đã tham gia vào thị
trường cửa hàng tiện ích Trung Quốc nhưng việc mở rộng phát triển mạng lưới
các cửa hàng là khá khó khăn khi tại các đô thị loại một của nước này “đất” cho
phát triển các cửa hàng tiện ích là rất hạn chế do cấu trúc ngành phân phối tại
các thành phố lớn đã đạt đến một mức độ nhất định Do đó sự chú ý của các nhà
kinh doanh chuỗi cửa hàng tiện ích nước ngoài đang tập trung đến những vùng
ngoại ô cũng như các thành phố và thị trấn phụ cận
Theo số liệu của chính phủ vào năm 2006 Trung Quốc có khoảng 12.000
cửa hàng tiện ích với doanh số 22 tỷ RBM( khoảng 2,75 tỷ đô la) nhưng doanh
thu thực tế của các cửa hàng tiện ích được ước tính vào khoảng 5 tỷ đô la, gấp 2
lần con số chính phủ đưa ra.9
2.2.2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau khi Trung Quốc thực hiện mở cửa có khoảng 40 tập đoàn phân phối
nước ngoài tràn vào thị trường nắm 60% doanh thu bán lẻ khiến nhiều tập đoàn
trong nước đứng bên bờ phá sản Tuy nhiên chính phủ Trung Quốc đã ban hành
“Pháp lệnh bán lẻ” tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước dành lại thị
phần Bên cạnh thu hút FDI, Trung Quốc cũng dành những ưu đãi về tín dụng,
thông tin, đào tạo, trợ giúp kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh
nghiệp bán lẻ trong nước
Bên cạnh đó với các nhà đầu tư nước ngoài, sau khi gia nhập WTO kể từ
11/12/2001, đến năm 2004, tất cả các hạn chế về đại lý với thành lập doanh
nghiệp bán lẻ đều được bãi bỏ Các nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập
doanh nghiệp bán lẻ ở bất cứ địa phương nào tại Trung Quốc
9 http://www.mindbranch.com/Convenience-Store-Retailing-R231-570/
Trang 30Chủ trương của Trung Quốc từ nay đến 2010 là điều chỉnh cơ cấu lưu
thông hàng hoá, nhanh chóng thúc đẩy các loại hình phân phối hiện đại phát
triển, nâng cao tỷ trọng ngành phân phối hàng hoá trong tổng thu nhập quốc dân,
thúc đẩy phát triển kinh doanh bán lẻ theo chuỗi Trung Quốc chủ trương xây
dựng 5 đến 10 tập đoàn doanh nghiệp kinh doanh theo chuỗi đủ mạnh để cạnh
tranh trên thị trường trong nước và vươn ra quốc tế Để xây dựng các tập đoàn
này, chính phủ Trung Quốc chủ trương liên kết doanh nghiệp, tái cơ cấu tổ chức,
phát hành cổ phiếu để huy động vốn Các loại hình phân phối đa dạng hoá,
không chỉ phát triển siêu thị, trung tâm thương mại mà còn khuyến khích xây
dựng cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh, kho bán buôn…
Trên thực tế, chính sách phát triển thị trường phân phối trong nước của Việt
Nam đã học tập không ít từ các cơ chế chính sách của Trung Quốc
2.3.3 Thái Lan
2.3.3.1 Sự phát triển chuỗi cửa hàng tiện ích tại Thái Lan
Vào năm 2006 có khoảng 10.000 cửa hàng tiện ích tại Thái lan trong đó
dẫn đầu là Seven Eleven với 3750 cửa hàng, V- shop với 800 cửa hàng ở vị trí
thứ 2, Family mart đứng thứ 3 với 650 cửa hàng, Freshmart có khoảng 300 cửa
hàng, số còn lại là các chuỗi cửa hàng nhỏ hoặc do tư nhân quản lý Theo ông
Suvit Kinkaew giám đốc điều hành CP Seven Eleven, một nhánh của tập đoàn
Charoen Pokphand lớn nhất Thái Lan trong lĩnh vực kinh doanh hàng nông sản
thì cơ hội để mở rộng các cửa hàng tiện ích ở thị trường nước này còn rất lớn
Số lượng các cửa hàng tạp hóa truyền thống của Thái Lan, kể cả có đăng ký hay
không đăng ký ở vào khoảng trên 1 triệu cửa hàng và đó là tiềm năng nếu có thể
thuyết phục được các cửa hàng này chuyển đổi sang mô hình cửa hàng tiện ích.10
Hiện nay tại Thái Lan thị phần của hệ thống bán lẻ hiện đại chiếm đa số
và có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của hệ thống bán lẻ
http://www.knightfrankthailand.com/newsletter/researchnews/pdf/2ndDecember/Retail-2ndDecember.pdf
Trang 31truyền thống Thị phần hệ thống bán lẻ hiện đại năm 2002 là 54% so với hệ
thống bán lẻ truyền thống là 46%
Trong các loại hình bán lẻ của Thái Lan cửa hàng giảm giá, cửa hàng bách
hoá lớn, đại siêu thị là loại hình bán lẻ chiếm ưu thế trên thị trường, tiếp đến là các
trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, và cuối cùng là siêu thị truyền thống
2.2.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Nếu như trước kia chính phủ Thái Lan mở cửa thị trường bán lẻ một cách
tự do thì năm 2002 chính phủ nước này đã đưa ra dự thảo luật về bán lẻ
Năm 2003 cơ quan nhà đất của Thái Lan đã ban hành quy định về khu
vực bán lẻ đối với 75 tỉnh của Thái Lan trừ Băng Cốc Theo quy định này các
nhà bán lẻ có diện tích trên 1.000m2 phải xây dựng cách trung tâm thành phố ít
nhất 15km Quy định này cũng đưa ra diện tích đất tối thiểu mà các siêu thị này
cần phải có cũng như diện tích lưu thông, diện tích cây xanh cần thiết Quy định
cũng đưa ra quy chuẩn cụ thể cho các siêu thị có diện tích 300-1.000m2
Thái Lan có 80% thị phần bán sỉ và lẻ nằm trong tay các tập đoàn nước
ngoài và Chính phủ nước này điều tiết bằng cách chỉ cho các tập đoàn nước
ngoài được mở từng siêu thị riêng lẻ, không cho hình thành chuỗi liên kết để chi
phối thị trường
Chính phủ cũng ban hành các quy định về thương mại công bằng đối với
các siêu thị nhằm ngăn chặn tình trạng hạ giá quá nhiều để chiếm lĩnh thị trường
và sử dụng sức mạnh thị trường để gây sức ép với nhà cung cấp Ngoài ra, Liên
minh bán lẻ được thành lập nhằm giúp các siêu thị và cửa hàng truyền thống
trong nước làm quen với các hình thức bán lẻ hiện đại
3 Một số hệ thống cửa hàng tiện ích thành công trên thế giới
3.1 Seven Eleven (7/11)
Trang 32Seven Eleven là cái tên sớm nhất và lớn
nhất trong ngành công nghiệp bán lẻ cửa hàng
tiện ích với 7.500 cửa hàng tiện ích ở Bắc Mỹ
và trên dưới 33.700 cửa hàng tiện ích ở 17
quốc gia ngoài Mỹ Không những thế Seven
Eleven còn là chuỗi cửa hàng lớn nhất thế giới,
đánh bại McDonald ở vị trí thứ 2 với khoảng
cách tới 1000 cửa hàng Ra đời tại Mỹ nhưng
hiện nay Seven Eleven là thương hiệu thuộc sở hữu của Seven& I holding Co
Ltd đặt trụ sở tại Nhật Bản
3.1.1 Giới thiệu chung về Seven Eleven
3.1.1.1 Sự ra đời của Seven Eleven
Ngày 7 tháng 11 chính là ngày sinh nhật chính thức của chuỗi cửa hàng
tiện ích Seven Eleven Lịch sử của Seven Eleven bắt đầu từ năm 1927_81 năm
về trước bằng việc một nhân viên của The Southland Ice Company ở
Dallas_Texas (Mỹ) quyết định cung cấp thêm sữa, trứng và bánh mỳ để đáp ứng
nhu cầu của khách hàng Ngay sau đó là sự ra đời của Seven Eleven, cái tên
phản ánh giờ mở cửa từ 7 giờ sáng đến 11 giờ đêm (cho đến năm 1964) của
hãng Sau đó công ty mở rộng ra khỏi Texas sang Florida và đặt chân vào hoạt
động Franchise vào năm 1964 với việc giành được Speedee Mart, một chuỗi cửa
hàng tiện ích hoạt động theo kiểu nhượng quyền thương mại ở California Kể từ
đó, nhãn hiệu Seven Eleven và hình mẫu cửa hàng tiện ích của công ty lan rộng
trên toàn thế giới Tổng doanh thu của Seven Eleven trên toàn thế giới là 44 tỷ
đôla vào năm 2006
3.1.1.2 Các mốc phát triển của Seven Eleven
Năm 1946 Cái tên Seven Eleven bắt đầu được sử dụng
Năm 1952 Mở cửa hàng thứ 100
Trang 33Năm 1954 Cửa hàng tiện ích đầu tiên mở ngoài bang Texas ở Florida
Năm 1963 Giới thiệu các cửa hàng hoạt động 24/24 ở Las Vegas và
Austin (Texas)
Năm 1964 Bắt đầu bán cà phê uống liền tại cửa hàng tiện ích ở Long
Island, New York Bắt đầu việc nhượng quyền thương mại
Năm 1971 Năm đầu tiên đạt doanh số 1 tỷ đôla, giới thiệu các của hàng
bán xăng tự phục vụ
Năm 1984 Các máy ATM được đặt ở các cửa hàng của Seven Eleven
Năm 1991 Ito Yokado, người chủ Seven Eleven Nhật Bản mua phần lớn
cổ phần của The Southland Corporation
Năm 1999 The Southland Corp đổi tên thành 7- Eleven Inc
Năm 2007 tạp chí Entrepreneur bầu chọn Seven Eleven là doanh nghiệp
Franchise số 1 của Mỹ
3.1.2 Hoạt động kinh doanh của Seven Eleven
Hiện tại 7- Eleven có mạng lưới 34.147 cửa hàng đã và đang hoạt động kinh
doanh ở 15 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới : Australia, Canada, Trung
Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Philipine, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển,
Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Mỹ Trong đó Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan
và Thái Lan là những thị trường lớn nhất của 7- Eleven với 11.704 cửa hàng ở
Nhật, 6.031 cửa hàng ở Mỹ, 4.511 cửa hàng ở Đài Loan và 3.912 cửa hàng ở Thái
Lan (2007)11
Trong hơn 80 năm kinh doanh và gần 45 năm thực hiện việc nhượng
quyền thương mại, 7- Eleven, vốn là “một chuỗi cửa hàng nhỏ thân thiện nơi
11
http://en.wikipedia.org/wiki/7-Eleven
Trang 34góc đường” đã trưởng thành và trở thành nhà điều hành và nhà nhượng quyền
thương mại chuỗi cửa hàng tiện ích lớn nhất thế giới và cũng đồng thời luôn
trong top đầu các nhà nhượng quyền thương mại lớn nhất toàn cầu Năm 2008,
7-Eleven dẫn đâu danh sách 500 thương hiệu nhượng quyền thương mại thành
công nhất Lý do của thành công này là do các Franchisee hiểu rằng họ sẽ khó
có thể tìm được những thuận lợi mà 7-Eleven đang có ở các thương hiệu khác:
sự phong phú và đảm bảo chất lượng hàng hóa, sự chuyên nghiệp của hệ thống
cửa hàng tiện ích hàng đầu với vài triệu khách hàng mỗi ngày…Thêm vào đó
một trong những điều làm nên thành công của 7-Eleven là họ rất chú trọng tới
quyền lợi của các franchisee với những chính sách hỗ trợ về mặt tài chính cũng
như địa điểm Đặc biệt, khi một franchisee muốn ra khỏi hệ thống, họ có thể
bán lại cửa hàng và sẽ được thanh toán thêm cả phần giá trị uy tín của cừa hàng
Bên cạnh việc nhượng quyền thương mại cho các tập đoàn nước ngoài kinh
doanh với thương hiệu 7- Eleven, tập đoàn cũng chú trọng phát triển hoạt động
kinh doanh của trụ sở tại Nhật Bản cũng như công ty con chính ở Mỹ
Tại Nhật Bản: Nhật Bản có nhiều cửa hàng 7-Eleven hơn bất cứ nơi nào
trên thế giới vì đất nước này là nơi đặt trụ sở chính của “ Seven & I holdings
Co” Chỉ trong khu vực Tokyo đã có 1400 cửa hàng
Các cửa hàng tiện ích 7-Eleven ở Nhật cũng khác so với các nơi khác,
hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn_không chỉ có đồ uống, thức ăn, tạp chí mà còn
có đĩa game cũng như gamebox, đĩa nhạc, đầu đọc thẻ nhớ cũng như các hàng
bán theo mùa như bánh kem giáng sinh, sôcôla Valentine, pháo hoa
7-Eleven Nhật Bản chú trọng từ khâu cung cấp hàng hóa, vận chuyển và
phân phối, xây dựng cửa hàng và các tiện ích trong cửa hàng cũng như việc loại
bỏ và tái chế rác thải, thân thiện với khách hàng và franchising Trong khâu mua
hàng và cung cấp hàng hóa, 7 Eleven đặc biệt chú trọng đến việc kiểm tra chất
lượng hàng hóa, nhất là hàng thực phẩm và thực phẩm ăn liền với những yêu
cầu ngặt nghèo với nhà sản xuất về các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm:
Trang 35hàm lượng chất bảo quản tối đa, hàm lượng phẩm màu nhân tạo tối đa…bên
cạnh việc chú ý đến khâu bảo quản hàng hóa với việc chú trọng đến nhiệt độ bảo
quản trong cửa hàng cũng như đảm bảo các trang thiết bị chuyên dùng cho bảo
quản hàng hóa Minh chứng cho việc đảm bảo chất lượng hàng thực phẩm ăn
liền là thành công trong việc tiêu thụ cơm hộp và cơm nắm, những mặt hàng mà
chuỗi 7-Eleven đi tiên phong trong việc bán chúng ở Nhật Bản Các mặt hàng
này trước đây vốn trong tiềm thức người Nhật là những đồ tự làm ở nhà, bên
cạnh đó các nhà sản xuất những hàng hóa này là các nhà bán lẻ vừa và nhỏ,
không phải lúc nào cũng đáp ứng đủ các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, 7-
Eleven đã tư vấn và cùng các nhà sản xuất này thành lập hiệp hội thực phẩm
Nhật Bản- NDF (Nihon Delica Foods Association) Việc thành lập này sau đó đã
cải thiện đáng kể chất lượng hàng cung cấp cả về điều kiện vệ sinh và độ ngon
của cơm hộp cũng như cơm nắm Nhờ sự kiên trì bán mặt hàng này bên cạnh các
bước đi trên mà các mặt hàng thực phẩm trên được bán rất chạy, sau đó các mặt
hàng khác như sandwiches, đồ ăn nhanh cũng đảm bảo về chất lượng và tiêu
thụ Các mặt hàng tươi sống cũng được đảm bảo sự đồng nhất về chất lượng
thông qua việc quản lý nghiêm ngặt 7-Eleven Nhật Bản cũng thành lập những
trung tâm phân phối đảm bảo cung cấp hàng hóa cho các cửa hàng mà không
gây khó khăn về giao thông cho khu vực với việc sử dụng các phương tiện nhỏ ,
cơ động và chuyên dụng cho từng mặt hàng Việc phân phối hàng hóa cũng
được phân tích và tiến hành trên cơ sở xem xét và dự báo nhu cầu người tiêu
dùng để đảm bảo luôn cung cấp đủ hàng hóa Bên cạnh đó, 7-Eleven Nhật Bản
xây dựng các cửa hàng thân thiện với khách hàng với các tiêu chí dễ tiếp cận về
địa điểm, dễ tìm về hàng hóa và thân thiện trong mua sắm Các cửa hàng
7-Eleven Nhật Bản luôn được thiết kế sao cho quầy kệ dễ nhìn, hàng hóa dễ tìm,
hệ thống chiếu sáng và điều hòa nhiệt độ tương thích và đảm bảo Với những
yêu cầu đó 7-Eleven Nhật Bản đã xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo duy
trì cơ sở vật chất cho các cửa hàng áp dụng cho các cửa hàng chính hãng cũng
như franchisee Với hệ thống này các cửa hàng 7-Eleven Nhật Bản được kiểm
tra 4 lần/ năm nhằm đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị hoạt động đảm bảo
Trang 36cũng như không lãng phí 7 Eleven cũng luôn chú trọng đến yếu tố thân thiện
với môi trường từ việc sử dụng các phương tiện phân phối ít gây hại đến việc
dùng các thùng rác phân loại và có hệ thống tái chế rác thải, bên cạnh đó là một
loạt các hoạt động như ngày dọn sạch rác thải quốc gia của 7-Eleven diễn ra vào
ngày 7/11 hàng năm, riêng năm 2003 thu hút hơn 40.000 người tham gia
Tại Mỹ: Mỹ là một trong những thị trường lớn nhất của Seven Eleven và
cũng là nơi việc nhượng quyền thương mại các cửa hàng 7- Eleven diễn ra mạnh
mẽ nhất Seven Eleven Mỹ đã nhượng quyền thương mại vơi hầu hết số cửa
hàng tiện ích của hãng trong lãnh thổ nước Mỹ.Trong hệ thống nhượng quyền
thương mại của hãng lợi nhuận được chia theo tỷ lệ 50:50 hoặc trên dưới một
chút giữa người được nhượng quyền thương mại và Seven Eleven Việc nhượng
quyền thương mại có hiệu lực trong vòng 15 năm với phí nhượng quyền và các
khoản phí phụ trội khác không thể chuyển nhượng cho người được nhượng
quyền thương mại thứ 3 nếu có ở cùng cửa hàng cho đến khi hết hạn Nếu một
người phải trả phí nhượng quyền trong vòng 15 năm vì một lý do nào đó phải bỏ
cửa hàng sau 1 năm vì bất cứ lý do gì thì phải chịu mất phí nhượng quyền
thương mại của 14 năm còn lại.Tạp chí Super Market News bình chọn Seven
Eleven Bắc Mỹ ở vị trí 11 trong top 75 những nhà bán lẻ thực phẩm Bắc Mỹ với
doanh thu bán hàng năm 2006 đạt 15 tỷ đô la Theo doanh thu năm 2005 thì 7-
Eleven Mỹ là nhà bán lẻ lớn thứ 24 tại nước này
Tại Mỹ, bên cạnh các loại hàng tạp hóa và xăng, Seven Eleven bán đồ
uống có ga nhiều vị Slurpee và đồ uống Big Gulp, các loại đồ uống đặc trưng
riêng chỉ có ở các cửa hàng của hãng, việc xây dựng các sản phẩm độc quyền
Slurpee, Big Gulp tạo nét riêng cho 7-Eleven Mỹ đồng thời cũng giúp 7-Eleven
tiếp cận khách hàng tốt hơn Ngoài ra, 7-Eleven Mỹ còn xây dựng và phát triển
Movie Quik, dịch vụ cho thuê băng đĩa đặt trong các cửa hàng Năm 2005 Seven
Eleven đưa ra “7-Eleven speak out wireless” tại Mỹ và Canada_dịch vụ điện
thoại trả trước mà khách hàng có thể mua điện thoại di động và được kích hoạt
luôn tại chỗ
Trang 37Một trong những chiến lược kinh doanh thành công của 7-Eleven Mỹ tận
dụng thành công cửa bộ phim hoạt hình được yêu thích gia đình Simpson tại Mỹ
khi vào tháng 7 năm 2007 hãng đã chuyển đổi hơn chục cửa hàng tại Bắc Mỹ
thành Kwik-E-Marts_ giống tên gọi của của cửa hàng trong bộ phim này và tại
các cửa hàng này có bán những đồ uống và đồ ăn giống như trong bộ phim Bên
cạnh đó cà phê và sandwiches ở các cửa hàng này cũng được bọc bằng loại giấy
gói có hình ảnh bộ phim Chiến dịch này mang lại thành công lớn cho Seven
Eleven tại Mỹ khi rất nhiều fan của bộ phim này đã lái xe hàng trăm dặm để
mua các loại hàng hóa này đồng nghĩa với việc lợi nhuận của các cửa hàng
chuyển đổi này tăng 30%
Hoạt động của 7-Eleven ở các quốc gia khác được tóm tắt ở dưới đây;
Tại Australia: cửa hàng 7-Eleven đầu tiên mở cửa vào năm 1977, hiện tại
ở Australia có 366 cửa hàng tại các bang Victoria, Newsouth Wales và
Queensland
Tại Trung Quốc: 7-Eleven mở cửa ở Hồng Kông từ năm 1981 dưới sự sở
hữu của Dairy Farm, công ty này đã mở cửa cửa hàng 7-Eleven thứ 711 vào
ngày 7/11/2006 Phần lớn các cửa hàng ở khu đông dân với 40% là cửa hàng
nhượng quyền thương mại Ở Macao 7- Eleven bắt đầu xuất hiện vào năm 2005
và hiện tại có khoảng hơn 20 cửa hàng đang hoạt động Tại Bắc Kinh số lượng
cửa hàng 7- Eleven đang ở con số 86 cửa hàng
Tại Malaysia: Các cửa hàng 7-Eleven tại Malaysia thuộc sở hữu của
CSSB( Convenience Shopping Sdn Bhd) với hơn 800 cửa hàng trên tòan quốc
7- Eleven bắt đầu xuất hiện tại Malaysia vào 4/6/1984
Tại Singapore: 7- Eleven là chuỗi cửa hàng tiện ích lớn nhất trên toàn đất
nước với 400 cửa hàng, được mở bởi tập đoàn quốc tế Dairy Farm Những cửa
hàng tiện ích Seven Eleven đầu tiên tại Singapore xuất hiện vào năm 1983
Trang 38Tại Hàn Quốc: Có 1513 cửa hàng 7-Eleven cạnh tranh với Mini Stop,
GS25, Family Mart
Tại Đài Loan: Mật độ xuất hiện của Seven Eleven là nhiều nhất trên thế
giới, cảnh 2 cửa hàng 7- Eleven đứng ngay gần nhau ở Đài Loan cũng không
phải là một việc lạ lùng Các cửa hàng 7- Eleven Đài Loan thuộc sở hữu của
chuỗi cửa hàng Uni President Cửa hàng 7- Eleven
đầu tiên được mở vào năm 1980 và phát triển
thành 4037 cửa hàng vào năm 2006 Đài Loan là
thị trường lớn thứ 3 của Seven Eleven sau Mỹ và
Nhật với lượng khách hàng/ 1 cửa hàng là 6200 người, cũng là nơi mật độ khách
hàng/ 1 cửa hàng 7- Eleven thấp nhất so với con số 14946 người/ 1 cửa hàng ở
Nhật và 48359 người/ 1 cửa hàng ở Mỹ
Tại Thái Lan: Seven Eleven thuộc sự sở hữu của tập đoàn Charoen
Pokphand với gần 4000 cửa hàng, chỉ riêng ở Bangkok đã có 1500 cửa hàng,
Thái Lan là thị trường lớn thứ 4 của Seven Eleven
3.2 Family Mart
3.2.1 Giới thiệu chung về FamilyMart
Familymart thuộc về công ty FamilyMart Co, Ltd_ có trụ sở đặt tại Tokyo,
Nhật Bản Family Mart là chuỗi cửa hàng tiện ích lớn thứ 3 ở Nhật Bản sau 7-
Eleven và Lawson và là một trong những thương hiệu cửa hàng tiện ích dẫn đầu
ở Châu Á Hiện nay chuỗi cửa hàng tiện ích này đã mở rộng hoạt động kinh
doanh của nó ra nhiều nước Châu Á và cả Mỹ Chuỗi cửa hàng tiện ích này được
thành lập vào ngày 1/9 năm 1981, trải qua 17 năm hoạt động đến nay Family
Mart đã phát triển thành một chuỗi gồm 13.875 cửa hàng tiện ích (2/2008) ở
Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc bằng hình thức nhượng quyền
thương mại Doanh thu của FamilyMart đạt 1.121.838 triệu yên (khoảng 9,2 tỷ
đôla) (2/2008)
Trang 393.2.2 Hoạt động kinh doanh của Family Mart
Biểu đồ: Sự phát triển số cửa hàng Family Mart ở các quốc gia qua các năm, từ năm 2004 đến
2008
Đến tháng 2 năm 2008 (cuối năm tài chính của Nhật Bản), tổng số cửa
hàng của Family Mart là 13.875 cửa hàng, tăng 753 cửa hàng so với con số
13.222 Cửa hàng vào năm 2007, trong đó số cửa hàng nhượng quyền thương
mại trong nước là 6231 cửa hàng trên tổng số 6691 cửa hàng tiện ích của hãng
trên toàn Nhật Bản Ngoài ra Family Mart còn có các chuỗi cửa hàng tiện ích ở
Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ Trong đó tại Đài Loan thương
hiệu Family Mart thuộc về Family Mart Co Ltd Đài Loan với 2247 cửa hàng,
Tại Hàn Quốc Family Mart thuộc về Bokwang Family mart Co Ltd với 3.787
cửa hàng, Siam Family Mart tại Thái Lan có trong tay 507 cửa hàng, tại Mỹ
Famima Corporation là công ty con của Family Mart với 11 cửa hàng Ở Trung
Quốc hiện nay có 3 công ty sở hữu thương hiệu Family mart đó là Family Mart
Co Ltd Thượng Hải với 118 cửa hàng, Family Mart Co Ltd Quảng Châu với 11
cửa hàng và Suzhou Family Mart Co Ltd với 7 cửa hàng Tổng số cửa hàng
nhượng quyền thương mại ở nước ngoài của Family Mart hiện nay là 6.688 cửa
hàng tiện ích
Tại Mỹ: chuỗi cửa hàng của FamilyMart xuất hiện dưới tên gọi Famima
với cửa hàng tiện ích đầu tiên mở cửa ở phía Tây Hollywood vào mùa hè năm
2005 và hiện nay có 11 cửa hàng với các đồ tạp hóa cần thiết, các đồ dùng văn
Trang 40phòng chủ yếu, sạp báo, dịch vụ Internet, cà phê sáng và dịch vụ chuyển phát
nhanh_ tất cả đều ở trong một cửa hàng Bên cạnh đó với phương châm “chúng
tôi mong muốn các khách hàng Mỹ trải nghiệm một phong cách mua sắm mới”,
các cửa hàng Famima còn có kết nối Internet không dây, máy ATM, máy
photocopy và một khu ăn uống ngay trong cửa hàng
Khách hàng điển hình của Famima_theo như phó giám đốc điều hành của
chuỗi này,ông Hidenari Sato miêu tả: là những người có thu nhập trung bình trở
lên và là người dân địa phương Các cửa hàng Famima nhắm đến mọi lứa tuổi,
nhưng độ tuổi cơ bản của khách hàng là từ 21 đến 44 tuổi Bình quân mỗi khách
hàng chi từ 7 đến 8 đôla và những mặt hàng bán chạy có bánh panini, sushi, đồ
tráng miệng và đồ uống,đặc biệt là nước đóng chai và trà xanh Ông Sato nói:
Famima là sự kêt nối của một cửa hàng tạp hóa loại trung, một nhà hàng ăn
nhanh và một cửa hàng tiện ích Thêm vào đó thiết kế của Famima khác biệt với
bất cứ dạng cửa hàng tiện ích truyền thống nào khác Các cửa hàng Famima đặc
biệt chú trọng đến mảng thực phẩm chế biến: cơm hộp, salad, sushi, bánh panini,
bánh sandwiches, súp nóng, bánh mỳ mới nướng, cà phê (với giá rẻ hơn so với
các chuỗi cửa hàng khác) và cả đồ uống nóng lạnh
Phong cách Nhật có ảnh hưởng sâu đậm đến các cửa hàng Famima, từ
món sushi được làm theo đúng kiểu Nhật “ y hệt như món sushi bạn ăn trong
nhà hàng”, món cơm nắm Nhật cho tới các loại bánh kẹo Nhật, các loại tạp chí
thời trang của Nhật cũng như sự đa dạng của các loại thực phẩm với giá cả phải
chăng
Các cửa hàng Famima được chọn lựa địa điểm cẩn thận Ví dụ cửa hàng
Famima thứ 8 được mở cửa ở đường số 8 tại Figueroa, khu buôn bán kinh doanh
tấp nập của Los Angeles và cũng là khu thương mại lớn nhất Nam California với
hơn 150.000 người làm việc ở khu này và rất nhiều người tham quan thành phố
Los Angeles
3.3 Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam