1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam

53 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 2 Thực Trạng Phát Triển Thị Trường Sản Phẩm Năng Lượng Tái Tạo Vùng Trung Du Miền Núi Phía Bắc Việt Nam
Trường học Trường Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế năng lượng và phát triển bền vững
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 215,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động đến nhu cầu sử dụng sản phẩm năng lượng tái tạo Trên địa bàn các tỉnh vùng TDMNPB, năng lượng tái tạo đã được biết đến và sử dụngrộng rãi trong sản xuất và sinh hoạt nhờ tiềm nă

Trang 1

CHƯƠNG 2.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM NĂNG LƯỢNG TÁI

TẠO VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 2.1 Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tại tạo vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

2.1.1.1 Tổng quan về ĐKTN

Về mặt hành chính, vùng Trung du miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh Hà Giang, CaoBằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, BắcGiang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình Đây là vùng lãnh thổ có diện tích lớn nhấtnhất của cả nước 100.956 km2 chiếm khoảng 28,6 % diện tích cả nước

Vùng Trung du miền núi phía Bắc có vị trí địa lý khá đặc biệt, giáp với 3 tỉnh QuảngĐông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây giáp Lào, phía Namgiáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ

Vùng có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, vớithế mạnh về công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệpnhiệt đới có cả những sản phẩm cận nhiệt và ôn đới, phát triển tổng hợp kinh tế biển và dulịch

Trong đó: Tây Bắc là một vùng gồm chủ yếu là núi trung bình và núi cao Đây là nơi

có địa hình cao nhất, bị chia cắt nhất và hiểm trở nhất Việt Nam Các dạng địa hình phổ biến

ở đây là các dãy núi cao, các thung lũng sâu hay hẻm vực, các cao nguyên đá vôi có độ caotrung bình

Vùng đồi núi Đông Bắc gồm chủ yếu là núi trung bình và núi thấp Khối núi thượngnguồn sông Chảy có nhiều đỉnh cao trên dưới 2000m là khu vực cao nhất của vùng Từ khốinúi này ra tới biển là các dãy núi hình cánh cung thấp dần về phía biển

Các sông suối có trữ năng thủy điện khá lớn Hệ thống sông Hồng (11 triệu kW) chiếmhơn 1/3 trữ năng thủy điện của cả nước Riêng sông Đà chiếm gần 6 triệu kW Nguồn thủynăng lớn này đã và đang được khai thác Nhiều nhà máy Thủy điện nhỏ đang được xây dựngtrên các phụ lưu của các sông

Việc phát triển Thủy điện sẽ tạo ra động lực mới cho sự phát triển của vùng Nhưngcần chú ý đến những thay đổi không nhỏ của môi trường

Hình 2.1 Bản đồ địa lý vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam

Trang 2

Nguồn: Báo ảnh Dân tộc Miền núi, 2017 2.1.1.2 Tổng quan về PTKT

Năm 2020, quy mô tổng sản phẩm của vùng đạt 689,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,71 lần sovới năm 2015 Tốc độ tăng trường tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) khá cao và liên tụcqua các năm (giai đoạn 2016-2020, tốc độ này của vùng đã đạt tới 9%, cao hơn mức trungbình cả nước) Một số địa phương có quy mô GRDP cao như: Thái Nguyên (125,6 nghìn tỷđồng, chiếm 18,2% tổng GRDP cả vùng); Bắc Giang (121,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,6%).Bắc Kạn, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái là những địa phương có quy mô GRDPnhỏ, chiếm từ 1,9% - 4,8% quy mô toàn vùng Quy mô GRDP giai đoạn 2016 - 2020 tănglên 2.868.178 tỷ đồng

Về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khu vực TDMNPB đã có sự pháttriển rất ấn tượng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Khu vực TDMNPB đã hìnhthành được một số vùng sản xuất hàng hóa, vùng chuyên canh tập trung gắn với côngnghiệp chế biến và đảm bảo an ninh lương thực Ngành nông nghiệp cung cấp lương thựccho hơn 12 triệu người và góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho khoảng 3triệu người Các địa phương trong vùng không những đảm bảo an ninh lương thực tại vùng

mà trở thành một phần hàng hóa đặc sản cung cấp cho cả nước, kể cả xuất khẩu VùngTDMNPB là vùng trồng chè lớn thứ nhất cả nước, đồng thời cũng là vùng cây ăn quả lớnthứ 2 toàn quốc (sau đồng bằng sông Cửu Long), với nhiều vùng cây ăn quả hàng hóa tậptrung quy mô lớn phục vụ xuất khẩu như: Vải thiều (Bắc Giang), Nhãn (Sơn La), Cam (HàGiang, Hòa Bình), Na (Lạng Sơn), Xoài (Sơn La) Bên cạnh đó, tổ chức sản xuất của cáctỉnh đã thay đổi, hình thành các hợp tác xã chuyên từng ngành hàng gắn kết với doanhnghiệp và người nông dân

Các địa phương trong vùng cũng tích cực thực hiện tái cơ cấu trong lĩnh vực chănnuôi, chuyển dần từ nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo trang trại, gia

Trang 3

trại Đáng chú ý, hiện nay, vùng TDMNPB đã trở thành vùng trọng điểm về lâm nghiệp; Từnăm 2004 đến nay, bình quân hằng năm, toàn vùng trồng thêm khoảng 100.000ha và bảo vệtốt diện tích rừng hiện có Nhờ đó, tỉ lệ che phủ rừng đã tăng từ 42,9% năm 2004 lên 55,6%năm 2018.

Trong đầu tư phát triển, các tỉnh trong vùng TDMNPB đã chú trọng nâng cao hiệu quảquản lý và sử dụng các nguồn vốn đầu tư nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thu hút cácnguồn vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đảm bảo huy động cao nhấtcác nguồn lực cho đầu tư phát triển Năm 2020, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội toàn vùngđạt 278,3 nghìn tỷ đồng Đầu tư nước ngoài vào vùng đạt 148 dự án, trong đó Bắc Giang,Phú Thọ và Thái Nguyên thu hút nhiều dự án nhất Quy mô GRDP của vùng tương đối nhỏ,quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nhưng vẫn còn chậm GRDP bìnhquân đầu người ở mức thấp so với cả nước, năm 2020 đạt 54,2 triệu đồng Mật độ doanhnghiệp đạt 2,7 doanh nghiệp/1.000 dân trong độ tuổi lao động, là mật độ thấp nhất so vớicác vùng khác trên cả nước Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp chứng chỉ ở mứcthấp…

Từ những chính sách đầu tư, bộ mặt của vùng đã có sự thay đổi lớn, kinh tế - xã hội cóbước phát triển, đời sống người dân từng bước được nâng lên Nhưng trên thực tế, nhiềuchính sách được đầu tư để PTKT - xã hội của vùng chưa tạo sự đột phá Tính GRDP bìnhquân đầu người trong khu vực này ở mức thấp so với cả nước, năm 2020 đạt 54,2 triệuđồng Mật độ doanh nghiệp đạt 2,7 doanh nghiệp/1.000 dân trong độ tuổi lao động, là mật

độ thấp nhất so với các vùng khác trên cả nước

Tại thời điểm ngày 31/12/2020, toàn vùng có 26.470 doanh nghiệp đang hoạt động cókết quả sản xuất kinh doanh Trong đó các tỉnh tập trung nhiều doanh nghiệp là Bắc Giang,Phú Thọ, Thái Nguyên Toàn vùng có 7,8 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ thất nghiệpnăm 2020 ở mức 0,95%, thấp nhất so với các vùng khác và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ thấtnghiệp chung của cả nước (2,48%) Tuy nhiên, lực lượng doanh nghiệp trong khu vựcTrung du miền núi phía Bắc được xếp ở vị trí 5/6 so với các vùng kinh tế trong cả nước vàchỉ đứng trên khu vực Tây Nguyên Quy mô chất lượng doanh nghiệp đa phần là doanhnghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động hiệu quả không cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn diễn

ra chậm Phần lớn các tỉnh trong khu vực được xếp ở nhóm khá hoặc trung bình Trong số

10 tỉnh đứng cuối trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của Phòng thương mạicông nghiệp Việt Nam có 5 tỉnh thuộc vùng

Hệ thống đường ô tô bao gồm các tuyến quốc lộ Quốc lộ 2 dài 312 km chạy từ Hà Nội

- Việt Trì - Phú Thọ - Tuyên Quang - Mèo Vạc, đi qua các thành phố công nghiệp và địabàn giàu khoáng sản, lâm sản và vùng chăn nuôi gia súc lớn; Quốc lộ 3 Hà Nội - TháiNguyên - Bắc Cạn- Cao Bằng - Thuỷ Khẩu dài 382 km, nối liền vùng kim loại màu với Thái

Trang 4

nguyên và Hà Nội;

Quốc lộ 18 (ngang) Bắc Ninh - Uông Bí - Đông Triều - Móng Cái đi qua vùng sảnxuất than đá và điện lực của vùng; Quốc lộ 4 (ngang) từ Mũi Ngọc - Móng Cái - Lạng Sơn -Cao Bằng - Đồng Văn đi qua vùng cây ăn quả, và nối liền với cửa khẩu Việt Trung ;Đường 3A(13A) từ Lạng Sơn- Bắc Sơn- Thái Nguyên- Tuyên Quang - Yên Bái gặp đường

số 2 có ý nghĩa về mặt kinh tế vùng trung du và quốc phòng; Quốc lộ 6 Hà Nội Hoà Bình Sơn La - Lai Châu dài 425 km; Quốc lộ 37 chạy từ Chí Linh (Hải Dương) đi Sơn La dài 422

-km Quốc lộ 4D chạy dọc tuyến biên giới phía Bắc nối với Sapa Lào Cai;

Hệ thống đường sắt Tuyến Hà Nội - Đồng Đăng dài 123 km, nối với ga Bằng Tường(Trung Quốc), đây là tuyến đường sắt quan trọng trong việc tạo ra các mối liên hệ qua một

số khu vực kinh tế và quốc phòng xung yếu Bắc Giang- Chi lăng - Lạng Sơn; Tuyến Hà Nội

- Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai;

số, có tỷ lệ di cư cao, trong đó phần lớn nhập cư vào Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn2009-2019 (209,3 nghìn người, chiếm 61,2% số người nhập cư vào Đồng bằng sông Hồng).Mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009 VùngTDMNPB có mật độ dân số thấp nhất, tương ứng là 132 người/km2 bằng 45,36% mật độdân số cả nước Các tỉnh có mật độ dân số cao hơn cả nước là Bắc Giang (1,59 lần), PhúThọ (1,42 lần), Thái Nguyên (1,26 lần) Các tỉnh còn lại đều có mật độ dân số thấp Dân sốthành thị là 33.122.548 người, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước; dân số nông thôn là63.086.436 người, chiếm 65,6% Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ dân số thành thịthấp nhất (18,2%), Bắc Giang là một trong các tỉnh có tỷ lệ dân số thành thị thấp nhất cảnước (11,4%)

2.1.2 Đánh giá tác động các điều kiện tự nhiên, xã hội và PTKT đến tiềm năng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo chủ yếu vùng Trung du miền núi phía Bắc

2.1.2.1 Tác động đến tiềm năng PTSX, cung ứng sản phẩm NLTT

Các ĐKTN cho thấy vùng TDMNPB có tiềm năng lớn về phát triển nguồn cungNLTT, đặc biệt là tiềm năng lớn về Thủy điện Trong đó, tiềm năng Thủy điện qui mô nhỏ

và cực nhỏ được phân bố rông khắp các tỉnh trong vùng Các tiềm năng NLTT (NLMT,

Trang 5

Gió, Địa nhiệt, Sinh học) chỉ ở mức trung bình và phục vụ cho nhu cầu năng lượng qui mônhỏ, phân tán ở qui mô trang trại, các hộ gia đình Cụ thể:

1) Tiềm năng về Thủy điện: Với điều kiện địa hình chia cắt, sông suối nhiều và có độchênh lệch lớn về dòng chảy, tạo ra thủy năng mạnh, theo khảo sát điều tra, vùng đồng bằng

và TDMNPB có tiềm năng cao về phát triển thủy điện vượt trội cao so với các loại NLTTkhác trong vùng và so với cả nước Trong đó, tiềm năng Thủy điện lớn đã được khai thác,còn lại chủ yếu là tiềm năng TĐN và cực nhỏ với công suất ≤30MW Hiện có khoảng10.612 vị trí với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 371,40 MW (quy mô công suất từ200W÷ 30MW/trạm) Cụ thể, các tỉnh có tiềm năng TĐN, bao gồm: Phú Thọ; TuyênQuang; Yên Bái; Bắc Kạn; Thái Nguyên; Hoà Bình

2) Tiềm năng về điện Gió: Dựa vào dữ liệu từ các trạm khí tượng thuỷ văn, tiềm năngđiện Gió tại vùng TDMNPB được đánh giá là không cao, trong vùng tốc độ gió phù hợp chophát triển điện Gió chỉ có khu vực cửa khẩu Tây Trang (Điện Biên)

3) Tiềm năng về điện Mặt trời: Các tỉnh vùng TDMNPB có lượng BXMT khác nhau

và thay đổi theo mùa Đông Bắc số giờ nắng trong năm 1.600 - 1.750 giờ , Cường độBXMT (kWh/m2, ngày) là 3,3 – 4,1 Tây Bắc số giờ nắng trong năm 1.750-1.800 giờ,Cường BXMT (kWh/m2, ngày) là 4,1- 4,9 Các tỉnh có số giờ nắng cao nhất là các tỉnhĐiện Biên, Sơn La, thời điểm trong năm khai thác hiệu quả NLMT khu vực này là vàotháng 3 - tháng 9, trong khi vào các tháng mùa đông hiệu quả khai thác là rất thấp

4) Tiềm năng về năng lượng Sinh khối: Với diện tích rừng hiện có và tốc độ phát triểnrừng trồng trong giai đoạn vừa qua, vùng Trung du Bắc Bộ là vùng giàu tiềm năng sinh khối(NLSK), đặc biệt là củi vẫn là nguồn chất đốt quan trọng cho đun nấu và chế biến nông sản

ở các vùng nông thôn, phụ phẩm nông nghiệp như trấu, rơm rạ, bã mía, thân cây đậu Ngoài ra, NLSK có nguồn gốc động vật (phân động vật, phụ phẩm lò mổ, chế biến thựcphẩm… ) có thời gian phân huỷ không dài và năng suất KSH cao Hầu hết các tỉnh vùnghiện đang chuyển dịch chăn nuôi theo hướng khuyến khích và tăng chăn nuôi tập trung nhưtrang trại, gia trại quy mô vừa và nhỏ Nếu các trang trại đều áp dụng công nghệ KSH để xử

lý chất thải và thu hồi năng lượng thì sản lượng KSH trung bình hàng năm vào khoảng931.738.238 m3/năm, tương đương 521.773 TOE cho việc cấp nhiệt

5) Tiềm năng về sản xuất nhiên liệu Sinh học: Vùng nguyên liệu sắn cho Nhà máy sảnxuất Ethanol tập trung ở các tỉnh TDMNPB bao gồm 7 tỉnh: Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình,Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái và Tuyên Quang Tiềm năng lý thuyết sản xuất ethanol củavùng đến năm 2020 có thể lên đến 248 triệu lít/năm Tuy nhiên, quy hoạch quỹ đất của cáctỉnh, diện tích trồng sắn sẽ không tăng

6) Tiềm năng về năng lượng Địa nhiệt: Trong số các tỉnh vùng TDMNPB trongnghiên cứu này chỉ có 7 tỉnh có tiềm năng về năng lượng Địa nhiệt Tây Bắc có 79 nguồn

Trang 6

Địa nhiệt, trong đó xét theo cấp nhiệt độ thì chỉ có 3 nguồn thuộc loại nước rất nóng (2nguồn thuộc tỉnh Điện Biên, 1 nguồn thuộc tỉnh Tuyên Quang), còn lại 34 nguồn nước nóngvừa và 32 nguồn nước ấm

2.1.2.2 Tác động đến nhu cầu sử dụng sản phẩm năng lượng tái tạo

Trên địa bàn các tỉnh vùng TDMNPB, năng lượng tái tạo đã được biết đến và sử dụngrộng rãi trong sản xuất và sinh hoạt nhờ tiềm năng lớn về NLTT, đặc biệt là năng lượngThủy và năng lượng Sinh khối (gỗ, củi) Tuy nhiên, xét về phương diện thị trường SPNLTT,các yếu tố về điều kiện, tự nhiên, kinh tế - xã hội đang và sẽ có một số tác động chủ yếu đếnnhu cầu thị trường SPNLTT như:

1) Tổng qui mô nhu cầu tiềm năng trên thị trường năng lượng nói chung các sản phẩmNLTT của vùng TDMNPB thấp hơn so với mức trung bình cả nước Bởi vì, qui mô nhu cầutrên thị trường nói chung phụ thuộc vào qui mô dân số, mức thu nhập và khả năng chi trảcủa người dân

Thực tế cho thấy, tại vùng TDMNPB, mặc dù qui mô dân số năm 2019 là 12.569,3người, chiếm 13,03% cả nước, nhưng mật độ dân số thấp cộng với xu hướng giảm dân số cơhọc và mức qui mô GRDP và mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp Đồng thời, trong

cơ cấu kinh tế chung của các tỉnh thì tỷ trọng các ngành ít tiêu dùng năng lượng - nông, lâmnghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng khá cao

Do đó, xét về qui mô dân số và mức thu nhập thực tế chung của các tỉnh vùngTDMNPB thì qui mô và mật độ nhu cầu sử dụng sản phẩm NLTT hiện tại còn khá thấp sovới mức trung bình cả nước

2) Nhu cầu, tiềm năng về sản phẩm năng lượng tái tạo vùng TDMNPB

Trong giai đoạn vừa qua, vùng TDMNPB đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

và quá trình chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh các ngànhcông nghiệp và dịch vụ Đồng thời, số lượng doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp,dịch vụ cũng như các trang trại trong vùng TDMNPB cũng đang có xu hướng gia tăngnhanh Đây là những yếu tố làm gia tăng nhanh lượng khách hàng tiềm năng là các tổ chức,doanh nghiệp trên thị trường năng lượng Đồng thời, triển vọng gia tăng thu nhập của các hộgia đình trong vùng sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng các sản phẩm, thiết bị sử dụng điện kéotheo sự gia tăng nhu cầu sử dụng năng lượng điện Xu hướng gia tăng nhu cầu tiềm năng sẽkích thích phát triển nguồn cung SPNLTT và do đó sẽ là tăng tỷ trọng nhu cầu về SPNLTTtrong vùng

3) Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm NLTT trong vùng TDMNPB sẽ thúc đẩy nhu cầu vềcác thiết bị chuyển đổi sản phẩm NLTT qui mô vừa và nhỏ

Tiềm năng NLTT của vùng TDMNPB chủ yếu là Thủy điện, trong đó tiềm năng Thủy

Trang 7

điện lớn đã được khai thác, còn lại chủ yếu là tiềm năng thủy điện nhỏ Các tiềm năngNLTT khác chỉ được đánh giá ở mức độ trung bình và thấp Đồng thời, đặc điểm phân bốdân cư trong vùng khá phân tán.Việc phát triển các nguồn Cung NLTT tập trung sẽ làm tăngchi phí xây dựng hệ thống hạ tầng phân phối… Do đó, nhu cầu sử dụng NLTT trong vùngTDMNPB có thể sẽ phát triển theo hai hướng chính: Một là, nhu cầu sử dụng sản phẩmNLTT phân tán theo nhóm nhỏ (xã, huyện); Hai là, các hộ gia đình, kể cả các doanh nghiệp,các trang trại và các tổ chức khác cũng sẽ có xu hướng mua sắm các thiết bị chuyển đổiNLTT “Đầu-Cuối” để thỏa mãn nhu cầu năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng dân cư.

2.1.2.3 Tác động đến mức giá sản phẩm năng lượng tái tạo

Mặc dù, nguồn NLTT là sẵn có, hầu như là vô hạn và miễn phí, nhưng việc chuyển đổithành sản phẩm NLTT để cung ứng rộng rãi trên thị trường năng lượng phụ thuộc lớn vàokhả năng công nghệ, chi phí đầu tư, vận hành và phân phối Tại vùng TDMNPB, các điềukiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có thể gây tác động làm tăng chi phí sản xuất, phân phối sảnphẩm NLTT do:

1) Qui mô sản xuất sản phẩm NLTT, trừ thủy điện qui mô vừa và lớn đã được khaithác, còn lại chủ yếu có qui mô nhỏ và siêu nhỏ Do đó, chi phí sản suất, nhất là đối với các

cơ sở sản xuất phục vụ nhu cầu nhóm nhỏ khó đạt được mức chi phí cận biên điều này tácđộng đến mức giá sản phẩm NLTT

2) Việc phân phối các sản phẩm năng lượng nói chung và sản phẩm điện NLTT nóiriêng đòi hỏi hệ thống hạ tầng chuyên biệt (mạng lưới truyền tải điện, mạng lưới đường ốngdẫn nhiên liệu sinh học,…) Trong khi đó, nhu cầu trong vùng TDMNPB có qui mô tươngđối nhỏ và phân bố phân tán Điều đó sẽ làm tăng chi phí lưu thông và tăng giá bán trên thịtrường

3) Việc sử dụng thiết bị đầu - cuối để chuyển đổi năng lượng phục vụ trực tiếp cho nhucầu năng lượng của các hộ gia đình, trang trại, các tổ chức và các doanh nghiệp tuy giảmđược chi phí cung ứng, nhưng lại làm tăng vốn đầu tư ban đầu và các chi phí liên quan đếnvận hành, bảo trì, bảo dưỡng thiết bị

Tóm lại, các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng TDMNPB vừa có những tácđộng tích cực, vừa có tác động tiêu cực đến tiềm năng phát triển thị trường SPNLTT.Những tác động tích cực liên quan đến sự sẵn có các nguồn NLTT, triển vọng tăng nhanhnhu cầu tiêu dùng năng lượng nói chung và sản phẩm điện NLTT nói riêng, cũng như nhữnglợi ích của việc sử dụng sản phẩm điện NLTT

Tuy nhiên, những tác động tích cực đó mới dừng lại ở dạng tiềm năng Ngược lại,những tác động tiêu cực đến tiềm năng phát triển thị trường sản phẩm NLTT lại có mức độhiện hữu cao hơn, bao gồm những khó khăn trong thực hiện chuyển đổi NLTT, thương mạihóa các SPNLTT, khả năng chi trả cho SPNLTT, hoặc các thiết bị chuyển đổi NLTT của

Trang 8

doanh nghiệp và người dân.

2.2 Thực trạng phát triển nguồn cung sản phẩm năng lượng tái tạo vùng Trung

du miền núi phía Bắc

2.2.1 Thực trạng phát triển nguồn cung sản phẩm năng lượng tái tạo

2.2.1.1 Thực trạng phát triển nguồn cung điện năng lượng tái tạo từ năng lượng nước

Vùng Trung du miền núi phía Bắc với lợi thế chung lớn nhất của vùng chính là pháttriển Thủy điện Thực tế, tiềm năng Thủy điện của vùng TDMNPB đã được khai thác vàcung ứng ở qui mô công nghiệp từ nửa cuối thế kỷ 20, như Thác Bà (1964), Hòa Bình(1979) Các nhà máy thủy điện khác chủ yếu được xây dựng và đưa vào khai thác từ thập kỷđầu của thế kỷ 21

Tính đến 12/2021, trong cả nước có 41 nhà máy thủy điện công suất lớn (từ 100 MWtrở lên), trong đó có 10 nhà máy trên địa bàn các tỉnh vùng TDMNPB tại Sơn La có 3, LaiChâu có 3, các tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Yên Bái và Hà Giang mỗi tỉnh có 1 nhà máy.Trong đó: có 10 nhà máy thủy điện vùng TDMNPB có tổng công suất lắp đặt là 7.171 MWvới sản lượng điện là 28.456 KWh/năm

So với cả nước, vùng TDMNPB chỉ chiếm 24,4% số lượng các nhà máy Thủy điện,nhưng chiếm 50,1% về công suất và 50,9% về sản lượng điện (Theo số liệu tổng hợp củaCục Điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương tại bảng 2.1)

Như vậy, các nhà máy Thủy điện qui mô lớn tập trung chủ yếu ở vùng TDMNPB sốlượng ít nhất là đông nam bộ với công suất chiếm 1,6% với sản lượng là 1,2% Vùng BắcTrung bộ và Duyên hải miền trung có 17 cái chiếm tỷ lệ 31,9% công suất và 31,4% sảnlượng

Bảng 2.1: Các nhà máy thủy điện công suất lớn

nhà máy

Công suất P LM

(MW)

Sản lượng (triệu KWh/năm)

Sốlượng Tỷ lệ

Sốlượng Tỷ lệ

Nguồn: Cục điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương, 2021

Hiện cả nước có 330 nhà máy Thủy điện vừa và nhỏ có công suất lắp máy từ 5 MWtrở lên, trong đó tại vùng TDMNPB đã xây dựng 158 nhà máy, chiếm 48,9%

Trang 9

Tổng số có 158 nhà máy Thủy điện tại vùng TDMNPB có tổng công suất lắp đặt là3.498,2 MW chiếm 45,6% cả nước và sản lượng điện là 8.741 triệu KWh/năm chiếm 38,7%

cả nước (Bảng 2.2) Như vậy, so với các vùng khác, các nhà máy thủy điện công suất vừa vànhỏ tại vùng TDMNPB lại có công suất và sản lượng điện bình quân 1 nhà máy thấp hơn

Bảng 2.2: Các nhà máy thủy điện công suất vừa và nhỏ.

nhà máy

Công suất P LM

(MW)

Sản lượng (triệu KWh/năm)

Sốlượng Tỷ lệ

Sốlượng Tỷ lệ

Nguồn: Cục điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương, 2021

Về phân bố các nhà máy Thủy điện công suất vừa nhỏ trong vùng TDMNPB cho thấy,

số lượng nhà máy Thủy điện công suất vừa và nhỏ phân bố chủ yếu ở Lào Cai với 34 nhàmáy, chiếm 21,5% của vùng Hà Giang với 30 nhà máy, chiếm 19%, Sơn La 27 nhà máy,chiếm 17,1% và Lai Châu với 21 nhà máy, chiếm 13,3% Các tỉnh có ít nhà máy thủy điệncông suất vừa và nhỏ là Tuyên Quang (5 nhà máy)

Lạng Sơn và Bắc Cạn mỗi tỉnh chỉ có 1 nhà máy (bảng 2.3) Ngoài ra, các tỉnh TháiNguyên, Phú Thọ, Bắc Giang chưa xây dựng nhà máy Thủy điện và Hòa Bình không có nhàmáy thủy điện công suất vừa và nhỏ

Bảng 2.3: Các nhà máy thủy điện công suất vừa và nhỏ

(MW)

Sản lượng (triệu KWh/năm)

Sốlượng Tỷ lệ

Sốlượng Tỷ lệ

Sốlượng Tỷ lệ

Trang 10

Nguồn: Cục điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương, 2021

Công suất bình quân một nhà máy của các tỉnh trong vùng dao động trong khoảng trêndưới 20 MW Trong đó, Tuyên Quang tuy có số lượng nhà máy thấp, nhưng công suất bìnhquân một nhà máy cao hơn so với các tỉnh khác Các tỉnh có công suất bình quân một nhàmáy thấp là Cao Bằng và Sơn La

Tính chung các nhà máy Thủy điện qui mô lớn đến qui mô vừa và nhỏ trong vùngTDMNPB so với cả nước, chiếm tới 48,6% về tổng công suất và 47,4% về sản lượng điệnhàng năm Điều này một mặt đã phản ánh rõ nét tiềm năng NLTT thủy điện của vùngTDMNPB, mặt khác cũng cho thấy tiềm năng này đã được khai thác mạnh mẽ trong nhữngthập kỷ qua

Về công suất lắp đặt các nhà máy Thủy điện tại vùng TDMNPB: Theo số liệu bảng 2.4cho thấy, công suất lắp đặt các nhà máy Thủy điện trong vùng tăng nhanh trong giai đoạn2011-2015, đạt tốc độ tăng bình quân 21,1%/năm Trong đó, các nhà máy công suất lớntăng 17,4%/năm, đặc biệt các nhà máy công suất vừa và nhỏ tăng rất nhanh, đạt tốc độ tới41,6%/năm Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng công suất lắp đặt của cácnhà máy Thủy điện trong vùng đã chậm lại, đạt 8,7%/năm Trong đó, tốc độ tăng công suấtlắp đặt các nhà máy thủy điện công suất vừa và nhỏ đạt 15,5%/năm, vẫn cao hơn so với cácnhà máy công suất lớn đạt 6,2%/năm Thực tế, sau năm 2019, trong vùng không có nhà máythủy điện công suất lớn được xây dựng trong vùng Ngược lại, công suất lắp đặt của các nhàmáy Thủy điện công suất vừa và nhỏ vẫn tiếp tục tăng lên đạt 2,3%/năm

Bảng 2.4: Tổng công suất các nhà máy Thủy điện và sản lượng điện hàng năm vùng

TDMNPB qua các giai đoạn T

2010

2015

2011- 2020

2016- 2022

Trang 11

36.930

37.19

Nguồn: Cục điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương, 2021

Về sản lượng phát điện hàng năm của các nhà máy Thủy điện tại vùng TDMNPB: Sảnlượng phát điện hàng năm của các nhà máy thủy điện trong vùng cũng tăng nhanh trong giaiđoạn 2011-2015, đạt tốc độ tăng bình quân 19,2%/năm Trong đó, sản lượng phát điện hàngnăm của các nhà máy công suất lớn tăng 16,7%/năm và các nhà máy công suất vừa và nhỏtăng 36,5%/năm Trong giai đoạn 2016-2020, tương tự như xu hướng tăng công suất lắp đặt,tốc độ tăng sản lượng phát điện hàng năm của của các nhà máy thủy điện trong vùng đãchậm lại, đạt 7,2%/năm Trong đó, tốc độ tăng sản lượng phát điện hàng năm của các nhàmáy thủy điện công suất vừa và nhỏ đạt 12,2%/năm, cao hơn so với các nhà máy công suấtlớn đạt 5,9%/năm Đồng thời, sản lượng phát điện hàng năm của các nhà máy thủy điệncông suất vừa và nhỏ vẫn tiếp tục tăng trong các năm 2021-2022, đạt 1,9%/năm

2.2.1.2 Thực trạng phát triển nguồn cung điện NLTT từ các nguồn năng lượng tái tạo khác

Bên cạnh tiềm năng Thủy điện đã được khai thác mạnh mẽ trong giai đoạn vừa qua,mặc dù đã có định hướng phát triển (tại Quyết định số 8217/QĐ-BCT của Bộ CôngThương) nhưng việc phát triển các nguồn cung điện từ các nguồn NLTT khác diễn ra kháchậm Cụ thể:

1) Nguồn cung điện từ năng lượng Mặt trời: Tiềm năng NLMT của vùng TDMNPBtập trung ở các tỉnh khu vực Tây Bắc Thực tế, các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên và Sơn La lànhững tỉnh có được sản lượng điện năng lượng mặt trời cao hơn so với trong vùng Theo sốliệu thống của Tổng công ty điện lực Miền Bắc đến hết ngày 31/10/2021 tại vùng TDMNPB

có tổng số 3.273 dự án điện mặt trời áp mái nối lưới với tổng công suất là 151.416 Kwp.Sản lượng điện bán ra là 126.202.087 Kwh góp phần giảm thiểu áp lực lên hệ thống lướiđiện đồng thời đem lại hiệu quả về kinh tế xã hội cho vùng

Bảng 2.5: Tổng hợp các dự án Điện Mặt trời nối lưới

Trang 12

TT Công ty Điện

lực tỉnh

Số lượng DA/HT

Công suất (kWp)

Sản lượng điện mua từ ĐMTMN tính đến thời điểm 31/10/2021 (kWh)

Nguồn: Tổng Công ty điện lực Miền Bắc,2021

Theo số liệu bảng 2.5 cho thấy, công suất lắp đặt của các dự án năng lượng mặt trờitrong vùng TDMNPB chủ yếu có công suất nhỏ, chủ yếu cung cấp điện cho khu vực địaphương Đồng thời, các dự án công suất lớn hơn cũng đã được lắp đặt tài các tỉnh có tiềmnăng Do đó, các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Hòa Bình chiếm tới 80,5% sản lượng điện nănglượng mặt trời của cả vùng, trong đó cáo nhất tại Sơn La chiếm 46,8%, tiếp đến là ĐiệnBiên chiếm 21,5% và Hòa Bình chiếm 12,1%

2) Nguồn cung điện từ năng lượng Sinh khối: Theo số liệu tính toán số lượng Chất thảirắn sinh hoạt và định hướng phát triển trong vùng, thì các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên,Việt Trì, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình, Bắc Giang có tiềm năng để xây dựng nhà máy phátđiện từ năng lượng Sinh khối

Hiện nay, trên địa bàn các tỉnh TDMNPB hiện đã có Nhà máy Điện sinh khối míađường tại tỉnh Tuyên Quang (Triển khai theo Quyết định số 24 năm 2014 của Thủ tướngChính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển các Dự án điện sinh khối tại Việt Nam) Nhà máyĐiện sinh khối mía đường Tuyên Quang có công suất 25MW đã vận hành ổn định, sản xuất

2 triệu KW, trong đó có 1 triệu 200 KW được đưa vào lưới điện Quốc gia, còn lại phục vụhoạt động sản xuất mía đường Dự án điện Sinh khối tại huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) dựkiến 50MW ( vận hành 2030)

Bên cạnh đó, Dự án Nhà máy xử lý rác thải phát điện Trạm Thản (Phú Thọ) được

Trang 13

UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt đầu tư năm 2019, có công suất 18 MW dự kiến đưa vào vậnhành vào năm 2023, giai đoạn 2 với công suất 9 MW sẽ được vận hành vào năm 2026 (nhàmáy được kết nối với hệ thống điện quốc gia bằng điện áp 110 kV)

3) Nguồn cung điện NLTT như điện Gió, Địa nhiệt, do hạn chế về tiềm năng nênhiện nay chưa có dự án

2.2.2 Thực trạng phát triển nguồn cung sản phẩm năng lượng tái tạo khác

2.2.2.1.Thực trạng phát triển nguồn cung nhiên liệu sinh học.

Vùng Trung du miền núi phía Bắc được đánh giá tương đối có tiềm năng sản xuấtEthanol sinh học từ cây sắn Các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, ĐiệnBiên, Sơn La là khu vực có diện tích trồng sắn lớn, tập tung và đã áp dụng công nghệ trồnggiống sắn cao sản cho kết quả tốt

Đến nay, trong cả vùng mới có một Dự án Nhà máy Ethanol Phú Thọ tại huyện TamNông (Phú Thọ) Dự án này đã được UBND tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận đầu tư ngày12/8/2008 với Tổng mức đầu tư 1.317,5 tỷ đồng, do Công ty CP Hóa dầu và Nhiên liệu sinhhọc Dầu khí (PVB) làm chủ đầu tư Tuy nhiên, đến năm 2011, Dự án ngừng thi công vàchưa được tái khởi động

2.2.2.2 Thực trạng phát triển nguồn cung Khí sinh học.

Theo định hướng chung của vùng (tại Quyết định số 8217/QĐ-BCT của Bộ Công

Thương), tiềm năng khí sinh học của các tỉnh trong vùng được chia làm 3 nhóm: Khu vực

tiềm năng thấp gồm các tỉnh Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái và Hoà Bình;Khu vực tiềm năng trung bình: Phú Thọ; Khu vực tiềm năng tốt: Bắc Giang được địnhhướng khai thác ở qui mô hộ gia đình Hiện nay, tiềm năng Khí sinh học trong vùng mớiđược khai thác ở qui mô hộ gia đình, còn quy mô trang trại khí sinh học (có thể phát điện)chưa được đầu tư Các công trình khí sinh học với quy mô hộ gia đình được xây dựng theocông nghệ của Viện Năng lượng, các loại bể Composit cải tiến thiết kế, hoặc các kiểu thiết

kế mới của các đơn vị nghiên cứu Thể tích của các công trình này sẽ nằm trong khoảng từ

10 đến dưới 50m3 tuỳ thuộc vào quy mô chăn nuôi hoặc quy mô sản xuất của hộ gia đình Với quy mô này Khí sinh học được sử dụng chủ yếu để cấp nhiệt cho đun nấu, thắpsáng, sản xuất nhỏ, sấy nông sản Đến nay, tỷ lệ số hộ trong vùng đã xây dựng các côngtrình khí sinh học còn thấp so với số hộ tiềm năng (liên quan đến khu vực nông thôn và các

hộ sản xuất qui mô trang trại) Tỷ lệ này tính chung cho các tỉnh chỉ đạt 4,71%, trong đó caonhất là Thái nguyên đạt 7,69% và thấp nhất tại tỉnh Tuyên Quang với 1,63%

2.2.2.3 Thực trạng phát triển nguồn cung năng lượng Địa nhiệt.

Trong vùng TDMNPB có nhiều nguồn nước khoáng nóng có nhiệt độ bề mặt từ 30 

1050C, trong đó nguồn địa nhiệt của Tuyên Quang, Phú Thọ có thể khai thác năng lượng với

Trang 14

quy mô công nghiệp Hiện nay, việc khai thác nguồn nước khoáng nóng tại các tỉnh còn hạnchế, mới được khai thác phục vụ cho phát triển du lịch qui mô nhỏ.

2.2.3 Thực trạng phát triển hạ tầng cung ứng các sản phẩm năng lượng tái tạo vùng Trung du miền núi phía Bắc

2.2.3.1 Đối với hạ tầng cung cấp điện năng lượng tái tạo

Hạ tầng cung ứng các sản phẩm NLTT trong vùng TDMNPB khá đa dạng và ở nhiềucấp độ khác nhau như: (1) Hạ tầng cung cấp điện từ Thủy điện: Trong vùng TDMNPB,Thủy điện là nguồn cung sản lượng chiếm tỷ trọng lớn không chỉ trong vùng mà cả trongpham vi cả nước Sản lượng điện của các nhà máy công suất lớn cũng như các nhà máycông suất vừa và nhỏ đều đã được hòa vào lưới điện quốc gia và được phân phối rộng rãiđến các cơ sở tiêu dùng trong cả nước Hệ thống truyền tải và phân phối điện ở nước ta cómức độ bao phủ khá lớn Tuy nhiên, hiện có nghịch lý là sản lượng điện được sản xuất chủyếu tại vùng TDMNPB, nhưng đây cũng là vùng có tỷ lệ thôn bản chưa tiếp cận được lướiđiện quốc gia ở mức cao Nguyên nhân chủ yếu của nghịch lý này liên quan đến vốn đầu tư

hạ tầng lưới điện tầng lớn, trong khi đó khả năng thu hối vốn đầu tư thấp do tiêu dùng phântán, qui mô nhỏ Chính vì vậy, các địa phương trong vùng đã xây dựng các dự án thủy điệnqui mô siêu nhỏ (thôn, bản và hộ gia đình) Tuy nhiên, do công suất nhỏ và ở khu vực chưa

có điện lưới quốc gia, nên hạ tầng phân phối điện chủ yếu hình thành tự phát, phục cho nhucầu sử dụng điện của nhóm nhỏ và hộ gia đình; (2) Hạ tầng cung ứng điện từ năng lượngMặt trời: Các dự án điện năng lượng Mặt trời trong vùng TDMNPB chủ yếu có qui mô nhỏ(qui mô thôn bản, cơ quan, tổ chức) và siêu nhỏ (qui mô hộ gia đình) Hiện nay, các công tyđiện lực địa phương của đã tổ chức mua điện NLMT từ các dự án này để hòa vào lưới điện

và cung ứng cho tiêu dùng rông rãi Tuy nhiên, phần lớn sản lượng điện NLMT trong vùngđược cung ứng trực tiếp cho tiêu dùng của các gia đình, các nhóm nhỏ; (3) Hạ tầng cungứng điện Sinh khối: Trong vùng TDMNPB hiện có 01 nhà máy điện sinh khối (sử dụng bãmía) tại Tuyên Quang Sản lượng điện của nhà máy cũng chủ yếu phục vụ nhu cầu trực tiếp,chỉ một tỷ lệ nhỏ được hòa vào lưới điện quốc gia

2.2.3.2 Đối với hạ tầng cung cấp khí và nhiên liệu sinh học

Các dự án khí sinh học trong vùng TDMNPB mới dừng lại qui mô hộ gia đình và cũngchưa phát triển mạnh Các dự án trang trại KSH có khả năng cung cấp khí sinh học rộng rãichưa hình thành Do đó, hạ tầng cung ứng KSH chưa được quan tâm xây dựng

2.2.3.3 Đối với hạ tầng cung cấp nhiên liệu Sinh khối

Củi, rơm, trấu, bã mía… là loại NLTT truyền thống được người dân và các cơ sở sảnxuất nhỏ sử dụng từ lâu đời Trước đây, loại nhiên liệu này được cung ứng chủ yếu qua hệthống chợ và một phần qua cửa hàng của các doanh nghiệp thương mại Hiện nay, việc cungứng các loại NLSK này đã suy giảm đáng kể do những hạn chế trong việc lưu thông và sử

Trang 15

dụng Do đó, trên địa bàn các tỉnh TDMNPB chỉ một số chợ còn đoàng vai trò là hạ tầngcung ứng các NLSK này.

2.2.3.4 Hạ tầng cung ứng các sản phẩm thiết bị chuyển đổi NLTT

Các mặt hàng thiết bị chuyển đổi năng lượng tái tạo, nhất là thiết bị chuyển đổi nănglượng MT, KSH hầu như chưa được sản xuất trong nước Mặt khác, đây là những mặt hàng

kỹ thuật, đòi hỏi các nhà cung ứng phải cung cấp các dịch vụ lắp đặt, hướng dẫn vận hành

và bảo hành Do đó, kênh phân phối sản phẩm thiết bị chuyển đổi năng lượng bao gồm: (1)Đối với các dự án NLTT lớn, các doanh nghiệp thường trực tiếp nhập khẩu thiết bị chuyểnđổi cho dự án tỷ trọng các sản phẩm thiết bị chuyển đổi sản xuất trong nước rất thấp; (2)Đối với dự án nhỏ qui mô hộ gia đình, nhóm nhỏ, các doanh nghiệp chuyên ngành nhậpkhẩu và phân phối sản phẩm trên thị trường Do đó, trên địa bàn các tỉnh TDMNPB, hạ tầngcung ứng các thiết bị này (kho, bãi, cửa hàng giới thiệu sản phẩm,…) còn hạn chế về mức

độ bao phủ và chủ yếu có qui mô nhỏ

2.3 Thực trạng phát triển nhu cầu tiêu dùng sản phẩm năng lượng tái tạo

2.3.1 Tổng quan về tiêu dùng năng lượng tái tạo ở Việt Nam và vùng Trung du miền núi phía Bắc

Sản phẩm NLTT chủ yếu ở nước ta hiện nay bao gồm điện NLTT và nhiên liệu sinhhọc Như đã nêu trên đây, hầu hết các nguồn điện NLTT đã được truyền tải và bán qua hệthống lưới điện quốc gia Nhiên liệu sinh học được sử dụng để pha trộn từ 4 ÷ 5% thể tíchcồn sinh học (Ethanol) được bán dưới dạng xăng E5RON92 hay xăng RON92 E5 Như vậy,

về cơ bản, bức tranh tiêu dùng NLTT của cả nước cũng phản ánh thực tế tiêu dùng NLTTtại các tỉnh thuộc vùng TDMNPB

Trong giai đoạn 2010 - 2019, trong cơ cấu tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng (TFEC),mặc dù vẫn có sự gia tăng thiêu thụ than và dầu, nhưng tỷ trọng tiêu thụ NLTT cũng đã có

sự gia tăng từ 7,1% năm 2010 lên 8,6% năm 2019

Đặc biệt, trong giai đoạn này chứng kiến sự sụt giảm mạnh mẽ của năng lượng phithương mại trong cơ cấu TPES, từ 13,7% năm 2010 xuống còn 4,9% năm 2015 và đến năm

2019 ước tính chỉ còn 0,3%

Năng lượng phi thương mại thường chỉ các loại được sử dụng trong sinh hoạt như củi

gỗ, các chất phế thải từ sản xuất nông nghiệp, rác, vv Đây là loại năng lượng được ngườidân ở các khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực miền núi sử dụng chủ yếu dưới hình thức

Trang 16

Nguồn: Dự thảo ấn phẩm “Thống kê Năng lượng việt Nam 2019” (VES-2019)

Đồng thời, trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng, tỷ lệ tiêu thụ điện trên tổng tiêu thụ nănglượng cuối cùng tăng liên tục, thể hiện sự chuyển đổi từ các dạng nhiên liệu khác sang điện

Tỷ lệ tiêu dùng điện NLTT năm 2010 đạt 17,2%, tăng lên 23,2% vào năm 2015 và 29,1%vào năm 2019 Điều này cho thấy cơ hội thị trường đang mở rộng cho các nguồn cung điệnNLTT

Bên cạnh đó, chỉ số tiêu thụ năng lượng trên GDP ở nước ta năm 2010 là 364kgOE/1.000 USD, giảm dần xuống 295,7 kgOE/1.000 USD vào năm 2017, nhưng sau đó lạităng lên 308,9 kgOE/1.000 USD năm 2018 và 307,9 kgOE/1.000 USD vào 2019 Nhìnchung, cường độ tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn 2010 – 2019 giảm không nhiều, từ 364kgOE/1.000 USD vào năm 2010 chỉ giảm xuống 307,9 kgOE/1.000 USD vào năm 2019.Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng năng lượng của Việt Nam đang rất thấp và cần phảisớm cải thiện Trong tương lai, việc phát triển năng lượng cần đặc biệt chú trên cả haiphương diện: Một là, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng; Hai là phát triển mạnh nănglượng mới, tái tạo, nhằm tăng nguồn thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạnkiệt và sự phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng

2.3.2 Thực trạng tiêu dùng điện và điện năng lượng tái tạo của vùng Trung du miền núi phía Bắc

Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020 của Tổng cục Thống

kê, hầu hết các thôn ở khu vực nông thôn nước ta đều đã có điện Tỷ lệ thôn có điện ở vùngTDMNPB là 97,39%, nhưng là tỷ lệ thấp nhất cả nước Đồng thời, tỷ lệ thôn có điện lướiquốc gia tại vùng TDMNPB còn thấp hơn, chỉ đạt 95,21% Nếu tính theo số thôn chưa cóđiện, vùng TDMNPB có 547 thôn, chiếm 80.2% số thôn chưa có điện trong cả nước Cácthôn chưa có điện chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Nếu tính số thôn cóđiện nhưng không phải từ điện lưới quốc gia, theo số liệu điều tra, cả nước có 619 thôn,trong đó vùng TDMNPB có 457 thôn, chiếm 73.8% cả nước Nghĩa là, trong vùngTDMNPB hiện có 457 thôn hay 2,2% số thôn có nguồn cung cấp điện tại chỗ bảng 2.6

Trang 17

Điều này, một mặt cho thấy việc cấp điện từ lưới điện quốc gia đến vùng sâu, vùng xa, vùngđặc biệt khó khăn gặp nhiều trở ngại, nhất là về kinh phí đầu tư Mặt khác, trong chừng mựcnào đó, nó cũng phản ánh khả năng khai thác tiềm năng NLTT, chủ yếu là tiềm năng thủyđiện nhỏ của các thôn bản ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Bảng 2.6: Số thôn và tỷ lệ thôn có điện phân theo vùng

Khu vực

Thôn có điện

Trong đó:

Thôn có điện lưới quốc gia

Số thôn có điện không

từ lưới

QG

Số thôn chưa có điện

Sốlượng

Tỷ lệ(%)

Sốlượng

Tỷ lệ(%)

Nguồn: Kết quả điều tra giữa kỳ năm 2020, Tổng cục Thống kê

Trong vùng TDMNPB, tỷ lệ số thôn có điện và có điện lưới quốc gia của có sự thayđổi theo địa phương (bảng 2.7)

Trong đó, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ và Hòa Bình không còn thôn,bản không có điện Trong số các tỉnh có tỷ lệ thôn chưa có điện cao là Điện Biên, Hà Giang,Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc Kạn,

Đồng thời, nếu tính số thôn có điện nhưng không phải từ lưới điện quốc gia, hay sốthôn bản tự tạo nguồn cung điện tại chỗ cao nhất là Hà Giang với 122 thôn bản, chiếm26,7% của toàn vùng Tiếp đến là Cao Bằng và Điện Biên cùng có 73 thôn, tương đươngvới tỷ lệ 16% của toàn vùng Nhìn chung, các tỉnh có tỷ lệ thôn bản chưa có điện cao thường

là các tỉnh vùng cao, biên giới Tuy nhiên, các tỉnh này cũng cho thấy nỗ lực trong việc pháttriển nguồn cung điện tại chỗ dựa trên tiềm năng về thủy điện nhỏ và siêu nhỏ Đây cũng làhướng mà các tỉnh trong vùng TDMNPB cần tiếp tục phát triển, nhất là đối với các thôn bảnvùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Bảng 2.7: Số thôn và tỷ lệ thôn có điện của vùng TDMNPB

phân theo địa phương

Trang 18

Thôn có điện Trong đó:

Thôn có điện lưới quốc gia

Số thôn

có điện không

từ lưới QG

Số thôn chưa có điện Số

lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Nguồn: Một số chỉ tiêu chủ yếu tổng hợp kết quả Điều tra nông thôn, nông nghiệp

giữa kỳ năm 2020, Tổng cục Thống kê

2.3.3 Thực trạng sử dụng các thiết bị chuyển đổi năng lượng tái tạo qui mô hộ gia đình của vùng Trung du miền núi phía Bắc

Việc sử dụng NLTT qua các thiết bị chuyển đổi NLTT ở nước ta hiện nay nói chung

và vùng TDMNPB, như đã nêu trên, đang có xu hướng gia tăng tiếp cận thị trường sảnphẩm, nhất là thị trường điện trong đó có điện NLTT và xăng E5 Bên cạnh đó, thực tế chothấy, các hộ gia đình cũng đang chủ động tiếp cận thị trường cung cấp các thiết bị chuyểnđổi năng lượng mặt trời ở qui mô hộ gia đình và các cơ quan, tổ chức

Trong vùng TDMNPB, một số tỉnh đã triển khai ứng dụng hệ thống điện mặt trời cấpđiện cho các đồn biên phòng, các trường học, trạm y tế, các hộ dân nơi không thể kéo lướiđiện quốc gia Tại Chiềng Hắc, Mộc Châu, Sơn La có trạm điện mặt trời nối lưới 1,2 kWp.Tại Hoà Bình đã có dự án Trạm phát điện pin mặt trời kết hợp với diesel cấp điện cho các

hộ dân xóm Mừng, xã Xuân Phong, huyện Cao Phong, là một xóm chưa có điện lưới quốcgia Trạm gồm hai cụm phát điện độc lập cấp điện cho 30 hộ dân, 01 nhà văn hoá và 01 nhàtrẻ Ngoài ra, các hộ gia đình độc lập cũng đã được quan tâm sử dụng pin năng lượng mặttrời Ví dụ, một số gia đình đã lắp đặt hệ thống pin mặt trời với công suất 3,06kWp có hệthống nạp ắc quy và được đấu nối với mạng điện trong gia đình hay sử dụng thiết bị đun

Trang 19

nước nóng bằng năng lượng mặt trời.

Tuy nhiên, đây là xu hướng mới chưa thực sự phát triển trên địa bàn các tỉnh vùngTDMNPB Một số nguyên nhân chủ yếu đang hạn chế sự phát triển xu hướng này trên địabàn như:

1) Người dân, nhất là tại các thôn bản vùng sâu, vùng xa chưa được biết đến cũng nhưthiếu cơ hội tiếp cận, tìm hiểu về công nghệ, lợi ích của việc sử dụng năng lượng mặt trời vàcác sản phẩm năng lượng mặt trời phục vụ đời sống và sinh hoạt

2) Trong vùng TMNPB, tiềm năng năng lượng Mặt trời chỉ ở mức khá đối với các tỉnhkhu vực Tây Bắc Các tỉnh khác trong vùng với tiềm năng năng lượng mặt trời hạn chế cũnglàm giảm động lực trong việc sử dụng các thiết bị năng lượng mặt trời

3) Mức thu nhập bình quân các hộ gia đình trong vùng hiện vẫn thấp hơn so với mặtbằng chung cả nước Trong khi đó, các thiết bị chuyển đổi năng lượng pin mặt trời ở nước tađược nhập khẩu Do đó, giá cả chưa phù hợp với khả năng chi trả của phần lớn các hộ giađình

4) Ngoài ra, việc lắp đặt, vận hành các thiết bị năng lượng mặt trời, đặc biệt là côngnghệ lưu trữ không chỉ tạo thêm chi phí, mà còn đòi hỏi người sử dụng có những kiến thức

và kỹ năng cần thiết

2.4 Thực trạng chính sách phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo

2.4.1 Thực trạng chính sách phát triển nguồn và hệ thống cung ứng sản phẩm năng lượng tái tạo

Giai đoạn 2010-2020 được xem là giai đoạn bùng nổ của các nguồn cung năng lượngtái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời trên thị trường năng lượng nước ta Sự bùng nổ

đó được khơi dậy từ những chủ trương, định hướng và những chính sách ưu đãi của Chínhphủ Việt Nam Cụ thể:

1) Chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước tác độngtrực tiếp tới phát triển nguồn cung năng lượng tái tao nói chung và điện năng lượng tái tạonói riêng Những chủ trương lớn đã được thực thi bao gồm:

Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng cường khả năng tự chủ,

đa dạng hoá, bảo đảm tính hiệu quả, tin cậy và bền vững:

Xây dựng cơ chế, chính sách để kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư có năng lực kinhnghiệm đầu tư phát triển vào lĩnh vực năng lượng Ưu tiên khuyến khích phát triển hệ thốngđiện mặt trời mái nhà, trên mặt nước, mô hình điện mặt trời kết hợp với ứng dụng PTSXnông nghiệp công nghệ cao và các dự án điện rác cho phát điện; đẩy nhanh đầu tư xây dựng

và đưa vào vận hành nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt phát điện tại các địa phương

Trang 20

Tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, minh bạch; công khai quy hoạch,danh mục các dự án đầu tư; cải cách thủ tục hành chính để thu hút kinh tế tư nhân, doanhnghiệp nước ngoài có quy mô, chất lượng và hiệu quả cho ngành năng lượng, đặc biệt là ưutiên năng lượng tái tạo.

Nghiên cứu xây dựng quy định việc lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhàđối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng mới, nâng cấpcải tạo các trụ sở của các cơ quan trên địa bàn tỉnh nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng táitạo

Thúc đẩy hiện đại hoá, công nghiệp hóa hệ thống truyền tải, phân phối điện đáp ứngyêu cầu phát triển của thị trường điện, có khả năng tích hợp quy mô lớn các nguồn nănglượng tái tạo, nâng cao khả năng bảo đảm an ninh mạng lưới điện và chất lượng dịch vụđiện

Rà soát các dự án điện đang vận hành và đã có trong quy hoạch bảo đảm an toàn, tincậy, ổn định theo hướng đa dạng hoá, chú trọng nâng cao hệ số công suất khả dụng và có dựphòng công suất phù hợp; đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái, an toàn vệsinh lao động

2) Những chính sách chủ yếu khuyến khích, hỗ trợ các nguồn cung NLTT như:

- Biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các nhà máyđiện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo (Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT, ngày 18/7/2008 của

- Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối nối lưới tại Việt Nam (Quyết định

số 24/2014/QĐ-TTg ngày 24/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ)

- Cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện đốt rác thải rắn (Quyết định số TTg ngày 05/5/2014)

31/2014/QĐ Cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời (Quyết định số 11/2017/QĐ31/2014/QĐ TTg ngày11/4/2017)

- Cơ chế khuyến khích phát triển điện gió (Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ngày10/9/2018)

- Quy hoạch điện 7 điều chỉnh (Quyết định số 428/QĐ-TTg)

3) Chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển nguồncung năng lượng và năng lượng tái tạo

Trang 21

Tổng mức đầu tư vào các nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo thường lớn và phụthuộc nhiều vào nguồn vốn vay Giá thành sản xuất 1 kWh điện tại các nhà máy điện sửdụng NLTT còn cao, hiện chưa có khả năng cạnh tranh sòng phẳng Cường độ vốn đầu tưcủa NLTT là cao nên các tài khoản vốn đầu tư của tổng các chi phí phải lớn hơn nhiều sovới nguồn nhiệt điện, có nghĩa là dòng vốn của các nhà phát triển phụ thuộc nhiều vào thờihạn vay Do đó, các doanh nghiệp đầu tư phát triển nguồn cung NLTT thường gặp khó khăntrong việc tiếp cận nguồn tài chính phù hợp và thời hạn vay và lãi xuất vay Hiện nay thờihạn đặc trưng là 5-8 năm trong hệ thống ngân hàng thương mại thì dòng tiền đến các nhàđầu tư trong những năm đầu là nhỏ nhất làm kéo dài thời gian hoàn vốn và do đó khôngkhuyến khích các nhà đầu tư góp cổ phần.

Thông tư liên bộ số 58/2008/TTLT-BTC-BTN&MT đề ra cơ chế cụ thể trợ cấp chomột số các dự án NLTT Trong khi quy chế trợ cấp đề xuất không bao gồm TĐN và SK thì

nó lại mở cửa trợ cấp cho các dự án gió, mặt trời và thuỷ triều khi mà các chi phí tăng thêmcủa chúng cao hơn nhiều so với tổng giá chi phí tránh được cộng với doanh thu từ bánchứng chỉ giảm phát thải (CERs) Đặc điểm quan trọng nhất của cơ chế này là trợ cấp sẽthực hiện trên cơ sở số lượng kWh sản xuất ra chứ không phải là trợ cấp cho đầu tư ban đầu.Điều này đi ngược với kinh nghiệm chung của thế giới cung cấp tài trợ cho các dự án NLTT ởdạng tài trợ vốn (Ví dụ, ở Ấn Độ, Chính phủ sẽ trợ cấp cho đầu tư vốn ban đầu nếu có bằngchứng là dự án đã vận hành thương mại tốt được sáu tháng) Nhưng cho dù cơ chế đề xuất này

có làm cho các dự án điện gió thành công hay không thì nó đã làm các dự án này trở lên kémhiệu quả, vấn đề là ở chỗ:

Không khuyến khích các nhà phát triển làm tối đa các doanh thu từ CER bởi, trợ cấpcho toàn bộ phần chênh lệch giữa chi phí + lợi nhuận và doanh thu thuần

Quy chế không quy định trần trợ cấp hoặc không giải quyết vấn đề thủ tục phân bổ trợcấp (mà có thể dự kiến) nếu các đơn xin trợ cấp vượt quá quỹ Và quy chế cũng không quyđịnh sự cạnh tranh về giá và do đó không khuyến khích các dự án đầu tư hiệu quả có giáthành thấp hơn

Cách xác định “lợi nhuận hợp lý” và “chi phí sản xuất thực tế” trong thực tế là chưa rõ.Kinh nghiệm trước đây của EVN với các nhà phát triển TĐN khi thương thảo về giá điệndựa trên các nguyên tắc tương tự đã cho thấy theo hệ thống cũ, chi phí vốn đầu tư được khaicao hơn (và trong một số trường hợp sản lượng điện được khai thấp hơn thực tế)

Đối với trợ cấp được đề xuất để có một giá trị nào đó đối với việc cung cấp tài chínhcho dự án, cần có dự trữ cho hợp đồng trợ cấp chính thức giữa nhà phát triển và quỹ để đảmbảo đối với các nhà cho vay (như cách mà hợp đồng mua bán điện mẫu đã đề cập) Để hợpđồng này khả thi về mặt tài chính thì nó cần có một loại bảo lãnh để quỹ có thể chi và nếu

có thiếu thì lấy từ ngân sách của Nhà nước

Trang 22

2.4.2 Thực trạng chính sách thương mại và giá cả sản phẩm năng lượng tái tạo

1) Để thu hút đầu tư nguồn lực bên ngoài vào phát triển thị trường năng lượng tái tạo ởnước ta, các chính sách thương mại liên quan đến đầu tư và chính sách giá được Chính phủban hành như: Qui định thuế suất nhập khẩu thông thường 10% và thuế ưu đãi 0% đối vớihàng hóa dùng để thiết lập tài sản cố định, nguyên vật liệu và bán thành phẩm bao gồm:Chính phủ cho phép 100% sở hữu nước ngoài tại các công ty Việt Nam trong lĩnh vực nănglượng

Các nhà đầu tư nước ngoài có thể chọn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng thông qua:100% Công ty có vốn đầu tư nước ngoài; Liên doanh; Đối tác công tư (PPP) dưới hình thứchợp đồng BOT (Xây dựng-vận hành-chuyển giao) Cách hiệu quả nhất để thâm nhập thịtrường là thông qua hình thức PPP vì nó giúp giảm thiểu rủi ro do giá bán thấp và chi phísản xuất cao Thời gian hợp tác cho PPP là 20 năm từ COD

Ưu đãi thuế bao gồm thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ưu đãi 10% trong

15 năm; Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và giảm 50% trong 09 năm tiếptheo

2) Về chính sách giá, Chính phủ cũng đã phê duyệt chính sách giá điện (chi phí để táitạo năng lượng, giá bán điện) cho năng lượng tái tạo trên lưới, bao gồm các hợp đồng muađiện tiêu chuẩn (20 năm) cho mỗi loại năng lượng tái tạo để đảm bảo lợi nhuận phù hợp chonhà đầu tư Cùng với đó, EVN là đơn vị mua điện duy nhất và đã được yêu cầu ưu tiên nănglượng tái tạo

Chính sách biểu giá điện hỗ trợ giá FiT (Feed - in Tariff) cho năng lượng tái tạo, cụ thểlà: Thứ nhất, chính sách quy định giá bán điện hỗ trợ Fit cho điện gió lần thứ nhất đã đượcban hành vào năm 2011 với mức giá là 78 USD/MWh, tuy nhiên mức giá này được coi làkhông khả thi về mặt thương mại do vậy cho đến 2017 tổng công suất lắp đặt mới đạt 135

MW Để thúc đẩy loại hình năng lượng gió phát triển ở Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đãban hành Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg qui định Giá FiT2 kể từ tháng 11 năm 2018, vớimức là 85 USD/MWh áp dụng cho các dự án điện gió trên bờ và 98 USD/MWh cho dự ánngoài khơi Điều này đã khiến thị trường có phản ứng nhanh chóng với quyết định này, cụthể dự kiến đến cuối năm 2021 Việt Nam sẽ có khoảng 5.886 MW điện gió đi vào vận hành,gấp 43 lần tổng công suất lắp đặt năm 2017

Thứ hai, chính sách quy định giá FiT cho điện mặt trời lần đầu được ban hành vào năm

2017 với mức giá là 9,35 UScent/kWh đi kèm thời hạn nối lưới trước ngày 30 tháng 6 năm

2019 Chính sách này đã kích hoạt thị trường với kết quả là khoảng 4,5 GW điện mặt trời

đã được kết nối với lưới điện trong giai đoạn này Giá FiT điện mặt trời lần 2 đã được banhành với các mức lần lượt là 7,09; 7,69 và 8,38 UScent/kWh cho các nhà máy năng lượng

Trang 23

mặt trời, hệ thống điện mặt trời áp mái và điện mặt trời nổi, với thời hạn nối lưới là ngày 31tháng 12 năm 2020.

Từ năm 2021 và các năm tiếp theo, giá mua điện được xác định theo từng năm bằngtiền đồng Việt Nam tương đương với 8,38 UScents/kWh nhân với tỷ giá trung tâm của đồngViệt Nam với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng cho ngày cuối cùng của nămtrước

Trên phạm vi cả nước đã phát triển 27.631 dự án ĐMTMN với tổng công suất lắp đặt

là 562,8 MWp, nhưng mới chỉ có các dự án hoàn thành trước 30/6/2019 mới được bán điện.Cho nên, theo EVN, với việc Quyết định 13 về cơ chế giá điện mặt trời (trong đó cóĐMTMN) chính thức có hiệu lực từ 22/5/2020 thì tất cả các dự án kể trên sẽ được bán điệncho ngành Điện thì số hộ dân nhận được tiền bán điện sẽ còn tăng vọt cũng như sẽ có mộtlàn sóng mới đầu tư vào ĐMTMN

Các chính sách nói trên đều áp dụng mua điện từ nguồn năng lượng tái tạo là 20 năm

đã tạo ra phản ứng tích cực đến các chủ đầu tư Từ đó, tốc độ đầu tư diễn ra nhanh chóngtạo đà phát triển cho thị trường trưởng thành hơn trong một thời gian rất ngắn và đồng thờicũng tạo ra những nghi ngại về vấn đề mua điện NLTT với mức giá bán điện (giá FIT) quáhấp dẫn có thể dẫn đến giá điện bán lẻ tăng lên và xu hướng phát triển thiếu kiểm soát cânbằng cung cầu

2.4.3 Thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cung ứng sản phẩm năng lượng tái tạo

Xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo ngày càng gia tăng nhằm thích ứng với điều kiệnnguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt và bảo vệ môi trường Do đó, thị trường sảnphẩm năng lượng đang ngày càng sôi động với các sản phẩm đa dạng, nhiều tiện ích Cácdoanh nghiệp đang ngày càng đa dạng hóa sản phẩm, phát triển sản phẩm mới Hiện nay,sản phẩm NLTT còn được sử dụng rộng rãi cụ thể từ năng lượng mặt trời đã được ứng dụngrất nhiều, không chỉ cho các công trình nhà dân dụng, nhà máy, siêu thị, trạm bơm, trạm sạc,camera an ninh… mà nay còn ứng dụng cho các phương tiện giao thông như xe điện nănglượng mặt trời, thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời… chạy được quãng đường dài hơnhoặc thậm chí không cần sạc từ điện lưới

Ở nước ta, mặc dù phần lớn các doanh nghiệp mới gia nhập ngành, nhưng cũng đã đạtđược những thành tựu trên thị trường năng lượng tái tạo Top 10 doanh nghiệp dẫn đầu nănglượng sạch được các chuyên gia, nhà khoa học Hội đồng Khoa học của Tạp chí Năng lượngViệt Nam bình chọn lần lượt là:1) Công ty CP Đầu tư Xây dựng Trung Nam (TrungnamGroup); 2) Công ty CP Năng lượng Dầu Tiếng; 3) Công ty Cổ phần Tập đoàn TrườngThành Việt Nam (TTVN Group);4) Tập đoàn TTC; 5) Tập Đoàn Bim Group; 6) Tổng Công

ty Cổ phần Thương mại và Xây dựng (Vietracimex); 7) Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 24

(EVN); 8) Tập Đoàn Sunseap (Thái Lan); 9) Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Du lịchCông Lý; 10) Tập đoàn Sao Mai.

Hiện nay, doanh nghiệp Vũ Phong đã thực hiện một số dự án lắp Pin mặt trời và điềukhiển sạc để sạc cho các xe điện, cũng như cung cấp pin mặt trời và bộ điều khiển sạc đểcác đại lý lắp đặt cho các thuyền năng lượng mặt trời Xe điện có thể sử dụng trong khuônviên nhà máy, sân gôn, khu du lịch hoặc hiện nay đang được áp dụng chở khách trong thànhphố Mỗi mái xe có thể lắp đặt từ 500-1000Wp, tuỳ diện tích mái, mỗi ngày sạc được từ2kWh đến hơn 4kWh cho xe, chạy được hàng chục km mỗi ngày mà không cần phải cắmsạc từ điện lưới

Các tỉnh TDMNPB có ĐKTN mang đặc thù địa hình, khí hậu với tỷ lệ giờ nắng, sứcgió, tốc độ dòng chảy của nước Một số loại năng lượng tái tạo đã được người dân trongtỉnh sử dụng từ nhiều năm nay như năng lượng mặt trời, than sinh học và khí biogas từ chấtthải chăn nuôi để đun nấu, phát điện… Gần đây, với sự tác động của các doanh nghiệp cungứng thiết bị, việc sử dụng năng lượng mặt trời để phát điện được người dân sử dụng khá phổbiến, mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, tiện ích để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày ở cáctrạng trại để sử dụng cho các loại đèn chiếu sáng, nghe đài, tích điện sử dụng vào ban đêm,các sản phẩm này đã giúp cải thiện đời sống và sinh hoạt của người dân

Các sản phẩm ngày càng đa dạng mẫu mã, nhà sản xuất luôn nghiên cứu đổi mới đểhướng đến sự tiện ích và hạ giá thành để tiệm cận với nhiều đối tượng khách hàng hơn Hiệnnay, với hệ thống pin năng lượng mặt trời hiện tại, chỉ cần đầu tư thêm một bộ kích điện làdùng cho cả việc nấu nướng hàng ngày Ở khu vực thành phố, thiết bị tái tạo năng lượngmặt trời được sử dụng đa dạng cho các nhu cầu từ máy nước nóng, thiết bị phát điện; đặcbiệt trong thời gian gần đây nhà sản xuất thiết kế những tấm pin năng lượng mặt trời nhỏgắn lên trên cột đèn chiếu sáng để tạo nguồn năng lượng phục vụ chiếu sáng công cộng,camera an ninh đường phố vừa tránh nguy cơ mất an toàn do rò rỉ điện khi sử dụng điệnlưới, vừa dự phòng năng lượng đảm bảo cho camera hoạt động bình thường khi nguồn điệnlưới bị mất

Hiệu quả kinh tế - xã hội cao đã khiến thị trường SPNLTT từ Mặt trời, Khí sinh học vàSinh khối gần đây trở nên sôi động với 2 dòng sản phẩm là thiết bị tái tạo năng lượng (cácloại pin, hệ thống tích điện, hệ thống tích nhiệt, dây chuyền sản xuất sinh khối, thiết bị xâyhầm biogas) và các thiết bị sử dụng NLTT với giá chỉ vài trăm nghìn đồng đến vài triệuđồng/sản phẩm

Ngoài ra, các Công ty Ðiện lực tỉnh đã có cơ chế hỗ trợ lắp đặt công tơ 2 chiều, đưanguồn điện năng lượng mặt trời lên lưới điện quốc gia và hướng dẫn việc thu mua điện từcác hộ gia đình lắp đặt thiết bị năng lượng Mặt trời dư thừa nguồn điện với cơ chế chi trả,thanh toán tiền hàng tháng sau 7 ngày chốt chỉ số công tơ Với cơ chế này, việc sử dụng các

Trang 25

thiết bị tái tạo năng lượng ngày càng “hút” khách hàng hơn.

Ngoài việc triển khai cấp điện từ năng lượng mặt trời áp mái tại vùng TDMNPB hiệntại Bộ Công thương đang triển khai dự án cấp điện nông thôn từ nguồn NLTT cho các thôn,bản chưa có điện với quy mô cấp điện cho các hộ gia đình từ 1-2 Kwp suất đầu tư từ 60 – 80triệu/01 hộ dân dựa trên nguyên lý cấp điện độc lập không nối lưới

2.5 Kết quả khảo sát trắc nghiệm thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

2.5.1 Kết quả khảo sát ý kiến các nhà quản lý và chuyên gia

Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý, các chuyên gia bao gồm các cán bộ quản lý cấpTrung ương, các ban ngành liên quan của tỉnh huyện các doanh nghiệp các nhà đầu tư, cácchuyên gia trong lĩnh vực

Việc nghiên cứu thông tin phản hồi từ phía các nhà chuyên môn nhằm phân tích vấnđề: thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo, các kết quả đạt được,những yếu tố tác động thế nào đến phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo?những yếu tố tích cực chưa tích cực tác động lên thị trường? Ý kiến từ phía chuyên môn sẽ

là cơ sở khoa học và thực tiễn tốt để nhóm nghiên cứu có thể đưa ra những giải pháp thực sựthiết thực phù hợp với thị trường

Phạm khảo sát được tiến hành trên địa bàn 14 tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắcvới số phiếu khảo sát phát ra là 530 phiếu, thực tế thu về là 221 phiếu hơp lệ

Cơ cấu nhóm chuyên gia được khảo sát cụ thể được phân theo:

1) Cơ cấu theo thâm niên;

2) Cơ cấu theo trình độ đào tạo;

3) Cơ cấu theo lĩnh vực công tác (Bảng 2.8)

Trong việc lựa chọn chuyên gia để khảo sát, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tỷ lệchuyên gia theo thâm niên công tác trong lĩnh vực liên quan, đồng thời đảm bảo kết hợpgiữa chỉ tiêu thâm niên và trình độ trong lĩnh vực

Trong cơ cấu mẫu khảo sát thực tế cho thấy có trên 80% số người được hỏi có trình độ đạihọc cao đẳng trở lên Trong điều kiện của khu vực trung du miền núi phía Bắc, mức trình độ này

là tương đối cao Đây là cơ sở cần thiết để có thể thu được những câu trả lời có tính tập trung vàđảm bảo chuẩn xác

Nghiên cứu cố gắng phân bố đối tượng điều tra tương đối đều nhưng đặt trọng tâm vàonhững người có khả năng đưa ra những ý kiến xác thực

Vì địa bàn rộng 14 tỉnh thành, số đơn vị hành chính huyện thị xã thành phố trựcthuộc tỉnh: 137 đơn vị Vì vậy không thể bỏ qua đối tượng này nếu như muốn xem xét đánhgiá và thực sự mong muốn phát triển thị trường sản phẩm NLTT tại địa phương

Trang 26

Bảng 2.8: Cơ cấu chuyên gia được khảo sát phân theo thâm niên,

trình độ đào tạo

Nguồn: Số liệu tính toán và tổng hợp của tác giả

Kết quả khảo sát điều tra ý kiến chuyên gia có vai trò quan trọng trong việc địnhhướng phát triển thị trường đặc biệt đối với những thị trường mới có tính chuyên biệt nhưthị trường SPNLTT vùng TDMNPB Các chuyên gia sẽ có cái nhìn khách quan hơn và tổngthể hơn Các chuyên gia có trình độ cao, am hiểu sự thay đổi của vấn đề theo thời gian sựbiến động trong thực tế, có năng lực phân tích đánh giá và tổng hợp

Bảng 2.9: Kết quả điều tra khả năng tiếp cận NLTT trong khu vực

I Đánh giá về tiềm năng

Ngày đăng: 19/06/2023, 14:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các nhà máy thủy điện công suất lớn - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.1 Các nhà máy thủy điện công suất lớn (Trang 8)
Bảng 2.5: Tổng hợp các dự án Điện Mặt trời nối lưới - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.5 Tổng hợp các dự án Điện Mặt trời nối lưới (Trang 11)
Bảng 2.6: Số thôn và tỷ lệ thôn có điện phân theo vùng - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.6 Số thôn và tỷ lệ thôn có điện phân theo vùng (Trang 17)
Bảng 2.10: Ưu tiên phát triển, quy mô phát triển năng lượng tái tạo - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.10 Ưu tiên phát triển, quy mô phát triển năng lượng tái tạo (Trang 27)
Bảng 2.11: Tiềm năng phát triển NLTT đến năm 2030 - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.11 Tiềm năng phát triển NLTT đến năm 2030 (Trang 29)
Bảng 2.12: Đánh giá tiềm năng thị trường thiết bị chuyển đổi NLTT - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.12 Đánh giá tiềm năng thị trường thiết bị chuyển đổi NLTT (Trang 30)
Bảng 2.14: Ưu, nhược điểm của PTSX NLTT ở các quy mô tập trung - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.14 Ưu, nhược điểm của PTSX NLTT ở các quy mô tập trung (Trang 31)
Bảng 2.16: Tổng hợp kết quả điều tra về quy hoạch, chính sách - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.16 Tổng hợp kết quả điều tra về quy hoạch, chính sách (Trang 32)
Bảng 2.17: Tổng hơp các ý kiến về yêu cầu đối với chính sách - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.17 Tổng hơp các ý kiến về yêu cầu đối với chính sách (Trang 33)
Bảng 2.19: Cơ cấu nhóm đối tượng nghiên cứu hộ gia đình ST - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.19 Cơ cấu nhóm đối tượng nghiên cứu hộ gia đình ST (Trang 34)
Bảng 2.21: Tổng hợp về tiền điện STT - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.21 Tổng hợp về tiền điện STT (Trang 36)
Bảng 2.23: Tổng hợp đánh giá về lợi ích của việc sử dụng năng lượng tái tạo - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.23 Tổng hợp đánh giá về lợi ích của việc sử dụng năng lượng tái tạo (Trang 37)
Bảng 2.25: Tổng hơp các rào cản trong sử dụng các sản phẩm NLTT - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.25 Tổng hơp các rào cản trong sử dụng các sản phẩm NLTT (Trang 38)
Bảng 2.26: Các yếu tố ảnh hưởng đến tính sẵn sàng sử dụng sản phẩm NLTT - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.26 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính sẵn sàng sử dụng sản phẩm NLTT (Trang 39)
Bảng 2.27: Mức độ ưu tiên, khó khăn trong phát triển và sử dụng SPNLTT - Chương 2 thực trạng phát triển thị trường sản phẩm năng lượng  tái tạo vùng trung du miền núi phía bắc việt nam
Bảng 2.27 Mức độ ưu tiên, khó khăn trong phát triển và sử dụng SPNLTT (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w