3 Thị trường vốn cho đầu tư phát triển sản phẩm năng lượng tái tạo không hoàn hảo.Các doanh nghiệp và người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tài chính hợp lý cho phát tri
Trang 1CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
1.1 Sản phẩm và thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm năng lượng tái tạo và sản phẩm năng lượng tái tạo
1.1.1.1 Khái niệm, phân loại năng lượng tái tạo
Theo cách tiếp cận của quy hoạch điện quốc gia, quy hoạch năng lượng tái tạo thì nănglượng tái tạo là những nguồn năng lượng hay những phương pháp khai thác năng lượng mànếu đo bằng các chuẩn mực của con người thì là vô hạn
“Vô hạn” ở đây có nghĩa là nguồn cung cấp không hạn chế do năng lượng tồn tại nhiềuđến mức không thể trở thành cạn kiệt vì sự sử dụng của con người (như năng lượng Gió,năng lượng Mặt Trời) hoặc là năng lượng có khả năng tự tái tạo trong thời gian ngắn và liêntục trong quá trình diễn tiến trên Trái Đất (như năng lượng sinh khối) “Tái tạo” có nghĩa làkhôi phục lại, làm đầy lại, dùng để chỉ đến các chu kỳ tái tạo mà đối với con người là ngắn
đi rất nhiều (như khí sinh học so với năng lượng hóa thạch) Chu kỳ tái tạo của chúng cóthời gian tương đương thời gian chúng được sử dụng [30],
Một số tiếp cận khác về khái niệm năng lượng tái tạo bao gồm: “Năng lượng tái tạo lànăng lượng tự nhiên mà nguồn cung cấp không hạn chế” [75]; “Năng lượng tái tạo (nănglượng tái sinh) là năng lượng thu được từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của conngười là vô hạn” [91]
Khái niệm "Năng lượng tái tạo" được sử dụng để phân biệt với các nguồn năng hữuhạn, bị giảm dần và cạn kiệt cùng với quá trình khai thác và sử dụng của con người, hoặccần phải có những điều kiện tự nhiên đặc biệt và khoảng thời vô cùng dài để tạo ra Cácnguồn năng lượng không tái tạo như than đá hay dầu mỏ Các nguồn năng lượng hạt nhân
do con người tổng hợp và tạo ra không thuộc loại năng lượng tái tạo
Trong điều kiện của Việt Nam các nguồn năng lượng tái tạo phát điện [32], Được sảnxuất từ các nguồn như thuỷ điện nhỏ, gió, mặt trời, địa nhiệt, thuỷ triều, sinh khối, khí chônlấp rác thải, khí của nhà máy xử lý rác thải và khí sinh học”
Trang 2Các nguồn năng lượng tái tạo chủ yếu, bao gồm [32] :
1) Năng lượng Mặt Trời được tạo ra do dòng bức xạ điện từ xuất phát từ Mặt Trời đếnTrái Đất Con người có thể trực tiếp thu lấy năng lượng này thông qua hiệu ứng quang điện,chuyển năng lượng các photon của Mặt Trời thành điện năng, như trong pin Mặt Trời Hoặcgián tiếp tiếp nhận các nguồn năng lượng mặt trời thông qua quá trình sinh học tự nhiên.Con người sẽ tiếp tục nhận được dòng năng lượng này cho đến khi phản ứng hạt nhân trênMặt Trời hết nhiên liệu (khoảng 5 tỷ năm nữa)
2) Năng lượng thủy điện được tạo ra từ các dòng chảy tự nhiên của sông suối cũng cóthể được khai thác để tạo ra các chuyển động cơ học (cối giã gạo) hoặc chuyển hóa thànhnăng lượng điện nhờ máy phát điện
3) Năng lượng biển (năng lượng sóng, năng lượng dòng biển và năng lượng thủytriều): Năng lượng thủy triều được tạo ra do trường lực hấp dẫn của Mặt Trăng cộng vớitrường lực quán tính ly tâm không đều của trái đất dẫn đến mực nước biển dâng lên hạxuống trong ngày, tạo ra hiện tượng thủy triều Sự nâng hạ của nước biển có thể làm chuyểnđộng các máy phát điện Thời gian kéo dài của hiện tượng thủy triều được tính toán là nhỏhơn so với tuổi thọ của Mặt Trời
4) Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển TráiĐất Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời Năng lượng gióđược con người khai thác để tạo ra các chuyển động cơ học (cối xay gió) hoặc chuyển hóathành năng lượng điện nhờ máy phát điện
5) Năng lượng địa nhiệt được tạo ra từ nhiệt trong lòng Trái Đất, có nguồn gốc từ
sự hình thành hành tinh, từ hoạt động phân hủy phóng xạ của các khoáng vật và từ nănglượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất Năng lượng địa nhiệt đã được sử dụng
để nung và tắm kể từ thời La Mã cổ đại, nhưng ngày nay nó được dùng để phát điện Cácgiếng địa nhiệt có khuynh hướng giải phóng khí thải nhà kính, nhưng sự phát thải nàythấp hơn nhiều so với phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch thông thường và bị giữdưới sâu trong lòng đất nên giảm thiểu tác động đến sự nóng lên toàn cầu
6) Năng lượng hydro có sẵn trong nước và là yếu tố phổ biến nhất có sẵn trên tráiđất Nước chứa hai phần ba hydro và có thể được kết hợp với các yếu tố khác Khi hydrođược tách ra có thể được sử dụng làm nhiên liệu để tạo ra điện
Trang 37) Sinh khối là dạng vật liệu sinh học từ sự sống hay sinh vật sống, đa số làcác cây trồng hay vật liệu có nguồn gốc từ thực vật được xem là nguồn năng lượng tái tạo.Năng lượng sinh khối có thể dùng trực tiếp, gián tiếp một lần hay chuyển thành dạng nănglượng khác như nhiên liệu sinh học Sinh khối có thể chuyển thành năng lượng theo bacách: chuyển đổi nhiệt, chuyển đổi hóa học, và chuyển đổi sinh hóa.
8) Nhiên liệu sinh học là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất có nguồngốc động thực vật như nhiên liệu chế xuất từ chất béo của động thực vật cụ thể như: Mỡđộng vật, ngũ cốc ( lúa, ngô, đậu tương ….), chất thải và các phụ phẩm của ngành nôngnghiệp ( rơm, rạ, phân …), các phụ phẩm trong ngành chế biến nông, lâm sản (mùn cưa, sảnphẩm từ chế biến gỗ )
9) Ngoài các nguồn NLTT nêu trên có thể khai thác công nghiệp, còn có các nguồnnăng lượng tái tạo nhỏ dùng trong một số vật dụng như trong đồng hồ, vòi nước, ăng ten thuphát,
1.1.1.2 Khái niệm, phân loại sản phẩm năng lượng tái tạo
Theo quan điểm Kinh tế - Chính trị, sản phẩm là sự kết tinh của lao động sống và laođông vật hóa, nó có giá trị và giá trị sử dụng [28]
Theo quan điểm Marketing, sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộctính nhất định, với những ích dụng cụ thể nhằm thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của kháchhàng [26]
Sản phẩm được sản xuất với những mức chi phí và được bán ở những mức giá nhấtđịnh Mức giá của sản phẩm có thể được xác định dựa trên chi phí, mức chất lượng, khảnăng tiếp thị và điều kiện cụ thể của thị trường [26]
Theo các khái niệm về sản phẩm trên đây thì các nguồn tài nguyên năng lượng tồn tạitrong tự nhiên chưa được xem là sản phẩm năng lượng tái tạo Nói cách khác, các tàinguyên năng lượng tự nhiên mới chỉ là các nguyên liệu chủ yếu cần bổ sung thêm lao độngsống (nhân công) và lao động vật hóa (máy móc, thiết bị,…) để sản xuất ra sản phẩm nănglượng tái tạo
Từ đó, có thể định nghĩa, ‘‘Sản phẩm năng lượng tái tạo là những sản phẩm nănglượng được tạo ra nhờ quá trình lao động để chuyển hóa các tài nguyên năng lượng tái tạo
Trang 4phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng năng lượng trong sản xuất và đời sống xã hội”
Các sản phẩm năng lượng nói chung và sản phẩm năng lượng tái tạo nói riêng có thểtồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm:
1) Điện năng có thể được chuyển hóa từ hầu hết các nguồn tài nguyên năng lượng táitạo như: năng lượng mặt trời, năng lượng nước (dưới dạng thế năng và động năng), nănglượng sinh học, năng lượng sịa nhiệt,… Sản phẩm điện năng tái tạo bao gồm: điện mặt trời,điện gió, thủy điện, điện tịa nhiệt; khí sinh học…
2) Nhiên liệu lỏng được chiết xuất từ tài nguyên năng lượng sinh học như dầu mỡđông vật, tinh bột, xen-lu-lo, lignocelluose, nước Các sản phẩm năng lượng tái tạo dạnglỏng như: Diesel sinh học (Biodiesel); Xăng sinh học (Biogasoline),…
3) Nhiên liệu khí được tạo ra nhờ quá trình ủ lên men các sinh khối hữu cơ, trong đóchủ yếu là xen-lu-lo Sản phẩm là dạng khí sinh học (Biogas)
4) Ngoài ra, sản phẩm năng lượng tái tạo còn được biết đến dưới hình thức sản phẩmtích hợp đầu - cuối Các sản phẩm năng lượng này đã được biết đến từ ngàn năm trước đây,khi con người lợi dụng sức gió để làm cối xay gió, sức nước làm cối giã gạo, hoặc gần đây
là các sản phẩm bình nước nóng năng lượng Mặt trời…
5) Sự khác biệt SPNLTT và các sản phẩm tiêu dùng khác: SPNLTT trước hết mộtdạng sản phẩm năng lượng thuộc mặt hàng thiết yếu và trong rất nhiều trường hợp là mặthàng không thể thay thế hoặc thay thế không hoàn hảo ví dụ sản phẩm điện NLTT phục vụcho chiếu sáng và sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng dân cư SPNLTT còn có sự khác biệtrất lớn đó là tính tái tạo của nó ví dụ như: SPNL điện tái tạo là các sản phẩm từ năng lượngSinh khối, Thủy điện, năng lượng Mặt trời, năng lượng Gió SPNLTT là một dạng sản phẩm
để tạo ra năng lượng nên thời điểm dùng và thời điểm sản xuất trùng khớp Vì vậy việc dựtrữ rất khó khăn và rất tốn kém hoặc phải dự trữ ở dạng thế năng - thủy điện, các dạng pin,
ắc quy, hay dự trữ dưới dạng công suất
1.1.1.3 Những lợi ích và đặc điểm của sản phẩm năng lượng tái tạo
a) Những lợi ích xã hội và môi trường
Giảm thiểu biến đổi khí hậu; Cung cấp năng lượng cho người nghèo đặc biệt ở khuvực vùng sâu, vùng xa nhanh hơn nhiều so với việc mở rộng các hệ thống phân phối; Hỗ trợ
Trang 5cho các hoạt động sản xuất, tạo thu nhập và việc làm ở các khu vực nông thôn Tuy nhiên,lợi ích của việc sử dụng các SPNLTT so với các sản phẩm năng lượng không tái tạo vẫnchưa được chứng minh bởi những vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng cũng như nhữngbiến động giá cả theo khu vực, theo mùa.
b) Đặc điểm sản xuất, sử dụng sản phẩm năng lượng tái tạo
Năng lượng tái tạo dưới dạng tự nhiên đã người dân được sử dụng trong đời sống từhàng ngàn năm trước đây như sử dụng sức gió để làm cối xay gió, sức nước làm cối giã gạo,hoặc phơi sấy nông sản bằng năng lượng Mặt trời… Tuy nhiên, các phẩm năng lượng tái tạo(điện, nhiên liệu hay khí sinh học) mới được sử dụng rộng rãi vào những thập niên cuối củathế kỷ 20
Việc sản xuất và phân phối SPNLTT phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ vàsuất đầu tư lớn Điều đó có nghĩa là, các doanh nghiệp sản xuất, cung cấp sản phẩm nănglượng tái tạo thường là các tập đoàn lớn hàng đầu thế giới Các doanh nghiệp này có sức ảnhhưởng và chi phối ở phạm vi thế giới trong nhiều ngành năng lượng, bao gồm: Sản suất điện
từ Gió, Mặt trời và Thủy năng; Sản xuất các hệ thống và linh kiện để sản xuất năng lượngtái tạo; Sản xuất hệ thống pin để lưu trữ năng lượng tái tạo; Sản xuất ô tô điện và xây dựng
hệ thống cơ sở hạ tầng nạp điện cho xe ô tô; Sản xuất nhiên liệu tái tạo như viên gỗ, ethanol,khí tự nhiên tái tạo và dầu diesel sinh học
Ngày nay, sự tiến bộ của Công nghệ cũng như chi phí vận hành và bảo trì (O & M)thấp hơn đã cho phép các doanh nghiệp nhỏ, thậm chí các hộ gia đình có thể tham gia sảnxuất, phân phối SPNLTT Do đó, một số lượng nhỏ doanh nghiệp với tiềm lực tài chính vàkhả năng về công nghệ có thể tham gia thị trường Tuy nhiên, suất đầu tư vẫn còn cao vàhiệu quả đầu tư chưa đáp ứng được kỳ vọng, vì vậy chưa mạnh dạn trong việc mở rộng sảnxuất SPNLTT chỉ ở quy mô nhỏ Đối với các thiết bị có tích hợp công nghệ chuyển đổinăng lượng tái tạo, người tiêu dùng cũng sẽ tính đến chi phí vận hành, bảo trì thiết bị và cóthể thay thế các bộ phận (ví dụ như pin) [23]
Việc mở rộng nhu cầu sử dụng SPNLTT của doanh nghiệp, đặc biệt là người dân đòihỏi Nhà nước phải thực thi các chính sách hỗ trợ Nghĩa là, việc phát triển Cầu về SPNLTT
sẽ phụ thuộc vào Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương và địa phương Đặc biệt, Chínhphủ phải đóng vai trò tích cực trong việc trang trải một phần chi phí vốn và có thể bao gồm
cả việc trợ cấp cho người tiêu dùng ( đặc biệt đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
Trang 6biệt khó khăn) thanh toán khoản chi hỗ trợ mua sắm SPNLTT và chi phí lắp đặt, chuyểngiao …
1.1.2 Khái niệm, phân loại, đặc điểm thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
1.1.2.1 Khái niệm thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
Theo Kinh tế học, thị trường, được hiểu theo nghĩa rộng, là nơi diễn ra các quan hệmua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnhtranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào
Kinh tế học phân chia thị trường thành ba loại theo đối tượng (sản phẩm) được giaodịch: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động,
và thị trường tiền tệ [27] Thị trường sản phẩm năng lượng thuộc phạm vi thị trường sảnlượng
Theo quan điểm kinh doanh, thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm,dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩmnhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sảnphẩm, dịch vụ [31]
Khái niệm thị trường này có thể được thu hẹp hay mở rộng Theo đó, có thể địnhnghĩa, thị trường sản phẩm năng lượng bao gồm tất cả các khách hàng hiện có và tiềm năng
có cùng nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo, có khả năng thanh toán và sẵn sàng tham giatrao đổi để thảo mãn nhu cầu đó Hay, thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo là nơichuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu vềcác sản phẩm theo các qui định có liên quan, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiếtcủa sản phẩm năng lượng tái tạo
Như vậy, thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo bao gồm các yếu tố cơ bản:
1) Các khách hàng hiện có và tiềm năng có khả năng thanh toán và sẵn sàng tham giatrao đổi để thảo mãn nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo
2) Các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm năng lượng tái tạo đáp ứng nhu cầu sử dụngcủa khách hàng hiện cõ và tiềm năng trên thị trường
3) Các qui định liên quan đến quá trình trao đổi, chuyển giao sản phẩm năng lượng tái
Trang 7tạo giữa khách hàng và nhà cung cấp, qua đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết củasản phẩm năng lượng tái tạo.
1.1.2.2 Phân loại thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
Thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khácnhau Cụ thể:
1) Phân loại thị trường theo các sản phẩm năng lượng tái tạo bao gồm:
Thị trường điện, bao gồm thị trường điện gió; thị trường điện mặt trời, thị trường điệnkhí sinh học, thị trường điện thủy điện, thị trường điện địa nhiệt…
Thị trường nhiên liệu sinh học, bao gồm thị trường nhiên liệu sinh học có nguồn gốc
từ động vật; thị trường nhiên liệu sinh học có nguồn gốc thực vật
Thị trường khí sinh học, bao gồm thị trường khí sinh học: Hydrocacbon, Hydro,methanol,…
2) Phân loại thị trường theo khu vực, vùng lãnh thổ:
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo quốc tế, trong đó có thể phân chia theoquốc gia, theo nhóm nước (phát triển, đang phát triển và kém phát triển),…
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo của một nước, có thể phân chia theo vùng,theo khu vực (thành thị, nông thôn, vùng sâu vùng xa), theo tỉnh, thành phố
3) Phân loại thị trường mức độ can thiệp của nhà nước:
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo không có sự hỗ trợ của chính phủ
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo có sự hỗ trợ của chính phủ
4) Phân loại thị trường theo qui mô, trình độ phát triển của cung, cầu:
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo tập trung
Thị trường các sản phẩm năng lượng tái tạo phân tán
Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu, phân tích đánh giá thị trường, người ta có thể
Trang 8kết hợp giữa các thuộc tính trong khái niệm thị trường năng lượng tái tạo để hình thànhthêm các tiêu thức phân loại mới Ví dụ, kết hợp giữa “Nơi và sản phẩm” có thể có các thịtrường điện từ nguồn năng lượng tái tạo theo quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ.
1.1.2.3 Đặc điểm thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
Thị trường năng lượng nói chung được xây dựng dựa trên nhiều quy tắc của chính phủ,được đặc trưng bởi mức độ tích hợp dọc và kiểm soát nhà nước ở mức độ cao Nhà nướcthường can thiệp sâu rộng vào thị trường bằng các quyết định hành chính, bao gồm bảo hộcho các doanh nghiệp Nhà nước và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu sự trungthành của khách hàng sử dụng năng lượng Thực tế, hầu hết các thị trường năng lượng trênthế giới đều bị bóp méo
Trên thị trường, sản phẩm năng lượng tái tạo vẫn đang bị lép vế khi cạnh tranh với cácsản phẩm năng lượng truyền thống Cụ thể như:
1) Chính sách trợ cấp của các chính phủ cho nhiên liệu hóa thạch hiện nay khiến chonăng lượng tái tạo khó cạnh tranh với các sản phẩm năng lượng truyền thống trên thị trường.2) Khung pháp lý và các chính sách khuyến khích phát triển và đầu tư vào năng lượngtái tạo còn hạn chế Năng lực thể chế hiện có chưa bao quát đầy đủ tất cả các khía cạnh từthiết kế, phát triển đến triển khai dự án/dự án năng lượng tái tạo
3) Thị trường vốn cho đầu tư phát triển sản phẩm năng lượng tái tạo không hoàn hảo.Các doanh nghiệp và người tiêu dùng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tài chính hợp
lý cho phát triển dự án
4) Các nhà hoạch định chính sách, khu vực tư nhân địa phương, tổ chức tài chính vàkhách hàng tiềm năng chưa nhận thức và hiểu biết đầy đủ về lợi ích, chi phí và ứng dụngnăng lượng tái tạo
5) Thông tin về tiềm năng tài nguyên năng lượng tái tạo không đầy đủ
6) Hạn chế về lựa chọn địa điểm và xây dựng, hệ thống truyền dẫn và kết nối tiện ích.7) Cơ chế hợp tác quốc tế trong phát triển thị trường năng lượng tái tạo không đầy đủ,bao gồm chuyển giao công nghệ, thương mại và dòng tài chính
Trang 98) Các doanh nghiệp tham gia thị trường đòi hỏi phải tuân thủ những qui định phức tạp
và phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định
1.2 Nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
Phát triển thị trường sản phẩm và tăng trưởng thị trường về cơ bản là một nội hàm vàtác giả thống nhất sử dụng là ‘‘phát triển thị trường sản phẩm’’
1.2.1 Các bên tham gia, nội dung tham gia phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
1.2.1.1 Nội dung tham gia phát triển thị trường của nhà nước
Nhà nước tham gia phát triển thị trường nói chung và thị trường sản phẩm năng lượng
tái tạo nói riêng thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trongnền kinh tế thị trường như:
1) Thiết lập khuôn khổ về luật pháp nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trên thị trường nóichung và thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo nói riêng
2) Thị trường chỉ có thể vận hành thông suốt và bình ổn khi có những quy tắc, luật lệphù hợp tạo thành môi trường pháp lý của thị trường Các nguyên tắc, thể lệ, quy định mangtính pháp lý góp phần điều chỉnh các thành phần, các chủ thể tham gia nhằm ổn định và pháttriển các giao dịch trên thị trường Cùng với việc hoàn thiện hệ thống Chính sách pháp luật
là phát triển tổ chức quản lý nhà nước về thị trường, tiến hành thanh tra, kiểm tra nhằm thựcthi quản lý thị trường Bảo vệ lợi ích hợp pháp của các thành phần tham gia thị trường, hìnhthành các chế tài yêu cầu các thành phần tham gia thị trường phải tôn trọng và đảm bảo cácđiều kiện hợp pháp và lợi ích hợp pháp cho các bên của thị trường
3) Kiến tạo thị trường thông qua các chiến lược, quy hoạch, chính sách để định hướngphát triển thị trường
Để phát triển SPNLTT, Nhà nước cần xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sáchnhằm thúc đẩy chiến lược phát triển sản xuất sạch hơn và tiêu dùng bền vững thông qua ràsoát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng có hiệu quả nguồn năng lượngsạch, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, thiết bị thân thiện với môi trường
Trang 10Có chính sách ưu đãi đối với nghiên cứu Khoa học - Công nghệ và phát triển, sản xuấtSPNLTT cụ thể như: Ưu đãi về hạ tầng, đất đai, thuế …
4) Khuyến khích nguồn cung sản xuất trong nước và điều tiết nhập khẩu
Đối với sản xuất trong nước: Sản phẩm NLTT là kết quả của việc áp dụng công nghệcao và phương thức quản lý sản xuất tiên tiến; Với khả năng tài chính và trình độ nguồnnhân lực của cộng đồng doanh nghiệp hiện nay thì nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứngnổi Vì vậy, các chính sách phải tập trung vào việc hỗ trợ doanh nghiệp về tài chính tíndụng, đào tạo nguồn nhân lực
Đối với việc kiểm soát nhập khẩu, cần có chính sách cụ thể đối với từng nhóm sảnphẩm, quy định cụ thể về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, có chính sách từng bước hạnchế và tiến tới cấm sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm có mức tiêu dùng năng lượng vượtquá tiêu chuẩn quy định cho phép Xử phạt nghiêm minh đối với các chủ thể nhập khẩucác sản phẩm không bảo đảm tiêu chuẩn quy định
5) Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thương mại và quản lý thị trường
Phát triển kết cấu hạ tầng thị trường là quá trình kiến thiết nền tảng cơ sở vật chất kỹthuật của thị trường, đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết cho sự vận hành của thịtrường, bao gồm: Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động thương mại, phát triển hệthống thông tin thị trường, thiết lập hệ thống các phương tiện phục vụ cho quá trình thôngtin giữa các chủ thể và xây dựng nền tảng thông tin cho phép thực hiện các giao dịch trongthị trường… Một môi trường thương mại hoàn thiện và phát triển là một môi trường ở đócác doanh nghiệp có thể sản xuất và tiêu thụ được SPNLTT, khách hàng người tiêu dùng dễdàng trong việc mua sắm và Nhà nước có thể nắm bắt được các thông tin thị trường mộtcách kịp thời để đưa ra các quyết định về quản lý
6) Hoạch định và triển khai các giải pháp hỗ trợ người tiêu dùng và doanh nghiệp sản xuấtcung ứng sản phẩm năng lượng tái tạo
Để phát triển khách hàng tiêu dùng SPNLTT, đòi hỏi các chính sách của Nhà nướcphải tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền, vận động người tiêu dùng thực hiện tiêudùng theo hướng bền vững nhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứngphó có hiệu quả với biến đổi khí hậu Ban hành chính sách và vận động người tiêu dùngđiều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lý, kết hợp nếp sống đẹp truyền thống với những
Trang 11phương tiện văn minh hiện đại để tạo nên đời sống tiện nghi.
Hỗ trợ các tổ chức truyền thông và doanh nghiệp biên soạn sổ tay hướng dẫn tiêu dùngxanh và phổ biến đến người tiêu dùng Tăng cường thực hiện các chương trình kích cầu tiêudùng thân thiện môi trường nhằm đưa SPNLTT vào tiêu dùng và nâng cao thói quen tiêudùng thân thiện môi trường của con người
Hoàn thiện khung pháp lý khuyến khích nguồn cung cho nhu cầu “tiêu dùng xanh vàbền vững” trên thị trường Hỗ trợ về giá đối với SPNLTT và tăng cường công tác tuyêntruyền cho SPNLTT
1.2.1.2 Nội dung tham gia phát triển thị trường SPNLTT của các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm năng lượng tái tạo
a) Nghiên cứu nhu cầu thị trường và hành vi tiêu dùng của khách hàng
Khách hàng là tập hợp toàn bộ người tiêu dùng, người mua hàng hiện có và tiềm năngđối với một sản phẩm hàng hóa Phát triển khách hành là toàn bộ các hoạt động nhằm giatăng khối lượng và nhu cầu mua sắm của khách hàng
Mục tiêu của phát triển khách hàng là thu hút sự quan tâm của khách hàng, duy trì vàphát triển số lượng và chất lượng của khách hàng Nội dung của phát triển khách hàng về sốlượng là duy trì các khách hàng đã có và phát triển thêm các khách hàng mới thông quathuyết phục, kích thích, thúc đẩy khách hàng quan tâm và có thái độ tích cực đối vớiSPNLTT Sự phát triển khách hàng về chất lượng là gia tăng tỷ trọng mua sắm tiêu dùngSPNLTT trong khả năng chi tiêu, mua sắm của khách hàng, thông qua công tác tuyên truyềnvận động, trang bị cho khách hàng nhận thức đầy đủ hơn về những lợi ích của việc mua sắm
và sử dùng SPNLTT về cả mặt kinh tế lẫn môi trường Ngoài công tác tuyên truyền vậnđộng, phải tăng cường các hoạt động quảng cáo bằng các hình thức khác nhau kết hợp giữahình thức quảng cáo truyền thống và quảng cáo trực tuyến
Yếu tố khách hàng luôn đóng vai trò quan trọng bởi nó quyết định đến quy mô thịtrường tiêu thụ của khách hàng, doanh nghiệp càng nhiều thì quy mô thị trường càng lớn Vìvậy, để phát triển thị trường một cách có hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác địnhkhách hàng mục tiêu, dự đoán nhu cầu, nhằm đưa ra các quyết định tốt nhất có khả năngthoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Qua đó, thu hút nhiều khách hàng đến với doanhnghiệp nhằm mở rộng và phát triển khách hàng hiện có
Trang 12Ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu khách hàng, không chỉ ở chỗ doanh nghiệptiêu thụ được sản phẩm mà điều quan trọng hơn khi thực hiện công việc này là đảm bảo khảnăng bán hàng, nhưng đồng thời giữ được khách hàng hiện tại và lôi kéo được khách hàngtiềm năng và để phát triển khách hàng cần phải xây dựng chiến lược phát triển khách hàng.Một trong những bí quyết của chiến lược phát triển khách hàng là phải xác định được kháchhàng của mình là ai và họ muốn gì hay nói cách khác phải xác định "khách hàng mục tiêu”trước khi xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm.
b) Xác lập chiến lược phát triển thị trường sản phẩm NLTT và chiến lược thâm nhập thịtrường, mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm, chiến lược đa dạng hóa sản phẩm
Các doanh nghiệp sản xuất SPNLTT cần có chiến lược và kế hoạch sản xuất, từng
bước phát triển sản xuất phù hợp với khả năng tài chính, công nghệ và trình độ quản lý, tiếntới cung ứng cho thị trường SPNLTT với số lượng lớn chủng loại phong phú và chất lượngtốt, tranh thủ sự khuyến khích hỗ trợ của Nhà nước, xây dựng chương trình phát triển sảnphẩm, đặc biệt là sản phẩm mới, tập trung đầu tư phát triển công nghệ sản xuất, áp dụngcông nghệ tiên tiến, phù hợp để khai thác và sử dụng tối đa tiềm năng các nguồn NLTT đểphát triển SPNLTT, có biện pháp đổi mới phương thức tổ chức quản lý, nâng cao chấtlượng của sản phẩm và hạ giá thành
Mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa SPNLTT thông qua việc nghiêncứu nhu cầu của thị trường trong nước, tìm hiểu và nghiên cứu các loại sản phẩm nhậpkhẩu, từng bước tiến hành sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu với nguyên liệu trongnước, nghiên cứu bao bì mẫu mã, công bố các thông tin liên quan đến công dụng của sảnphẩm và cách thức sử dụng Thay đổi tính năng của sản phẩm, hoán cải, bổ sung hoặc thayđổi lại các tính năng của sản phẩm cũ theo hướng đảm bảo sử dụng sản phẩm an toàn tiệnlợi hơn
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu các sản phẩm thiết bị tiêu dùng năng lượng phảihướng vào việc nhập khẩu các sản phẩm, thiết bị NLTT, xây dựng chiến lược nhập khẩu củadoanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu SPNLTT tại thị trường nước ngoài cũng nhưnhu cầu của thị trường trong nước để nhập khẩu các sản phẩm phù hợp Từng bước giảmdần tỷ trọng nhập khẩu các thiết bị phục vụ việc sản xuất, gia công, lắp ráp SPNLTT trongtổng giá trị hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp
c) Kiến tạo, cung ứng và phân phối giá trị sản phẩm năng lượng tái tạo cho thị trường
Trang 13Cũng giống như phát triển nguồn hàng, để phát triển trung gian thị trường vai trò củacác doanh nghiệp không kém phần quan trọng Mục tiêu của phát triển tiêu thụ sản phẩm làtạo ra các trung gian thị trường để đưa được SPNLTT từ nhà sản xuất đến người tiêu dùngvới thời gian và chi phí thấp nhất thông qua hệ thống phân phối mạng hay kênh tiêu thụ bán
lẻ
Phát triển thị trường, đối với các doanh nghiệp, bao gồm hai nội dung chủ yếu là mởrộng phạm vi thị trường và tổ chức hệ thống phân phối nhằm khai thác hiệu quả Phát triểnphạm vi thị trường là tìm kiếm thị trường trên các địa bàn mới, cân nhắc các điều kiện về cơhội và thách thức, đánh giá các khả năng phát triển thị trường; Tìm kiếm khách hàng mụctiêu mới ngay địa bàn thị trường hiện tại; Tổ chức hệ thống phân phối hay các trung gian thịtrường cho sản phẩm; Lựa chọn số lượng các cấp độ trung gian trong hệ thống phân phối.Tuỳ theo thị trường cụ thể để quyết định dùng hệ thống phân phối cho phù hợp, nhằm tiếpcận và khai thác thị trường tốt nhất
Hệ thống phân phối càng phát triển, số lượng các cơ sở bán lẻ càng nhiều thì sự baophủ của thị trường càng lớn, càng rộng khắp, tăng diện tiếp xúc của khách hàng với sảnphẩm và người bán có nhiều cơ sở để tiêu thụ hàng hóa, người tiêu dùng mua sắm được tiệnlợi
Để phát triển các kênh phân phối các doanh nghiệp, cần phải xây dựng và phát triểnphạm vi hoạt động với nhiều phương thức và hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng phùhợp, đồng bộ, tổ chức lưu thông và cung cấp các dịch vụ logistics, dịch vụ bán hàng thuộccác lĩnh vực, ngành hàng quan trọng trong nền kinh tế Liên kết với các hợp tác xã và các hộkinh doanh phát triển thị trường, xây dựng hệ thống đại lý bán hàng, xây dựng kênh cửahàng nhượng quyền thương mại…
d) Truyền thông, thực hiện giá trị sản phẩm năng lượng tái tạo và dịch vụ khách hàng
Phát triển dịch vụ khách hàng thông qua các hình thức triển khai các chương trìnhchăm sóc khách hàng, đánh giá mức độ sử dụng sản phẩm, đồng thời có những hình thức tưvấn, hỗ trợ điều chỉnh và đào tạo để có thể đạt hiệu năng cao trong quá trình sử dụngSPNLTT
1.2.1.3 Nội dung tham gia phát triển thị trường của các tổ chức xã hội
Các tổ chức xã hội với tư cách đại diện bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, xã hội và
Trang 14môi trường sẽ đưa ra các hành động ủng hộ hay phản đối các định hướng phát triển thịtrường SPNLTT của Nhà nước Các tổ chức xã hội dân sự sẽ tham gia phát triển thị trườngSPNLTT thông qua các hoạt động như:
1) Phát động các phong trào, chương trình hành động về tiêu dùng sản phẩm thân thiệnmôi trường, tổ chức các chiến dịch tiêu dùng sản phẩm NLTT hàng năm; Góp ý xây dựng
và hoàn thiện khung pháp lý về tiêu dùng SPNLTT, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng vànhững văn bản pháp luật có liên quan Giám định và phản biện xã hội, về những chủ trương,chính sách của Nhà nước và mối quan hệ giữa nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.2) Đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của việc sử dụng SPNLTT và nâng cao chấtlượng, giá cả cạnh tranh trên thị trường, lợi ích thiết thực trong bảo vệ môi trường đến cộngđồng, người tiêu dùng để thu hút lực lượng tiêu thụ SPNLTT
3) Có hành động thích hợp để chính quyền địa phương nhất là các tổ dân phố, khu dân
cư nhằm nâng cao nhận thức ý nghĩa, tầm quan trọng của hành vi tiêu dùng SPNLTT đối với
cá nhân, gia đình và cộng đồng
4) Phối hợp với Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Người tiêudùng, tuy là số đông, nhưng nếu không được tổ chức lại, thì khó có sức mạnh, tiếng nói đơn
lẻ của họ cũng rất ít được lắng nghe Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không những là bảo
vệ lợi ích của số đông mà còn làm cho xã hội được văn minh, công bằng hơn, chống lại sựlũng đoạn của những người sản xuất, kinh doanh không chân chính, ủng hộ những ngườisản xuất kinh doanh trung thực, chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh, làm cho kinh tếphát triển
5) Thông tin, hướng dẫn cho người tiêu dùng, để họ tự bảo vệ chính mình, hướng dẫncho người tiêu dùng để họ hiểu được vị trí, sức mạnh của mình trong xã hội, về các quyền
và trách nhiệm của mình Tư vấn và hỗ trợ giải quyết khiếu nại, giúp người tiêu dùng giảitoả những bức xúc trước những tiêu cực trên thị trường, lấy lại sự công bằng cho xã hội, làmcho thị trường vận hành lành mạnh hơn
1.2.2 Nội dung phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo theo các yếu tố cấu thành
1.2.2.1 Gia tăng qui mô và đa dạng hóa nguồn cung, đảm bảo an ninh năng lượng
Trang 15Chủ thể chính trong phát triển thị trường SPNLTT gồm: Nhà nước, Hiệp hội nănglượng và Doanh nghiệp vì vậy nội dung khung phân tích phát triển thị trường SPNLTT sẽđược xây dựng xoay quanh 3 chủ thể chính này
Đối với Nhà nước, để phát triển thị trường SPNLTT thì các cơ quan quản lý Nhà nước
sẽ phải nghiên cứu xây dựng chính sách, lập và triển khai quy hoạch, kế hoạch, đề án pháttriển thị trường NLTT và SPNLTT nói chung và đối với mặt hàng sản phẩm điện NLTT nóiriêng Nội dung của phát triển thị trường SPNLTT của Nhà nước sẽ gồm có: (1) Củng cốcác thị trường trọng điểm, truyền thống; khai phá các thị trường mới, tiềm năng; tìm kiếmcác thị trường ngách khác; (2) Đa dạng hóa thị trường, chuyển dịch cơ cấu sản xuất hànghóa nhằm hạn chế tối đa nhập khẩu thiết bị để chủ động trọng sản xuất, gia công, lắp rápSPNLTT; Chọn lựa đối tác để đàm phán và kí kết các biên bản ghi nhớ, chuyển giao côngnghệ; (3) Quản lý hoạt động xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa; (4) Hỗtrợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp; (5) Tăng cường bảo vệhàng hóa và doanh nghiệp trong tranh chấp thương mại quốc tế; (6) Phát triển hệ thống phânphối hàng hóa tại thị trường trong và ngoài nước; (7) Tăng cường liên kết gắn sản xuất vớithị trường
Đối với Doanh nghiệp, nội dung phát triển thị trường SPNLTT dựa trên mô hìnhAnsoff (1957) bao gồm có 3 bước: (1) Xác định các sản phẩm và thị trường hiện tại củadoanh nghiệp; (2) Xác định các sản phẩm và thị trường mới hay tiềm năng của doanhnghiệp; (3) Xây dựng ma trận xác định vị thế và các định hướng chiến lược của doanhnghiệp cho các cặp sản phẩm – thị trường;
Đối với hiệp hội năng lượng, nội dung phát triển thị trường SPNLTT bao gồm: thựchiện chức năng làm cầu nối hữu hiệu giữa Nhà nước và doanh nghiệp, hỗ trợ các hoạt độngxúc tiến thương mại, có tiếng nói bảo vệ doanh nghiệp và hàng hoá trong tranh chấp thươngmại, hỗ trợ kĩ thuật, đào tạo nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Phát triển thị trường SPNLTT là quá trình biến đổi của các thành phần hay bộ phậncấu thành thị trường Vì vậy, nội dung của phát triển thị trường SPNLTT là phát triển cácyếu tố cấu thành thị trường
Thực tế, trong lịch sử phát triển sản xuất và tiêu dùng SPNLTT theo mô hình tự cấp, tựtúc, các nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo đã không được khai thác hiệu quả Khi nềnkinh tế thị trường phát triển với sự tham gia tích cực của Nhà nước, các nguồn năng lượng
Trang 16tái tạo đã từng bước được khai thác ở quy mô công nghiệp từ đó thúc đẩy phát triểnSPNLTT trên thị trường
Nhiều nguồn NLTT đã được khai thác rộng rãi và đáp ứng tốt nhu cầu cả trong sảnxuất và tiêu dùng như năng lượng sinh học tái tạo (gỗ, Sinh khối, cây năng lượng), địa nhiệt(sâu hoặc nông), năng lượng Mặt trời (Quang điện, nhiệt Mặt trời), Thủy điện và nănglượng Gió
Nhu cầu năng lượng trên thế giới được dự đoán sẽ tiếp tục tăng lên nhanh chóng cùngvới tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh diễn ra trong những thập kỷ gần đây Trong bối cảnh,các nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt dự trữ và khí thải nhà kính tăng lên sẽcần một sự thay đổi lớn từ cả về nguồn cung và nhu cầu sử dụng năng lượng Trong khinăng lượng hạt nhân hiện không có khả năng tăng thị phần khiêm tốn hiện tại, NLTT sẽphải cung cấp cho hầu hết nhu cầu năng lượng trong tương lai NLTT trong tổng cung cấpnăng lượng sơ cấp trên phạm vi toàn cầu sẽ tăng từ 14% năm 2015 lên 63% vào năm 2050
Ở Việt Nam theo dự thảo Quy hoạch điện VIII (2022), tỷ trọng NLTT sẽ tăng từ 17-18,2%năm 2030 và 29-30% năm 2045
Các tác động của Nhà nước và thị trường cần đảm bảo khai thác hiệu quả các nguồnlực, thúc đẩy ứng dụng của công nghệ hiện đại, phát triển sản phẩm mới, gia tăng năng suất,hiệu quả kinh tế, đảm bảo sự cân bằng giữa Cung - Cầu
1.2.2.2 Gia tăng qui mô, mở rộng phạm vi và nâng cao mức độ thoả mãn nhu cầu sử dụng SPNLTT trong nền kinh tế
Trên thị trường SPNLTT, nhu cầu thực tế của các hộ tiêu dùng, bao gồm cả doanhnghiệp và người dân là mục đích và động lực của sản xuất, là một căn cứ quan trọng để xácđịnh khối lượng, cơ cấu, chất lượng SPNLTT được cung ứng ra thị trường Doanh nghiệp
mở rộng phạm vi và nâng cao mức độ thỏa mãn nhu cầu sản phẩm hiện có ra thị trườngmới Việc mở rộng sản phẩm không chỉ là một loại SPNLTT mà có thể là một nhómSPNLTT, trong đó sản phẩm tập chung là sản phẩm điện năng lượng tái tạo cần được thayđổi đôi chút để phù hợp với thị hiếu tại thị trường mới Chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệpphải có nghiên cứu hiểu biết về thị hiếu thị trường mục tiêu, sự sáng tạo trong cách thứcmarketing thâm nhập thị trường
Vì vậy, sự phát triển nhanh về số lượng, phạm vi và chất lượng của nhu cầu tiêu dùng
Trang 17SPNLTT sẽ thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, cung ứng và tạo ra sự phát triển chung củathị trường Sản xuất quyết định tiêu dùng, nhưng quá trình phát triển Cầu trên thị trường là mộthiện tượng khách quan do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, văn hoá, xã hội,… chứ khôngphụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất Lý thuyết của Keyns cho rằng, cùng với sự tăng lên củathu nhập là sự tăng lên của nhu cầu, sản xuất muốn phát triển phải tìm cách tăng Cầu, kíchthích Cầu phát triển Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các nhà sản xuấtkhông còn định hướng sản xuất dựa trên khả năng có thể sản xuất, mà chuyển sang địnhhướng sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Trên thị trường SPNLTT, sự phát triển của nhu cầu phụ thuộc chặt chẽ vào thu nhập,mức giá và những lợi ích (sự thỏa mãn) mà SPNLTT mang lại cho khách hàng Vì vậy, nângcao thu nhập (cả từ phương diện nỗ lực của cá nhân và phương diện thực thi chính sách pháttriển kinh tế của Nhà nước) là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu trong phát triểnnhu cầu trên thị trường SPNLTT
Ngoài ra, SPNLTT đã được người tiêu dùng dựa trên các công nghệ truyền thốngnhưng ở qui mô nhỏ và chủ yếu dưới hình thức tự cấp, tự túc Việc chuyển hóa qui mô tiêudùng SPNLTT đó trở thành lượng cầu trên thị trường không chỉ phụ thuộc và khả năng tạo
ra các sản phẩm phù hợp mà còn phụ thuộc vào chính sách, qui định liên quan đến tiêu dùngSPNLTT của Nhà nước
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
Việc đánh giá sự phát triển thị trường SPNLTT qua các giai đoạn có thể dựa vào cácnguồn số liệu thống kê và các cơ sở dữ liệu thông qua các cuộc điều tra, khảo sát Các sốliệu thống kê hàng năm là căn cứ để xác định các tiêu chí phản ánh xu hướng biến động vềqui mô, cơ cấu của thị trường
Các cơ sở dữ liệu từ các cuộc điều tra khảo sát thường liên quan đến các tiêu chí phảnánh về mặt chất lượng phát triển của thị trường
Đánh giá sự phát triển thị trường SPNLTT bao gồm các tiêu chí phản ánh xu hướnggia tăng về qui mô, cơ cấu thị trường, các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển (mặt chấtlượng) của thị trường và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của thị trường đối với nền kinh tế.a) Tiêu chí phản ánh tăng trưởng qui mô, chuyển dịch cơ cấu của thị trường sản phẩmnăng lượng tái tạo qua các năm, giai đoạn, bao gồm:
Trang 18- Tốc độ gia tăng tổng số lượng, qui mô doanh nghiệp trong ngành sản xuất nănglượng; Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp ở từng lĩnh vực sản xuất sản phẩm nănglượng tái tạo (điện, khí, nhiên liệu lỏng)
- Tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng SPNLTT qua các năm và qua các giai đoạn; Tốc
độ tăng trưởng sản lượng từng sản phẩm năng lượng tái tạo (điện, khí, nhiên liệu lỏng);
- Tốc độ gia tăng tổng doanh số tiêu thụ SPNLTT qua các năm và các giai đoạn; Tốc
độ gia tăng doanh số tiêu thụ từng loại SPNLTT qua các năm
b) Tiêu chí phản ánh trình độ phát triển (chất lượng) của thị trường sản phẩm nănglượng tái tạo qua các năm, giai đoạn, bao gồm:
- Trình độ công nghệ và xu hướng nâng cấp công nghệ chuyển đổi tài nguyên nănglượng tái tạo tại các doanh nghiệp sản xuất phân phối năng lượng
- Chênh lệch trình độ công nghệ chuyển đổi năng lượng tái tạo so với mức tiên tiêntrên thế giới, khu vực
- Xu hướng giá cả công nghệ chuyển đổi tài nguyên năng lượng tái tạo và tỷ lệ nội địahóa công nghệ này
- Mức độ thuận lợi hóa về thủ tục gia nhập thị trường, chuẩn bị và thực hiện đầu tư,tiếp cận thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp và người tiêu dùng
- Sự sẵn có các điều kiện cơ sở hạ tầng liên quan đến sản xuất, phân phối vả tiêu dùngsản phẩm năng lượng tái tạo
- Tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường…
c) Tiêu chí phản ánh hiệu quả của thị trường SPNLTT qua các năm, giai đoạn, baogồm:
- Xu hướng biến động về chi phí và giá cả của sản phẩm năng lượng tái tạo và so vớicác sản phẩm năng lượng truyền thống
- Mức độ phát thải khí CO2 và hạn ngạch đã sử dụng (liên quan đến chỉ tiêu phát thảicác bon dành cho các nước)
Trang 19- Tỷ lệ các khu vực dân cư, nhất là các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa do các hộdân sinh sống phân tán tại các khu vực có đặc điểm địa hình đồi núi cao, phân cắt nhiều nơichưa có đường giao thông dẫn đến suất đầu tư lớn, không thể đầu tư cấp điện từ lưới điệnquốc gia sẽ được điện khí bằng nguồn năng lượng tái tạo.
- Xu hướng thay đổi tỷ lệ chi cho tiêu dùng sản phẩm năng lượng trong tổng chi tiêu củadân cư và phân biệt tỷ lệ đó theo mức độ sử dụng năng lượng tái tạo
d) Tiêu chí về phát triển địa bàn, thị phần, công suất
- Năng lượng đầu người E/người; E NLTT/ người
- Cường độ năng lượng E/GDP; E NLTT/GDP
- Phát triển về dạng năng lượng tái tạo: Sinh khối, Thủy điện, Gió, Mặt trời
1.2.4 Vai trò thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
1.2.4.1 Khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có, đảm bảo an ninh năng lượng
Mặc dù tiềm năng về NLTT được đánh giá là vô tận và sẵn có cùng với quá trình hìnhthành tinh và tồn tại của trái đất Các tiền năng về NLTT cũng đã được khai thác phục vụcho cuộc sống từ lâu Tuy nhiên, các tiềm năng NLTT vẫn tồn tại ở dạng tiềm năng donhững khó khăn về khả năng công nghệ khai thác, chuyển hóa thành sản phẩm có thể lưugiữ và lưu thông trên thị trường phục vụ cho lợi ích của người dân và nền kinh tế Ngày nay,
sự tiến bộ của Công nghệ đã mở ra khả năng khai thác các tiềm năng và thương mạiSPNLTT
Các tác động của Nhà nước và thị trường sẽ gia tăng khả năng huy động các nguồn lựcđầu tư khai thác hiệu quả các nguồn NLTT từ đó phát triển SPNLTT nhằm thúc đẩy ứngdụng của công nghệ hiện đại, phát triển sản phẩm mới, gia tăng năng suất hiệu quả kinh tế,đảm bảo sự cân bằng giữa Cung và Cầu…
Có thể khẳng định rằng, phát triển nguồn cung năng lượng tái tạo, SPNLTT sẽ là cơ sởquan trọng để giải quyết những lo ngại về giá nhiên liệu hóa thạch tăng, an ninh năng lượng
và biến đổi khí hậu cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế
1.2.4.2 Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ hội phát triển ở các khu vực khó khăn
Trang 20Năng lượng là một trong những mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế, cần thiết cho sựtăng trưởng, phát triển và thay đổi Hầu hết các nước đang phát triển có nguồn NLTT dồidào, bao gồm: năng lượng Mặt trời, năng lượng Gió, năng lượng Địa nhiệt và Sinh khối,cũng như khả năng sản xuất các hệ thống tương đối nhiều lao động khai thác các hệ thốngnày Tuy nhiên, hầu hết các nước này đều phải nhập khẩu năng lượng hóa thạch và luôn đốidiện với nguy cơ thiếu hụt nguồn Cung.
Sản phẩm năng lượng tái tạo về phương diện cung cấp yếu tố đầu vào quan trọng chocác ngành sản xuất kinh doanh cho sẽ góp phần bổ sung nguồn lượng cho nền kinh tế, gópphẩn mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, nhất là ởcác khu vực mà điều kiện cơ sở hạ tầng chưa cho phép người dân tiếp cận các nguồn nănglượng truyền thống Về phương diện cung cấp sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt của dân
cư, SPNLTT góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, tiếp cận với thế giới văn minh Đồngthời, theo đánh giá, lợi ích phúc lợi quan trọng nhất của quá trình chuyển đổi năng lượng làgiảm tác hại đối với sức khỏe từ ô nhiễm không khí
1.2.4.3 Thúc đẩy các thị trường liên quan phát triển
Những lợi ích của năng lượng tái tạo và việc sử dụng SPNLTT đã và đang thúc đẩycác ngành sản xuất kinh doanh cũng như người dân gia tăng sử dụng ứng dụng làm gia tăngqui mô cầu trên thị trường các sản phẩn năng lượng tái tạo Điều đó sẽ thúc đẩy các thịtrường liên quan như: Thị trường cung cấp thiết bị, công nghệ cho sản xuất sản phẩm nănglượng tái tạo, thị trường cung cấp thiết bị cho các ngành sản xuất kinh doanh sử dụngSPNLTT Mặt khác, thị trường SPNLTT sẽ mở đường cho nhiều thị trường hàng hóa, dịch
vụ khác cùng phát triển, đặc biệt là thị trường các sản phẩm sử dụng sản phẩm điện NLTT
1.2.4.4 Giải pháp hiệu quả về bảo vệ môi trường toàn cầu
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, khoảng hai phần ba lượng khí thải nhà kínhtoàn cầu bắt nguồn từ sản xuất và sử dụng năng lượng truyền thống Đó là vấn đề cốt lõi củacác nỗ lực chống biến đổi khí hậu Hiện nay, các nước trên thế giới đang phải phối hợp thựchiện các chính sách để giảm lượng phát thải CO2 và nỗ lực để giữ cho khí hậu toàn cầu tănglên dưới 2°C Gần đây, tại Thỏa thuận Paris, các nước mong muốn hạn chế nhiệt độ toàncầu tăng lên 1,5°C Tuy nhiên, theo đánh giá việc thực thi các chính sách thì các nước trênthế giới sẽ hết ngân sách về phát thải carbon liên quan đến sử dụng năng lượng trong vòng
20 năm và ngân sách cho giới hạn tăng nhiệt độ trái đất lên 1,5°C sẽ có khả năng hết trong
Trang 21vòng chưa đầy một thập kỷ tới.
Phân tích của IEA, (2012), [68], Kết luận rằng năng lượng tái tạo và hiệu quả nănglượng, cùng với điện khí hóa sâu sẽ góp phần giảm thiểu hơn 90% lượng phát thải và duy trìgiới hạn tăng nhiệt độ trái đất 2°C [68]
Đồng thời, Sản phẩm năng lượng tái tạo có thể đóng một vai trò quan trọng trong việcđáp ứng nhu cầu về điện cho sản xuất tại các địa phương, để cung cấp cho nhu cầu về điện,nhiệt và nhiên liệu vận tải Sản phẩm Năng lượng tái tạo là nguồn bổ sung quan trọng đốivới an ninh năng lượng quốc gia
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo
1.3.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô
1.3.1.1 Thể chế chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
Do đặc điểm, bản chất của năng lượng tái tạo, sản phẩm NLTT cụ thể là sản phẩm điệnNLTT là một mặt hàng do Nhà nước thống nhất quản lý và điều tiết giá cả (giá mua điện từcác doanh nghiệp) đó cũng chính là một trong những lý do mà trong luận án tập chung vềnội dung kinh tế và quản lý vĩ mô, các yếu tố về chính sách hơn là kinh doanh thương mại Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của thị trường SPNLTT, nhất là
về các tiêu chí chất lượng và hiệu quả của thị trường Như đã nêu trên đây, chức năng chủyếu của Nhà nước là thiết lập khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy thị trường hoạt động có hiệuquả, đảm bảo sự công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô Hệ thống chính sách, pháp luật củaNhà nước điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế Trong đó ảnh hưởng đốivới sự phát triển năng lượng tái tạo, thị trường SPNLTT, bao gồm:
1) Hoạt động đầu tư, cơ cấu thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành công nghiệpnăng lượng tái tạo chịu sự điều chỉnh của các bộ Luật đầu tư; Luật doanh nghiệp; Luật cạnhtranh, các chính sách khuyến khích đầu tư áp dụng cho từng giai đoạn…
2) Sự phân bố ngành công nghiệp, qui mô sản xuất sản phẩm năng lượng tái tạo chịu
sự điều chỉnh bởi bộ luật về tài nguyên - môi trường, về đầu tư,
3) Khả năng tiếp cận công nghệ, chuyển giao và giá cả công nghệ chuyển đổi sảnphẩm năng lượng tái tạo chịu sự điều chỉnh của các bộ luật về thương mại, xuất nhập khẩuhàng hóa và dịch vụ, bảo hộ sở hữu trí tuệ,…
Trang 224) Khả năng thương mại hóa các sản phẩm năng lượng tái tạo chịu sự điều chỉnh củacác bộ luật về cạnh tranh, pháp luật về giá cả,…
Thị trường SPNLTT chỉ được phát triển khi dựa trên một khung khổ chính sách vànăng lực thể chế phù hợp, luật pháp thích hợp Để phát triển thị trường đòi hỏi phải nângcao năng lực thể chế Năng lực thể chế thể hiện ở năng lực xây dựng và thực thi các chínhsách Một chính sách thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và tiêu dùng sẽ thúcđẩy thị trường SPNLTT phát triển và ngược lại sẽ là một rào cản
Tác động của cơ chế chính sách trước hết đến việc sản xuất SPNLTT Để gia tăng sốlượng, cũng như tạo ra các sản phẩm mới cần phải có những chính sách ưu tiên nhất định từphía nhà nước nhằm khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất cung ứng cho thịtrường SPNLTT với giá cả hợp lý Nếu không có những chính sách phù hợp thì do cạnhtranh trên thị trường, hạn chế về năng lực, nên nhiều doanh nghiệp sẽ không mặn mà vớiviệc sản xuất, lắp ráp và phân phối SPNLTT
Cơ chế chính sách cũng tác động rất lớn đến việc phân phối SPNLTT thông qua việc
hỗ trợ về mặt bằng, tín dụng và đặc biệt là chính sách về giá cả sản phẩm Nhìn chung,SPNLTT có chi phí sản xuất và giá thành cao hơn so với các sản phẩm khác, nên thườnggây khó khăn trong tiêu thụ Do đó, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và phân phối sẽ gặpkhó khăn về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh
Thể chế chính sách là nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế vĩ mô và điều đó lạiảnh hưởng đến doanh nghiệp phân phối bán lẻ Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sáchcủa Nhà nước là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thươngmại Chính trị ổn định, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khitham gia thị trường có hiệu quả, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Việc thúc đẩy phát triển và sử dụng SPNLTT là giải pháp lựa chọn đầu tư phát triểnnăng lượng tối ưu nhất với chi phí thấp, hiệu quả cao, đáp ứng được các tiêu chí trong chínhsách phát triển bền vững Chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ, khuyến khích doanhnghiệp đầu tư phát triển SPNLTT nói chung và sản phẩm điện năng lượng tái tạo nói riênggóp phần thúc đẩy sản xuất như hỗ trợ về tín dụng, đất đai, thuế, cơ sở hạ tầng, công nghệ,nguồn nhân lực … sẽ tạo ra năng lực sản xuất trong nước lớn, đảm bảm chất lượng đa dạng
về mẫu mã, chủng loại, là nguồn cung hàng hóa phong phú, ổn định đảm bảo chất lượng đáp
Trang 23ứng kịp thời, đầy đủ theo yêu cầu về số lượng, chất lượng điều này tác động trực tiếp tớinăng lực sản xuất, kinh doanh, thương mại SPNLTT.
Môi trường đầu tư, sản xuất, gia công lắp ráp thuận lợi, thông thoáng sẽ có tác độngtích cực trong việc thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia hoạt động sảnxuất, gia công, lắp ráp SPNLTT tạo ra lực lượng doanh nghiệp đông đảo, vững mạnh lànguồn cung ứng cho thị trường trong nước hướng đến xuất khẩu
Ngoài ra thể chế môi trường sản xuất kinh doanh trong nước còn tác động trực tiếp đếnchi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sảnphẩm Môi trường đầu tư sản xuất kinh doanh thông thoáng giúp doanh nghiệp nâng caonăng lực cạnh tranh của sản phẩm, từ đó góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu sản phẩm
2.3.1.2 Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế, lạm phát, thất nghiệp,lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến quĩ mua và sức mua của người dân, củaChính phủ và cuả các doanh nghiệp trên thị trường sản phẩm năng lượng tái tạo Nănglượng có tầm quan trọng thiết yếu đối với các quốc gia, vì nó là đầu vào chính để đạt được
sự phát triển kinh tế, xã hội và công nghiệp và để tăng mức phúc lợi Mặc dù, mức tiêu haonăng lượng và tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt giữa các nước Tuy nhiên, trong thời kỳcông nghiệp hóa của các nền kinh tế, mức tiêu họa năng lượng sẽ có xu hướng tăng nhanh.Đồng thời, khi tăng tăng trưởng kinh tế mang lại thu nhập cho người dân, khi đó nhu cầutiêu dùng năng lượng cũng sẽ tăng lên
Năng lượng là một những hàng hóa đặc biệt, giá cả của nó cũng chịu tác động của yếu
tố lạm phát Mặc dù, hầu hết các nước đều thực thi chính sách an ninh năng lượng đảm bảoduy trì mức giá hợp lý Tuy nhiên, chi phí sản xuất năng lượng cao sẽ làm giảm nguồn cungtrên thị trường và mức giá năng lượng cũng có xu hướng tăng lên đáng kể và hạn chế sự giatăng tiêu dùng
Tình trạng nợ của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng đầu tư của nềnkinh tế Đặc biệt, việc đầu tư phát triển các nguồn năng lượng tái tạo đòi hỏi lượng vốn đầu
tư lớn và mức hỗ trợ đầu tư từ các chính phủ Do đó, nếu nền kinh tế có tỷ lệ nợ/GDP ở mứccao sẽ hạn chế khả năng gia tăng nguồn cung năng lượng tái tạo trong tương lai Ngược lại,nếu tỷ lệ tiết kiệm/GDP cao, nền kinh tế sẽ có xu hướng đầu tư mạnh vào phát triển các
Trang 24nguồn năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng năng lượng.
2.3.1.3 Yếu tố xã hội và tự nhiên
Yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến phát triển thị trường năng lượng tái tạo bao gồm: Qui
mô, phân bố dân số, cơ cấu dân số theo thành thị và nông thông, mẫu hộ gia đình, tập quántiêu dùng,
Qui mô dân số là một trong những yếu tố quyết định qui mô thị trường nói chung vàthị trường tiêu thụ sản phẩm điện NLTT nói riêng Đồng thời sự phân bố dân cư có liênquan đến mức giá và hiệu quả đầu tư hệ thống hạ tầng phân phối năng lượng Thực tế, cáckhu vực vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa do mật độ dân cư thưa thớt thường là các khuvực thiều vắng hệ thống hạ tầng cung cấp các sản phẩm năng lượng và có mức độ phụ thuộclớn và việc sử dụng các nguồn tái tạo (Sinh khối, Gió, Mặt trời) bằng các phương pháptruyền thống, kém hiệu quả
Quá trình đô thị hóa và cơ cấu dân số thành thị, nông thôn ảnh hưởng đến mức tiêu thụnăng lượng bình quân đầu người Thực tế, ở các nước có tỷ lệ dân số độ thị cao thường cónhu cầu sử dụng năng lượng cao cho các công trình tiện ích xã hội, nhu cầu đi lại,… dẫnđến mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người cao hơn Mặt khác, cơ cấu dân số thànhthị và nâng thôn cũng có ảnh hưởng đến cơ cấu tiêu dùng các mặt hàng năng lượng Trongtổng số tiêu dùng các sản phẩm năng lượng, dân cư đô thị có xu hưởng tiêu dùng nhiều điệnnăng và nhiên liệu hóa thạch còn các khu vực nông thôn vẫn sử dụng nhiều hơn các nguồnNLTT thông qua các pháp pháp truyền thống
Các yếu tố về xã hội như phong tục tập quán, mức sống,… có ảnh hưởng đến thái độtiêu dùng và khả năng thanh toán của khách hàng mục tiêu Những khác biệt về văn hóa, xãhội mang tính bản sắc lành mạnh có ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh và tính độc đáo củasản phẩm
Yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình,…Điều kiện tự nhiên quiđịnh tiềm năng cả về qui mô công suất, cơ cấu các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượngGió, Mặt trời, Địa nhiệt, Thủy, Sinh khối)
Các yếu tố tự nhiên trước hết có ảnh hưởng đến khả năng khai thác tiềm năng pháttriển nguồn SPNLTT, đặc biệt là nguồn Cung NLTT ở qui mô công nghiệp Đồng thời, nócũng ảnh hưởng trực tiếp đến suất đầu tư và hiệu quả sinh lời của các dự án năng lượng tái