1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của văn hóa nước ngoài tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam và hướng tới tiếp thu các giá trị văn hóa quốc tế kết

106 950 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Văn Hóa Nước Ngoài Tới Hoạt Động Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp Việt Nam Và Hướng Tới Tiếp Thu Các Giá Trị Văn Hóa Quốc Tế Kết Hợp Với Các Giá Trị Truyền Thống Để Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Trong Thời Kỳ Hội Nhập
Tác giả Nguyễn Kỳ Minh
Người hướng dẫn ThS. Lờ Thỏi Phong
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế & Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó cho thấy vai trò của văn hóa trong quá trình hội nhập và tác động đến sự phát triển của quốc gia nói chung, của nền kinh tế nói riêng, hay của hoạt động kinh doanh dưới một góc đ

Trang 1

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

-*** -

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ

HƯỚNG TIẾP THU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA QUỐC TẾ KẾT

HỢP VỚI CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐỂ NÂNG CAO

NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

Formatted: Justified, Indent: Left: 1.29",

Space After: 0 pt, Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: Bold, Italic, Dutch

(Netherlands)

Formatted: Centered

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA, MỐI QUAN HỆ

GIỮA VĂN HÓA VÀ KINH DOANH 5

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA 5

1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA 5

1.1 THEO NGHĨA GỐC TỪ 6

1.2 THEO PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

1.2.1 THEO PHẠM VI RỘNG 7

1.2.2 THEO NGHĨA THÔNG THƯỜNG 7

1.2.3 THEO NGHĨA HẸP 8

2 ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA 8

3 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HÓA 12

3.1 VĂN HÓA VẬT CHẤT 12

3.2 VĂN HÓA TINH THẦN 13

4 CÁC LỚP VĂN HÓA 16

4.1 VĂN HÓA BỀ NGOÀI - CẤU TRÚC HỮU HÌNH CỦA VĂN HÓA 17

4.2 CÁC CHUẨN MỰC VÀ GIÁ TRỊ 17

4.3 CÁC GIẢ ĐỊNH VỀ SỰ TỒN TẠI 18

5 NỀN TẢNG CỦA SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA 19

II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH VÀ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH 22

1 KHÁI NIỆM KINH DOANH 22

2 BẢN CHẤT CỦA KINH DOANH 23

3 ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH DOANH 25

III MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ KINH DOANH 27

1 QUAN HỆ TƯƠNG TÁC BỔ TRỢ CỦA VĂN HÓA VÀ KINH DOANH 28

2 MẶT KHÁC BIỆT CỦA VĂN HÓA VỚI KINH DOANH 31

Trang 3

1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 37

2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 37

2.1 NIỀM TIN, QUAN ĐIỂM, CÁC GIÁ TRỊ CỐT LÕI 37

2.2 QUY TẮC, CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC, KINH DOANH 37

2.3 BIỂU TRƯNG VĂN HÓA 38

2.4 PHONG CÁCH LÀM VIỆC 38

3 TÍNH MẠNH YẾU CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 39

3.1.PHƯƠNG PHÁP XÁC MINH BIỂU TRƯNG CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP (ARTEFACTUAL APPROACH) 39

3.2 PHƯƠNG PHÁP XÁC MINH TÍNH ĐỒNG THUẬN/ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP (CARSENSUS/ INTESITY APPROACH) 40

4 MÔ HÌNH VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 41

CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 44

I ĐÔI NÉT VỀ VĂN HÓA VÀ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 44

1 ĐÔI NÉT VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM 44

2 ĐÔI NÉT VỀ SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 49

3 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 52

3.1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH CÁC QUAN ĐIỂM KINH DOANH Ở VIỆT NAM 52

3.2 QUAN ĐIỂM KINH DOANH TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 55

II TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 58

1 TÁC ĐỘNG TỚI NHẬN THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 58

Trang 4

1

3 TÁC ĐỘNG TỚI HỢP ĐỒNG 61

Trang 5

CHƯƠNG III: HƯỚNG TIẾP THU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI KẾT HỢP VỚI KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 73

I TÌM HIỂU VĂN HÓA TRONG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 73

1 VĂN HÓA TRONG KINH DOANH CỦA NHẬT BẢN 73

1.1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA NHẬT BẢN 73 1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHẬT BẢN 75 1.3 TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA NHẬT VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 78

2 VĂN HÓA TRONG KINH DOANH CỦA HOA KỲ 78

2.1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA HOA KỲ 78 2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU BIỂU CỦA VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA HOA KỲ 79 2.3 TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA MỸ VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 81

3 VĂN HÓA TRONG KINH DOANH CỦA TRUNG QUỐC 81

3.1 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA TRUNG QUỐC 81 3.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU BIỂU CỦA VĂN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TRUNG QUỐC 83 3.3 TIẾP THU GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUNG QUỐC VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 85

Trang 6

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 86

1 QUÁN TRIỆT QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC XÂY DỰNG CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM 86

2 TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI 89

3 KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 90

III MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 92

1 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 92

2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 94

3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ KHÁC 96

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

* Tính cấp thiết của đề tài: “Toàn cầu hóa 3.0 thực chất đang ở vào giai đoạn

tăng tốc, nó làm cho thế giới chuyển từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san phẳng thế giới Chũng ta đang sống trong một thế giới phẳng!” là một nhận định nổi tiếng của Thomas L Friedman về những biến động của thế giới thế kỷ 21 Bắt nhịp với mạch vận động của tri thức thời đại mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định xu hướng toàn cầu hóa đang là đặc điểm chi phối thời đại (theo nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X) Sau năm 1986 với chính sách

mở cửa nền kinh tế và quá trình chủ động hội nhập quốc tế, mà việc gia nhập WTO

và chính thức trở thành thành viên thứ 150 là một minh chứng, đã mang lại cho đất nước Việt Nam sự phát triển đáng ghi nhận, trong đó có sự gia tăng đáng kể địa vị chính trị quốc gia trên trường quốc tế

Tuy vậy, khi cửa ngõ vào một quốc gia được mở ra, thì tràn vào không chỉ là những dòng vốn, các cơ hội kinh doanh, cơ hội đầu tư, các mảng thị trường giàu tiềm năng, mà còn là những dòng văn hóa, cũng đa dạng và có phần phức tạp hơn rất nhiều Năm, mười năm trước, ở đâu đó trên khắp đất nước Việt Nam, những khẩu hiệu như “hòa nhập chứ không hòa tan”, “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập quốc tế”, đã được không chỉ những nhà bình luận kinh tế, các nhà hoạch định chính sách phát triển bàn luận, mà còn được rất nhiều người dân thuộc các tầng lớp, khu vực địa lý khác nhau quan tâm Điều đó cho thấy vai trò của văn hóa trong quá trình hội nhập và tác động đến sự phát triển của quốc gia nói chung, của nền kinh tế nói riêng, hay của hoạt động kinh doanh dưới một góc độ vi

mô, tại Việt Nam đã có được những nhận thức và sự quan tâm nhất định Trong bối cảnh hiện nay, khi hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng hơn, thì việc ý thức

rõ vai trò và tác động của văn hóa càng phải được quan tâm nhiều hơn nữa, trở thành một yếu tố sống còn về lâu dài đối với yêu cầu về một quốc gia vững mạnh và trường tồn

Tất cả những ai nghiên cứu hoặc có tìm hiểu đôi chút về văn hóa đều hiểu rằng

Trang 8

2

khía cạnh của đời sống hàng ngày, trong từng hành động, cử chỉ, Văn hóa không tác động một cách trực tiếp đến kết quả của những nỗ lực, nhưng bỏ qua văn hóa thì các nỗ lực có thể sẽ trở thành vô ích

Hoạt động kinh doanh là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng của văn hóa rất sâu sắc Nhà doanh nghiệp, không giống như các kỹ sư, kiến trúc sư, nhà khoa học, nơi mà nghề nghiệp của họ gắn với những thực tế khách quan, những công thức, những quy tắc bất di bất dịch của tự nhiên Nhà doanh nghiệp là người phải xử lý hàng trăm mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh của mình, với hàng trăm, hàng nghìn chủ thể mà ngày nay, với sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng, và các cơ hội kinh doanh rộng mở ở nước ngoài, có thể phần nhiều các chủ thể đó là những người đến từ nhiều khu vực địa lý, có nền văn hóa khác nhau với các cách nhìn nhận, xử lý vấn đề, tính cách và sở thích khác nhau rất nhiều Không hiểu biết về văn hóa, không hiểu biết về những giá trị cốt lõi chung đã được đúc rút

về đối tác của mình, nhà doanh nghiệp có thể thấy là đã gần như đối mặt với sự thất bại

Quay trở lại tìm hiểu lịch sử Việt Nam với những chiến thắng oanh liệt và hào hùng chống lại quân xâm lược để dựng nước và giữ nước, các nhà quân sự Việt Nam đã tổng kết lại rằng thực chất các cuộc chiến tranh chống xâm lược của nước

ta là các cuộc chiến tranh về mặt văn hóa Cội nguồn sức mạnh chiến thắng của Việt Nam là do Việt Nam có một bề dày văn hóa hơn hẳn các quốc gia xâm lược và nghệ thuật quân sự Việt Nam đã biết cách vận dụng tối ưu và linh hoạt bề dày văn hóa đó vào các đường lối quân sự và thực tiễn chiến đấu Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner, cũng như nhiều người khác cũng có nhận định, việc bành trướng sức mạnh kinh tế của các quốc gia hiện nay, cũng như việc tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế tiềm ẩn đằng sau đó là một sự bành trướng và nỗ lực gây ảnh hưởng về mặt văn hóa, dần dần đồng hóa về văn hóa và trở thành một quốc gia phụ thuộc Điều này trở thành một nguy cơ nghiêm trọng nếu một quốc gia hội nhập nhưng không ý thức sâu sắc về các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước mình Nhận thức đó trở thành động lực và cơ sở thực tiễn để em nghiên cứu về

Trang 9

vấn đề văn hóa, và quyết định chọn đề tài “Tác động của văn hóa nước ngoài tới

hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam và hướng tiếp thu các giá trị văn hóa quốc tế kết hợp với các giá trị truyền thống để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

* Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở

phân tích vai trò của văn hóa trong kinh doanh cùng những tác động của văn hóa đến các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, dựa trên phân tích sự cần thiết chuyển tải các yếu tố văn hóa truyền thống cũng như các yếu tố văn hóa học hỏi được từ bên ngoài nhằm xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp, cũng như đánh giá sơ bộ thực trạng văn hóa kinh doanh Việt Nam trong thời gian qua, khóa luận đề xuất những phương hướng và giải pháp sử dụng yếu tố văn hóa trong kinh doanh để gia tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam

* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quan

niệm, cách hiểu về văn hóa, về kinh doanh, về vai trò của văn hóa trong kinh doanh đặc biệt là về vấn đề văn hóa doanh nghiệp và xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn việc nghiên cứu ở phạm vi tìm

hiểu và làm rõ một phần nhỏ nội dung của văn hóa, mối quan hệ, vai trò của văn hóa trong kinh doanh, tác động của văn hóa đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời khóa luận muốn đề cập đến và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyển tải yếu tố văn hóa vào kinh doanh, tạo dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam, làm thế nào để tiếp thu những giá trị văn hóa nước ngoài, kết hợp linh hoạt, khéo léo với những giá trị truyền thống dân tộc

để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam

* Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận chủ yếu lấy cơ sở phương pháp luận

nghiên cứu là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm phát triển kinh tế của Đảng

Trang 10

4

nghiên cứu tổng hợp khác nhau như phương pháp đối chiếu - so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu

* Kết cấu: Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp gồm ba chương chính:

- Chương I: Tổng quan về văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh

- Chương II: Tác động của văn hóa nước ngoài tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam

- Chương III: Hướng tiếp thu các giá trị văn hóa quốc tế kết hợp với các giá trị văn hóa truyền thống để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập

và một số khuyến nghị

Khóa luận này không phải là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về văn hóa hay tác động của văn hóa đến hoạt động kinh doanh Đồng thời do giới hạn về thời gian nghiên cứu, cũng như những hạn chế trong tìm hiểu và nhận thức, khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi có nhiều thiếu sót

Trang 11

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA, MỐI QUAN HỆ

GIỮA VĂN HÓA VÀ KINH DOANH

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA

1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của

cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu Những cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến những định nghĩa và quan niệm khác nhau xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa Năm 1952, Koroeber và Kluchohn đã thống kê được

164 định nghĩa về văn hóa Tính đến thời điểm năm 2008, với sự gia tăng về mức

độ quan tâm của nhân loại và kết quả của các công trình nghiên cứu và tài liệu, sách báo về vấn đề văn hóa, con số này chắc chắn đã tăng lên rất nhiều

Theo tiến sỹ Trần Ngọc Thêm, một nhà nghiên cứu văn hóa, khái niệm văn hóa rất rắc rối Theo nghĩa chuyên biệt, nó chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn, như văn hóa Ai Cập, văn hóa Đông Sơn, “Đề cương về văn hóa Việt Nam” của Đảng Cộng sản Đông Dương 1943 xếp văn hóa bên cạnh kinh tế chính trị và xem

nó bao gồm cả tư tưởng học thuật UNESCO thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là đặt hai lĩnh vực này ra ngoài văn hóa Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm các kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo Đối với người khác,

nó bao gồm cả phong tục tập quán lối sống, làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác Không thể nói hoặc đánh giá quan điểm nào là sai lầm hoặc thiếu đúng đắn bởi việc nhìn nhận văn hóa theo các cách thức khác nhau như thế càng làm cho vấn

đề được hiểu biết phong phú và toàn diện hơn

Trang 12

cổ, từ “văn ” đã bao hàm ý nghĩa “văn” là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng cách tu dưỡng Còn chữ “hóa” là việc cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa cái đẹp của “văn” trong thực tiễn đời sống

Theo tiếng Anh, văn hóa là “culture” có nguồn gốc từ “agriculture” nghĩa là nông nghiệp Điều này có lẽ xuất phát từ quan điểm cho rằng văn hóa được tạo dựng, bồi đắp, ngày càng đa dạng và trở nên rõ rệt, tách hẳn ra thành một phần quan trọng của đời sống từ khi bắt đầu có nông nghiệp trồng trọt, tức là từ khi xã hội loài người thoát khỏi cuộc sống săn bắt hái lượm, bắt đầu có sản xuất thặng dư

Tương tự như vậy, tại các nước phương Tây nói chung, trong tiếng Đức, văn hóa là “kultur”, cũng giống như “culture” trong tiếng Pháp, đều xuất phát từ chữ Latinh “cultus” có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng Sau đó, từ “cultus” được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng nhân cách, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người

Như vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm

cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn

1.2 Theo phạm vi nghiên cứu

Căn cứ vào đối tượng mà thuật ngữ “văn hóa” được sử dụng để phản ánh, có

ba cấp độ nghiên cứu chính về văn hóa

Trang 13

1.2.1 Theo phạm vi rộng

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa xuất hiện từ khi xuất hiện con người Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới những đặc trưng riêng có ở loài người, nói tới việc phát huy năng lực và bản chất của con người nhằm hoàn thiện bản thân

Hiểu theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người Hoạt động văn hóa được coi là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân - thiện - mỹ và khả năng sáng tạo chân - thiện - mỹ trong đời sống

Theo phạm vi này, UNESCO có đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia,

xã hội, Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, ”

Hồ Chí Minh cũng đưa ra quan điểm về văn hóa “vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn.”

Bao quát hơn là quan điểm của E Heriot “văn hóa là cái còn lại sau khi người

ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả.”

1.2.2 Theo nghĩa thông thường

Văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học, ) và văn hóa nghệ thuật (văn

Trang 14

8

1.2.3 Theo nghĩa hẹp

Văn hóa được coi như một ngành, ngành văn hóa - nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác Cách hiểu này thường kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa: coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống được là nhờ trợ cấp của nhà nước và “ăn theo” nền kinh tế

Trong ba cấp độ nghiên cứu trên về thuật ngữ văn hóa, hiện nay người ta thường dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất, và đó cũng chính là nghĩa hiểu về thuật ngữ văn hóa của khóa luận tốt nghiệp này

Tóm lại, có thể thấy đặc điểm chung của các khái niệm về văn hóa là: văn hóa được đúc kết, lan truyền và chia sẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác, văn hóa không những được chuyển tiếp từ bố mẹ sang con cái, mà còn được truyền bá thông qua các tổ chức xã hội, các hội văn hóa, từ các chính phủ đến các trường học, chùa chiền, nhà thờ, Các cách nghĩ và cách cư xử thông thường được hình thành và duy trì bởi các áp lực và xu thế của xã hội

Khóa luận này chủ yếu sử dụng cách hiểu về văn hóa của Czinkota: “văn hóa

là một hệ thống những cách ứng xử đặc trưng cho các thành viên của bất kỳ một xã hội nào Hệ thống này bao gồm mọi vấn đề, từ cách nghĩ, nói, làm, thói quen, ngôn ngữ, sản phẩm vật chất và những tình cảm - quan điểm chung của các thành viên đó”, bởi khái niệm này có phần cụ thể hơn nên thuận tiện hơn cho việc nghiên cứu của khóa luận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, đồng thời sử dụng yếu tố văn hóa như là một nguồn lực quan trọng nhằm mục tiêu gia tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay

2 Đặc trƣng của văn hóa

Đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa là tính hệ thống Trong các công

trình nghiên cứu, các từ điển, và trong hầu hết các khái niệm về văn hóa, từ văn hóa

thường được định nghĩa là “tập hợp các giá trị ” Điều đó cho thấy, văn hóa là một

tổng thể phức tạp gồm nhiều yếu tố và kết cấu bền vững của văn hóa thể hiện một

Trang 15

đặc trưng mang tính hệ thống cao Nhờ tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được chức năng tổ chức xã hội

Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị Chữ “văn” trong từ

văn hóa có nghĩa là vẻ đẹp, mang hàm nghĩa giá trị Văn hóa có nghĩa là trở thành cái đẹp, trở nên có giá trị Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa cái có giá trị Nó là thước

đo mức độ nhân bản của một xã hội và con người Nhờ có đặc tính này, văn hóa thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội cân bằng giữa thiện và ác, giữa đẹp và xấu

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh Văn hóa là một sản phẩm của

hoạt động thực tiễn của con người trong môi trường thiên nhiên Do con người gắn liền với nhau trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

Đặc trưng thứ tư là văn hóa có tính lịch sử Văn hóa bao giờ cũng được tích

lũy và hình thành qua nhiều thế hệ Mỗi thế hệ lại tiếp thu những giá trị văn hóa được đúc kết từ thế hệ trước, bồi đắp thêm những giá trị văn hóa mới để làm phong phú hơn kho tàng văn hóa dân tộc và truyền đạt lại cho thế hệ kế tiếp Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định và truyền thống này tồn tại thông qua giáo dục Những quan niệm trong văn hóa rất khó phá vỡ cho dù thế giới có thay đổi

Chức năng giáo dục là đặc trưng quan trọng thứ năm của văn hóa Nó không

chỉ giáo dục những giá trị đã ổn định mà còn giáo dục cả những giá trị đang hình thành

Ngoài ra, cũng có thể nhận biết văn hóa thông qua các đặc trưng sau:

- Văn hóa mang tính tập quán: Văn hóa quy định những hành vi được chấp

nhận hay không được chấp nhận trong một xã hội cụ thể, hình thành những ứng xử, thói quen chung xử lý tình huống tương tự nhau trong một cộng đồng Tuy nhiên, không phải mọi tập quán đều tốt đẹp và phù hợp với xã hội hiện đại Có những tập quán đẹp, tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những nét độc đáo của một nền văn

Trang 16

10

hóa này so với nền văn hóa kia, nhưng cũng có những tập tục hủ lậu, khó chấp nhận trong thời đại ngày nay, cần phải thay đổi và tạo dựng những nét văn hóa mới

- Văn hóa mang tính cộng đồng: Văn hóa là một đặc trưng cơ bản, riêng có

của xã hội loài người và do con người xây dựng, củng cố và bồi đắp qua nhiều thế

hệ Văn hóa không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội Văn hóa như là một sự quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng Đó là những lề thói, những tập tục mà một cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, mặc định trong tiềm thức của mỗi thành viên trong cộng đồng Một người nào đó làm khác đi sẽ bị toàn bộ cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc làm của anh ta có thể không có gì là phi pháp

- Văn hóa mang tính dân tộc: Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận

chung của từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được Mỗi dân tộc khác nhau có những đặc trưng văn hóa không giống nhau, do đó, tính dân tộc cũng khác nhau Vì thế mà một câu chuyện cười có thể làm cho người dân các người phương Tây cười vỡ bụng mà người dân Châu Á không thấy có gì hài hước Vì vậy, cùng một thông điệp ở các nước khác nhau có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau

- Văn hóa có tính chủ quan: Con người ở các nền văn hóa khác nhau có suy

nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc Cùng một sự việc có thể được hiểu một cách khác nhau ở các nền văn hóa khác nhau Chẳng hạn như các loại thiếp chúc mừng Hallmark được người Anh và Mỹ hết sức ưa chuộng Đặc điểm của các thiếp chúc mừng Hallmark là “thông điệp đặc biệt” Lợi thế của việc mua thiệp Hallmark là người mua không cần phải suy nghĩ về những gì phải viết - chúng đã được viết sẵn và in trên thiếp Tuy nhiên, khi Hallmark xâm nhập thị trường Pháp, không mấy người mua chúng vì người ta thích những gì do chính họ viết ra hơn

- Văn hóa có tính khách quan: Văn hóa thể hiện quan điểm chủ quan của từng

dân tộc, nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội được

Trang 17

chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người Không những thế, văn hóa tồn tại khách quan ngay cả với các thành viên trong cộng đồng Mỗi thành viên chỉ có thể học hỏi các nền văn hóa, chấp nhận nó chứ không thể biến đổi chúng ngay lập tức theo ý muốn chủ quan của mình Chẳng hạn, quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã ăn rất sâu trong lịch sử Trung Quốc, không dễ gì xóa bỏ được trên bình diện toàn xã hội

- Văn hóa có tính kế thừa: Văn hóa là sự tích tụ hàng trăm, hàng ngàn năm của

tất cả các hoàn cảnh Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc trưng riêng biệt của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau Ở mỗi thế hệ, thời gian qua

đi, những cái cũ không phù hợp có thể bị loại trừ và tạo nên một nền văn hóa quảng đại Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho vốn văn hóa của một dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn

- Văn hóa có thể học hỏi được: Văn hóa không chỉ được truyền lại từ đời này

qua đời khác, mà nó còn phải do học mới có Đa số những kiến thức (một biểu hiện của văn hóa) mà con người có được là do học hỏi mà có hơn là bẩm sinh mà có Do vậy, con người ngoài vốn văn hóa có được từ nơi mình sinh ra và lớn lên, có thể còn học được từ những nơi khác, những nền văn hóa khác

- Văn hóa luôn tiến hóa: Một nền văn hóa không bao giờ tĩnh tại và bất biến

Ngược lại, văn hóa luôn luôn thay đổi và rất năng động Nó luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình mới Trong quá trình hội nhập và giao thoa với các nền văn hóa khác, nó có thể tiếp thu các giá trị tiến bộ, hoặc các giá trị tích cực của các nền văn hóa khác Ngược lại, nó cũng tác động ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác

Việc nắm bắt được những nét đặc trưng của văn hóa cho chúng ta có một tầm nhìn bao quát, rộng mở và một thái độ hết sức quan trọng và thận trọng với những vấn đề văn hóa, đặc biệt là những ảnh hưởng ngầm nhưng không kém phần mạnh

mẽ và to lớn của văn hóa Mọi sự kết luận vội vàng hoặc một sự thiếu trách nhiệm

Trang 18

12

tạo văn hóa, đồng thời tạo ra những hậu quả xấu cho sự phát triển của xã hội nói chung, của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh nói riêng Nhận biết đầy đủ và sâu sắc những đặc trưng này sẽ giúp chúng ta xác định được biểu hiện và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh nói riêng,

và quan trọng hơn là thấu hiểu các tác động của văn hóa nước ngoài đến nhận thức

và phương thức vận hành các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời đại hội nhập hiện nay, từ đó có những cách thức điều chỉnh hoạt động kinh doanh phù hợp với các tác động của văn hóa, đồng thời chuyển tải các yếu tố văn hóa tiến

bộ, thích hợp vào hoạt động kinh doanh để gia tăng năng lực cạnh tranh

3 Các yếu tố cấu thành văn hóa

Văn hóa là một đối tượng phức tạp và đa dạng, do đó, có nhiều cách để phân loại các yếu tố cấu thành văn hóa Các nhà xã hội học cho rằng văn hóa có ba yếu tố chủ yếu là văn hóa thích ứng với môi trường tự nhiên, văn hóa tổ chức cộng đồng

và văn hóa sinh hoạt tinh thần Còn giáo sư Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” cho rằng văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục - lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật tạo hình, nhà cửa, kiến trúc, lối sống, tập quán,

Để hiểu bản chất của văn hóa, và để phân tích rõ hơn những tác động của văn hóa đến hoạt động kinh doanh, có thể phân văn hóa thành hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

3.1 Văn hóa vật chất

Văn hóa vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện trong các của cải vật chất do con người tạo ra Đó là các sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệu tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng;

cơ sở hạ tầng xã hội như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính Do văn hóa vật chất thể hiện đời sống vật chất của một quốc gia nên văn hóa vật chất sẽ ảnh hưởng to lớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trong nền kinh tế đó

Trang 19

Văn hóa vật chất còn được thể hiện ở cách con người làm ra những sản phẩm vật chất, tức là thông qua những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, ai làm ra chúng và tại sao Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng đến mức sống và giúp giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó Một quốc gia tiến bộ về kỹ thuật, con người

ít tin vào số mệnh và họ tin tưởng rằng có thể kiểm soát những điều xảy ra đối với

họ Những giá trị của họ cũng thiên về vật chất bởi vì họ có mức sống cao hơn

3.2 Văn hóa tinh thần

Văn hóa tinh thần là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, các phong tục, tập quán, thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời); các giá trị và thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo; giáo dục; các phương thức giao tiếp, cách thức tổ chức xã hội

- Kiến thức là nhân tố hàng đầu của văn hóa, thể hiện qua trình độ học vấn,

trình độ tiếp thu và vận dụng các kiến thức khoa học, hệ thống kiến thức được con người phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sung nâng cao và không ngừng đổi mới qua các thế hệ

- Các phong tục tập quán là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng

ngày như nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ dùng ăn uống trong bữa ăn, cách xử sự với những người xung quanh, cách sử dụng thời gian, Phong tục, tập quán là những hành động ít mang tính đạo đức, mà chủ yếu là những cách thức đã được mặc định để xử lý các tình huống phổ biến của toàn bộ cộng đồng Tập tục có

ý nghĩa lớn hơn nhiều so với tập quán, nó là những quy tắc được coi là trọng tâm trong đời sống xã hội, việc làm trái tập tục có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng

- Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trước

Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt Thói quen thể hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khi thực hiện

Trang 20

14

các nước Latinh có thể chấp nhận đến trễ, nhưng ở Anh và Pháp, sự đúng giờ là giá trị Hoặc người Mỹ thường sử dụng phấn bột sau khi tắm nhưng người Nhật cảm thấy như thế là làm bẩn lại

- Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được

các thành viên chấp nhận, còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ứng trước một sự vật dựa trên các giá trị Ví dụ nhiều người Nhật cho rằng dùng hàng nước ngoài là không yêu nước, trong khi đó, không ít người dân Việt Nam cho đến nay vẫn khá chuộng hàng ngoại

- Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa vì nó là phương tiện

được sử dụng để truyền thông tin và ý tưởng, giúp con người hình thành nên cách nhận thức về thế giới và có tác dụng định hình đặc điểm văn hóa của con người Ở những nước có nhiều ngôn ngữ, người ta cũng thấy có nhiều nền văn hóa Ví dụ, ở Canada có hai nền văn hóa là nền văn hóa tiếng Anh và nền văn hóa tiếng Pháp Tuy nhiên, không phải lúc nào sự khác biệt về ngôn ngữ cũng dẫn đến sự khác biệt

về xã hội Trong hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh quốc tế, sự hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, về những thành ngữ và cách nói xã giao hàng ngày, về dịch thuật là rất quan trọng Những khác biệt ngôn ngữ có thể gây ra những cách hiểu khác nhau, đôi khi tạo nên những hậu quả không mấy dễ chịu cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà tiếp thị đa quốc gia Chẳng hạn như khẩu hiệu quảng cáo của Pepsi ở Đài Loan “đến và sống với thế hệ Pepsi” đã được dịch sang tiếng Trung Quốc thành “Pepsi sẽ mang tổ tiên của bạn trở về từ cõi chết”! Hay “liếm ngón tay cũng thấy ngon” của KFC là một khẩu hiệu được biết đến trên toàn thế giới để diễn

tả vị ngon của sản phẩm nhưng lại được dịch tại Hồng Kông là “cắn đứt ngón tay của bạn”, và kết quả là hầu hết người dân Hồng Kông gọi khoai tây chiên thay vì gà rán Kentucky

Bản thân ngôn ngữ rất đa dạng, bao gồm ngôn ngữ có lời (verbal language) và ngôn ngữ không lời (non - verbal language) Thông điệp được chuyển giao bằng nội dung của từ ngữ, bằng cách diễn tả các thông tin đó (âm điệu, ngữ điệu, ) và bằng

Trang 21

các phương tiện không lời như cử chỉ, tư thế, ánh mắt, nét mặt, Ngay cả ngôn ngữ

cử chỉ cũng bị tác động bởi văn hóa Ví dụ, ở đa phần các nước trên thế giới, một cái gật đầu là dấu hiệu của sự đồng ý, một cái nhăn mặt là dấu hiệu của sự khó chịu Nhưng ở một số nước châu Phi thì phải hiểu ngược lại, một cái gật đầu hàm ý phản đối, một cái lắc đầu hàm ý đồng ý Tương tự, trong khi phần lớn người Mỹ và Châu

Âu khi giơ ngón tay cái lên hàm ý “mọi thứ đều ổn” thì ở Hy Lạp dấu hiệu đó là ngụ ý khiêu dâm

- Thẩm mỹ liên quan đến thị hiếu nghệ thuật của văn hóa Các giá trị thẩm mỹ

được phản ánh qua các hoạt động nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, điện ảnh, văn chương, âm nhạc, kiến trúc,

- Tôn giáo ảnh hưởng lớn đến cách sống, niềm tin, giá trị và thái độ, thói quen

làm việc và cách cư xử của con người trong xã hội đối với nhau và với xã hội khác Chẳng hạn, ở những nước theo đạo Hồi, vai trò của người phụ nữ bị giới hạn trong gia đình, hầu như rất khó tham gia các hoạt động xã hội, kinh tế hoặc chính trị Thói quen làm việc chăm chỉ của người Mỹ là được ảnh hưởng từ lời khuyên của đạo tin lành,

- Giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu văn hóa Trình độ cao của giáo dục

thường dẫn đến năng suất cao và tiến bộ kỹ thuật Giáo dục cũng giúp cung cấp những cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị Đây chính là yếu tố quyết định sự phát triển của văn hóa vì nó sẽ giúp các thành viên trong một nền văn hóa kế thừa được những giá trị văn hóa cổ truyền và học hỏi các giá trị mới từ các nền văn hóa khác nhau

- Cách thức tổ chức xã hội thể hiện qua cấu trúc xã hội của xã hội đó Tuy cấu

trúc xã hội gồm nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nổi lên hai đặc điểm cơ bản giúp phân biệt các nền văn hóa Đặc điểm đầu tiên là mức độ coi trọng tính cá nhân của

xã hội Các xã hội phương Tây có xu hướng nhấn mạnh ưu thế của tính cá nhân trong khi nhiều xã hội khác lại coi trọng tập thể hơn Đặc điểm thứ hai là khoảng

Trang 22

16

cao và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp thấp, như Ấn Độ hoặc Anh Ngược lại, một số xã hội khác có khoảng cách phân cấp thấp nhưng mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp cao như Mỹ

4 Các lớp văn hóa

Trong tác phẩm “Văn hóa tổ chức về sự lãnh đạo”, Schein, E., Jossey-Bass, San Fransisco, 1985, cho rằng một cách hữu ích để xem văn hóa bắt nguồn từ đâu là: văn hóa là cách một cộng đồng người giải quyết các vấn đề và thống nhất trong các cách hành xử những tình huống phổ thông trong cuộc sống hàng ngày Xuất phát từ quan điểm này, Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner đã đưa ra một mô hình văn hóa như sau:

Mô hình văn hóa

Trang 23

4.1 Văn hóa bề ngoài - cấu trúc hữu hình của văn hóa

Văn hóa bề ngoài là những gì có thể quan sát được như ngôn ngữ, ẩm thực, nhà cửa, tượng đài, nền nông nghiệp, đền đài, chợ búa, thời trang và nghệ thuật Lớp văn hóa này ra đời sau cùng, phản ánh cách ứng xử với những thay đổi mới nhất của môi trường xung quanh Đặc trưng cơ bản của lớp văn hóa này là rất dễ nhận thấy nhưng lại khó đoán định được ý nghĩa đích thực của nó vì các nền văn hóa khác nhau có những biểu hiện khác nhau về cùng một vấn đề hoặc có cùng một biểu hiện nhưng lại khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về ý nghĩa Nhờ lớp văn hóa bề ngoài và đặc trưng cơ bản này mà người ta có thể nhận biết các nền văn hóa khác nhau không mấy khó khăn Mỗi biểu hiện, phản ứng của cá nhân liên quan đến văn hóa bề ngoài thường nói nhiều về việc họ đến từ cộng đồng nào, dân tộc nào hơn là về các đánh giá của họ đối với các tình huống trong cuộc sống Chẳng hạn như, khi ai đó cười, vì điều đó thể hiện bạn đang làm cho họ vui, thì đó là một người phương Tây Nhưng khi họ cười, không hẳn vì bạn đã làm cho họ vui, mà có thể là họ đang cho rằng bạn có hành động khiếm nhã, hoặc làm họ khó chịu, thì rất nhiều khả năng đó là một người Nhật Cũng như vậy, ở một số nền văn hóa, hành động hạ mình có thể bị xem thường và coi đó là một hành động hèn kém Tuy nhiên, người ta cũng nhận định rằng đối với văn hóa Nhật Bản thì hãy đề phòng những người Nhật đang tự hạ thấp mình, bởi trong người anh ta lúc nào cũng tràn đầy nhiệt huyết, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù

4.2 Các chuẩn mực và giá trị

Lớp thứ hai của văn hóa là các chuẩn mực và giá trị, hay nói cách khác chính

là những giá trị được công nhận Các giá trị được công nhận này bao gồm hệ thống giá trị, quan điểm và phong tục tập quán Hệ thống giá trị là những niềm tin và chuẩn mực được các thành viên trong xã hội đó chấp nhận Chuẩn mực là cảm nhận chung của một nhóm cộng đồng xã hội có được về cái gì được gọi là “đúng” và

“sai” Các chuẩn mực có thể phát triển trên một cấp độ chính thức như là các văn bản luật, và trên một cấp độ không chính thức như là sự kiểm soát của xã hội Mặt

Trang 24

18

chẽ đến các quan niệm chung của cộng đồng Còn quan điểm là sự đánh giá những giải pháp khác nhau dựa trên các giá trị này Phong tục tập quán có ý nghĩa thấp hơn, nó chỉ là những luật lệ bất thành văn của nhóm cộng đồng để kiểm soát hành động các cá nhân Những giá trị, quan điểm này được hình thành qua nhiều thế hệ,

và cũng có thể được nhận biết, diễn đạt một cách rõ ràng, chính xác

Theo đánh giá của Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner thì một nền văn hóa tương đối ổn định khi các chuẩn mực phản ánh đúng các giá trị của cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa văn hóa tương thích với sự phát triển của xã hội Khi điều này không xảy ra, hầu như chắc chắn sự căng thẳng gây mất ổn định xuất hiện, các mặt hạn chế của văn hóa sẽ trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển, đòi hỏi phải tạo dựng và bồi đắp những chuẩn mực và giá trị văn hóa mới

4.3 Các giả định về sự tồn tại

Lớp trong cùng của văn hóa chính là các giả định về sự tồn tại, hay còn được hiểu là những niềm tin, nhận thức mang tính truyền thống nên mặc nhiên được công nhận trong một nhóm cộng đồng Các quan niệm chung hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, ăn sâu vào tâm lý của hầu hết các thành viên trong một nền văn hóa và trở thành điều mặc nhiên được công nhận Do đó, rất khó có thể thay đổi được các giả định này trong một nền văn hóa

Xét cho cùng và thấu đáo, giá trị cơ bản nhất mà con người đấu tranh không gì khác ngoài mục đích là để tồn tại Trải qua bao thế hệ, bằng việc kết hợp và sử dụng các nguồn lực sẵn có, mỗi dân tộc đã tự tổ chức lại một cách thích hợp và hữu hiệu nhất để tìm các phương cách đối phó với môi trường xung quanh và hoàn cảnh Hiển nhiên, các cộng đồng người khác nhau sinh sống và phát triển tại các vùng địa

lý khác nhau, họ cũng hình thành những hệ giả định logic khác nhau, những cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề khác nhau bởi sự khác biệt về nguồn lực, kéo theo

đó là sự khác biệt trong cách thức kết hợp và sử dụng nguồn lực cho phù hợp Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, tích lũy, gìn giữ, kế thừa và phát huy từ đời này sang đời khác, kết quả của những phản ứng đều đặn với môi trường xung quanh in

Trang 25

sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng Những vấn đề diễn ra liên tục và thường xuyên cuối cùng đã được giải quyết một cách tự động Các vấn

đề của đời sống hàng ngày được các thế hệ sau giải quyết theo những cách hiển nhiên đến nỗi các phương pháp giải quyết không hề xuất hiện trong tiềm thức của

họ nữa Các biện pháp giải quyết biến mất khỏi nhận thức của họ và trở thành một phần hệ thống của mỗi cá nhân về các giả định tuyệt đối Họ mặc nhiên hành động theo những giả định có sẵn, và không thể giải thích gì hơn về việc tại sao họ hành động như thế

Cách tốt nhất để kiểm tra liệu nó có phải là một giả định cơ bản hay không là khi câu hỏi đó gây ra sự bối rối hay tức giận Khi hỏi về các giả định cơ bản, nghĩa

là đang hỏi những câu hỏi chưa bao giờ được hỏi trước đó Nó có thể dẫn đến những cái nhìn sâu hơn từ bên trong, nhưng nó cũng có thể gây ra sự khó chịu

Khi phân tích về cấu trúc của văn hóa trong tác phẩm “Chinh phục các làn sóng văn hóa”, Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner kết luận những thay đổi trong văn hóa xảy ra vì con người nhận ra rằng các phương cách làm việc cũ đã không còn hiệu quả nữa Không khó khăn gì để thay đổi văn hóa khi con người đã nhận ra sự tồn tại của cộng đồng đang gặp nguy hiểm, khi đó sự tồn vong được xem

là ưu tiên hàng đầu

5 Nền tảng của sự khác biệt giữa các nền văn hóa

Thông qua sự phân tích về các lớp văn hóa, có thể nói mọi nền văn hóa đều tự phân biệt nó với các nền văn hóa khác bằng cách chọn những phương án giải quyết riêng đối với các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Sự khác biệt văn hóa thể hiện qua ba nội dung chủ đạo: những việc phát sinh trong quan hệ giữa người này với người khác; những thứ đến theo thời gian và những thứ liên quan đến môi trường Từ những phương án mà các nền văn hóa khác nhau lựa chọn để giải quyết các vấn đề giống nhau này, trong tác phẩm “Hệ thống xã hội”, Parsons, T., Free Press, New York, 1951, Parsons đã đề xuất bảy khía cạnh chính của văn hóa

Trang 26

20

nghĩa tập thể, xu hướng trung lập và xu hướng cảm xúc, tính chất đặc trưng và tính chất phổ biến, quan điểm thành tích và quan điểm quy gán, thái độ đối với thời gian

và thái độ đối với môi trường

- Chủ nghĩa phổ biến và chủ nghĩa đặc trưng: Chủ nghĩa phổ biến có cách

tiếp cận vấn đề rất mạnh mẽ, và quan điểm rất rõ ràng rằng “có thể định nghĩa cái tốt và cái đúng; và có thể luôn luôn áp dụng chúng” Bên cạnh đó, trong các nền văn hóa đặc trưng, các nghĩa vụ của các quan hệ và các hoàn cảnh riêng được tập trung nhiều hơn cả, các quy tắc, lề thói của xã hội có thể bị bỏ qua hoặc ít được chú ý đến hơn

- Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể: Các xã hội phương Tây, đặc biệt

là các nước tư bản chủ nghĩa có xu hướng nhấn mạnh ưu thế cá nhân, trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa lại coi trọng tập thể hơn Chủ nghĩa cá nhân với sự coi trọng ưu thế cá nhân, thành tựu cá nhân, một mặt khuyến khích tinh thần sáng tạo của mỗi cá nhân và làm xã hội trở nên năng động hơn; mặt khác, chủ nghĩa cá nhân cũng làm suy yếu mối liên hệ giữa các cá nhân, có thể gây ảnh hưởng xấu đến ý thức trách nhiệm của cá nhân với tập thể nói riêng và xã hội nói chung Ngược lại, chủ nghĩa tập thể với sự coi trọng các mối liên hệ chặt chẽ trong cộng đồng, hòa nhập với tập thể sẽ tạo ra sự tương trợ lẫn nhau, tạo ra động lực mạnh mẽ để các thành viên trong tập thể làm việc vì lợi ích chung, làm tăng cường tinh thần hợp tác giữa các thành viên, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá nhân với xã hội Một điểm yếu của chủ nghĩa tập thể là những xã hội này có thể thiếu tính năng động và tinh thần kinh doanh cao

- Xu hướng trung lập và xu hướng cảm xúc: Các nền văn hóa có xu hướng

trung lập cho rằng con người làm tất cả là để đạt được mục tiêu, và việc thể hiện cảm xúc phải duy trì ở mức tối thiểu nhất Bộ não phải làm nhiệm vụ kiềm chế cảm xúc bởi các nền văn hóa này cho rằng cảm xúc được thể hiện ra sẽ làm rắc rối thêm các vấn đề Sự giả định ở đây là chúng ta nên bắt chước các cỗ máy để có thể vận hành chúng được hiệu quả hơn Nhưng các nền văn hóa theo xu hướng cảm xúc thì

Trang 27

cho rằng con người cần bộc lộ các cung bậc của tình cảm một cách tự nhiên Vì vậy, tại các nền văn hóa này, việc cười to, nắm tay đập xuống bàn hay rời khỏi phòng họp trong cơn giận dữ trong một cuộc đàm phán là hoàn toàn có thể và dễ dàng chấp nhận vì họ mặc định đó là một phần của công việc kinh doanh

- Tính chất đặc trƣng và tính chất phổ biến: tính chất phổ biến thể hiện ở

việc tiếp xúc nhiều và quan hệ sâu rộng giữa các cá nhân Một nền văn hóa có tính phổ biến cao thể hiện ở việc các thành viên trong cộng đồng coi trọng các mối quan

hệ cá nhân, kinh doanh dựa trên quan hệ và tạo dựng quan hệ tốt đẹp Ngược lại, tính chất đặc trưng thể hiện ở việc không coi nặng tầm quan trọng của quan hệ, đề cao thành tích, công nghệ, năng lực, hơn quan hệ

- Quan điểm thành tích và quan điểm quy gán: quan điểm thành tích cho

rằng một người được đánh giá dựa trên những gì họ mới đạt được và trên thành tích của họ Trong khi đó, quan điểm quy gán nhìn nhận và coi trọng các trạng thái gắn với một cá nhân nhất định như ngày sinh, dòng họ, giới tính hay tuổi tác, những quan hệ của họ và hồ sơ học bạ, để đánh giá về con người họ Người Mỹ đặc trưng với nền văn hóa có quan điểm thành tích thể hiện ở việc người Mỹ rất coi trọng những người thành đạt có thành tích thấp kém, trong khi người Anh và người Pháp, với quan điểm quy gán, cho rằng những người như thế chỉ là “trưởng giả học làm sang” hay “gã nhà giàu mới nổi” Quan điểm thành tích và quy gán còn được thể hiện ở khoảng cách phân cấp trong xã hội và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp Đối với các nền văn hóa theo quan điểm thành tích, khoảng cách phân cấp trong xã hội thấp và mức độ linh hoạt chuyển đổi giữa các giai cấp cao Các cá nhân trong các nền văn hóa này có nhiều cơ hội vươn lên các tầng lớp cao hơn Tuy nhiên, ở các nền văn hóa có quan điểm quy gán, cơ hội thay đổi địa vị, vươn lên tầng lớp cao hơn rất thấp Ngay cả khi có những cá nhân nổi trội, di chuyển địa vị từ giai cấp lao động lên giai cấp thượng lưu thì tầng lớp thượng lưu vẫn không thực sự chấp nhận họ

Trang 28

22

- Thái độ đối với thời gian: Thời gian được nhìn nhận khác nhau tại các xã

hội khác nhau Ở một vài xã hội, người ta chỉ coi trọng việc một cá nhân đã phát triển kế hoạch gì cho tương lai thay vì họ đã đạt được gì trong quá khứ Tại một số

xã hội khác, những thành tích trong quá khứ lại để lại nhiều ấn tượng hơn hẳn những thành công hiện tại, còn những kế hoạch tương lai được phát triển ra sao không được coi trọng Những khác biệt văn hóa đó ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của công ty, đặc biệt là về vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của các kế hoạch chiến lược dài hạn Hơn nữa, tại một số nền văn hóa như Mỹ, Thụy Điển và

Hà Lan, thời gian được nhận thức là trôi qua theo một đường thẳng, một nối tiếp của những sự kiện riêng rẽ Những nền văn hóa khác lại coi thời gian giống như một vòng quay Các khả năng này tạo nên các khác biệt đáng kể đến kế hoạch, chiến lược, đầu tư và các quan điểm về đào tạo,

- Các thái độ đối với môi trường: Một khác biệt văn hóa quan trọng có thể

thấy trong thái độ đối với môi trường Một số nền văn hóa coi trọng môi trường xung quanh và cố gắng hạn chế ảnh hưởng của mình đến môi trường xung quanh, trong khi một số nền văn hóa khác lại coi trọng các hành động và mục đích cá nhân hơn là các ảnh hưởng ngoại ứng tới môi trường xung quanh Ở Tokyo, mọi người đeo khẩu trang, đặc biệt vào mùa đông vì người dân ở đây cho rằng khi mọi người

bị cảm lạnh hoặc nhiễm virus, họ đeo khẩu trang để không “gây ô nhiễm” hoặc nhiễm khuẩn cho người khác Còn ở London, những người đi xe đạp và các vận động viên đeo khẩu trang để tránh “bị ô nhiễm” môi trường

II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH VÀ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH

1 Khái niệm kinh doanh

Kinh doanh được biết đến là một hoạt động mang lại lợi nhuận và giúp sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của loài người nói chung Kinh doanh xuất hiện ngay khi con người có nhu cầu trao đổi hàng hóa bằng tiền tệ, tức là cùng với kinh tế hàng hóa và thị trường Theo Collins, kinh doanh là

Trang 29

những hành vi có liên quan đến sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời Kinh doanh, có thể được coi là việc tiến hành các hoạt động thương mại Theo đó, Luật Thương mại 2005 định nghĩa “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Kinh doanh được hiểu theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005, “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.” Có thể thấy các khái niệm đều có xu hướng coi kinh doanh là những hành vi gắn liền với sản xuất, mua bán hàng hóa hay dịch vụ với mục đích chính là để thu lợi nhuận

2 Bản chất của kinh doanh

Hoạt động kinh doanh được tiến hành trên cơ sở tổ chức và quản lý một hệ thống sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu của con người, của

xã hội Kinh doanh cũng là một vấn đề có tính đa dạng và phức tạp Bản thân kinh doanh có thể được coi như một hệ thống tổng thể bao gồm những hệ thống cấp dưới nhỏ hơn là các ngành kinh doanh, mỗi ngành kinh doanh được tạo bởi nhiều doanh nghiệp có quy mô khác nhau, sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau Mỗi doanh nghiệp lại bao gồm nhiều hệ thống con như sản xuất, tài chính, marketing, logistic, quan hệ đối tác, phát triển khách hàng,

Có thể tóm tắt bản chất của hoạt động kinh doanh như sau:

- Doanh nghiệp tiếp nhận các nguồn lực đầu vào và hoạt động trong những điều kiện đặc thù tùy theo loại hình kinh doanh Nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp bao gồm nguyên nhiên vật liệu, nhà xưởng, máy móc, công nghệ, trí tuệ, kinh nghiệm, nhân lực, Tuy nhiên có điểm chung là các yếu tố nguồn lực chỉ có giới hạn hay được gọi là khan hiếm với bất kỳ doanh nghiệp nào Chính sự khan hiếm đó đặt ra yêu cầu đối với mọi doanh nghiệp là làm thế nào sử dụng có hiệu

Trang 30

đi đến phá sản hoặc giải thể

Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp yêu cầu hàng hóa được bán với giá phải chăng và có chất lượng thích hợp Một doanh nghiệp thành công phải luôn luôn phát hiện được những nhu cầu mới hoặc nhu cầu còn thiếu, chưa được đáp ứng của người tiêu dùng, nhanh chóng và sẵn sàng thỏa mãn các nhu cầu đó, lấp đầy các chỗ trống trong nhu cầu của thị trường Tính cạnh tranh cao và số lượng lớn các doanh nghiệp trong một ngành kinh doanh nhất định làm gia tăng yêu cầu về các chiến lược, sách lược kinh doanh hữu hiệu, cũng như yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng

và định vị thương hiệu, duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng

Dưới áp lực của cạnh tranh và sức mua của người tiêu dùng, các nhà sản xuất

cố gắng sử dụng có hiệu quả hơn thiết bị, nguyên liệu và lao động để tạo ra nhiều hàng hóa hơn, có chất lượng tốt hơn Do đó, khi theo đuổi những quyền lợi riêng, tất yếu doanh nghiệp sẽ đồng thời tạo ra lợi ích cho xã hội, bởi các doanh nghiệp sẽ phải thỏa mãn các nhu cầu của xã hội khi cố gắng thỏa mãn những ham muốn của

họ Trong lúc theo đuổi lợi nhuận, nhà kinh doanh phải phục vụ người tiêu dùng và phục vụ lợi ích xã hội Quan niệm này là nền tảng của kinh tế thị trường

Bản chất của hệ thống kinh doanh có thể được biểu hiện theo sơ đồ như sau:

Doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ

để thỏa mãn các nhu cầu, đồng thời cũng tạo ra các lợi ích kinh

Trang 31

3 Đặc điểm của kinh doanh

Cũng giống như các hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh mang những tính chất đặc trưng riêng biệt của xã hội loài người Điều này đã được Adam Smith khẳng định trong tác phẩm “Nguồn gốc sự giầu có của các quốc gia”, 1776 Trước hết ông khẳng định xu hướng mua bán trao đổi được thấy ở mọi dân tộc, nhưng không tìm thấy ở bất kỳ loài nào khác trên hành tinh Ông viết: “chưa ai từng thấy một con chó thực hiện một cuộc trao đổi công bằng và dứt khoát một khúc xương lấy một khúc xương khác với 1 con chó khác Chưa ai từng thấy một con vật, bằng

cử chỉ và tiếng kêu tự hiện của nó ngụ ý nói với một con khác: cái này của tao, cái kia của mày, tao muốn đổi cái này lấy cái kia” Chính vì hoạt động kinh doanh chỉ tìm thấy ở loài người nên nó bị chi phối bởi những quy luật nhất định, và bị tác động bởi nhiều môi trường bên ngoài khác nhau nơi con người sinh sống như môi trường văn hóa, môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường xã hội, môi trường địa lý và các môi trường khác

Từ những nhận định và phân tích về kinh doanh, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản sau:

- Kinh doanh mang tính tập thể Kinh doanh là việc vận hành một hệ thống

phức tạp và liên quan đến nhiều mối quan hệ khác nhau, tác động đến nhiều đối tượng khác nhau, do đó, hoạt động kinh doanh đòi hỏi nhiều người tham gia Điều

Trang 32

26

động và các khâu vận hành liên quan như huy động vốn, đầu tư, nghiên cứu thị trường, sản xuất, trao đổi hàng hóa, Tất cả các hoạt động này có mối liên hệ mật thiết với nhau, và không một hoạt động riêng lẻ nào trong kinh doanh không có sự phối hợp của nhiều cá nhân để có thể đạt được hiệu quả và quy mô như ý Thậm chí trong trường hợp chỉ một cá nhân tiến hành kinh doanh một cách đơn giản, anh ta cũng cần có khách hàng để tiêu thụ sản phẩm của mình

- Hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp và đa dạng Hệ thống kinh

doanh hiện đại là một cơ cấu rất phức tạp gồm có nhiều lĩnh vực Mỗi lĩnh vực do nhiều ngành tạo nên Mỗi ngành lại được tạo thành từ nhiều tổ chức kinh doanh mà các tổ chức kinh doanh này thay đổi trong những giới hạn hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh, cơ cấu vốn, phong cách quản trị và phạm vi hoạt động Theo thời gian,

hệ thống kinh doanh ngày càng được mở rộng và phong phú hơn với các ngành mới, các lĩnh vực kinh doanh mới, Chẳng hạn, khu vực sản xuất được tạo nên bằng các nhà máy lắp ráp ôtô, chế tạo đồ điện gia dụng và các sản phẩm điện tử, Khu vực dịch vụ bao gồm các loại dịch vụ như vận tải, ngân hàng, các dịch vụ chuyên nghiệp, Ngành công ty vận tải được tạo thành bởi các ngành đường sắt, vận tải biển, vận tải ô tô, hàng không, Ngành công nghiệp dịch vụ bao gồm các đại lý vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các khu vườn quốc gia, Ngành dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm các luật sư, kiến trúc sư, bác sỹ, chuyên viên kế toán, nhà kinh doanh bất động sản, Trong mỗi ngành công nghiệp này, có một số công ty chỉ hoạt động cục bộ địa phương Trong khi đó, nhiều công ty khác lại có văn phòng tại nhiều quốc gia như Morgan Stanley - Dean Wither, Hilton, Holiday Inn,

Sự gia tăng của các ngành nghề kinh doanh, cũng như sự tăng lên nhanh chóng về

số lượng doanh nghiệp cùng với sự mở rộng quy mô, thị trường kinh doanh của nhiều công ty, hệ thống kinh doanh ngày nay còn là một sự tổng hợp các mối quan

hệ chằng chịt, đan xen, phức hợp, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác giữa các chủ thể kinh

tế

- Hoạt động kinh doanh chịu sự chi phối của mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể Trong mỗi hoạt động kinh doanh, tối thiểu phải có

Trang 33

hai nhân vật tham gia, đó là chủ thể và khách thể của công việc kinh doanh Hai nhân vật này luôn bị ràng buộc, gắn bó chặt chẽ với nhau Khách hàng cần hàng hóa, dịch vụ của chủ thể để thoả mãn nhu cầu của mình Ngược lại, chủ thể kinh doanh chỉ có thể thu được lợi nhuận thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng, nhờ đó duy trì và phát triển công việc kinh doanh của mình Trong cuốn “Nguồn gốc sự giàu có của các quốc gia”, Adam Smith lý giải, chính vì quan tâm đến quyền lợi của mình mà các nhà sản xuất sẽ phải quan tâm đến quyền lợi của khách hàng Ngược lại, các khách hàng phải chịu chi trả mức giá đủ bù cho chi phí sản xuất của người bán thì mới thu được những hàng hóa, dịch vụ mà mình mong muốn Nguyên tắc cơ bản của kinh doanh là đôi bên cùng có lợi Mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh Thông qua việc kinh doanh, chủ thể kinh doanh tạo nên của cải vật chất cho xã hội

Ngoài ra, để đảm bảo thành công, các tổ chức kinh doanh phải đáp ứng kịp thời những thay đổi thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Hệ quả tất yếu của các tiến bộ công nghệ là nhiều sản phẩm nhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế, vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn đi Bởi vậy, sự thay đổi và đổi mới là một trong những đặc trưng quan trọng trong hệ thống kinh doanh hiện đại

III MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ KINH DOANH

Văn hóa và kinh doanh tác động qua lại chặt chẽ với nhau, và theo như các phân tích của tiến sỹ Nguyễn Hoàng Ánh trong các nghiên cứu về văn hóa thì văn hóa và kinh doanh có mối quan hệ hữu cơ Mục đích chung của văn hóa và hoạt động kinh doanh đều là nhằm phục vụ cho lợi ích con người Văn hóa là những kết tinh trong đời sống tinh thần của con người trong xã hội, còn kinh doanh lại là nhằm mục đích để thu lợi nhuận Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh không thể đồng nghĩa với văn hóa Nhưng trên thực tế, mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh là mối quan hệ biện chứng có tính quy luật, vừa thống nhất vừa phụ thuộc vào nhau

Trang 34

28

1 Quan hệ tương tác bổ trợ của văn hóa và kinh doanh

Văn hóa tồn tại trong mọi hoạt động kinh tế, gắn bó mật thiết với kinh doanh Điều này trước hết được lý giải bởi cả văn hóa và kinh doanh đều là những

đặc trưng riêng biệt ở xã hội loài người Văn hóa xuất hiện và phát triển cùng với lịch sử loài người, tồn tại trong mọi hoạt động xã hội nói chung, trong hoạt động kinh doanh nói riêng Mọi hoạt động kinh doanh đều mang ý nghĩa kinh tế, bởi không có hoạt động kinh tế nào không liên quan tới mục tiêu phát triển của con người, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người Ngược lại, không có hoạt động văn hóa nào lại chỉ thuần túy mang tính tinh thần mà không ít nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp, mang tính kinh tế Hơn nữa, văn hóa còn điều chỉnh cách thức vận hành doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh, do văn hóa đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng và điều chỉnh từng cách hành xử, tư duy và nhận thức của họ trong các hoạt động đời sống hàng ngày, không riêng gì hoạt động kinh doanh Vì vậy, mọi hành vi của con người, bao gồm cả các cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh đều hàm chứa yếu tố văn hóa, thực hiện trên nền tảng các yếu tố văn hóa Nhận thức sâu sắc điều này làm cho yêu cầu đối với việc nâng cao văn hóa, xây dựng một hệ thống giá trị và chuẩn mực tương thích với những thay đổi và biến động trong một xã hội hiện đại là hết sức quan trọng Kinh nghiệm thực tế của hàng loạt các quốc gia trong những thập kỷ qua đã cho thấy khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế bỏ qua việc xem xét đến yếu tố môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ là một sự phát triển thiếu bền vững, rất khập khiễng, mất cân đối cả về kinh tế lẫn văn hóa, có thể đạt được những tăng trưởng nhất định trong ngắn hạn nhưng về lâu dài xã hội sẽ phải giải quyết các vấn nạn nghiêm trọng phát sinh như khủng hoảng, đại dịch, bạo động, và tất yếu phải đối mặt với một sự tụt hậu nhanh chóng về mọi mặt Việc ưu tiên phát triển kinh tế quá mức mà thiếu lưu ý đến vấn đề văn hóa có thể xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục của quốc gia, có thể để lại hậu quả bằng việc biến mất các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp, hủy hoại tính vững bền của hệ thống văn hóa, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế Kết quả là kinh tế không thể phát triển lành mạnh

Trang 35

và lâu bền nếu thiếu nền tảng văn hóa, và văn hóa không phải là một sản phẩm thụ động của kinh tế, mà có một sức mạnh tinh thần lớn lao tác động ngược lại đến kinh tế

Một khía cạnh chung nữa giữa văn hóa và kinh doanh là yếu tố liên quan đến con người Mục tiêu cuối cùng của văn hóa và kinh doanh đều nhằm phục vụ

con người Văn hóa là sản phẩm của sự gắn kết, thống nhất, hài hòa trong mối quan

hệ giữa các thành viên của một cộng đồng người Văn hóa do con người tạo nên qua nhiều thế hệ, hình thành các yếu tố thành phần phức tạp với một mục đích phục vụ con người, thuận tiện cho sinh hoạt cộng đồng, chẳng hạn như ngôn ngữ được tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu giao tiếp, chuyển tải thông tin trong xã hội loài người, tôn giáo giúp con người giải quyết các nhu cầu về tín ngưỡng, phong tục tập quán và hệ thống các giá trị giúp tạo nên chuẩn mực chung cho các thành viên trong xã hội và kiểm soát các hành vi của họ Trong khi đó, hoạt động kinh doanh là một hoạt động gắn chặt với cộng đồng, môi trường xung quanh và được xây dựng dựa trên xử lý các mối quan hệ Không một hoạt động kinh doanh nào có thể vận hành thiếu yếu tố con người Cũng như vậy, không ai có thể tiến hành mua bán, trao đổi một mình,

mà không thực hiện việc tương tác với người khác Điều đó có nghĩa kinh doanh cũng là một hoạt động giao tiếp giữa người với người Kinh doanh là một quá trình đầu tư cho sản xuất, buôn bán và phân phối các hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thu được lợi nhuận Kinh doanh không thể tồn tại và phát triển nếu không thu được lợi nhuận để từ đó vừa thực hiện tái đầu tư, vừa đảm bảo lợi ích thiết thực cho cả người quản lý và người lao động Ngoài ra, hoạt động kinh doanh cũng được tiến hành nhằm mục đích phục vụ con người Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, đa dạng

và phức tạp của hệ thống kinh doanh thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực khác ngoài kinh doanh, từ đó thay đổi diện mạo chung của toàn xã hội Các sản phẩm của kinh doanh là nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Từ khi có hoạt động kinh doanh, xã hội loài người mới có nhiều điều kiện để phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu vượt bậc Tại các quốc gia có trình độ kinh doanh phát triển cao, người dân nơi đó được hưởng những phúc

Trang 36

30

lợi cao và được cung cấp những điều kiện tốt cho sinh hoạt, tất yếu dẫn đến chỉ số phát triển con người cao

Văn hóa là nguồn lực lớn cho kinh doanh Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn

hóa riêng của mình Những nét đặc trưng ấy có sức hấp dẫn rất lớn không chỉ với người trong nước, mà còn với cả người nước ngoài Nếu biết đưa những nét văn hóa truyền thống ấy vào kinh doanh, doanh nghiệp vừa thu được lợi nhuận, vừa góp phần gìn giữ và quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc mình ra tầm thế giới Hơn thế nữa, quay trở lại nghiên cứu các yếu tố cấu thành văn hóa, có thể nhận ra dễ dàng rằng văn hóa cung cấp cho kinh doanh nói riêng, các hoạt động xã hội khác nói chung nền tảng để tiến hành thuận lợi, suôn sẻ và đạt được mục đích Việc sử dụng kết quả của một nền văn hóa mạnh, phù hợp với thế giới hiện đại, kết hợp với các nguồn lực khác trong kinh doanh có thể mang lại cho doanh nghiệp tính hiệu quả về mặt kinh tế, thu được lợi nhuận cao, gia tăng khả năng cạnh tranh Doanh nghiệp nào thấu hiểu, quản lý và sử dụng tốt các giá trị văn hóa như là một nguồn lực quan trọng cho doanh nghiệp tất yếu giành được nhiều lợi thế trong kinh doanh hơn các doanh nghiệp khác

Kinh doanh là yếu tố quan trọng góp phần thay đổi văn hóa Văn hóa không

phải là yếu tố bất biến, nó là một môi trường đặc biệt, và môi trường đặc biệt này luôn luôn thay đổi Văn hóa luôn tiến hóa cho phù hợp với trình độ và tình hình mới Những thành phần văn hóa không phù hợp sẽ bị loại bỏ, thay thế, bởi xu hướng phát triển của xã hội là một tất yếu Khi xã hội thay đổi, văn hóa cũng sẽ thay đổi theo Trong điều kiện toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay, kinh doanh quốc

tế thâm nhập vào mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, vào từng gia đình, đã tạo nên những biến đổi to lớn cả về kinh tế và văn hóa trong mọi quốc gia Mội số người cho rằng văn hóa là một môi trường khó ảnh hưởng nhất Nhưng hoạt động kinh doanh đã làm thay đổi văn hóa Dễ nhận thấy trong lĩnh vực marketing, nhiều nhà tiếp thị cũng đã khá thành công với việc tác động tới môi trường này khi tiếp thị những phát minh làm thay đổi cuộc sống của con người Điển hình là điện, điện thoại, máy điều hòa, xe hơi, máy thu thanh, truyền hình, máy ghi âm, ghi hình, máy

Trang 37

sao lưu, và cả khăn giấy như trường hợp của Kleenex chẳng hạn Tác giả Matt Haig

đã trình bày trong tác phẩm “Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại” về việc thay đổi văn hóa xuất phát từ ảnh hưởng của hoạt động tiếp thị nói riêng, hoạt động kinh doanh nói chung “Trong thập niên 20, khăn giấy Kleenex thường được phụ nữ dùng chỉ một lần trong ngày, vào buổi tối để lau sạch son phấn

Để cổ động cho việc sử dụng khăn giấy rộng rãi ở Hoa Kỳ, thế là câu khẩu hiệu quảng cáo: “Đừng để một thứ lạnh lẽo nằm trong túi của bạn” ra đời Kể từ lúc đó, phụ nữ Mỹ không còn dùng khăn tay nữa Trước đó, khăn tay vẫn được phụ nữ dùng để lôi cuốn một người đàn ông nào đó bằng cách giả bộ đánh rơi để anh chàng kia nhặt hộ Nhưng một khi đã dùng Kleenex họ sẽ phải sáng tạo ra các cách khác

để lôi cuốn các chàng trai bởi không một gã đàn ông chính thống nào lại đi nhặt một cái khăn giấy bẩn thỉu của một cô gái đánh rơi.”

2 Mặt khác biệt của văn hóa với kinh doanh

Mục tiêu ngắn hạn của văn hóa và kinh doanh có thể trái ngƣợc nhau

Kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận cho các chủ thể liên quan, tức là chỉ phục vụ cho một số ít người Mục tiêu đầu tiên, và ngắn hạn của kinh doanh ít khi phục vụ cho lợi ích chung của toàn bộ cộng đồng Trong khi đó, văn hóa lại nhằm mục đích phục vụ cho lợi ích của số đông, của tất cả mọi thành viên trong cộng đồng Do đó, không phải bao giờ mục tiêu lợi nhuận của kinh doanh cũng phù hợp với các mục tiêu và giá trị văn hóa Có thể nhận thấy trên thực tế kinh doanh của các nước trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều cách để thu được lợi nhuận, trong đó phổ biến là:

- Bóc lột quá mức sức lao động của người làm công, làm cho những người này chỉ đủ tồn tại ở một mức sống tối thiểu

- Khai thác bừa bãi các tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái

- Làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, đầu cơ, gây tác hại cho cả thị trường trong và ngoài nước

Trang 38

32

- Nhanh nhạy nắm bắt thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật và công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của người làm công, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra những hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp và giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường, giữ được chữ tín đối với người tiêu dùng và bạn hàng cả trong nước và ngoài nước

Rõ ràng, ba cách thu lợi nhuận đầu tiên là những biểu hiện tồi tệ của lối làm ăn chộp giật, thiếu văn hóa, vô đạo đức, phản tự nhiên và không thể tồn tại lâu dài do

sự phản đối của xã hội Còn cách thứ tư thể hiện những mặt ưu việt của phương thức kinh doanh có văn hóa Nó đảm bảo kết hợp cả cái đúng, cái tốt, cái đẹp - vốn

là giá trị cốt lõi của văn hóa, và cái lợi là mục đích của kinh doanh Chính vì vậy, ở các quốc gia cần có sự điều tiết, quản lý của các cấp lãnh đạo ở cả tầm vĩ mô và vi

mô để ngăn chặn những trường hợp kinh doanh chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt

mà không tính đến lợi ích cho xã hội, cho văn hóa

Nếu chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt, kinh doanh có thể gây tác hại đến văn hóa, thậm chí làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc Trong nhiều trường hợp,

chi phí kinh doanh có thể sẽ tăng lên nếu đảm bảo yếu tố văn hóa, như khi xây dựng các nhà xưởng, nhà máy, và vận hành hoạt động kinh doanh phải điều chỉnh và hạn chế các ngoại ứng tiêu cực sao cho không ảnh hưởng đến cảnh quan đường phố, môi trường dân cư xung quanh, lấy trọng tâm của triết lý kinh doanh là yếu tố con người, quan tâm đến nhu cầu tinh thần của người lao động, Trong khi đó, mục đích kinh doanh phổ thông là tối thiểu hóa chi phí để gia tăng lợi nhuận Chính vì vậy, đã không ít trường hợp nhà kinh doanh bỏ qua những yêu cầu về văn hóa để đạt được lợi nhuận trong kinh doanh

Một nền văn hóa mang những yếu tố không phù hợp sẽ cản trở, thậm chí kìm hãm sự phát triển của kinh doanh Văn hóa là một nguồn lực lớn và vô cùng

quan trọng của hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, một nền văn hóa không phù hợp với nhu cầu khách quan có thể gây tác hại xấu cho kinh doanh Chẳng hạn như

Trang 39

nguyên tắc không được thu lãi tín dụng của đạo Hồi làm ngành ngân hàng tại các quốc gia theo tôn giáo này gặp khá nhiều khó khăn Các nhà quản lý không thể thụ động tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa mà phải có quá trình chọn lọc các yếu

tố tích cực trong văn hóa dân tộc, tiếp thu những quan điểm tiến bộ từ văn hóa nước ngoài, nhằm chủ động tạo ra một môi trường văn hóa phù hợp cho hoạt động kinh doanh của mình

3 Vai trò của văn hóa trong kinh doanh

Văn hóa có vai trò rất to lớn trong tất cả các hoạt động kinh doanh Sự tác động của các yếu tố văn hóa thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa thường rất rộng Văn hóa xác định cách thức người ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh như những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, về nghề nghiệp; những phong tục tập quán, những giá trị truyền thống; những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội, Nếu bỏ qua yếu tố văn hóa, đặc biệt khi kinh doanh tại các môi trường khác lạ với môi trường bản địa, các doanh nghiệp gần như đã đối mặt với một sự thất bại định trước Trong cuốn “Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại”, Matt Haig đã minh họa ảnh hưởng của văn hóa đến kinh doanh thông qua việc lý giải tại sao thương hiệu ngũ cốc Kellogg’s lại thất bại tại thị trường Ấn

Độ Vào cuối thập niên 80, công ty này đã đạt đến đỉnh cao của mọi thời, chi phối trên dưới 40% thị trường thức ăn làm sẵn ở Mỹ, chỉ riêng với các sản phẩm ngũ cốc của họ Khi hàng rào thương mại quốc tế được dỡ bỏ ở Ấn Độ, Kellogg’s đã nhanh chóng tiếp cận thị trường này nhưng đã không thành công với sản phẩm ngũ cốc Đối với các cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ thì việc ăn sáng với ngũ cốc khi đó là một khái niệm hoàn toàn mới lạ Cách thông thường nhất để bắt đầu một bữa sáng với phần lớn người Ấn là một tô súp rau nóng Như vậy, khi công ty này tung sản phẩm ngũ cốc vào thị trường Ấn, hiển nhiên họ đã tung ra một sản phẩm phương

Trang 40

34

nhưng tính chất, phong tục và khẩu vị địa phương vẫn mãi là phân biệt “Địa phương hóa các cung ứng đem lại một cơ hội lớn và các công ty khôn ngoan hơn luôn suy xét điều này”, Ramanujan Sridhar, giám đốc điều hành công ty tư vấn marketing và quảng cáo Ấn Độ Brand Comm khẳng định như thế Việc địa phương hóa có nghĩa là phải tìm hiểu, phân tích, xem xét và đánh giá kỹ lưỡng tác động của các yếu tố văn hóa bản địa vào sản phẩm cũng như các hoạt động của doanh nghiệp tại môi trường này, nghiên cứu điều chỉnh sản phẩm và các hoạt động kinh doanh cho thích hợp với những khác biệt về văn hóa, hay cũng chính là việc chuyển tải các yếu tố văn hóa bản địa vào sản phẩm và hoạt động kinh doanh Kết luận về thất bại của thương hiệu Kellogg’s tại Ấn Độ, ông Titoo Ahluwalia, chủ tịch công ty nghiên cứu thị trường ORG MARG ở Bombay khẳng định “chỉ vì việc chuẩn bị văn hóa sơ sài!”

Trong “Sự thật về những thất bại trong tiếp thị sản phẩm” Donald Hendon cũng đã cung cấp những dẫn chứng về tác động của văn hóa đến các sản phẩm và hoạt động kinh doanh Những nền văn hóa khác nhau có thể nhìn nhận, gắn kết các hiện tượng với những ý nghĩa nhất định và giải thích các sự việc trong thế giới theo các cách thức khác nhau Nước hoa Opium của Yves St Laurent được biết đến là một thương hiệu nổi tiếng định vị bởi sự sang trọng và cao cấp Tuy nhiên, Opium không thể bán được cho người Mỹ gốc Hoa ở Mỹ bởi họ liên tưởng đến thời kỳ thuốc phiện (nghĩa của opium) đã bị gán ghép cho nền văn hóa của họ bởi người ngoại quốc Kết quả là, Yves St Laurent đã phải bỏ mất một mảng thị trường lớn không thể tiếp cận được

Những ảnh hưởng văn hóa đã bén rễ rất sâu trong tâm thức của các thành viên nền văn hóa đó, định hình các nhu cầu, cách thức nhìn nhận và giải thích các sự việc của thế giới Kinh doanh lại là việc tìm kiếm, phát hiện và khai thác nhu cầu của người tiêu dùng Do đó hiểu biết về văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp và mọi hoạt động kinh doanh Trong môi trường văn hóa, các nhân tố nổi lên giữ vai trò đặc biệt quan trọng là tập quán, lối sống, tôn giáo Các nhân tố này được coi là “hàng rào chắn” các hoạt động giao dịch thương mại Thị hiếu và

Ngày đăng: 24/05/2014, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Hoàng Ánh, Ảnh hưởng của văn hóa đến thương mại quốc tế trên thế giới và ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đến thương mại quốc tế trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Ánh
18. Dương Thị Liễu, Bài giảng Văn hóa kinh doanh, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Văn hóa kinh doanh
Tác giả: Dương Thị Liễu
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
1. Hoàng Trọng và Hoàng Phương Thảo, Quản trị chiêu thị, nhà xuất bản Thống kê 1996 Khác
2. Phillip Kotler, Thấu hiểu tiếp thị từ A đến Z, nhà xuất bản Trẻ - 2005 Khác
3. GS.TS. Nguyễn Thị Mơ, Hoàng Ngọc Thiết, Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, nhà xuất bản Giáo dục - 2005 Khác
4. Sanjyot P. Dunung, Kinh doanh ở Châu Á, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - 1998 Khác
5. Nguyễn Hiến Lê, Kinh dịch, đạo của người quân tử, nhà xuất bản Văn học - 1994 Khác
6. Matt Haig, Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại, nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh - 2005 Khác
7. Donald Hendon, Sự thật về những thất bại trong tiếp thị sản phẩm, nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh - 2005 Khác
8. Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner, Chinh phục các làn sóng văn hóa, nhà xuất bản Tri thức - 2006 Khác
9. Adam M. Brandenburger và Barry J. Nalebuff, Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh, nhà xuất bản Tri thức - 2007 Khác
10. Alvin Toffler, Đợt sóng thứ ba, nhà xuất bản Khoa học Xã hội - 2007 Khác
11. Thomas L. Friedman, Thế giới phẳng, nhà xuất bản Trẻ - 2006 Khác
15. Dana Healy, Nguyễn Thị Thanh Bình, Các khía cạnh văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Thế giới - 2006 Khác
16. Lê Văn Chưởng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, thành phố Hồ Chí Minh - 1999 Khác
17. Đỗ Minh Cương, Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w