1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx

71 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Hải Dương
Tác giả Đồng Thị Lan Khuyên
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Minh
Trường học Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Hải Dương
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 102,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần I Cơ sở lý luận về lao động trong nông nghiêp 1Chuyên đề thực tập KTNN45 LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Hải Dương là một tỉnh thuần nông, nằm giữa đồng bằng Bắc bộ trong khu vực kinh tế t[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hải Dương là một tỉnh thuần nông, nằm giữa đồng bằng Bắc bộ trongkhu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc Hải Phòng - Quảng Ninh - Hà Nội rấtthuận lợi cho việc trao đổi giao lưu thương mại, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và cho phát triển sản xuất nôngnghiệp nói riêng Với diện tích 1648,2 km², dân số là 1.707.000 người, sốngười trong độ tuổi lao động là 1.058.340 người, trong những năm qua Đảng

uỷ và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực phân đấu khắc phục mọi khó khăn đưanền kinh tế địa phương phát triển nhanh, xã hội dần đi vào ổn định, đời sốngnhân dân được cải thiện, góp phần tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, Hải Dương đang gồng mìnhvới những khó khăn, vướng mắc còn tồn đọng từ những năm đổi mới HảiDương đang từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế cả nước và khu vực, mức

độ cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay cả trên thị trường nội địa trong điềukiện quy mô nền kinh nhỏ, trình độ và chất lượng phát triển còn thấp, nănglực cạnh tranh của các ngành, sản phẩm và toàn nền kinh tế của tỉnh ta cònhạn chế Khi kinh tế thị trường càng phát triển, khi quá trình Công nghiệp hóa

- hiện đại hóa toàn tỉnh càng được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng thì cácvấn đề về xã hội nhất là việc làm, đào tạo lao động chất lượng cao, tệ nạn xãhội, ô nhiễm môi trường càng trở lên gay gắt Đặc biệt là vấn đề việc làm vànâng cao chất lượng cho lao động nông nghiệp đang là một bài toán nan giảiđặt ra cho các cấp, các ngành trong tỉnh, bởi khả năng và trình độ vốn có củangười lao động đã không còn phù hợp với nền nông nghiệp chuyên môn hóatrong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nữa Vì vậy cần phải có nhữnggiải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung vànguồn lao động nông nghiệp nói riêng tại tỉnh Hải Dương

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trong giai đoạn kinh tế công nghiệp phát triển với nhiều khu côngnghiệp, cụm công nghiệp; nông nghiệp phát triển theo hướng chuyên môn hóathì chất lượng lao động và giả quyết việc làm đang là vấn đề gây nhiều khókhăn trong công tác quản lý Vì vậy đề tài này được nghiên cứu với mục đíchtrước hết là nâng cao kiến thức thực tiễn của bản thân đồng thời góp phầnnhỏ vào công tác nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp và giảiquyết việc làm của tỉnh

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Thu thập số liệu thông tin từ Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôntỉnh Hải Dương

- Thu thập số liệu từ phòng chính sách và thị trường thuộc Sở nôngnghiệp & PTNT tỉnh Hải Dương

- Đọc một số báo cáo phát triển kinh tế của Sở, báo cáo điều tra nôngnghiệp nông thôn Thuỷ sản tỉnh Hải Dương

4 Kết cấu của đề tài

Chuyên đề thực tập gồm 3 chương:

CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lao động nông nghiệpCHƯƠNG II: Thực trạng nguồn lao động nông nghiệp và nâng caochất lượng nguồn lao động nông nghiệp tại tỉnh Hải Dương

CHƯƠNG III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động vàgiải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tỉnh Hải Dương

Do trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên chuyên đề thực tập sẽkhông tranh khỏi những thiếu sót Em xin chân thành cám ơn TS.Vũ ThịMinh và các cô, các chú, anh chị trong Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn tỉnh Hải Dương đã giúp em hoàn thành chuyên đề này

Trang 3

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LAO

ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm nguồn lao động trong nông nghiệp

Ở Việt Nam hiện nay đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn lao độngbao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm(bao gồm cả những ngườitrên độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động, nhưng thực tế vẫnđang tham gia vào quá trình lao động) và những người trong độ tuổi lao động

có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do đang trong tình trạng thấtnghiệp, đang đi học đang đảm đương nội trợ trong gia đình và cả những ngườikhông có nhu cầu việc làm trong thời điểm hiện tại, người thuộc tình trạngkhác.Và như vậy nguồn lao động trong nông nghiệp được hiểu như sau:

Nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham giavào hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm cả số lượng và chất lượng củangười lao động

Số lượng lao động là toàn bộ những người có khả năng lao động, baogồm những người nằm trong độ tuổi nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55tuổi và những người trên và dưới độ tuổi lao động nói trên tham gia vào hoạtđộng sản xuất nông nghiệp Xét trên góc độ xã hội đó là những người có khảnăng lao động đang tham gia làm việc và những người có khả năng làm việcnhưng chưa tham gia làm việc Trong khu vực kinh tế trang trại, kinh tế hộnông dân nguồn lao động bao gồm lao động thuê ngoài và lao động trong giađình Trong khu vực Nhà nước (Doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước) ngườilao động bao gồm những người trong biên chế, những người tuyển theo chế

độ hợp đồng dài hạn hoặc ngắn hạn Trong khu vực kinh tế tư nhân (xí nghiệp

Trang 4

tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn) nguồn lao động bao gồm những ngườiđược tuyển dụng theo chế độ hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn Như vậy vềmặt lượng thì nguồn lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ nó không chỉ baogồm những người trong độ tuổi mà còn bao gồm cả những người trên và dưới

độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động

Về chất lượng của nguồn lao động bao gồm cả thể lực và trí lực củangười lao động Điều này được thể hiện ở trình độ sức khỏe, trình độ văn hoá,trình độ chuyên môn kỹ thuật, độ khéo léo lành nghề, trình độ chính trị, trình

độ quản lý của người lao động

Số lượng và chất lượng của nguồn lao động trong nông nghiệp có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Ở các nước đang phát triển thì số lượng nguồn laođộng nông nghiệp rất lớn nhưng chất lượng nguồn lao động lại rất thấp Trongkhi đó ở các nước phát triển số lượng nguồn lao động nông nghiệp rất ítnhưng chất lượng lại rất cao Vì vậy xu hướng biến đổi của nguồn lao độngtrong nông nghiệp là giảm dần về số lượng và tăng dần về chất lượng nguồnlao động nông nghiệp

1.2 Vai trò của nguồn lao động trong nông nghiệp

Từ xa xưa lao động đã được coi là hoạt động có mục đích của conngười, thông qua công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động nhằmbiến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của con người.Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của xã hội loài người, là cơ sởcủa sự tiến bộ kinh tế - văn hoá - xã hội Suy cho cùng thì mọi hoạt động laođộng của con người cũng đều nhằm mục đích cuối cùng là phục vụ cho lợi íchcủa chính bản thân người lao động Như vậy con người là mục tiêu của sựphát triển và đồng thời lao động là động lực cho sự phát triển đó Nguồn laođộng nông nghiệp với tư cách là một bộ phận quan trọng bậc nhất của lực

Trang 5

lượng sản xuất, có vai trò quyết định đối với mọi quá trình phát triển kinh tế

xã hội của nông thôn trong mối quan hệ phát triển chung của đất nước Trongbất kỳ một quá trình sản xuất nào, từ công nghiệp, nông nghiệp đến dịch vụthương mại đều cần phải có lao động, đối tượng của lao động là tư liệu laođộng Quá trình sản xuất không thể được tiến hành nếu thiếu một trong nhữngyếu tố là tư liệu lao động và đối tượng lao động Tuy nhiên nếu không có hoạtđộng lao động của con người thì tư liệu sản xuất cũng không phát huy đượctác dụng Như vậy lao động của con người là nhân tố quyết định của mọi quátrình sản xuất trong đó bao gồm cả nông nghiệp

1.3 Đặc điểm của lao động nông nghiệp và những vẫ đề lưu ý trong sử dụng nguồn lao động nông nghiệp

1.3.1 Lao động trong nông nghiệp mang tính thời vụ cao

Tính thời vụ trong lao động do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệpquyết định Quá trình sản xuất nông nghiệp bao gồm cả quá trình sản xuất tựnhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế, thời gian lao động và thời gian sảnxuất đan xen vào nhau song lại không hoàn toàn trùng khớp với nhau Tínhthời vụ trong sản xuất nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được nêntrong quá trình sản xuất chúng ta chỉ tìm cách hạn chế nó Bên cạnh đó do sựthay đổi về điều kiện thời tiết khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích ứngnhất định với điều kiện đó dẫn đến những mùa vụ khác nhau Sản phẩm củangành nông nghiệp là nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Nhưvậy tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp có tác động lớn đối với nông dân,

nó chi phối thời gian lao động và thời gian sản xuất của lao động nôngnghiệp, nông thôn Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căngthẳng về lao động nhưng cũng có những lúc người lao động lai nhàn rỗi

Trang 6

không có việc làm nên gây khó khăn, phức tạp trong sử dụng và nâng caochất lượng nguồn lao động nông nghiệp.

1.3.2 Lao động trong nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

Khác với lao động trong các ngành sản xuất khác, lao động trong nôngnghiệp nhất là lao động trồng trọt, lâm nghiệp, thuỷ sản chủ yếu diễn ra ngoàitrời, chịu tác đông trực tiếp của điều kiện tự nhiên như nắng, mưa, gió bão, lũlụt Nếu điều tự nhiên thuận lợi thì cây trồng vật nuôi phát triển tốt, người laođộng cũng vì thế mà bớt đi phần gánh nặng lo âu Song nếu điều kiện tự nhiênkhông thuận lợi sẽ gây khó khăn trong sản xuất, thậm chí người nông dân cóthể mất trắng Vì vậy cần phải có những giải pháp nâng cao dân trí, sự hiểubiết cho người nông dân để họ có thể hạn chế được rủi ro trong sản xuất đồngthời tạo thêm việc làm để tăng thời gian làm việc và nâng cao năng suất laođộng trong nông nghiệp

1.3.3 Lao động nông nghiệp tiếp xúc thường xuyên với cơ thể sống.

Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống, cây trồng vàvật nuôi, chúng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh học Do là cơ thểsống nên chúng rất nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đồi vềđiều kiện thời tiết khí hậu đều có tác động trực tiếp đến sự phát triển của câytrồng vật nuôi, đến kết quả của sản phẩm cuối cùng Là cơ thể sống nên ởchúng cũng hội tụ đầy đủ những yếu tố sinh học, chúng mang trong mìnhnhững vacxin phòng bệnh mà con người có thể khai thác được đồng thời cũngchứa đựng cả những mầm bệnh gây hại có thể lây truyền trực tiếp từ vật nuôisang người Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt đượcsản xuất trực tiếp ngay trong bản thân ngành nông nghiệp bằng cách sử dụngtrực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuấtcho chu trình sản xuất sau, chúng là đối tượng của sản xuất nông nghiệp, củalao động nông nghiệp Vì vậy trong quá trình sản xuất nông nghiệp người lao

Trang 7

động phải có sự hiểu biết về quy luật phát triển của sinh vật, phải gắn bóchăm sóc tìm hiểu về cây trồng vật nuôi để một mặt tạo điều kiện cho câytrồng vật nuôi phát triển tốt mặt khác cũng hạn chế được dịch bênh lây lan.

1.3.4 Lao động trong nông nghiệp có kết cấu phức tạp không đồng nhất.

Bản thân nông nghiệp đã là một ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.Hiểu theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp chỉ bao gồm ngành trồng trọt, ngànhchăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp Còn hiểu theo nghĩa rộng thìnông nghiệp còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và thủy sản Tính chất phứctạp trong ngành nông nghiệp đã tạo nên tính chất phức tạp của lao động nôngnghiệp Lao động trong nông nghiệp có rất nhiều loại khac nhau, có lao độngthường xuyên, lao động thời vụ, có lao động trong độ tuổi quy định( lao độngchính) và lao động ngoài độ tuổi quy định( lao động phụ), có lao động giảnđơn và lao động kỹ thuật v.v.đối với các trang trại và hộ nông dân còn có laođộng gia đình và lao động thuê ngoài Một người lao động nông nghiệp có thểlàm nhiều công việc khác nhau nên đóng vai trò của nhiều loại lao động khácnhau Ở mỗi một đơn vị sản xuất nông nghiệp khác nhau thì kết quả lao độngcũng khác nhau Tính phức tạp của lao động đòi hỏi phải có những hình thứcphù hợp để đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động đồng thời có thể sửdụng một cách đầy đủ hợp lý và có hiệu quả chúng

1.3.5 Lao động nông nghiệp thuộc loại lao động tất yếu của xã hội

Lao động trong nông nghiệp thuộc loại lao động tất yếu của xã hội nêndiễn ra một xu hướng có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số lượng.Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển làm cho năng suất lao độngnông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động nông nghiệp được giảiphóng ngày càng nhiều Số lao động này được dịch chuyển, bổ xung cho các

Trang 8

ngành khác trước hết là ngành công nghiệp với những lao động trẻ khỏe, cótrình độ văn hoá kỹ thuật Chính vì vậy trong nông nghiệp hiện nay nguồn laođộng chủ yếu là những người có độ tuổi trung bình cao, khả năng tiếp thu đónnhận những kiến thức mới là rất chậm Thêm vào đó thu nhập bình quân đầungười của lao động nông nghiệp lại thấp nên họ ít có điều kiện đầu tư chophát triển con người về sức khoẻ, trình độ chuyên môn Vì vậy mà chất lượngnguồn lao động nông nghiệp còn thấp và đang cần có những giải pháp cụ thể

để nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động trong nông nghiệp

1.4.1 Sự phát triển kinh tế, xã hội tác động đến chất lượng nguồn lao động

1.4.1.1 Trình độ của nền kinh tế

Trình độ của nền kinh tế tác động đến chất lượng nguồn lao độngkhông bằng cách trực tiếp bởi đây là cơ sở để xác định tiền lương, thu nhậpcải thiện mức sống và nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư cũng nhưngười lao động Khi thu nhập của người dân được nâng cao thì họ mới có điềukiện để cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng chi tài chính cho các dịch vụ giáodục, chăm sóc y tế, tinh thần Nhờ đó mà sức khỏe, trình độ văn hoá, trình độchuyên môn kỹ thuật, các mối quan hệ xã hội của dân cư và người lao độngđược nâng cao Và suy cho cùng thì khi thu nhập tăng lên sẽ gián tiếp nângcao chất lượng nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông nghiệp nóiriêng

Thực tế cho thấy ở các nước có nền kinh tế đạt ở trình độ cao thì tỷ lệngười đi học văn hoá, chuyên môn - kỹ thuật thường cao hơn các nước có nềnkinh tế ở trình độ thấp Năm 1999 tỷ lệ học sinh được tuyển vào các trường

Trang 9

phổ thông trung học của một số nước có nền kinh tế phát triển cao như HànQuốc đạt 98%, Malaixia đạt 100%, Singapo đạt 100% trong khi đó ở cácnước có nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp như Campuchia thì tỷ lệ đó chỉđạt 22%, ở Pakixtan đạt 29%

Một nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ cao thì đòi hỏi nguồn laođộng ở đó cũng phải có trình độ cao mà đa số là lao động đã qua đào tạochuyên môn kỹ thuật Bởi ở một nền kinh tế như thế thì các ngành kinh tế sửdụng phần lớn công nghệ hiện đại, các thành tựu khoa học công nghệ đượccập nhật đưa vào cuộc sống thúc đẩy người lao động phải tự tìm tòi học hỏi,nâng cao tay nghề để thích ứng với các tư liệu lao động hiện đại Cùng với đóthì hệ thống giáo dục - đào tạo luôn phải hướng tới không ngừng nâng caochất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế

1.4.1.2 Tăng trưởng vốn đầu tư

Tăng trưởng vốn đầu tư vào nền sản xuất xã hội có mối quan hệ tỷ lệvới tăng số việc làm cho người lao động Mức đầu tư cao sẽ làm tăng cơ sởvật chất, trang bị công nghệ cao, hiện đại cho các chỗ làm việc đồng thời làmtăng số lượng việc làm có thu nhập cao Việc làm tăng kéo theo thu nhập củangười lao động được đảm bảo và không ngừng nâng cao Từ đó có sự tácđộng tích cực đến đời sống vật chất, tinh thần của dân cư và người lao động,

do đó mà chất lượng của nguồn lao động cũng được nâng lên Cùng với tăngviệc làm và thu nhập cho người lao động thi tăng trưởng đầu tư còn kéo theo

sự đổi mới công nghệ và có tác động tích cực đến chất lượng người lao động.Phát triển kinh tế xã hội với đặc trưng là thực hiện quá trình đổi mới côngnghệ sản xuất kinh doanh và quản lý từ đó buộc Nhà nước, cơ quan, doanhnghiệp, hộ gia đình phải đầu tư tài chính nhiều hơn vào việc nâng cao trình độvăn hoá, chuyên môn - kĩ thuật cho người lao động Chỉ có như vậy, trongphạm vi từng ngành kinh tế cũng như trong từng doanh nghiệp, cơ quan, hộ

Trang 10

gia đình mới nâng cao được hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnhtranh, và người lao động mới có cơ hội tìm được việc làm trên thị trường theomong muốn.

Thực tế đã chứng minh, ở nước ta trong những năm đổi mới từ 1986đến nay, vốn đầu tư phát triển không ngừng tăng lên nhờ chính sách phát triểnkinh tế nhiều thành phần, huy động hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội đầu tưvào nền kinh tế Đồng thời nhờ chính sách mở cửa hội nhập nền kinh tế thếgiới nên đã huy động được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Chỉtính từ năm 1996 đến năm 2003 vốn đầu tư phát triển có tốc độ tăng bìnhquân hàng năm là 11,95%, năm 2003 đạt 158606,4 tỷ đồng( giá so sánh vớinăm 1994) Nguồn vốn đầu tư phát triển từ nhiều nguồn tăng lên đã góp phầntạo ra nhiều việc làm có thu nhập cao hơn cho người lao động và có tác độngthúc đẩy nâng cao chất lượng người lao động ở nước ta Như vậy trong nhữngnăm gần đây nhờ sự tăng trưởng đầu tư mà chất lượng nguồn lao động nóichung và nguồn lao động nông nghiệp nói riêng ở nước ta đã được cải thiệnđáng kể

1.4.1.3 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là quá trình phâncông lại lao động theo ngành nghề ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân,trong phạm vi từng vùng, từng địa phương Đây cũng chính là quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng dần tỷ trọng GDP của cácngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, từng bước giảm tỷ trọng GDP củangành nông nghiệp Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế sẽ kéo theo

sự chuyển dịch của cơ cấu lao động, tỷ trọng lao động trong ngành nôngnghiệp sẽ giảm xuống và tăng dần tỷ trọng lao động làm việc trong các ngànhcông nghiệp - xây dựng và dịch vụ Từ hai sự chuyển dịch này đòi hỏi ngườilao động phải được đào tạo chuyển đổi nghề, đào tạo lại và đào tạo nâng cao,

Trang 11

tự học suốt đời để thích ứng với công việc mới Phân công lại lao động làmcho lao động thuần trong ngành nông nghiệp giảm đi và lao động trong cácngành khác tăng lên, cho dù thế nào thì người lao động ngày nay luôn phải tựmình nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ thuật để đáp ứng tốt nhất với cácđiều kiện sản xuất mới.

Ở nước ta tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực nông nghiệp trong tổng

số lao động đang làm việc của nền kinh tế quốc dân đã giảm từ 68,96% năm

1996 xuống còn 58,35% năm 2003 và đến năm 2005 tỷ lệ này giảm xuốngcòn là 55,27%, trong khi đó tỷ trong lao động trong công nghiệp - xây dựnglại tăng từ 10,88% năm 1996 lên 16,96% năm 2003, năm 2005 là 19,16% vàlao động trong ngành dịch vụ tăng từ 20,16% năm 1996 lên đến 24,69% năm

2003 và đến năm 2005 là 25,57% Nhìn lại những năm qua chúng ta có thểthấy rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra tích cực giữa cácvùng, khu vực trong cả nước Sự vận động chuyển dịch của cơ câu lao động

đã có tác động sâu sắc đến chất lượng của nguồn lao động biểu hiện ở việcnâng cao toàn diện trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn lao động, đổi mới

cơ cấu lao động theo ngành nghề và nâng cao năng suất lao động xã hội củangười lao động nói chung và của lao động nông nghiệp nói riêng

1.4.1.4 Tác động của phát triển ngành công nghệ thông tin đến chất lượng lao động nông nghiệp

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì công nghệ thông tin có vaitrò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn lao động trongcác ngành kinh tế quốc dân Nó là công cụ quan trọng trợ giúp cho dân cư vàngười lao động tiếp cận với tri thức, tiếp nhận thông tin các mặt của đời sống

xã hội thúc đẩy tăng năng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất laođộng xã hội Nhờ có công nghệ thông tin mà lao động trong nông nghiệp tiếpcận được với thị trường nông sản trong và ngoài nước với những thông tin

Trang 12

chính xác về giá cả, sản phẩm, hiếu khách hàng, tiếp cận được với thông tinthời tiết, thuỷ văn từ đó giảm bớt rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Nhưng

để lấy được thông tin một cách chính xác nhất đòi hỏi người nông dân phảitrau dồi thêm kiến thức, tích tụ kinh nghiệm sản xuất, nâng cao trình độchuyên môn kỹ thuật, từ đó mới bắt kịp được với nhịp sống sôi động của côngnghệ thông tin

Trong cuộc cạnh tranh kinh tế thì máy tính, tin học tác động phổ biến

và sâu rộng đến tính chất và nội dung của điều kiện lao động, do đó sẽ thúcđẩy nâng cao chất lượng nguồn lao động Nguồn lao động thích ứng ngàycàng tốt hơn đối với nền sản xuất hiện đại và tạo ra khả năng, cơ hội để hộinhập nhanh chóng vào thị trường lao động thế giới trong đó bao gồm cả thịtrường lao động nông nghiệp

1.4.1.5 Đầu tư của Chính phủ cho giáo dục, đào tạo

Đầu tư cho giáo dục, đào tạo là cơ sở để nâng cao chất lượng nguồn laođộng Chính phủ tăng đầu tư tài chính cho các chương trình mục tiêu về giáodục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, y tế, phát triển hoạt động văn hoá, thểthao dựa trên sự tăng trưởng kinh tế Nhờ đó mà quy mô loại hình giáo dụcđào tạo được mở rộng ở các cấp, các ngành học; công tác chăm sóc sức khỏedân cư và người lao động được cải thiện; đời sống tinh thần được nâng cao.Các yếu tố này có tác động tổng hợp đến trình độ học vấn, chuyên môn, kỹthuật, sức khoẻ của dân cư, của người lao động và cũng có nghĩa là tác độngtích cực đến chất lượng nguồn lao động Ngày nay người lao động trong nôngnghiệp đang chuyển dần sang các ngành khác, số lao động còn lại trong ngànhnông nghiệp đang cần phải được đào tạo và đào tạo lại Vì vậy đầu tư chogiáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượngnguồn lao động nông nghiệp từ đó tăng góp phần vào sự tăng trưởng trong

Trang 13

nông nghiệp Và đến một lúc nào đó sự tăng trưởng này sẽ quay lại thúc đẩyđầu tư cho giáo dục, đào tạo.

Ở nước ta nhờ tăng trưởng kinh tế liên tục và ổn định trong những nămqua (tốc độ tăng GDP bình quân các năm 1990 - 2002 là 7,29%/năm) nên Nhànước có điều kiện không ngừng nâng cao tỷ trọng đầu tư cho giáo dục, đàotạo trong tổng chi Ngân sách nhà nước Năm 1990 mức chi cho sự nghiệpgiáo dục đào tạo bằng 8,9% tổng chi ngân sách thì đến năm 1995 là 10,45%

và năm 2000 là 15,0%, Trong Chương trình mà Chính phủ đưa ra là 18% vàonăm 2005 và 20% vào năm 2010 Tuy nhiên do quy mô thu nhập của cả nềnkinh tế nước ta còn ở mức thấp nên mức chi trên mặc dù đã được cải thiệnđáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng dược cho nhu cầu mở rộng quy mô, nângcao chất lượng của giáo dục đào tạo Vì vậy mà chất lượng lao động trong cácngành kinh tế trong đó có cả ngành nông nghiệp có tăng nhưng tăng khôngđáng kể nên đòi hỏi phải tăng chi cho giáo dục, đào tạo và chi một cách cóhiệu quả nhất

1.4.1.6 Tác động của các yếu tố văn hoá, xã hội đến chất lượng nguồn lao động

Các yếu tố này bao gồm thái độ, đạo đức nghề nghiệp, lối sống, giaotiếp ứng xử, bình đẳng giới Mỗi mặt lại có tác động riêng đến chất lượngnguồn lao động Trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và hội nhậpkinh tế quốc tế, nhận thức và tư duy người lao động được đổi mới để phù hợpvới nền sản xuất công nghiệp hóa, nền kinh tế tri thức, nâng cao khả năngthích ứng với nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng Xã hội chủ nghĩa ởnước ta Trong đó đòi hỏi mỗi cá nhân người lao động phải biết làm việc vớinăng suất và hiệu quả cao nhất, phải không ngừng vươn lên để học hỏi tiếpthu tri thức mới trong tình hình thế giới ngày càng có sự cạnh tranh quyết liệt

Lối sống của xã hội là vấn đề nhạy cảm, nó tác động đến từng ngườilao động theo xu hướng riêng Khi một xã hội có lối sống đẹp sẽ có tác động

Trang 14

tích cực đến thái độ, đạo đức nghề nghiệp, cách giao tiếp ứng xử của ngườilao động Ở đây con người sống lành mạnh, lao động hăng say, quan tâm đếnđời sống cá nhân mà không quên đi lợi ích xã hội, người lao động luôn hướngđến cái chân, thiện, mỹ để hoàn thiện chính bản thân mình Còn khi sốngtrong xã hội mà con người không quan tâm đến nhau, chỉ lo cho lợi ích cánhân mà quên đi lợi ích xã hội, chỉ lo ganh ghét đố kỵ, chèn ép lẫn nhau thìcon người cũng khó có khả năng phát triển, từ đó chất lượng người lao động

có thể bị suy giảm Và suy cho cùng, sống trong bất kỳ một xã hội nào thì quátrình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế luôn tác động đến lối sốnghiện đại, lối sống công nghiệp, phong cách giao tiếp và các quan hệ ứng xửmới các phẩm chất mới này tác động lan toả đến các tầng lớp dân cư vàngười lao động

Tăng trưởng kinh tế cũng góp phần tác động đến vấn đề bình đẳng giới.Kinh tế phát triển, nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ cũng pháttriển theo với nhu cầu lao động nữ không ngừng tăng lên Như vậy tạo ra cơhội ngày càng lớn hơn cho phụ nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào thịtrường lao động Do đó thúc đẩy phụ nữ tham gia nhiều hơn vào học tập vănhoá, đào tạo nghề để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuât nhằm tìm đượcviệc làm như mong muốn và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thịtrường lao động Kết qủa là chất lượng nguồn lao động ngày càng được nângcao Một minh chứng cho thấy là ngày nay tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lãnh đạotrong các cơ quan Nhà nước, phụ nữ tham gia vào kinh doanh làm chủ cácdoanh nghiệp đã tăng lên nhiều Cùng với đó thì lao động nữ trong nôngnghiệp cũng không ngừng tăng lên về chất lượng

Trang 15

1.4.1.7 Tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế tác đến chất lượng lao động nông nghiệp

Đi kèm với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tình trạng giatăng ô nhiễm môi trường sống, cân bằng sinh thái bị phá vỡ do rác thải côngnghiệp như khói bụi công nghiệp, chất thải, nước thải; trong nông nghiệp nhưthuốc trừ sâu, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật ;nguồn nước sạch trở lênkhan hiếm đã tác động đến đời sống sinh hoạt, sức khoẻ của dân cư và ngườilao động Không những thế vấn đề tai nạn giao thông cũng ngày càng gia tăng

do quá tải về phương tiện giao thông so với hạ tầng đường xá nhỏ, hẹp trongkhi đó nhân thức của người dân về luật lệ an toàn giao thông còn nhiều hạnchế không theo kịp nhu cầu phát triển của xã hội Tình trạng này tác độngnghiêm trọng đến chất lượng nguồn lao động nói chung và lao động nôngnghiệp nói riêng từ vấn đề môi trường sống đến vấn đề tai nạn giao thông

Tăng trưởng kinh tế và quá trình Công nghiệp hóa cũng tất yếu tácđộng đến phân hóa giàu nghèo, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng

Ở nước ta trong những năm đàu của sự nghiệp đổi mới, tốc độ tăng trưởngkhá cao và chênh lệch thu nhập giữa 20% nhóm hộ có thu nhập cao nhất sovới 20% nhóm hộ có thu nhập thấp nhất năm 1996 là 7,3 lần và năm 2002 là8,11 lần (số liệu của tổng cục thống kê) Phân hóa giàu nghèo ở từng địaphương là không giống nhau và phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế tạitừng địa phương, nơi nào có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thường có sự phânhóa giàu nghèo cao hơn Sự phân hóa giàu nghèo giữa các ngành sản xuất vậtchất và ngay trong từng ngành kinh tế là không giống nhau Nguyên nhân là

do sự khác biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng thích ứng của các

hộ gia đình và người lao động đối với cơ chế thị trường, cơ hội việc làm vàthu nhập Những hộ gia đình nghèo, thu nhập thấp nên khả năng chi trả chocác dịch vụ xã hội thấp hơn Điều này gây hạn chế trong tiếp cận với các hệ

Trang 16

thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề, hạn chế trong tiếp cận hệ thống chăm sócsức khoẻ, bảo hiểm xã hội, đời sống và văn hoá chậm được cải thiện Kết quả

là chất lượng cuộc sống và trình độ của các hộ này thường thấp không đápứng được với nhu cầu của thị trường lao động Những hộ này thường sống ởkhu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và thường tập trung trong ngành nôngnghiệp Và vì vậy chất lượng lao động nông nghiệp thường thấp hơn so vớichất lượng lao động trong các lĩnh vực kinh tế khác

Một vấn đề khác cũng có tác động không nhỏ đến chất lượng nguồn laođộng cả trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đó là an toàn vệ sinh laođộng và an toàn thực phẩm Khi an toàn vệ sinh lao động không được quantâm sẽ dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát được tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, tổn hại đến sức khỏe của người lao động và tác động làm giảm chấtlượng nguồn lao động An toàn thực phẩm không đảm bảo cũng gây ảnhhưởng xấu đến chất lượng nguồn lao động Thực phẩm không đảm bảo antoàn vệ sinh có chất độc hại tất nhiên tác động đến sự phát triển lành mạnhcủa cơ thể sinh ra bệnh tật cho dân cư và nguồn lao động Ngày nay trong nềnkinh tế thị trường có một bộ phận lớn các nhà sản xuất thiếu trách nhiệmtrong công việc, chạy theo mục tiêu lợi nhuận, cung ứng các sản phẩm khôngđảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tínhmạng của dân cư và người lao động Riêng trong ngành nông nghiệp ngườilao động còn chịu tác động trực tiếp của thiên nhiên, chất độc hại từ thuốc trừsâu, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật do đó chất lượng của lao động nôngnghiệp ngày càng giảm sút

1.4.2 Tình trạng dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe

1.4.2.1 Yếu tố dinh dưỡng tác động đến chất lượng nguồn lao động

Dinh dưỡng là yếu tố cần thiết cho mỗi con người, gồm rất nhiều cácyếu tố khác nhau từ lương thực, thực phẩm mà cơ thể cần hấp thụ hàng ngày

Trang 17

để duy trì sức khỏe tốt cho các lứa tuổi khác nhau Một số nhà kinh tế nướcngoài đã khẳng định rằng:"chỉ số nghèo về tài chính là một thước đo cơ bản

về khả năng của hộ gia đình để mua một lượng lương thực, thực phẩm vừa đủ

và duy trì một tiêu chuẩn dinh dưỡng tối thiểu" Tài chính hạn hẹp dẫn đếnviệc các hộ gia đình không đủ điều kiện để tự chăm sóc sức khỏe cho mình,

ăn uống không hợp lý thiếu chất dinh dưỡng như lipit, protein, gluxit và cácchất vi lượng khác Thiếu dinh dưỡng làm cho thể lực của người dân ốm yếu,khả năng miễm dịch kém, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm Suy giảm nghiêmtrọng khả năng làm việc, có tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn lao độngtrong các ngành kinh tế bao gồm cả lao động trong nông nghiệp

Suy dinh dưỡng của bà mẹ trong trời kỳ mang thai, sự thiếu thốn lươngthực, thực phẩm trong thời kỳ sinh nở và lúc nuôi con nhỏ là nguy cơ gâybệnh tật và sự khiếm khuyết trong quá trình phát triển thể lực và tinh thần củatrẻ em, điều này có ảnh hưởng đến khả năng học tập, khả năng làm việc củanguồn lao động trong tương lai Rõ ràng rằng suy dinh dưỡng là vấn đề củađói nghèo, các nước nghèo thường rơi vào cái vòng luẩn quẩn đó là: đóinghèo - suy dinh dưỡng - ít cơ hội việc làm - năng suất lao động thấp - đóinghèo Mà những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến đói nghèo là: ngườinghèo có hạn chế về nguồn lực, trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm hoặcviệc làm không ổn định, sinh nhiều con, bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêucực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em Như vậy tình trạng nghèo đói và chấtlượng nguồn lao động thấp luôn có mối quan hệ tỷ lệ thuận và có sự tác độngqua lại lẫn nhau

1.4.2.2 Chăm sóc y tế với chất lượng nguồn lao động

Cùng với vấn đề dinh dưỡng thì sự phát triển tính hiệu quả của hệthống y tế và khả năng tiếp cận của người dân với hệ thống này có ảnh hưởngtrực tiếp đến các thế hệ lao động Chăm sóc y tế tác động đến chất lượng

Trang 18

nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông nghiệp nói riêng trênnhững mặt cụ thể sau:

Thông qua chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ vàtrẻ em, tư vấn về dinh dưỡng, phòng bệnh tật tạo ra khả năng đảm bảo chocác thế hệ lao động tương lai có thể lực tốt tinh thần khỏe mạnh góp phầnnâng cao chất lượng nguồn lao động

Mở rộng quy mô và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của mạnglưới y tế (đội ngũ thầy thuốc, thuốc men, trang thiết bị y tế, phương pháp điềutrị ), áp dụng kịp thời các tiến bộ khoa học y tế vào dự phòng và chữa bệnhcho nhân dân sẽ có tác động đến việc nâng cao tuổi thọ, sức khỏe dân cư vàngười lao động Điều này sẽ trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn lao độngtrong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của hiện tại và tương lai

Một mặt nữa là cơ chế, chính sách y tế phù hợp sẽ tạo cơ hội cho cáctầng lớp dân cư và người lao động đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y

tế, kể cả các dịch vụ tư vấn chăm sóc về mặt dinh dưỡng và phòng bệnhthường xuyên Do đó sẽ có tác động đến chất lượng nguồn lao ở phạm vi toànngành kinh tế quốc dân

1.4.3 Phát triển giáo dục, đào tạo với chất lượng nguồn lao động

Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo không chỉ quyết định đến trình

độ văn hoá chuyên môn kỹ thuật của người lao động mà còn gián tiếp tácđộng đến sức khỏe tuổi thọ của người dân thông qua các yếu tố thu nhập,nhận thức và sử lý thông tin kinh tế, xã hội, thông tin khoa học Quy mô giáodục, đào tạo càng lớn, chất lượng giáo dục, đào tạo càng cao thì quy mônguồn lao động chuyên môn kỹ thuật càng mở rộng bởi vì giáo dục đào tạo làcái gốc cơ bản để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuậtcủa nền kinh tế Trong điều kiện ngày nay hệ thống giáo dục đào tạo pháttriển phổ biến tại các địa phương, nông thôn, thành thị, miền núi, hải đảo,

Trang 19

đồng bằng thì việc tiếp cân các dịch vụ giáo dục của dân cư và người laođộng rất thuận tiện và giảm được chi phí Điều này đã đưa khả năng nâng cao

và mở rộng quy mô nguồn lao động qua đào tạo trở thành hiện thực và đâycũng là một trong những giải pháp để cải thiện chất lượng nguồn lao động củatừng vùng, địa phương và quốc gia

Mặt khác mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo thì khả năng nângcao chất lượng lao động theo chiều sâu của nguồn lao động trong toàn ngànhkinh tế quốc dân càng lớn Cụ thể là một trong những tiêu chí của phát triểngiáo dục đào tạo là nâng cao chất lượng đầu ra cho học sinh, sinh viên tốtnghiệp các trường đại học, cao đẳng Và trong một nền giáo dục có trình độphát triên cao thì chất lượng đàu ra được đảm bảo, đáp ứng được yêu cầu

"khó tính" của thị trường lao động và của xã hội Thực tế đã khẳng định rằng

"đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lợi nhất" Đúng vậy bởi ngoài lợi ích cánhân mà con người có được sau đào tạo như kiến thức, kỹ năng, phẩmchất để tăng cơ hội có việc làm, thu nhập cao hơn thì giáo dục còn manglại cho xã hội những lợi ích không nhỏ Như trực tiếp nâng cao năng suất laođộng của người lao động, cung cấp cho xã hội những nhà quản lý, lãnh đạo,những nhà kinh doanh, nhà khoa học tài giỏi Đồng thời giáo dục, đào tạogián tiếp tăng thêm sức mạnh cho con người để tận dụng những cơ hội tronglao động sáng tạo, tạo ra thu nhập cao góp phần nâng cao mức sống, đời sốngvất chất tinh thần, chống suy dinh dưỡng cải thiện sức khỏe của dân cư vàngười lao động Suy cho cùng thì phát triển giáo dục đào tạo có ảnh hưởngtích cực đến nâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung và nguồn laođộng trong nông nghiệp nói riêng

1.4.4 Các chính sách của Chính phủ đối với chất lượng nguồn lao động

Chính phủ có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng

Trang 20

nguồn lao động quốc gia Chính phủ hoạch định các chính sách ở tầm vi mô

và vĩ mô nhằm tạo môi trường pháp lý cho phát triển kinh tế, phát triển hệthống giáo dục, đào tạo ở cả chiều rộng và chiều sâu Ngoài các chính sáchcủa Chính phủ về kinh tế - xã hội hướng vào việc đảm bảo và không ngừngnâng cao đời sống vật chất tinh thần, chống suy dinh dưỡng bảo vệ sức khỏedân cư và người lao động thì các chính sách khác có tác động trực tiếp đếnnâng cao chất lượng nguồn lao động như là:

Chính sách xã hội hoá giáo dục

Chinh sách phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo chất lượng cao đạtchuẩn khu vực và quốc tế

Chính sách cải cách nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo

Chính sách phát triển các loại hình đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nângcao, sử dụng đãi ngộ đội ngũ giáo viên, giảng viên

Chính sách đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động củatừng ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

Chính sách hợp tác quốc tế trong ngành giáo dục

Trang 21

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP

VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LAO ĐỘNG

NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Quy mô và cơ cấu nguồn lao động nông nghiệp trong tỉnh

2.1.1 Quy mô nguồn lao động nông nghiệp

Hải Dương là 1 tỉnh đông dân và hầu hết dân cư làm nông nghiệp Dân

số của tỉnh năm 1997 là 1630 nghìn người, đến năm 2006 dân số vào khoảng

1720 nghìn người, đứng thứ 12 trong số 64 tỉnh thành phố trong cả nước Dân

số tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2006 tăng trên 9 vạn người, bìnhquân mỗi năm tăng 1 vạn người tương ứng với mức tăng 0.6%/năm, với tỷxuất tăng tự nhiên như hiện nay thì dự báo dân số tỉnh Hải Dương đến năm

2010 sẽ vào khoảng 1780 nghìn người và số người trong độ tuổi lao động sẽ

là 1126740 người Theo số liệu thống kê của tỉnh thì thì tổng số lao động đanglàm việc trong các ngành kinh tế năm 2000 la 891791 người nhưng đến năm

2005 con số này đã tăng lên 962.836 người tăng 7,96% so với năm 2000.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lực lượng lao động tỉnh Hải Dươngtrong 10 năm qua có sự chuyển dịch tích cực theo hướng Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm

2006 là 963.435 người tăng thêm 84.686 người tương ứng với mức tăng 9,6%

so với năm 1997 Quy mô dân số tăng kéo theo đó là tăng quy mô nguồn laođộng tuy nhiên nguồn lao động trong nông, lâm ngư nghiệp lại có xu hướnggiảm, năm 2000 lao động trong nông, lâm nghiệp là 730.680 người nhưng đến

Trang 22

năm 2005 lại giảm xuống còn 671.032 lao động Còn lao động trong ngànhthuỷ sản lại có xu hướng tăng và tăng nhanh năm 2000 là 3772 người đếnnăm 2004 là 8.047 người và đến năm 2005 con số này đã tăng lên là 8.458người Như vậy cùng với quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn tỉnh Hải Dương thì lao động trong ngành nông, lâm, ngưnghiệp có xu hướng ngày càng thu hẹp về số lượng còn lao động trong một sốngành khác lại có xu hướng tăng lên, điều này được thể hiện cụ thể trongbảng 2.1 sau:

Bảng 2.1: Lao động đang làm việc trong một số ngành kinh tế

Thương nghiệp, sửa chữa 22378 25380 32848 39473 42434

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2005

Theo kết quả tổng hợp nhanh các chỉ tiêu cơ bản tổng điều tra nôngthôn, nông nghiệp, thuỷ sản tỉnh Hải Dương năm 2006 có thể thấy rằng sốngười trong độ tuổi lao động của toàn tỉnh là 792.800 người và được phân bổ

ở các huyện như sau: huyện Chí Linh có 65.282 người, huyện Nam Sách có

70270 người, huyện Kim Thành có 65.318 người, huyện Kinh Môn có 74607

Trang 23

người, huyên Thanh Hà có 84025 người, huyên Cẩm Giàng có 62765 người,huyện Bình Giang có 52958 người, huyện Gia Lộc có 76289 người, huyện Tứ

Kỳ có 86876 người, huyện Ninh Giang có 76199 người, huyện Thanh Miện

có 66897 người trong độ tuổi lao động Nhìn chung Hải Dương có số ngườitrong độ tuổi lao động cao và được phân bổ đều ở các huyện, huyện có số laođộng đông nhất là huyện Tứ Kỳ và Ninh Giang còn huyện có số lao động trongnông,lâm, thuỷ sản ít nhất là thành phố Hải Dương chỉ có 11251 lao động

Không những thế số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế dođịa phương quản lý có thấp hơn đôi chút Năm 2000 con số này là 871018người, năm 2003 là 915569 người, năm 2004 là 927806 người và đến năm

2005 đẵ tăng lên đến 941471 người Trong đó số lao động trong nông lâm thuỷ sản năm 2000 là 734260 người đến năm 2005 giảm xuống còn 679278người Sự giảm sút về số lượng lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp

-là phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh

2.1.2 Cơ cấu nguồn lao động nông nhiệp của tỉnh Hải Dương

Cơ cấu nguồn lao động của tỉnh được phản ánh qua cơ cấu dân cư, cơcấu lao động trong các ngành kinh tế, cơ cấu lao động đã qua đào tạo trongcác lĩnh vực và các khu vực kinh tế, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu độ tuổitrong lực lượng lao động, cơ cấu nguồn lao động dự trữ trong các trường đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Và cơ cấu nguồn laođộng trong nông nghiệp cũng được phản ánh qua các chỉ tiêu tương tự

Trong những năm gần đây do tốc độ đô thị hóa cao,việc hình thành và

mở rộng các cụm, khu công nghiệp đã thu hút lao động trẻ từ các vùng nôngthôn ra thành thị nên cơ cấu dân số thành thị tăng Năm 1997 số dân sống ở

đô thị chiếm 11,24%, năm 2006 tăng lên là 15,82% ngược lại tỷ lệ số dânnông thôn giảm từ 88,76% năm 1997 xuống 84,18% năm 2006 Số dân giữacác nhóm tuổi có sự chênh lệch đáng kể Nhóm 0 - 15 tuổi giảm từ 33,9%

Trang 24

năm 1997 xuống còn 24,8% năm 2006 Cơ cấu kinh tế Hải Dương cũng cónhững chuyển biến tích cực, tỷ trọng Nông, lâm, thuỷ sản - Công nghiệp, xâydựng - Dịch vụ từ 34,8% - 37,2% - 28% năm 2000 sang 27,5% - 43% - 29,5%năm 2005 (mục tiêu đặt ra là 30% - 40% - 30%) Trong đó cơ cấu ngành côngnghiệp, xây dựng, nông, lâm thuỷ sản chuyển dịch nhanh: công nghiệp, xâydựng trong 5 năm tăng 5,8%, nông - lâm - thuỷ sản lại giảm 7,3%; khối ngànhdịch vụ kinh doanh khó khăn nên chuyển dịch chậm hơn trong 5 năm chỉ tăng

có 1,5%

Phát triển sản xuất và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã gópphần thúc đẩy nhanh việc thay đổi cơ cấu, phân công lại lao động, giải quyếtviệc làm và xoá đói giảm nghèo Lao động trong nông, lâm, thuỷ sản giảm từ82,4% năm 2000 xuống còn 71,7% năm 2005, lao động trong ngành côngnghiệp, xây dựng tăng từ 9,0% năm 2000 lên đến 15% và lao động trongngành dịch vụ tăng từ 8,6% năm 2000 lên đến 13,3% năm 2005 Tình hìnhchuyển dịch cơ cấu lao động trong giai đoạn 2000 - 2005 được thể hiện cụ thểtrong bảng 2.2 sau:

Bảng 2.2: Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo 3 nhóm ngành của tỉnh

Hải Dương giai đoạn 2000 - 2005

Đơn vị: %

dựng

Dịch vụ

Trang 25

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2005

Mặt khác lao động trong bản thân ngành nông nghiệp cũng có sựchuyển biến tích cực, cùng với sự gia tăng về gía trị sản xuất trong đóng gópvào GDP của toàn tỉnh thì lao động trong ngành chăn nuôi, thuỷ sản đang cóchiều hướng tăng trong khi đó lao động trong ngành trồng trọt lại có xuhướng giảm Một điều đáng quan tâm ở đây là hầu hết lao động trong nôngnghiệp đều không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu là làm việctheo thói quen, theo kinh nghiêm lâu năm Trong khi tỷ lệ lao động đang làmviệc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp ở tỉnh chiếm 82,5% tổng số lao độngnhưng ở khu vực này cán bộ kỹ thuật còn rất mỏng chỉ chiếm 4,3% trong tổng

số cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh, số được qua đào tạo ít và chủ yếu là laođộng giản đơn Vấn đề này thực sự sẽ là trở ngại lớn nhất khi tỉnh Hải Dươngtiến hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Trang 26

2.2 Chất lượng nguồn lao động nông nghiệp

2.2.1 Thể lực của nguồn lao động nông nghiệp

Ngày nay, cùng với cả nước thì tầm vóc và thể lực của người HảiDương cũng đang được cải thiện đáng kể về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suydinh dưỡng và tuổi thọ Điều này đã góp phần nâng cao thể lực của người laođộng tỉnh Hải Dương trong đó có lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Đặcđiểm bên ngoài của người dân Hải Dương cũng giống với đặc điểm của ngườiViệt Nam Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam đã tang từ 1,56mnăm 1994 lên 1,58m năm 2000 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng

từ 65 tuổi năm 1985 lên đến 68,5 tuổi năm 2000 Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ

em dưới 5 tuổi đã giảm từ 44,9% năm 1995 xuống còn 33,1% năm 2000 và30,1% năm 2002, nhưng tỷ lệ này vẫn còn ở mức cao Thực tế này cho thấythể lực người lao động Việt Nam nói chung và người lao động Hải Dương nóiriêng vẫn kém hơn nhiều so với một số nước trong khu vực và so với yêu cầunguồn lực con người cần có cho quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa củatỉnh Hải Dương

Trong những năm gần đây đời sống sinh hoạt của các tầng lớp nhândân trong tỉnh được cải thiện rõ rệt, đã có 24.426 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộnghèo giảm xuống còn 4,5% vào cuối năm 2006, thấp hơn mức của cả nước(cuối năm 2005 là 6,5% - 7%) Tỉnh đã hoàn thành 2 Chương trình lớn là:Giải phóng mù lòa cho 3.142 người nghèo và xoá xong 3.722 nhà tranh trecho các hộ nghèo với tổng kinh phí gần 23 tỷ đồng Thu nhập của nông dân

có tăng lên nhưng vẫn ở mức thấp gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượngnguồn lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh Khi thu nhập của người dântăng lên họ sẽ có điều kiện để nâng cao sức khoẻ, tuổi thọ, chế độ dinh dưỡnggóp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động Thực tế cho thấy hiện nay thunhập bình quân đầu người một tháng của người lao động đã tăng nhiều so với

Trang 27

trước tuy nhiên mức thu nhập này có sự chênh lệch giữa nông thôn và thànhthị Thu nhập trung bình của một người từ các ngành nghề khác nhau cũngkhác nhau Do tỉnh Hải Dương là tỉnh nông nghiệp, người dân trong tỉnh làmnông nghiệp là chủ yếu nên thu nhập bình quân đầu người một tháng từ nông,lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn nhất so với tổng số Điều này được thể hiệnqua bảng 2.3 và 2.4 dưới đây:

Bảng 2.3: Tỷ trọng nguồn thu nhập so với tổng số

Đơn vị: %

1999- 2000 2001-2002 2003-2004 2005

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2005

Bảng 2.4: Thu nhập bình quân đầu người một tháng

nghiệp & Dịch vụ

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2005

Qua bảng 2.4 có thể thấy thu nhập bình quân đầu người một tháng củangười dân thành thị cao hơn 1,56 lần so với chỉ tiêu đó của người dân nông

Trang 28

thôn Trong tổng nguồn thu thì năm 2005 mức thu từ tiền lương, tiền côngcũng gần bằng mức thu từ nông, lâm, thuỷ sản, điều này chứng tỏ lao độngtrong nông nghiệp đã chuyển dần sang làm việc tại các ngành khác và nôngnghiệp cũng được đầu tư phát triển hơn Một điều đáng quan tâm ở tỉnh HảiDương là mức chênh lệch giầu nghèo khá cao, chênh lệch thu nhập giữa 20%

số hộ giàu nhất so với 20% số hộ nghèo nhất năm 2001 - 2002 là 5,56 lần đếnnăm 2003 - 2004 mức chênh lệch đó đã tăng lên là 5,94 lần, vấn đề này đãgây khó khăn cho lao động người lao động có thu nhập thấp sẽ không có đủđiều kiện để chăm sóc sức khỏe, đầu tư cho giáo dục nên chất lượng lao độngtrong khu vực này dường như là không tăng, nếu so với sự phát triển của toàn

xã hội thì lại có xu hướng giảm xuống

Nói đến chất lượng nguồn lao động trong nông nghiệp cũng phải kểđến độ tuổi của người lao động Trong công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đạihóa tỉnh Hải Dương, công nghiệp đang dần phát triển, nhiều khu công nghiệpmới xuất hiện thu hút nhiều lao động Vì thế mà lao động trong ngành nôngnghiệp đã và đang chuyển dần sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch

vụ trước hết là những lao động trẻ khỏe, có tay nghề làm cho lao động trongngành nông nghiệp hiện nay đều là những người có tuổi, những người khôngthể chuyển sang lao động trong các ngành khác hoặc những người chưa đến

độ tuổi lao động Một điều đáng nói ở đây là hoạt động sản xuất nông nghiệpgiản đơn như cấy, gặt cũng phải thuê người vì không có người làm vào chính

vụ hoặc vì tuổi cao sức yếu không làm hết việc của nhà nông khi vào vụ Nhìnchung chất lượng nguồn lao động trong nông nghiệp xét trên khía cạnh thểlực là thấp, lao động trong nông nghiệp thừa vẫn thừa mà thiếu thì vẫn cứthiếu

2.2.2 Trí lực của nguồn lao động nông nghiệp

Trang 29

Có thể nói sức mạnh trí tuệ là yếu tố quan trọng nhất quyết định đếnchất lượng của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông nghiệp nóiriêng trong điều kiện trí tuệ hóa lao động hiện nay Trình độ trí tuệ biểu hiện ởnăng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng lao động nghề nghiệp củangười lao động thông qua các chỉ số: trình độ văn hóa, dân trí, học vấn trungbình của một người dân lao động đã qua đào tạo, trình độ chất lượng đào tạo,mức độ lành nghề của lao động Từ xa xưa người Việt Nam nói chung vàngười Hải Dương nói riêng có tư chất thông minh sáng tạo, có khả năng vậndụng và thích nghi nhanh, đó là ưu thế nổi trội của người lao động nước ta.Những phẩm chất này khẳng định năng lực trí tuệ của người lao động nước ta

có thể theo kịp với tốc độ phát triển hiện đại

Theo số liệu thống kê của UNDP thì chỉ số phát triển con người (HDI,tuổi thọ, trình độ học vấn, mức sống) của Việt Nam có xu hướng gia tăng từxếp thứ 116/174 nước năm 1993 lên xếp thứ 109/174 nước năm 2001 nhưngđến năm 2003 lại tụt xuống thứ 112/177 nước Nứơc ta là một trong 10 nước

có chỉ số xếp hạng HDI cao hơn mức xếp hạng GDP/người trên 20 bậc, điềunày chứng tỏ nước ta đã cố gắng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội,quan tâm đến các yếu tố sức khỏe, y tế, giáo dục Tuy nhiên phải công nhậnrằng năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹnăng lao động nghề nghiệp của người lao động nước ta còn rất hạn chế, chưađáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mànguyên nhân chính là do mặt bằng dân trí nước ta còn thấp, tốc độ nâng caodân trí ở nước ta trong nhiều năm qua hết sức chậm chạp Trong suốt mấychục năm qua chúng ta đã có gắng để đạt được tỷ lệ hơn 90% dân số biết chữnhưng điều đáng buồn là hiện nay diễn ra quá trình tái mù chữ nghiêm trọng,nhất là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa (có xã số người mù chữ lên đếnhơnn 70%, trong số trẻ em ở độ tuổi đến trường chỉ có hơn 50% trẻ em học

Trang 30

hết cấp I ) Tình trạng này sẽ gây ra những hậu quả khó lường trong thời gian

từ 10 - 15 năm nữa bởi đay là những chủ nhân của công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm tới

Ở Hải Dương công tác giáo dục, dạy nghề luôn được chú trọng và vìvậy mà không có học sinh mù chữ, toàn tỉnh có 263 xã, phường, thị trấn đượcphổ cập Trung học cơ sở Sau 10 năm tái lập tỉnh, Hải Dương cũng đã đạtđược những thành tựu đáng kể trong công tác dạy nghề và đào tạo trình độchuyên môn kỹ thuật cho người lao động Năm 2004 số người từ 13 tuổi trởlên có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 14,23% trong đó tốt nghiệp đạihọc trở lên chiếm 1,28%, tăng 0,21% so với năm 1999; số người tốt nghiệpcao đẳng chiếm 1,13% tăng 0,22%; số người tốt nghiệp trung học chuyênnghiệp chiếm 3,22% tăng 0,42% Số người là công nhân kỹ thuật, nhân viênnghiệp vụ có bằng cấp chiếm 4,29% tăng 2,35% Như vậy số người có chuyênmôn kỹ thuật ở các bậc trình độ năm 2004 đều tăng lên so với thời điểm tổngđiều tra dân số năm 1999 Điều này thể hiên trình độ chuyên môn kỹ thuật củangười lao động trong tỉnh đã được nâng lên Tuy nhiên số liệu này chưa phảnánh hết số học sinh đang học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.Thực tế cho thấy tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 18,7%, tỷ lệ cán bộ khoahọc kỹ thuật chỉ chiếm 1,38% so với tổng dân số toàn tỉnh (toàn quốc là1,76%) Tỷ lệ nữ có trình độ cao chủ yếu ở bậc cao đẳng chiếm 66,2% còn ởbậc đại học chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Chất lượng nguồn lao động trực tiếp sảnxuất nông nghiệp còn thấp so với yêu cầu phát triển của nền nông nghiệphàng hoá Tỷ lệ lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp ởtỉnh ta chiếm 82,8% trong tổng số lao động nhưng ở khu vực này lực lượngcán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học trở lên trực tiếp tham gia chỉ đạosản xuất, hướng dẫn cho nông dân còn rất mỏng chỉ chiếm tỷ lệ 0,8% laođộng nông nghiệp và chiếm 4,3% số cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh Số lao

Trang 31

động được qua đào tạo ít, chủ yếu là lao động giản đơn Các chủ trang trại cònhạn chế về trình độ quản lý và kỹ thuật nông nghiệp, hầu hết chưa được đàotạo trung cấp mà chủ yếu học tập thông qua thực tiễn và hệ thống khuyếnnông nên kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, khả năng tiếp cận và sử lý thôngtin thị trường còn non yếu Đội ngũ cán bộ Hợp tác xã dịch vụ trình độ cònnhiều hạn chế, chủ nhiệm Hợp tác xã qua đào tạo trung cấp trở lên mới đạt3,7%, trưởng ban kiểm soát mới đạt 12% qua đào tạo kế toán trưởng qua đàotạo từ trung cấp trở lên mới đạt 42% Nhìn chung chất lượng nguồn lao độngnói chung và nguồn lao động nông nghiệp nói riêng của tỉnh Hải Dương cònnhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc Công nghiệp hóa,hiện đại hóa và quá trình xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh Điều này đòihỏi các cấp, các ngành có liên quan phải có những giải pháp cụ thể nhằmnâng cao chất lượng lao động trên mọi mặt.

2.2.3 Phẩm chất đạo đức và tinh thần của người lao động

Xem xét đến vấn đề chất lượng nguồn lao động chúng ta không thểkhông kể đến đạo đức, tư tưởng văn hóa, tâm lý tính cách, tư tưởng sản xuất,lối sống của con người Nó thúc đẩy tính tích cực và làm gia tăng hiệu quảhoạt động sản xuất của người lao động Không thể phủ nhận những đức tínhtốt đẹp, truyền thống của người Hải Dương nói riêng và của người Việt Namnói chung từ xưa đến nay Nhưng trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đạihóa hiện nay thì người lao động lại bộc lộ nhiều mặt yếu kém trong phẩm chấtđạo đức và lối sống Do cuộc sống vẫn gắn liền với nền sản xuất truyền thống,sản xuất nhỏ là phổ biến đã hình thành nên tư tưởng sản xuất tự cung tự cấp,lối sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán trong người lao động đặc biệt là laođộng trong nông nghiệp nông thôn Cũng từ nền sản xuất nhỏ đó mà ngườilao động cũng mang trong mình tâm lý nhỏ nhen, ghen ghét, đố kỵ nhữngngười vượt trội hơn mình, ích kỷ hẹp hòi không muốn người khác hơn mình,

Trang 32

tầm nhìn thiển cận, chỉ thấy lợi ích trước mắt cục bộ mà quên mất lợi ích lâudài, toàn cục, thói quen tản mạn, tự do tuỳ tiện Tất cả những điều đó đã kìmhãm sự phát triển của người lao động, gây khó khăn trong hợp tác, liên kếtvới nhau không chỉ trong sản xuất kinh doanh mà cả trong lĩnh vực hoạt độngnghiên cứu khoa học Cũng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp truyềnthống mang nặng tính tự cung tự cấp, sản xuất nông nghiệp theo lối tiểu nôngthêm vào đó cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, quan hệ hiện vật tồn tại trongthời gian khá dài ở nước ta nên đã hình thành ở người lao động một tập tínhkhông quen hạch toán kinh tế, ngại trao đổi buôn bán, hình thành trong ngườilao động hàng loạt những thói quen không thích hợp với điều kiện ngày nay.

Đó là tác phong tuỳ tiện, thiếu tính kỷ luật, là tâm lý ăn xổi ở thì, làm ăn chộpgiật, manh mún, chưa tính đến việc làm ăn lâu bền để tiến tới làm ăn lớn,không kiên trì theo đuổi một loại hình sản xuất hay kinh doanh nào đó mà chỉ

là thấy chỗ nào có lời thì nhảy vào kinh doanh để rồi lại dễ dàng bỏ cuộc làmxáo trộn thị trường đầu ra và đầu vào Đây là những hiện tượng nan giải kháphổ biến trong sản xuất và kinh doanh ở nước ta, nhất là trong sản xuất nôngnghiệp thì những hiện tượng này càng được bộc lộ rõ ràng

Con người Hải Dương cũng không nằm ngoài những đặc điểm vốn cócủa nó Người lao động Hải Dương tuy cần cù, sáng tạo trong sản xuất nôngnghiệp nhưng không phải là không có những lối sống, tư tưởng của một nềnsản xuất nhỏ truyền thống làm kìm hãm sự phát triển con người và xã hội HảiDương đã trở thành một thành phố phát triển với nhiều nhà máy và khu côngnghiệp nhưng đâu đó vẫn còn những con người sống dưới mái nhà tranh,trong cảnh ăn bữa nay lo bữa mai, những con người chỉ đâu đánh đấy, bảo thìlàm không bảo thì thôi không tự mình tìm được việc làm; đâu đó vẫn cónhững con người không chịu thay đổi lối sản xuất cũ Nhìn chung Hải Dươngđược đánh giá là tỉnh co số dân không nhỏ nhưng chất lượng cuộc sống thấp;

Trang 33

lực lượng nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng nguồn lao động lại rấthạn chế nhất là về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thểlực và văn hóa lao động công nghiệp, đặc biệt là tư tưởng và tâm lý của ngườisản xuất nhỏ vẫn còn tồn tại phổ biến ở người lao động Thêm vào đó việckhai thác và sử dụng số lao động đã qua đào tạo lại rất bất hợp lý và kém hiệuquả, đồng thời lại có sự mất mát cân đối lớn về cơ cấu lao động giữa cácngành trong tỉnh Như vậy lực lượng lao động của tỉnh chưa đáp ứng đượcyêu cầu mà quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi Nhưng sẽ làkhông thể nếu cho rằng phải xây dựng xong nguồn lực con người với mọi tiêuchí cần thiết rồi mới tiến hành công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóa ởHải Dương Bởi vì trong điều kiện hiện nay, sự phát triển của kinh tế xã hộitrong tỉnh không thể có được nguồn lực con người như chúng ta mong muốn(con người không thoát ly được khỏi môi trường, điều kiện lịch sử mà họđang tồn tại) Vấn đề đặt ra ở đây là trong quá trình xây dựng và phát triểnnguồn lực con người phải bám sát vào yêu cầu của công cuộc Công nghiệphóa - hiện đại hóa Điều này đòi hỏi phải cải thiện môi trường sống, môitrường kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tiến hànhhàng loạt giải pháp thích ứng đồng bộ hướng vào việc nâng cao chất lượngnguồn lao động đặc biệt là lao động nông nghiệp nhằm phục vụ cho quá trìnhCông nghiệp hóa - hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hải Dương.

2.3 Tình hình sử dụng lao động nông nghiệp của tỉnh Hải Dương

Theo dự báo dân số của tỉnh thì đến năm 2010 dân số của tỉnh cókhoảng 1.780.000 người, số người trong độ tuổi lao động sẽ là 1.126.740người, số lao động thiếu việc làm và chưa có việc làm dự tính đến năm 2010vào khoảng 268.000 người Nguyên nhân chính là do số lao động có trình độ

Trang 34

không nhiều, trong khi đó số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuậtlại không đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình Công nghiệp hóa - hiệnđại hóa của tỉnh Hải Dương Chính điều này đòi hỏi các cấp, các ngành phải

có những giải pháp cụ thể và thiết thực nhằm nâng cao chất lượng nguồn laođộng và giải quyết việc làm cho lao động dôi dư

Theo định nghĩa của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thì ngườiđược coi là thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạtđộng kinh tế hiện tại đang đi tìm việc làm hay không đi tìm việc làm dokhông biết tìm việc ở đâu và những người trong tuần lễ trước thời điểm điềutra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, có mong muốn và sẵn sàng làm thêmgiờ nhưng không tìm được việc Trước yêu cầu của Công nghiệp hóa - hiệnđại hóa thì số lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm trong khi sản xuấtnông nghiệp lại đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao độngngày càng tăng Từ năm 2000 - 2005 lực lượng lao động trong nông, lâm,thuỷ sản đã giảm từ 82,4% xuống còn 71,7% Cùng với việc áp dụng khoahọc kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp làm cho năng suất lao động xãhội ngày càng tăng (trong nông, lâm nghiệp tăng từ 2,8 triệu đồng/người năm

2000 lên đến 5,1 triệu đồng/người năm 2005, trong thuỷ sản tăng từ 24,9 triệuđồng/người năm 2000 lên đến 34,4 triệu đồng/ người năm 2005) và xu hướngbão hoà của một số sản phẩm nông nghiệp sẽ dẫn đến cầu về lao động nôngnghiệp suy giảm với tốc độ nhanh hơn Điều này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị

kỹ càng hơn trong vấn đề giải quyết việc làm cho lao động thất nghiệp trongnông nghiệp

Giai đoạn 2001 - 2005 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 123.823 laođộng (đạt 125% so với kế hoạch đề ra) Số lao động được thu hút vào các lĩnhvực: Công nghiệp - xây dựng là 55.769 lao động, nông - lâm - ngư nghiệp là27.416 lao động, xuất khẩu lao động là 20.328 lao động, dịch vụ và các hoạt

Trang 35

động khác là 20.310 lao động Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2001 là 6,2%đến năm 2005 còn 5,5%; thời gian sử dụng lao động trong nông nghiệp năm

2001 là 77,92% và đến năm 2005 con số này tăng lên 79% Riêng năm 2006theo số liệu thống kê của Sở Lao động - Thương binh và xã hội thì toàn tỉnh

đã giải quyết việc làm và tạo chỗ làm mới cho 30.970 lao động (vượt 3% sovới kế hoạch) Trong đó hơn 21 nghìn lao động vào làm việc tại các khu côngnghiệp và xây dựng, 31 nghìn người đi xuất khẩu lao động Bên cạnh đó toàntỉnh còn tổ chức day nghề cho 23 nghìn người (vượt 9,5% kế hoạch) Quađiều tra thực trạng lao động việc làm cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở khu vựcthành thị giảm từ 5,5% năm 2005 xuống còn 5,2% năm 2006 Có được điềunày là do các ban, ngành chức năng và các địa phương đã tập trung thực hiệntốt Chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 nổi bật là 2 đề án

"giải quyết việc làm cho lao động nông thôn" và "Phát triển nâng cao chấtlượng các cơ sở dạy nghề gắn với việc giải quyết việc làm cho lao động trongcác khu công nghiêp, cụm công nghiệp"

Bảng 2.5: Năng suất lao động xã hội của một số ngành kinh tế trong tỉnh Hải Dương

Đơn vị: Triệu đồng/người

Sản xuất và PP điện nước 199,7 294,0 330,1 260,6 299,7

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2005

Tình hình sử dụng lao động nông nghiệp không chỉ kể đến tình trạngthất nghiệp và thiếu việc làm của lao động nông nghiệp, nông thôn mà còn kểđến năng suất lao động nông nghiệp tính theo đơn vị tiền tệ Qua bảng số liệu

Ngày đăng: 19/06/2023, 11:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Thu nhập bình quân đầu người một tháng - Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx
Bảng 2.4 Thu nhập bình quân đầu người một tháng (Trang 27)
Bảng 2.6: Số xã, phường, thị trấn, có trường Trung học cơ sở kiên cố - Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx
Bảng 2.6 Số xã, phường, thị trấn, có trường Trung học cơ sở kiên cố (Trang 37)
Bảng 2.6: Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tại tỉnh Hải Dương - Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx
Bảng 2.6 Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tại tỉnh Hải Dương (Trang 38)
Bảng 2.8: Số cơ sở y tế do Nhà nước quản lý trong toàn tỉnh - Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx
Bảng 2.8 Số cơ sở y tế do Nhà nước quản lý trong toàn tỉnh (Trang 41)
Bảng 2.10: Cán bộ y tế do Nhà nước quản lý trong toàn tỉnh - Thu Thập Số Liệu Từ Phòng Chính Sách Và Thị Trường Thuộc Sở Nông Nghiệp & Ptnt Tỉnh Hải Dương.docx
Bảng 2.10 Cán bộ y tế do Nhà nước quản lý trong toàn tỉnh (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w