LỜI MỞ ĐẦU 1 LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một nền sản xuất hàng hoá Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới, nhưng đồng thời cũng chứa đựng n[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở mộtnền sản xuất hàng hoá Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới,nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe doạ cho các doanhnghiệp Để có thể đứng vững trước qui luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chếthị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải vận động, tìm tòi một hướng đicho phù hợp Việc đứng vững này chỉ có thể khẳng định bằng cách hoạt độngkinh doanh có hiệu quả
Những vấn đề thường xuyên đặt ra cho mỗi doanh nghiệp trong hoàncảnh hiện nay là: Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Những nhu cầu của họ
là gì? Khả năng của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu của họ haykhông? Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm tới khách hàng và nhu cầu của
họ vì mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, khách hàng là yếu tố giúpdoanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra thì doanh nghiệp phải tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả ở mức cao nhất.Chính vì vậy, đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề đặt ra hếtsức cần thiết cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và ở Công
ty TNHH XNK vật tư ngành in nói riêng Trước hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty và sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị XuânHương, cũng như sự giúp đỡ của các cô chú cán bộ Công ty TNHH XNK vật
tư ngành in, em đã chọn đề tài: " Biện pháp phát triển kinh doanh ở công ty
Trang 2Báo cáo tốt nghiệp được chia làm 3 phần :
Chương 1: Tổng quan về ngành in và công ty TNHH xuất nhập khẩu vật tưngành in
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty TNHH xuất nhậpkhẩu vật tư ngành in
Chương 3: Một số biện pháp phát triển kinh doanh của công ty TNHH xuấtnhập khẩu vật tư ngành in
Mặc dù đã cố gắng hết mình nhưng với khả năng và kiến thức còn hạnhẹp Bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp
ý từ thấy cô
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3Chương 1: Tổng quan về ngành in và công ty TNHH xuất nhập khẩu vật
tư ngành in
1.1.Lịch sử ngành in thế giới.
Ngày nay,trong thời hiện đại này,bất cứ nơi đâu chúng ta cũng dễ dàng bắtgặp sản phẩm của ngành in.Đó là sách, báo, bao bì, pano, áp phích,…Có thểnói ngành in đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của nhân loại,nó giúp lưutrữ thông tin( đó là sách báo), thông báo thông tin(đó là bao bì, pano, ápphích ) sự xuất hiện của ngành in đã giúp cho việc truyền đạt thông tin, phổbiến tri thức được dễ dàng, thuận tiện và nhanh chóng hơn Sự ra đời và pháttriển của ngành không phải là một sớm một chiều mà là cả một quá trình.vậy,sau đây là quá trình phát triển của ngành in
In ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy,bìa các tông, ni lông bằng một chất liệu khác gọi là mực in In ấn thường đượcthực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọngtrong xuất bản
Lịch sử in ấn bắt đầu xuất hiện và phát triển đầu tiên ở Trung Quốc Kĩthuật in khối dùng gỗ sơ khai đã bắt đầu phổ biến ở thế kỉ thứ 6 Sách cổ nhấtđược in còn tới ngày nay sử dụng kĩ thuật in khối tinh vi có từ năm 868 SCN(kinh Kim Cương) Đến thế kỉ thứ 12 và 13, các thư viện ở Ả Rập và Trung
Quốc đã có tới hàng chục nghìn bản sách
Sự phát triển của in ấn là một bước đột phá trong phổ biến tri thức: nhà in
đã được dựng lên ở Venice năm 1469 và tới năm 1500 thành phố này đã cótới 417 thợ in Năm 1470, Johann Heynlin lập nhà in ở Paris Năm 1476, nhà
in được lập ở Anh quốc bởi William Caxton; năm 1539, một người Ý tên làJuan Pablos đã lắp đặt một nhà in được nhập về ở Thành phố Mexico,
Trang 4Massachusetts năm 1628, và là người góp phần lập nên nhà xuất bảnCambridge.
Nhắc đến ngành in ở phương tây thì người ta thường nhắc tới JohannesGutenberg (#1400 - 1468) Gutenberg là nhà ấn loát Ðức Ðược Âu châu côngnhận là người sáng chế ra ngành in bằng chữ di động Sinh tại Mayencekhoảng 1394-1400 Gutenberg sống tại Strasbourg năm 1928, ông nghiên cứumột cách bí mật sự chế tạo những chữ di động hoàn hảo hơn, bằng kim loạithay vì bằng gỗ Tên ông được nêu lên đầu tiên tại Strasbourg năm 1434 Theo thời gian, công nghệ - kỹ thuật in ngày càng phát triển theo hướng hiện đại hóa để đáp ứng các nhu cầu in ngày càng cao và đa dạng Đến nay vềmặt công nghệ in, đã phân ra những công nghệ chủ chốt như sau:
- Công nghệ in phẳng (Do khuôn in có đặc tính là : phần tử in (bám mực) và phần tử không in (không bám mực) cùng nằm trên một mặt phẳng) Điển hìnhcủa công nghệ in phẳng là công nghệ in offset, chủ yếu in sản phẩm trên vật liệu giấy
- Công nghệ in lõm (Phần tử in lõm xuống so với phần tử không in trên khuônin) Điển hình là công nghệ in ống đồng, với khuôn in là các ống đồng Trên ống, các phần tử in mang mực được khắc lõm xuống Công nghệ in ống đồng chủ yếu dùng in trên màng làm bao bì
- Công nghệ in cao (Phần tử in nằm cao hơn phần tử không in trên khuôn in) Thuộc về công nghệ này có in flexo, in typo, in tampong
- Công nghệ in lưới: Khuôn in là lưới lụa Có thể in trên giấy và nhiều loại vậtliệu có độ dày, hình dạng phức tạp
- Công nghệ in kỹ thuật số: Dữ liệu in là dữ liệu kỹ thuật số được truyền thẳng
từ computer đến máy in Ứng dụng của in kỹ thuật số rất đa dạng như in tài liệu có dữ liệu biến đổi, in tài liệu có số lượng cực ngắn, in trên bạt khổ rộng
và dài v.v Đó là các ứng dụng thế mạnh của công nghệ in kỹ thuật số so với
Trang 5các các công nghệ in khác (phải dùng khuôn in và bị giới hạn bởi khuôn khổ vật liệu in đưa vào máy).
Sự phát triển của ngành in gắn liền với sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện đại như công nghiệp luyện kim, cơ khí, điện, điện tử, tự động hóa, tin học, giấy, hóa chất v.v Cùng với sự phát triển chung của thế giới, ngành in ngày nay đã trở thành ngành công nghiệp lớn, ngành kinh tế quan trọng, đóng góp tỷ lệ đáng kể trong GDP của các quốc gia phát triển và đông đảo quốc gia đang phát triển trên thế giới
1.2.Tổng quan ngành in Việt Nam.
1.2.1.Lịch Sử ngành in Việt Nam.
Ngành in Việt Nam được khởi nguồn từ nghề thủ công rất thô sơ - nghề
in khắc gỗ ra đời ở kinh thành Thăng Long thời Lý và gắn liền với tên tuổi của nhà sư Tín Học Những ấn phẩm hồi đó chỉ là các sách kinh thuật lưu hành trong phạm vi chùa chiền, sau này đến đời Trần được sử dụng rộng rãi hơn nhưng cũng chỉ trong phạm vi triều đình và chùa chiền
Đến thời Lê, có ông quan Thị Lang Bộ Lễ kiêm bí thư giám sát Học sĩ Lương Như Học đã hai lần đến Trung Quốc: 1443 - 1449 đã nghiên cứu thêm
về kĩ thuật in bản khắc gỗ Khi về nước ông dạy nghề cho dân làng mình là làng Hồng Liễu - Liễu Tràng thuộc huyện Gia Lộc - Hải Dương Hiện nay còn lại một ấn phẩm của ông được coi là sớm nhất đó là tập thơ “Tinh tuyển chữ gia luật thi” Ông được tôn thờ là ông tổ của nghề in bản khắc ở Việt Nam
Cuối thế kỷ 19 phương pháp in Typô du nhập vào nước ta từ Sài Gòn Năm 1865 Pháp chính thức mở nhà in tại Nam bộ Sang đầu thế kỷ 20, mở rộng ra cả miền Bắc đặc biệt là Hà nội Năm 1905, Pháp mở nhà in Viễn
Trang 6Đông IDEO, thời điểm này đã có cả nhà in của người Việt, ngành in Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển qua các cuộc kháng chiến của dân tộc Trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp các cơ sở in chủ yếu
sử dụng phương pháp in Litho, Typô và in giấy sáp để in các truyền đơn, văn kiện Đảng, tài liệu cách mạng Năm 1930 Dảng Cộng Sản Việt Nam thành lập, công tác in có nơi do thực dân Pháp và phong kiến cai quản, có nơi do Đảng Cộng Sản lãnh đạo Đến thời kỳ 1936 - 1939 Đảng đã xây dựng các nhà
in nhỏ phục vụ công tác cho tuyên truyền cách mạng
Trải qua hai cuộc kháng chiến thần kì của dân tộc, ngành in Việt Nam không ngừng lớn mạnh và đã góp phần không nhỏ trong quá trình giành lại độc lập
tự do cho dân tộc Đất nước thống nhất, cùng cả nước đi lên theo con đường của Đảng lãnh đạo, ngành in Việt Nam đã đổi mới, áp dụng kĩ thuật hiện đại, tạo ra sản phẩm đa dạng, có năng suất - chất lượng cao, trở thành một ngành công nghiệp quan trọng, thu hút đông đảo lao động, đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước và cho xã hội
Cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành in Việt Nam hiện nay là Cục Xuất bản thuộc Bộ Thông tin – Truyền thông Từ năm 2006, Hiệp hội in Việt Nam đã được thành lập Các tỉnh thành lớn đã thành lập Hội in địaphương Về đào tạo nhân lực ngành in ở bậc kỹ sư có Bộ môn Công nghệ in thuộc khoa Hóa Đại học Bách khoa Hà Nội, khoa Kỹ thuật in của Đại học Kỹ thuật Thủ Đức TP HCM; cấp cao đẳng có Trường cao đẳng Công nghiệp in Cầu Diễn Hà Nội; đào tạo bậc trung cấp và công nhân nghề in có một số trường công nhân kỹ thuật in thuộc Công ty In Trần Phú, Công ty in Liksin vàmột số trung tâm đào tạo nghề Ngoài việc đáp ứng các yêu cầu in trong nước,ngành in Việt Nam đang từng bước hội nhập quốc tế Các hoạt động quan hệ đối ngoại, giao thương, tham dự hội thảo, triển lãm, hội chợ quốc tế, đầu tư cóyếu tố nước ngoài, in gia công cho nước ngoài v.v ngày càng được tăng
Trang 7cường, kim ngạch xuất nhập khẩu sản phẩm ngành in ngày càng tăng, chiếm
tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng doanh thu của ngành
1.2.2.Qui mô ngành in Việt Nam.
Theo Hiệp hội in Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng 1.300 cơ sở in, hoạt động theo các mô hình: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, cơ sở in nội
bộ, cơ sở in phụ thuộc, doanh nghiệp in tư nhân và doanh nghiệp in có vốn nước ngoài; trong đó tỷ lệ doanh nghiệp in tư nhân và doanh nghiệp in có vốnnước ngoài chiếm gần 60% tổng số các cơ sở in Các doanh nghiệp nhà nước đang hoàn thiện quá trình chuyển đổi mô hình để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005 Xu hướng chung là các cơ sở in đang tiến hành cổ phần hoá để huy động thêm nguồn lực mở rộng sản xuất, kinh doanh Sản lượng in xuất bản phẩm tăng bình quân hơn 10% năm Nhiều cơ sở in được đầu tư thiết bị hiện đại, áp dụng công nghệ in tiên tiến, một số cơ sở đã tham gia in gia côngcho nước ngoài Nhân lực ngành in đạt khoảng 55.000 người
Về thông tin phát triển ngành, báo cáo tổng kết hoạt động in 2005 tại hội nghịngành in toàn quốc đã nêu rõ:
Mục tiêu tổng quát của ngành in của Việt Nam là: Xây dựng ngành in Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, đạt trình độ của khu vực Đông nam Á, đưa năng lực ngành lên đáp ứng mọi nhu cầu in của đất nước, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để cạnh tranh và in gia công xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thế giới
Những mục tiêu cụ thể:
• Nâng cao năng lực sản xuất toàn ngành, đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10% về sản lượng in Phấn đấu đến năm 2010 đạt 785 tỷ trang
in 13x19 (cm)
Trang 8• Tiếp tục hiện đại hoá ngành in đi đôi với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật Phấn đấu đạt mức tăng năng suất lao động bình quân tăng 10 - 12% năm
• Trên cơ sở nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất của toàn ngành, phấn đấutăng thu nhập của người lao động bình quân hàng năm 5 - 10 %
Định hướng phát triển ngành in trong những năm tới về cơ bản là hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và hiện đại hoá ba trung tâm in lớn là: Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Hiện đại hoá ở cả ba công đoạn trước in, in, gia công sau in và ở cả ba phương pháp chính là in offset, in flexo và in ống đồng
Nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, coi đây là nhiệm vụtrọng tâm của thời gian 5 năm tới Tập trung xây dựng chiến lược sản phẩm riêng của từng cơ sở in và của cả nước, trong đó chú trọng mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới
Định hướng trên đây trước hết tập trung chỉ đạo thực hiện tại 3 trung tâm
in ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các trọng điểm in theo qui hoạchphân vùng kinh tế; nâng cấp và đồng bộ hoá các cơ sở in địa phương, đáp ứngnhu cầu của xã hội các loại ấn phẩm từ sách báo đến bao bì, nhãn hàng vớichất lượng cao giá cả hợp lý, nhanh chóng và thuận tiện Xây dựng một số tậpđoàn in đủ mạnh để làm hạt nhân định hướng và thúc đẩy cho toàn ngành,vươn ra in gia công xuất khẩu
Cơ cấu sản phẩm in trên giấy trong 5 năm 2006-2010 có thể biến độngnhư sau:
Trang 91.2.3 Nhu cầu vật tư ngành in
Tìm hiểu quy mô ngành in Việt Nam và sự tăng trưởng của ngành,chúng ta biết rằng nhu cầu cung cấp vật tư ngành in là rất lớn
Danh mục các vật tư ngành in rất đa dạng Từ vật tư cho khâu chế bảnnhư phim, bản in, hóa chất v.v., đến vật tư cho máy in như giấy, mực, dungdịch làm ẩm v.v., rồi vật tư cho ngành gia công sau in Các phụ tùng tiêu haotheo thời gian của các thiết bị ngành in (như tấm cao su, tấm lót ống, nẹp bản,
lô mực v.v.) cũng thuộc về danh mục vật tư của ngành Chiếm tỷ trọng lớntrong vật tư ngành in là giấy, lớn đến mức đã hình thành nên ngành sản xuất
và kinh doanh giấy có quy mô rất lớn, trở thành một ngành công nghiệp quantrọng sánh đôi với ngành in, có sức hút đầu tư lớn
Theo số liệu từ Hiệp hội Giấy Việt Nam, 20 năm qua, sản lượng bột giấytẩy trắng của Việt Nam chỉ tăng từ 70.000 tấn/năm lên 80.000 tấn/năm Vàothời điểm năm 1975 sản lượng giấy của Việt Nam và Indonesia tương đương
Trang 10nhau, khoảng 46.000 tấn/năm, nhưng đến năm 2005 thì sản lượng giấy củaIndonesia là 7.800.000 tấn, còn Việt Nam là 824.000 tấn.
Không những thế, chủng loại giấy sản xuất trong nước vẫn rất nghèonàn, chỉ có giấy in báo, giấy in và viết, giấy bao gói (không tráng), giấy lụa
Dù đã đầu tư tới 112.000 tấn/năm cho sản xuất giấy tráng, nhưng đến nay hầunhư chỉ sản xuất giấy không tráng
Do không được đầu tư đúng mức, đến nay sản xuất bột giấy hiện mớiđáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại 63% vẫn phải nhập khẩu Trước đây chỉnhập bột tẩy trắng, nay bột giấy không tẩy trắng ngày càng nhập nhiều vì các
cơ sở phải ngừng sản xuất do không có khả năng xử lý nước thải và quy mônhỏ, công nghệ lạc hậu Khả năng đáp ứng tiêu dùng trong nước của toànngành giấy là 61,92%, trong đó giấy in báo đáp ứng 68,42%, giấy in và viết89,29%, giấy bao bì (không tráng) 71,50%, giấy tráng 5,75% và giấy lụa96,97%
Tuy chi phí về lao động rẻ, nhưng năng suất lao động trong ngành giấyrất thấp Một lao động trong ngành giấy của Nhật Bản một năm sản xuất gần
806 tấn giấy thì của Việt Nam chỉ đạt 140 tấn Trình độ công nghệ của ngànhgiấy Việt Nam hiện đang ở mức dưới trung bình của thế giới, nên chất lượngchỉ ở mức trung bình thấp Quản lý ở cơ sở lớn vẫn mang dáng dấp kế hoạchhóa, cơ sở nhỏ mang tính chất gia đình Hơn nữa do lệ thuộc vào bột nhậpkhẩu nên sức cạnh tranh yếu
Dây chuyền bột giấy lớn nhất nước ta hiện chỉ đạt 61.000tấn/năm, trongkhi ở đảo Hải Nam (Trung Quốc) là 1.000.000 tấn/năm Máy seo lớn nhất của
ta có công suất 50.000 tấn/năm, chiều rộng lưới là 4,15m, tốc độ600-700m/phút thì tại Trung Quốc là 800.000 tấn /năm, chiều rộng là 10,4m
và tốc độ 2.000m/phút
Trang 11Ông Chavelit Ekabut - Chủ tịch Tập đoàn sản xuất giấy SCG Thái Lan,nhà đầu tư vào ngành công nghiệp giấy Việt Nam vào thời điểm tháng10/2007 đã nhận định:
“Hiện nay, Việt Nam sản xuất khoảng 900 nghìn tấn giấy mỗi năm, vànhập khẩu khoảng 700 nghìn tấn Tốc độ tăng trưởng 15-20% về nhu cầu tiêuthụ giấy sẽ tiếp tục được duy trì’’
Theo số liệu thống kê của Chính phủ, kim ngạch nhập khẩu giấy 9 thángđầu năm 2009 đạt tới 550 triệu USD tương ứng 750 nghìn tấn, trong đó kimngạch của các doanh nghiệp vốn FDI đạt 178 triệu USD tương ứng với 272ngàn tấn
Với lĩnh vực in offset là lĩnh vực in phổ biến (so với lĩnh vực in lõm và
in cao) dùng cho đại đa số các ấn phẩm ở Việt Nam, ngoài vật tư trọng yếu làgiấy, thì các vật tư quan trọng khác là mực in, bản in (dùng chế khuôn in,thường gọi là bản kẽm) Số lượng mực in offset các màu tiêu thụ hàng nămlên đến 60 – 70.000 tấn Nhu cầu bản in tiêu thụ đến 700 – 800.000 m2 hàngnăm Về sản xuất trong nước, hiện nay mới có một hai nhà máy sản xuất mực
in đạt tiêu chuẩn quốc tế, công suất vài ngàn tấn/năm; một nhà máy sản xuấtbản kẽm PS, một nhà máy sản xuất bản kẽm CTP, đáp ứng một phần nhỏ nhucầu trong nước Phần lớn các vật tư này là nhập khẩu từ nước ngoài, phânphối qua hệ thống các đại lý, các công ty thương mại trong nước hoặc liêndoanh
Các thông tin về nhu cầu thị trường vật tư ngành in trong nước cho thấyquy mô thị trường là lớn và tốc độ tăng trưởng tương đối cao Xu hướng thịtrường về cơ bản vẫn tăng trưởng khả quan, dù ngành in báo chí có bị ảnhhưởng do tác động của internet, nhưng bù lại các phân khúc in xuất bản phẩm
Trang 12phẩm (văn bằng, chứng chỉ, hộ chiếu, chứng khoán, hóa đơn, tem nhãn, biểumẫu v.v.) vẫn phát triển mạnh, chưa kể phân khúc in kỹ thuật số với lợi thế
“in dữ liệu biến đổi” và “in theo mọi yêu cầu” đang hình thành và phát triểnmạnh Mặt khác, nhu cầu in gia công cho nước ngoài cũng tăng trưởng mạnh
1.3.Công ty TNHH XNK vật tư ngành in.
1.3.1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Công ty TNHH xuất nhập khẩu vật tư ngành in có trụ sở chính tại60/100 phố Đội Cấn - Phường Đội Cấn - Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội,
có tên giao dịch Quốc tế là Printing Materials Import – Export CompanyLimited Gọi tắt là IPM Vietnam Co., LTD
Công ty được thành lập vào năm 2003, giấy phép đăng ký kinh doanh số
0102008576 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 02 tháng
05 năm 2003
Công ty được thành lập với số vốn điều lệ là 3.000.000 VND
Người đại diện theo pháp luật của công ty là: Giám đốc Nguyễn ThịQuỳnh Châu
Các ngành nghề đăng ký kinh doanh chính của công ty là:
- Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là thiết bị và vật
tư ngành in, ngành công nghiệp, hàng thiết bị điện, điện tử)
- Dịch vụ chuyển giao công nghệ (chủ yếu trong lĩnh vực ngành giấy,ngành in)
- In và các dịch vụ liên quan đến in (theo quy định của pháp luật hiệnhành)
- Gia công, chế biến các sản phẩm từ giấy
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
Trang 13- Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
Trong đó, Công ty tập trung vào các lĩnh vực chính là:
- Về thương mại – dịch vụ: Buôn bán thiết bị và vật tư ngành in; Dịch
vụ chuyển giao công nghệ ngành giấy, ngành in; Các dịch vụ liênquan đến in; Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh
- Về sản xuất: Gia công, chế biến các sản phẩm từ giấy và tờ in
Các đối tác chiến lược của Công ty là:
- Công ty IPMM Singapore Pte Ltd, chuyên kinh doanh thiết bị ngành
in và mực in
- Công ty April Fine Paper Trading Sdn Bhd, thành viên của tập đoànApril Group, chuyên kinh doanh giấy, đặc biệt là giấy chất lượng caothương hiệu PaperOne
Theo thời gian, hoạt động của Công ty chịu sự điều chỉnh của Luậtdoanh nghiệp 1999 và sau này là Luật Doanh nghiệp 2005 Trải qua 7 nămhoạt động, Công ty đã xây dựng được hệ thống đại lý phân phối giấyPaperOne và giấy in khác trong thị trường từ miền Bắc đến miền Trung; phânphối mực in nhãn hiệu Flint cho nhiều cơ sở in lớn tại Hà Nội và các tỉnh phíaBắc; về sản xuất đã xây dựng được xưởng sản xuất gia công các sản phẩm từgiấy và tờ in cùng với hệ thống kho tàng hàng nghìn m2 Doanh thu đạt 50-60
tỷ đồng/năm, trong đó hơn 10% là doanh thu buôn bán thiết bị ngành in,khoảng 20% là doanh thu sản xuất, còn lại là doanh thu kinh doanh vật tưngành in và dịch vụ
Trang 14
1.3.2 Về tình hình tổ chức lao động
Lao động là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, đảm bảo đủ
số lượng, chất lượng lao động là điều kiện cần thiết để kết quả của quá trìnhsản xuất kinh doanh được tốt
Hiện nay tổng số nhân viên của công ty gồm 44 người Trong số đónhân viên văn phòng (nhân viên kinh doanh, kế toán, quản lý ) là 18 người sốnhân viên làm việc ỏ phân xưởng là 26 người
Do tính chất đặc thù của nhiệm vụ chức năng hoạt động của công tynên công ty phải đảm nhiệm đội ngũ lao động có trên 40% tốt nghiệp đại họctrở lên Cơ cấu lao động của công ty được thể hiện như sau:
- Lao động nam chiếm 34,6%
Trang 15Bảng 1: Tình hình biến động vốn của Công ty giai đoạn 2001- 2003
-10.770,01
53.144,5857.625,430
10.975.51
03.172,7907.802,720
11.215,12
53.194,9058.020,220Nhìn vào biểu ta thấy, tổng số vốn của công ty từ năm 2007 đến năm
2009 tăng thêm 445,110 triệu đồng là do vốn cố định tăng 50,320 triệu và vốnlưu động tăng thêm 394,790 triệu đồng
1.3.4.Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH XNK vật tư ngành in.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chứcnăng, đứng đầu là Hội đồng thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất củaCông ty về những vấn đề chung của toàn Công ty:
- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của năm tàichính
- Quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm vàphương thức huy động thêm vốn
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, quyết định
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Kế toán trưởng và cán
bộ quản lý quan trọng của Công ty
- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, Hội đồng thành viên đưa raphương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗcủa Công ty…
Trang 16Chủ tịch hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty do hội đồng thànhviên bầu Giám đốc Công ty có nhiệm vụ chuẩn bị lên chương trình, kế hoạch,hoạt động của Hội đồng thành viên, giám sát việc tổ chức thực hiện các quyếtđịnh của Hội đồng thành viên Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kếhoạch đầu tư của Công ty Ban hành các quy chế quản lý nội bộ Công ty, kýkết các hợp đồng nhân danh Công ty, kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổchức Công ty, trình báo cáo tài chính hàng năm lên Hội đồng thành viên Kiếnnghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức Công ty Giám đốc Công ty có nghĩa vụthực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vìlợi ích hợp pháp của Công ty.
Cơ cấu tổ chức của Công ty phân định theo các mảng công việc chứcnăng, gồm các bộ phận chính như sau:
1) Phòng Thị trường và bán hàng chịu trách nhiệm tiêu thụ hàng do
Công ty sản xuất (chủ yếu là phong bì và giấy photocopy) và hàng nhập khẩu(chủ yếu là giấy và mực in) Nghiên cứu thị trường và nắm bắt các thông tintrên thị trường để có căn cứ đề ra các chiến lược kinh doanh ngắn hạn và dàihạn Có trách nhiệm tìm hiểu và mở rộng thị trường Đề xuất các phương án
hỗ trợ kinh doanh để công việc đạt hiệu quả Xây dựng chiến lược sản xuấtkinh doanh, chiến lược cạnh tranh, chiến lược giá cả, chính sách khuyến mại,
hỗ trợ bán hàng Xây dựng chương trình Marketing cụ thể Kiểm tra giám sátthị trường trên các phương diện giá cả, chấp hành bán hàng và các chính sáchbán hàng của các nhà phân phối, tình hình cạnh tranh Khai thác các đơn hàng
từ các khách hàng truyền thống của Công ty đồng thời mở rộng thị trường rabên ngoài để sản phẩm của Công ty có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.Tham mưu cho Giám đốc và chịu trách nhiệm về công tác tiêu thụ sản phẩm
Trang 17Lựa chọn và theo dõi hoạt động của các nhà phân phối, lập kế hoạch tiêu thụhàng tháng, quý, thực hiện ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
2) Phòng xuất nhập khẩu có chức năng theo dõi các hoạt động xuất
nhập khẩu uỷ thác, đại lý tiêu thụ hàng hoá (chủ yếu là giấy và bột giấy) chocác đối tác nước ngoài Làm cầu nối giữa thị trường tiêu thụ nội địa và thịtrường nước ngoài, đưa Công ty trở thành đại lý phân phối chính thức cho cácmặt hàng giấy của nước ngoài chủ yếu là nước Singapore và Indonesia…
3) Phòng kế toán chịu trách nhiệm theo dõi, tập hợp số liệu về sản xuất
kinh doanh, tổ chức hạch toán kế toán theo quy định của Bộ tài chính và củaCông ty Tính và nộp đủ đúng quy định các khoản phải thanh toán với Ngânsách Nhà nước Xây dựng giá thành và giá bán sản phẩm mới Báo cáo tìnhhình tài chính của Công ty, theo dõi sát sao công nợ khách hàng Đảm bảoviệc quản lý tốt các kho hàng của Công ty, tránh những tổn hại về kinh tế củaCông ty Theo dõi và giúp Giám đốc hoạch định các kế hoạch tài chính củaCông ty một cách có hiệu quả
4) Bộ phận sản xuất gồm tổ kế hoạch – điều hành, nhóm kỹ thuật –
thiết bị và Xưởng sản xuất Nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức thực hiện các hoạtđộng sản xuất (sản xuất giấy photocopy, phong bì thư, lồng đút bản cước viễnthông vào phong bì) do Công ty yêu cầu Bộ phận sản xuất có trách nhiệmđảm bảo tiến độ sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm cho từng đơn hàng.Chịu trách nhiệm điều tiết việc sản xuất, kế hoạch giao nhận hàng, thiết kếcác mẫu sản phẩm mới Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất giúp Công
ty đạt hiệu quả kinh doanh cao, có uy tín trên thị trường tiêu thụ
5) Công tác nhân sự - lao động của Công ty do Giám đốc trực tiếp phụ
trách
Trang 18Khái quát bộ máy tổ chức quản lý của Công ty TNHH XNK vật tư ngành
in như sau:
Biểu I – Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý
1.3.5.Qui trình công nghệ sản xuất thành phẩm của công ty
Công ty TNHH XNK vật tư ngành in là Công ty chuyên gia công các mặthàng giấy photocopy Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công tytrải qua nhiều công đoạn kế tiếp nhau: Chuẩn bị NVL sản xuất → Rở lô giấycuộn → Cắtthành phẩm → Kiểm tra chất lượng SP → Đóng gói → Nhập kho
Đầu tiên là công đoạn nhập nguyên vật liệu chuẩn bị sản xuất Phòngsản xuất sau khi nhận được một đơn hàng sẽ giao cho bộ phận kế hoạch lên kếhoạch chuẩn bị các nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất Sau khi kế hoạchđược duyệt sẽ tiến hành nhập nguyên vật liệu chuẩn bị sản xuất
Tiếp theo là công đoạn rở lô, giấy là nguyên vật liệu chính, sau khinhập về ở dạng cuộn sẽ được rở thành từng tờ Sau khi giấy được in sẽ được
Hội đồng thành viên
Chủ tịch hội đồng thành viên – Kiêm Giám đốc
Bộ phận sản xuất Phòng thị trường
& BH Phòng Xuất nhậpkhẩu Phòng Kế toán
Trang 19xếp lên dây chuyền cắt thành thành phẩm tuỳ theo từng kích thước theo mẫu.Sau khi đã sản xuất thành thành phẩm, sản phẩm sẽ được kiểm tra lần cuốixem đã đạt chất lượng hay chưa, thành phẩm kiểm tra đủ tiêu chuẩn chấtlượng sẽ được chuyển sang đóng hộp và nhập kho.
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty được khái quát qua sơ đồsau:
Biểu 2 – Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Nhập NVL chuẩn bị sản xuất
Rở lô giấy cuộn
Nhập NVL chuẩn bị sản xuất
Cắt, dán thành phẩm
Kiểm tra chất lượng
SP (KCS)
Đóng hộp Nhập kho thành phẩm từ SX
Trang 20Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty TNHH xuất
nhập khẩu vật tư ngành in.
2.1.Đặc điểm thị trường kinh doanh của công ty TNHH XNK vật tư ngành in.
Công Ty Kinh doanh nhiều nhãn hiệu giấy của nhiều hãng khác nhau :Paperone ,Dunia mas,giấy excellent, A+ plus, IK plus , giấy PPC (Tập đoànAPRIL tại Sumatra, Indonesia ), giấy Double A ( công ty SCG Paper ,TháiLan ), giấy Tân Mai, …
Giấy Paperone, Dunia mas, giấy excellent, A+ plus, IK plus, giấy PPC làMột nhãn hiệu hàng đầu thế giới về Giấy văn phòng cao cấp hiện đang đượcbán tại 60 quốc gia trên toàn thế giới Sản phẩm được sản xuất tại nhà máyRiaupaper của Tập đoàn APRIL tại Sumatra, Indonesia với tiêu chuẩn ISO
9001 và ISO 14001 về hệ thống quản lý chất lượng và quản lý môi trường
Các nhãn hiệu này có nhiều định lượng 70gsm, 80gsm, 100gsm.Đóng
500 tờ/ram và 5ram/thùng Mặt giấy láng, mịn khả năng in tuyệt vời với độnhạy cao Đảm bảo chất lượng in tốt nhất cho các tài liệu Đây là những nhãnhiệu giấy văn phòng có chất lượng cao, thích hợp cho tất cả các loại máy in vàmáy photocopy hiện đại với hiệu quả in cao nhất
Với các nhãn hiệu này, công ty chủ yếu là nhập giấy đã cắt sẵn, đã đóngram rồi cung cấp cho các khách hàng.Vì đây là nhãn giấy văn phòng cao cấpnên giá cũng cao hơn khá nhiều so với các loại giấy khác
Với giấy của tập đoàn Tân Mai thì công ty lả một khách hàng bền vữngvới quan hệ kinh doanh trên 8 năm.Công ty thường nhập giấy cuộn của Tân
Trang 21Mai rồi về gia công, đóng gói và mang đi tiêu thụ.Công ty tập đoàn Tân Mai
là một công ty chuyên sản xuất giấy hàng đầu tại Việt Nam hiên nay.Các sảnphẩm giấy của công ty rất đa dạng, bao gồm :giấy in báo, giây in , giấy viết,giấy photocopy, giấy ram, giấy văn phòng …
Các nhà cung cấp sản phẩm chính của công ty TNHH XNK vật tưngành in đó là Tập đoàn APRIL của Indonesia và công ty tập đoàn TânMai.Nghiên cứu tình hình kinh doanh một số năm gần đây của công ty thìthấy một xu hướng rõ rệt, đó là tỉ lệ giấy của công ty nhập ngoại có xu hướnggiảm và giấy nhập của nội có xu hướng tăng Để minh chứng rõ hơn điều này
ta hãy khảo bảng sau :
Bảng 1: tình hình nhập giấy của công ty 3 năm: 2007, 2008, 2009
Đơn vị : tấn
Nguồn : Phòng kinh doanh
Nhìn vào bảng trên ta thấy tình hình nhập giấy của công ty có xu hướng
tăng dần theo các năm, năm 2007 tổng luợng giấy nhập là 1.925,6 tấn và đếnnăm 2009 là 2.775,6 tấn Trong đó cả lượng giấy nhập ngoại và nhập nội đềutăng, tuy nhiên giấy nhập nội có xu hướng tăng nhanh hơn.Vậy nguyên nhân
do đâu mà có xu hướng này? Để trả lời câu hỏi trên ta hãy đi vào tìm hiểu thịtrường giấy Việt Nam trước đây Các công ty sản xuất giấy của nước ta chủyếu là thủ công và nhỏ lẻ nên chất lượng giấy thấp chưa đáp ứng được nhucầu của người tiêu dùng nên buộc các công ty thương mại kinh doanh trong
Trang 22lĩnh vực giấy phải nhập của nước ngoài Nhưng một số năm trở lại đây, thìmột số công ty đã thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ (điển hình là Tân Mai
và Bãi Bằng ) sản xuất, đầu tư đồng bộ từ khâu sản xuất bột giấy đến khâu giacông thì chất lượng giấy đã tăng lên không thua kém các loại giấy nhập ngoại
mà giá cả lại rẻ hơn (chỉ bằng 4/5 giá nhập ngoại ) Điều này đã đáp ứng đượcnhu cầu tiêu dùng trong nước nên mới có xu hướng trên
Khách hàng của công ty cũng rất đa dạng :
Với những nhãn hiệu giấy có chất lượng cao như paperone, A+plus,Dunia mas … thì khách hàng chủ yếu là các cơ quan công quyền, các công tykinh doanh giấy, các văn phòng, các cửa hàng văn phòng phẩm,…Theo nhưtổng kết của công ty thì các tổ chức này tiêu thụ đến 70% lượng giấy chấtlượng cao của công ty Dưới đây là bảng tổng kết tình hình thiêu thụ giấy chấtlượng cao của công ty trong thời gian gần đây:
Bảng 2 : tình hình tiêu thụ giấy
Đơn vị : tấn
Nguồn : Phòng kinh doanh
Ta thấy, từ năm 2007 đến năm 2009 thì lượng giấy công ty bán ra nhìnchung là tăng mạnh (năm 2009 là 1.776,4 tấn, năm 2009 là 2.545 tấn ).Nhưngnăm 2008 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên lượng bán ra cógiảm so với năm 2007 mặc dù lượng nhập năm 2008 vẫn lớn hơn năm 2007
Trang 23Đối với giấy in báo thì khách hàng chủ yếu là các nhà in trong nội thành
Hà Nội và một số tỉnh lân cận Một số khách hàng lớn của công ty có thể kểđến : Nhà in báo Nhân Dân (năm 2009 nhập của công ty 400 tấn giấy in báo),Nhà in báo Quân Đội Năm 2009 nhập của công ty 200 tấn giấy in báo), Nhà
in báo Hà Nội Mới (năm 2009 là 150 tấn), Công ty in Công Đoàn ViệtNam( năm 2009 là 50 tấn),…Trong các đơn vị này thì chỉ có công ty in côngđoàn VN là khách hàng mới nên lượng nhập giấy còn nhỏ, còn các đơn vịkhác đều là khách hàng lâu năm của công ty Dưới đây là bảng báo cáo doanh
số bán giấy in báo năm 2009
Bảng 3 : doanh số bán giấy in báo năm 2009
Đơn vị : tấn
Nguồn : Phòng kinh doanh
Đối với các sản phẩm giấy từ Việt Nam thì cung cấp chủ yếu cho cáccông ty in sách, các cửa hàng photocopy, các cửa hàng văn phòng phẩm,… Công ty TNHH xuất nhập khẩu vật tư ngành in là một công ty thương mại
có bộ phận sản xuất chuyên kinh doanh và sản xuất các sản phẩm phục vụ chongành in.vì vậy thị trường của công ty có nhiều điểm khác biệt so với các
Trang 24công ty hoạt động trong các ngành khác Để mô tả thị trường của công ty ta
sử dụng kết hợp ba tiêu thức là : sản phẩm, địa lý và khách hàng
2.1.1.Đặc điểm thị trường kinh doanh theo sản phẩm.
Công ty kinh doanh nhiều sản phẩm khác nhau theo giấy phép kinhdoanh Nhưng ở đây chỉ quan tâm tới sản phẩm chính chiếm tỉ trong lớn làgiấy
Về sản phẩm giấy của công ty Công ty kinh doanh nhiều loại giấyvới chất lượng, giá cả và nhãn hiệu khác nhau Mỗi chủng loại giấy sẽ có mụcđích sử dụng khác nhau như giấy bìa, giấy in báo, giấy photo, giấy côngnghiệp, …và phục vụ những nhóm khách hàng khác nhau như cửa hàng vănphòng phẩm, công ty in, nhà trường, công sở, …
Muốn tìm hiểu về giấy, đánh giá chất lượng của giấy thì chúng ta phảihiểu được một số thuật ngữ chuyên dùng trong ngành giấy như : Định lượnggiấy, độ trắng của giấy, khổ giấy, …
Định lượng, được định nghĩa bằng khối lượng của tấm vật liệu đó với
diện tích của một đơn vị diện tích chuẩn Nó được đo bằng thương số giữakhối lượng vật liệu trên một đơn vị đo diện tích
Theo định nghĩa trên thì định lượng giấy (đơn vị thường là g/m2 hay
gsm) là khối lượng của một tấm giấy có diện tích 1m2 Dựa vào định lượng
giấy người ta có thể biêt được độ dày của giấy qua đó sử dụng hợp lý từngloại giấy, giấy nào dùng cho công việc nào
Ví dụ : Giấy có định lượng từ 40g/m2 – 65g/m2 thường được dùnglàm giấy in báo
Giấy có định lượng từ 70g/m2 – 100g/m2 thường được dùnglàm giấy in,giấy photo , …
Trang 25Giấy có định lượng trên 100g/m2 thường được dùng làm giấybìa hoặc là giấy công nghiệp.
Độ trắng của giấy được định nghĩa theo tiêu chuẩn quốc tế ISO là hệ
số phản xạ của một lớp hoặc một tập giấy có độ dày đủ để đảm bảo tính mờđục, nghĩa là khi tăng độ dày của tập bằng cách tăng số lượng tờ vẫn khônglàm thay đổi kết quả đo hệ số phản xạ
Theo định nghĩa trên thì giấy có độ trắng càng cao thì càng đẹp, vàđược đánh giá chất lượng càng tốt Mỗi loại giấy khác nhau có độ trắng khácnhau sẽ được dùng vào những mục đích khác nhau.Ví dụ :
Giấy dùng để in báo sẽ có độ trắng thấp (chỉ từ 78% đến 85%)
Giấy in ofset, giấy photo thì thường có độ trắng khá cao (trên 90%) Còn với một số loại giấy dùng trong công nghiệp thì độ trắng lại phụthuộc vào mục đích sử dụng Nếu là dùng làm bao bì thì người ta lại khôngdùng tiêu chuẩn độ trắng mà lại dùng tiêu chuẩn độ đục của giấy
Khổ giấy theo tiêu chuẩn quốc tế EN ISO 216 xuất phát từ chuẩn DIN
476 do Viện tiêu chuẩn Đức đưa ra năm 1922
+ Kích thước luôn viết chiều ngắn hơn trước
+ Tất cả các khổ trong các dãy A, B và C đều là các hình chữ nhật với tỷ lệ
Trang 26Bảng 4: các khổ giấy
Công ty TNHH xuất nhập khẩu vật tư ngành in chuyên cung cấp các loạigiấy với tất cả các khổ từ A0 đến A4 Tuy nhiên do tính chất và mức độ sửdụng của từng khổ là khác nhau nên tỷ trọng của từng loại khổ trong doanh sốbán của công ty cũng khác nhau
Nhìn vào biểu đồ doanh số bán hàng của công ty thì có thể thấy rõ hơnđiều này:
A0 A1 A3 A4
Biểu 1:Doanh số bán hàng theo khổ
năm 2009
Giấy A4 chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các khổ giấy mà công ty kinhdoanh vì đây là khổ giấy phổ thông và hiện nay nhu cầu giấy in, giấy
Trang 27photocopy , giấy văn phòng là rất lớn.Và công ty phục vụ chủ yếu là các đốitượng này nên giấy A4 chiếm đến 55 % lượng giấy bán ra Còn các khổ giấykhác chủ yếu là dùng cho các nhiệm vụ chuyên dùng đặc biệt nên tiêu thụđược ít
2.1.2.Đặc điểm thị trường kinh doanh theo khách hàng.
Theo chỉ tiêu khách hàng thì có thể phân khách hàng của công ty thành 2nhóm chình :
+ Nhóm 1 : Những khách hàng mua giấy về để tiêu dùng trực tiếp : Đó
là các cơ quan công quyền, các công ty kinh doanh giấy, các văn phòng, cácnhà in, các cửa hàng photocopy,…
+ Nhóm 2 : Những khách hàng mua giấy về để bán, những trung gian,
đó là những của hàng văn phòng phẩm,…
Theo báo cáo theo dõi hàng năm của công ty thì khách hàng chủ yếucủa công tuy là những khách hàng thuộc nhóm 1 Đây chính là nhóm kháchhàng lâu bền của công ty
2.1.3.Đặc điểm thị trường kinh doanh theo khu vực địa lý
Theo tiêu thức khu vực địa lý thì thị trường của công ty được phân ralàm 3 khu vực chính :
+ Khu vực 1: thành phố Hà Nội.Khu vực này lại được phân chia làm 2khu vực nhỏ hơn đó là: - các Quận nội thành
-các quận ngoại thành
Trang 28+ khu vực 2 : các tỉnh lân cận thành phố Hà Nội : Hưng Yên, BắcNinh, Phú Thọ,Hải phòng,
+ Khu vực 3 : các tỉnh miền trung : Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
Bảng 5: tỷ lệ lượng tiêu thụ theo khu vực năm 2009
Nguồn : Phòng kinh doanh Đơn vị : %
Nhìn vào bảng trên ta thấy khu vục tiêu thụ phần lớn sản phẩm của công
ty chính là khu vực 1, tức là thành phố Hà Nội Đây là thị trường tiêu thụ đến
76 % lượng giấy của công ty vào năm 2009 Trong khu vực này thì các quậnnội thành lại là nơi tiêu thụ 90 % lượng giấy Vì trong khu nội thành có nhiềunhà in, của hàng Văn phòng phẩm, các cơ quan văn phòng, đây đều là nhữngkhách hàng mà công ty nhắm đến
2.2 Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH XNK vật tư ngành in.
2.2.1.Thực trạng công tác nghiên cứu thị trường
Khu vực Lượng tiêu thụ
Trang 29Công ty đã có sự chú ý thực hiện và đã tổ chức triển khai nghiên cứu thịtrường trên một số phương diện về khách hàng, nguồn hàng và đối thủ cạnhtranh
Hoạt động nghiên cứu thị trường tuy không trực tiếp tạo ra lợi nhuận chocông ty song kết quả của nó lại phục vụ cho việc ra các quyết định đúng đắn,tận dụng được các cơ hội và thời cơ hấp dẫn trong kinh doanh Nhận thứcđược tầm quan trọng của công tác này ban lãnh đạo công ty đã không ngừngchỉ đạo nắm bắt thông tin tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, khả năng của cácnguồn cung ứng cũng như tìm hiểu về sức mạnh của đối thủ cạnh tranh
Hoạt động nghiên cứu thị trường có sự tham gia của toàn thể ban lãnhđạo và cán bộ công nhân viên nhưng chủ yếu vẫn do phòng kinh doanh đảmnhận
Thông tin được thu thập từ các nguồn khác nhau thông qua: báo, tạp chí,đài truyền hình, qua các trung tâm thông tin thương mại, qua các mối quan hệquen biết qua đàm phán, giao dịch, với đối tác, bạn hàng, các đại lý Ngoàicác nguồn tin đó công ty còn sử dụng các tài liệu ngay trong nội bộ đó là cáchợp đồng đã kí, báo cáo về tình hình kinh doanh của công ty, báo cáo về kếtquả hoạt động kinh doanh của toàn công ty
Công ty cử các cán bộ nhân viên của mình đi khảo sát thực tế tại cácnguồn hàng, các đơn vị khách hàng, đối thủ cạnh tranh để tìm kiếm thông tin
về hàng hoá, thời gian, giá cả, chất lượng Hoạt động nghiên cứu thị trườngchủ yếu do cán bộ thuộc phòng kinh doanh đảm nhận và chịu trách nhiệm xử
lí, phân tích thông tin sau đó gửi cho ban lãnh đạo làm cơ sở ra quyết định Bên cạnh những điều đã làm được hoạt động nghiên cứu thị trường ở cũngchưa thật sự có hiệu quả :
- Công ty chưa có sự chú ý đúng mức tới hoạt động nghiên cứu thị
Trang 30thông tin mang tính chung chung mà chưa có thông tin chi tiết, cụ thể vềkhách hàng, về nguồn hàng, về đối thủ
- Công ty chưa có bộ phận chuyên trách trong công tác nghiên cứu thịtrường mà chủ yếu là do cán bộ phòng kinh doanh phụ trách, nguồn khai thácphần lớn là nguồn thứ cấp do đó thông tin thiếu tính chính xác, không kịpthời, để lỡ nhiều cơ hội kinh doanh, dẫn đến tình trạng có thời điểm hàng bịtồn đọng không bán được, nhưng cũng có thời điểm hàng không đáp ứng đủnhu cầu
- Chi phí bỏ ra để nghiên cứu thị trường chưa được đưa thành khoản mục
cụ thể trong chi phí hoạt động kinh doanh, đó là các chi phí cho giao dịch vớikhách hàng, chi phí công tác và các chi phí khác
Tất cả những vấn đề tồn tại đó đã phản ánh một thực tế đó là công tácnghiên cứu thị trường của công ty chưa thực sự được chú trọng
2.2.2.Thực trạng công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch kinh doanh.
Chiến lược và kế hoạch kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với hoạtđộng kinh doanh của bất kỳ một công ty nào Chiến lược kinh doanh địnhhướng cho toàn bộ hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động kinh doanh củacông ty diễn ra thống nhất, hợp lý và có hiệu quả hơn
Từ hoạt động nghiên cứu thị trường, công ty tiến hành đưa ra các chiếnlược kinh doanh và các kế hoạch kinh doanh cụ thể cho từng giai đoạn, từngthời kỳ, và tuỳ theo mục tiêu của công ty
Việc xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh là sự kết hợp của tất cảcác phòng ban và các cán bộ công nhân trong công ty Nhưng đưa ra quyếtđịnh cuối cùng là ban lãnh đạo công ty, ban lãnh đạo sẽ xem xét đưa ra chiếnlược phù hợp nhất, có tính khả thi nhất cho mọi hoạt động của công ty
Trang 31Trong quá trình thực hiện, nếu có điểm bất cập công ty sẽ lập tức phântích, đánh giá và đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời
Do công tác nghiên cứu thị trường ở công ty thực hiện chưa hiệu quả nêndẫn đến công tác xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công tycũng không đạt được hiệu quả như mong muốn
2.2.3.Thực trạng hoạt động kinh doanh nghiệp vụ.
2.2.3.1.Hoạt động mua hàng
Nguồn cung ứng hàng hoá có một vị trí quan trọng trong hoạt động kinhdoanh của công ty Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đếnhoạt động kinh doanh của công ty, nguồn hàng tốt phù hợp sẽ đem lại hiệuquả kinh doanh cao
Qua nghiên cứu tình hình kinh doanh của công ty ta thấy nguồn cung cấpchính của công ty vẫn là từ nước ngoài Nguồn trong nước có nhưng vẫnchiếm thỉ trọng nhỏ Tuy nhiên trong thời gian gần đây, thì xu hướng tỷ trọngcủa nguồn cung trong nước lại có xu hướng tăng
Tỉlệ
Lượngnhập
Tỉlệ
Trang 321.576,5
Năm200
9
1.395
3
Nguồn : Phòng kinh doanh
Nguyên nhân của sự thay đổi này là do hiện nay các công ty giấy trongnước đã bắt đầu đổi mới công nghệ và cho ra đời được những sản phẩm cóchất lượng Hơn nữa,thị trường giấy trên thế giới thay đổi không ngừng, giágiấy lên xuống thất thường nên đã gây không ít khó khăn cho công ty khiquan hệ với các đối tác nước ngoài Việc dần chủ động nguồn cung trongnước đã giúp công ty giảm bớt được nhiều khó khăn trong kinh doanh
Các nhà cung cấp chính của công ty:
+ Công ty April Fine Paper Trading Sdn Bhd, thành viên của tập đoànApril Group, Indonesia
+ Công ty giấy SCG Paper, Thái Lan
+ Công ty giấy Tân Mai, Việt Nam
+ Công ty giấy Bãi Bằng
Các nhà cung cấp chính trong nước này của công ty có vai trò rất quantrong cho hoạt động mua hàng của công ty vì nhờ đó nguồn hàng của công tyđược đảm bảo, hoạt động của công ty được thuận lợi Vì có quan hệ lâu dàinên nhiều khi công ty được hưởng nhiều ưu đãi khi mua hàng như : hàng hoáluôn đảm bảo, được giảm giá, được khuyến mãi, được thanh toán chậm
Trang 33Để phát triển, mở rộng kinh doanh, công ty không chỉ cần giữ mối quan
hệ tốt với các nhà cung cấp quen thuộc mà còn cần mở rộng quan hệ vớinhiều nhà cung cấp khác trên thị trường
2.2.3.2.Hoạt động dự trữ.
Đối với một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại như công tyTNHH XNK vật tư ngành in thì hoạt động dự trữ là không thể thiếu Vì nhucầu trên thị trường luôn biến động nên dự trữ hàng hoá sẽ bảo đảm cho hoạtđộng của công ty diễn ra đều đặn, đối phó được với những trường hợp bấtngờ Dự trữ quá ít sẽ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng dẫn đếnlàm giảm hiệu quả kinh doanh của công ty Còn dự trữ quá mức cần thiết sẽlàm ứ đọng vốn, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá và khả năng tiêu thụhàng hoá đó.Giấy là một mặt hàng cần có điều kiện bảo quản, dự trữ khá cao.Nếu không bảo quản cẩn thận, đúng qui trình sẽ dẫn đến hư hỏng, không đảmbảo chất lượng
Công ty đã đầu tư một số trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo quản dựtrữ hàng hoá như máy hút ẩm, thông gió tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã phầnnào giải quyết được khả năng dự trữ hàng hoá tại kho, xưởng
Nhưng việc xác định đúng mức dự trữ cần thiết là quan trọng nhất.Công ty đã xây dựng kế hoạch dự trữ dựa vào các thông tin thu thập được từnghiên cứu thị trường và tình hình kinh doanh trước đó của công ty Nhưngchủ yếu là dựa vào các kết quả bán hàng trước, để từ đó ước lượng và xácđịnh lượng dự trữ cần thiết Đây là cách tiến hành hoạt động dự trữ ở khánhiều các doanh nghiệp không riêng gì công ty, điều đó giải thích tại sao hoạtđộng dự trữ lại không có hiệu quả Vì chỉ xác định một cách phiến diện nêntrong kế hoạch dự trữ của công ty không tính đến các biến động có thể xảy ratrong môi trường kinh doanh bên ngoài công ty Điều này một lần nữa khẳng
Trang 34này ở công ty tiến hành không hiệu quả và nó ảnh hưởng khá lớn đến các hoạtđộng khác.
Bảng 7 : Lượng hàng xuất - nhập - tồn 3 năm 2007, 2008, 2009
Hoạt động bán hàng của công ty bao gồm các hình thức: bán buôn, bán
lẻ Đây là hai hình thức đem lại doanh thu chính cho hoạt động kinh doanhcủa công ty Tuy nhiên, công ty hoạt động như một đại lý cấp một của nhàcung cấp nên dù là khách hàng lẻ mua về tiêu dùng trực tiêp thì số lượng muacũng rất lớn
Một số khách hàng lẻ của công ty như : Nhà in dáo Nhân Dân, nhà in TiếnBộ,Nhà in Quân Đội,…Chỉ riêng một số khách hàng lẻ này thôi đã tạo ra 47%doanh thu(năm 2009)cho công ty
Các khách hàng lẻ còn lại hầu hết là các công ty, văn phòng hoạt độngtrên địa bàn Hà Nội
Đối với bán buôn hàng hoá, công ty đã tăng cường tìm kiếm khách hàng,nâng cao chất lượng phục vụ bằng việc thực hiên chuyên chở đến tận nơi, do
đó doanh thu từ bán buôn đều tăng.Bán buôn vẫn là hình thức kinh doanhmang lại doanh mang lại doanh thu lớn cho công ty Năm 2009 doanh thu từbán buôn chiếm 57 % tổng doanh thu từ công ty
Bảng 8: tỉ lệ doanh thu bán buôn
Trang 35Đơn vị : nghìn đồng
buôn
Tỉ lệ(%)200
7
2008
2009
Nguồn : Phòng kinh doanh
2.2.4 Nguồn nhân lực của công ty.
Lao động là một trong những nguồn lực của doanh nghiệp, có ảnh hưởngtrực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là nhân tố quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, chính sách tuyển dụng vàchính sách đào tạo phải đảm bảo thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của doanhnghiệp Chính mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi những cán bộquản trị kinh doanh phải có các tiêu chuẩn cao Khi tuyển chọn nguồn laođộng doanh nghiệp căn cứ vào loại công việc để xác định số người cần tuyển
và trình độ cụ thể của từng loại cán bộ công nhân viên Chỉ xét tuyển nhữnglao động có trình độ phù hợp, có kỹ thuật nghiệp vụ đẻ đổi mới cơ cấu lao độngđáp ứng nhu cầu sản xuất Để đảm bảo đội ngũ công nhân viên có chất lượngcông ty đã áp dụng chế độ thử việc trước khi ký hợp đồng chính thức
Thị trường lao động mở ra, song cũng như các doanh nghiệp khác công
ty phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt trong việc tìm kiếm thị trường.Yêu cầu đặt ra đòi hỏi đội ngũ quản lý và nhân viên kinh doanh của công ty
Trang 36phải có tay nghề cao, sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị Do đó công ty cũngchú ý đến việc nâng cao trình độ cho nhân viên, có các hình thức khuyến khích
họ phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao hiệu quả tăng thu nhập cho tập thểcán bộ công nhân viên
Bảng 9: Cơ cấu lao động của công ty TNHH XNK vật tư ngành in
nhân viên
Trong đó
Đại học vàcao đẳng
% so vớitổng NV
Công nhân % so với
Muốn hạch toán tiền lương tốt thì một vấn đề không thể thiếu được làphải hạch toán lao động về số lượng và chất lượng, thời gian lao động và kết
Trang 37quả lao động vì đó là căn cứ đề tính và trả lương cho cán bộ công nhân viêntrong doanh nghiệp Hay nói cách khác là muốn hạch toán tiền lương thì phảihạch toán lao động trước Hiện nay ở công ty có các hình thức trả lương sau:
Đối với nhân viên ở các phòng ban chủ yếu trả lương dựa vào sốngày làm việc và mức độ hoàn thành công việc được giao đểphân chia
Đối với công nhân thì lương được trả theo sản phẩm căn cứ vào
số lượng và chất lượng công tác giao khoán mà công nhân hoànthành trong kỳ
Khi phân tích đánh giá chung về tiền lương có thể so sánh chỉ tiêu chiphí tiền lương giữa các thời kỳ, song sự thay đổi giá trị tuyệt đối của chi phítiền lương chưa nói được ý nghĩa kinh tế cụ thể Nó không phản ánh sự tiếtkiệm hay bội chi cũng không phản ánh hiệu quả lao động Để nhận định tổngquát về chi phí tiền lương cần phải dựa vào tỷ trọng chi phí tiền lương
Hoặc có thể so sánh sự thay đổi mức tiền lương bình quân với mức thayđổi doanh thu Nếu tỷ trọng chi phí tiền lương giảm, có nghĩa là doanh nghiệpđược lợi Nếu mức tăng lương bình quân không vượt quá mức tăng năng suấtlao động, có nghĩa lao động đã đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích hơn vàngược lại
+ So sánh năm 2008 với năm 2009:
Năm 2008 doanh thu tăng 2.305.790,520nghìn đồng (tăng 4,7%) so vớinăm 2007, trong khi đó chi phí về tiền lương tăng 9.400 nghìn đồng (tăng14,24%) Như vậy doanh thu tăng chậm hơn chi phí tiền lương tức là doanhnghiệp đã xử dụng tiền lương chưa hiệu quả Ngoài ra tiền lương bình quântăng 130 nghìn đồng (tăng 9,8%) còn năng suất lao động tăng 3.029 nghìn